Trang chủ > Đức Tổ Sư > Bài Viết

Thần Mật (Chơn lý số 25)

Tác giả: NT. Minh Liên.  
Xem: 438 . Đăng: 07/11/2021In ấn

 

Thần Mật (Chơn lý số 25)

 

Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang (Biên soạn)

NT. TN. Minh Liên – Tịnh xá Ngọc Phương (Phổ thơ)

Tháng 9 - 2021 (Tân Sửu)

 

Phép thần thông, do ba cái mật,

Gồm thân mật, khẩu mật, ý mật.

THÂN mật là không hay làm,

Tiếp theo KHẨU mật là không hay nói.

Ý mật là không hay tưởng nhớ,

Ba cái mật kín đáo bên trong.

Nói, làm, tưởng luôn vọng động,

Thế nên không cho phát động ra ngoài.

TA làm, nói sanh ra tưởng loạn,

Có tưởng định, không làm không nói.

Khẩu, thân nó sanh ra ý,

Không còn THÂN – KHẨU là không còn Ý.

THÂN – KHẨU – Ý bên ngoài Ý loạn,

Thân, khẩu, ý bên trong ý định,

Ý định gọi là CHƠN NHƯ.

Nghĩa là không có cái ý vọng động,

Như võ, ruột sanh ra ngòi mộng,

Ngòi mộng nó sẽ sanh ra cây.

Phép THẦN THÔNG là do Ý mật,

Mà Ý mật, do THÂN – KHẨU mật.

  1.  

THÂN – KHẨU – Ý, ẩn mật kín đáo,

Như hột tốt, nó chẳng hư hao.

Hột tròn trịa, không nứt bể,

Ruột, ngòi, mộng, nó đều không sứt gãy.

Sẽ sanh cây, chắc chắn tốt thay,

Võ, ruột ấy, sẽ nuôi ngòi mộng.

Và hương vị, thật hoàn mãn,

Vậy là tánh chất vẫn còn nguyên vẹn.

  1.  

Một hột sống, ruột mộng không bể,

Một TÂM CHƠN, thân, khẩu, ý CHƠN.

Ý – THÂN – KHẨU mật lặng yên,

THẦN THÔNG thị hiện do ba cái này.

THÂN – KHẨU mật,để nuôi Ý mật,

Có THẦN THÔNG, Ý mật phát sanh.

Khẩu, thân, có cũng như không,

Thế nên CHẾT – SỐNG cũng đều in nhau.

Ba cái mật, khẩu – thân nuôi Ý,

Có thần thông, là do Ý mật.

  1.  

Tâm hồn NGƯỜI TA: Có ba phần:

THẦN: Là sự sống; GIÁC: Cái biết.

LINH: Là linh nghiệm đó mà,

THẦN THÔNG thị hiện thật là linh thay.

Người sống đời mà không linh nghiệm,

Như kẻ thiếu, bộ máy ngũ tạng,

Thân mình không sao sống được,

Ở đời bị muôn ngàn sự hiếp đáp.

Biết vật chất,giả dối khổ sở,

Mà người phải, ôm đeo theo mãi.

Theo TA muôn đời, ngàn kiếp,

Đó là thiếu sự linh nghiệm thần thông.

Linh nghiệm thiếu, vọng động bên ngoài,

Mảng lo làm, nói, nhớ tưởng tượng.

Mất cái tự nhiên yên lặng,

Tự nhiên yên lặng, là LINH có sẳn.

Chớ chẳng phải, TA đợi tìm đâu,

Ai cũng có, sự linh thiêng hết.

SỐNG hay CHẾT, đều có linh,

Không linh là tại NGƯỜI TA vọng động.

Chổ yên lặng, hòn đá sẽ linh,

Cái cây linh, cục đất còn linh.

Người TA sao lại chẳng linh,

Đúng CHƠN LÝ là tự nhiên yên lặng.

Đó sự thật, của mỗi chúng sanh,

Đang ở trong, yên lặng phủ trùm.

Phút, giờ nào không vọng động,

Chơn nguyên yên lặng, linh ứng tự nhiên.

  1.  

Bởi lầm lạc, say mê giả dối,

Bám theo trần, bỏ mất thần thông.

Để không ta, không của ta,

Vô thường khổ não, thật là đáng thương.

Nếu lúc nào, họ chịu bỏ trần,

Vào trong cái, tự nhiên yên lặng.

Tức là linh thiêng trở lại,

Như mặt kiếng, bên ngoài không dính bụi.

Tức thì nó, liền sáng trở lại,

Người ta bị tai nạn chết thảm.

Cũng là tại nơi lo tưởng,

Nói làm chẳng đặng việc chi nên làm.

  1.  

Một cái hột, nứt vỏ, ruột hôi,

Thúi mộng thì, không còn dùng được.

Một bông hoa quý giá là:

Bởi nơi có sự búp kín bên trong.

Có một cái tâm hồn tốt đẹp,

Là bởi nơi, do ba cái mật.

Không ai xem thấy nó được,

Một viên NGỌC QUÝ khó tìm lắm thay.

  1.  

Chính vì vậy, những kẻ tu tâm,

Là giữ gìn, luôn ba cái mật.

Khẩu, thân, ý mật kín đáo,

Thật là hoàn toàn, nó ẩn bên trong.

Tức kẻ ấy, sống bằng linh hồn,

Kẻ ấy sống, trong hai cảnh giới.

Có thân khẩu, không thân khảu,

Người thông suốt hữu vi và vô vi.

Người không còn sợ tai nạn,

Không còn sợ sệt điều chi nữa hết.

  1.  

Một sức mạnh, ngoài sự ước lượng,

Một sức mạnh, tài hay giỏi lạ.

Thần lực không ai sánh kịp,

Tức là ba cái mật mạnh toàn năng.

Một tinh thần, là ba cái mật,

Cái ấy nó, dời non lấp biển.

Việc chi dầu nhỏ, dầu lớn,

Thế nào nó cũng làm xong tức khắc.

Người làm chủ, thì giờ SỐNG – CHẾT,

Người biến hóa, sai khiến tất cả.

Người bay cùng khắp xứ nơi,

Thảy đều do ba cái mật đó vậy.

  1.  

Không có gì, ngăn bít được người,

Người ở, đi, cái gì cũng được.

Không ai cần dạy rỏ biết,

Nhớ ra hết thảy quá khứ vị lai.

Người nhớ hết thảy từ muôn kiếp,

Người biết rỏ, ý niệm trong tâm.

Thấy nghe tất cả khắp cùng,

An hòa bình tỉnh, gọi là THẦN THÔNG.

  1.  

Mặc nước đặc, bởi không xao động,

Linh hồn cứng, chắc không não phiền.

  1.  

Cục sắt đỏ, thợ RÈN văng lửa,

Dưới nhát búa CỤC SẮT bể lần.

Phóng tâm, loạn vọng, tâm NGƯỜI,

Cũng y như thế, làm tâm yếu mềm.

Như thế là, lần lần tiêu hoại,

Cái Ý kia, tan nát không còn.

Bởi do xúc chạm, đối đầu,

Bên ngoài VẬT SẮT, hao mòn thế thôi.

  1.  

Có một NGƯỜI, chuyên môn quán tưởng,

Lâu ngày rồi, định trụ Ý kia.

Thành ra sức mạnh thiêng liêng,

Giống như NGƯỜI học THÔI MIÊN rỏ ràng.

Nhờ chăm chú, ngưng bỏ nói làm,

Cái tư tưởng, hiệp thành sức lực.

Người tu tập THẦN NHÃN ấy,

Ngó, nhìn ngay vào, một điểm khư khư.

Ngọn đèn, ngôi sao, mặt trăng ấy,

Mặt trời, ánh sáng, tập lần lần.

Liền cho Ý nọ lặng yên,

Sẽ là định tựu, trụ yên vững vàng.

Bởi NGƯỜI TA, có thể dùng MẮT,

Khiến bảo sai, các QUỶ, các THẦN.

Bảo đi, đứng, bay, chạy nhảy,

Chỉ cho rằng THẦN NHÃN ấy mà thôi.

Vì MẮT là thần chủ của TÂM,

Bởi TÂM thường ở nơi MẮT ấy.

Thế nên MẮT MA là loạn,

MẮT CHƯ PHẬT là SỨC ĐỊNH, tuệ sanh.

  1.  

Người LỰC SĨ, gom ba cái mật,

Nhấc bổng lên, một khối đá to.

Miệng phải ngậm kín nói thầm,

Bên trong rằng phải nhẹ lên dể dàng.

THÂN phải rung mình, lấy sức lực,

TA phải tưởng tượng, coi khối đá.

Nhẹ lên như thúng trấu kia,

Quả nhiên khối đá, nhẹ lên  rỏ ràng.

Người VÕ SĨ, mới tập võ nghệ,

Miệng họ thét, tay chân liền theo.

Ý kia gắng theo chổ đó,

Cũng như người đi xe máy kia kìa.

Cái Ý đâu, tay chân đến đó,

Miệng họ cũng nói theo cái Ý.

Một NGƯỜI tài xế xe hơi,

Bánh xe đi theo THÂN MIỆNG của Ý.

Kẻ nhỏ kia thân miệng ra ngoài,

Người lớn thân miệng ý bên trong.

Dầu làm việc chi cũng vậy,

KHẨU – THÂN – Ý rạc rời, không kết quả.

Nếu MIỆNG nói, luôn ở bên NÀY,

Thì TAY kia, không thể làm việc.

Ý lo việc khác bên ngoài,

MIỆNG không nói đươc, việc này, việc kia.

THÂN – KHẨU – Ý nếu chưa trọn ác,

Thì chưa được gọi là trọn ác.

Cũng như nói thiện nên làm,

Ý tưởng không thiện, thì chưa gọi thiện.

Thiếu một phần thì không thành tựu,

Hột giống kia,THIỆN – ÁC cũng không.

KHẨU – THÂN là Ý là TÂM,

Vậy là HỘT GIỐNG ươm mầm QUẢ NHƠN.

Phải giữ gìn, trau THÂN – KHẨU – Ý,

Luôn cho được, tự nhiên vắng lặng.

Bên trong ẩn mật kín đáo,

Bởi vì chúng sanh đã quen xao động.

Luôn ở bên ngoài từ lâu,

Cho nên tự mình tạo sanh khổ nạn.

  1.  

Muốn tập giữ cho ba cái mật,

Không phải đâu phải mượn đức tin.

Ta nên hộ niệm phép linh,

Để cho tinh tấn luôn luôn hằng ngày.

Sự chứng kiến, của một kẻ khác,

Sự giúp đở, đó là như mượn.

Sự gìn giữ, bởi kẻ khác,

Cũng là vay mượn, giúp đở đó thôi.

Khi thực hành đến ba cái mật,

Niệm tưởng đến danh hiệu CHƯ PHẬT.

Cái tên TIÊN – PHẬT thích ưa,

Như là có thật sớm trưa niệm hoài.

Ở trước mặt, hay ở trên đầu,

Ở sau lưng, ở thân miệng ý.

Hay là ở vào trong tâm,

Nhờ tinh tấn sẽ kết quả linh thiêng.

  1.  

Chính vì thế người ta hiểu lầm,

Có đức tin mới có sự linh.

Họ không biết cái linh ấy,

Là do tư tưởng THÂN- KHẨU – Ý mật.

Mà cũng phải như vậy đó thôi,

Đúng là có tin mới có mật.

Nếu không tin, không có mật,

Thật vậy, không tin, không thành tựu việc.

Cũng như người làm ruộng, mua bán,

Thiếu đức tin, không thực hành được.

Có tin sẽ có hy vọng,

Thì TA mới có siêng năng gắng chí.

  1.  

Vậy TA nên mượn lấy đức tin,

Dầu không có PHẬT – TIÊN đi nữa.

TA nên phải tin là có,

Như vậy dể bề cho TA hành đạo.

  1.  

Các NHÀ SƯ thường hay bịa đặt,

Ra các tên PHẬT – THÁNH – THẦN – TIÊN.

Các NGÀI sẽ vòng đặt tên,

Chổ ngồi đặt tên vị này, vị kia.

Để tin tưởng như là có thật,

Để chấn tịnh CHƠN TÂM mạnh mẽ.

Để không sợ sệt cứng vững,

Các SƯ chế ra, chơn ngôn PHÁP ẤN.

Đặt tên là PHẬT – THÁNH nầy kia,

Rồi chăm chú quán tưởng trụ tâm.

KHẨU – THÂN – Ý không loạn vọng,

Tức là lúc đó phát sanh THẦN MẬT.

Người ta luyện tập các câu chú,

Quán nhìn chữ niệm danh hiệu PHẬT.

Bằng niềm tin để tạo thành,

Ba cái mật, phát THẦN THÔNG cũng được.

Cũng như thế, là pháp làm cho,

Gồm sáu pháp lục căn thanh tịnh.

Hay là ba nghiệp trong sạch,

Lúc nầy thì THẦN THÔNG sẽ xuất hiện.

  1.  

Trong ĐỊNH có quả linh đạo lý,

YÊN LẶNG có TRÍ TUỆ THẦN THÔNG.

Muốn yên lặng phải nhớ niệm,

Giữ cho một niệm, ghi nhớ một việc.

THÂN – KHẨU – Ý định sanh THẦN MẬT,

Tầm tòi quán xét một nghĩa lý.

Rỏ ràng thấu đáo được rồi,

Thì TÂM mới được mừng vui an lành.

Cái CHƠN NHƯ, Ý yên chăm chú,

Một sự gì, THÂN – KHẨU – Ý yên.

Biết bao muôn ngàn triệu pháp,

PHÁP nào cũng làm cho sanh THẦN MẬT.

Pháp nào cũng có thể làm cho:

LỤC CĂN – TAM NGHIỆP yên lặng được.

Nhưng mà bền công khó nhứt,

Phải nên tạm mượn đức tin, bổn nguyện.

Muốn có ĐỊNH thì phải giữ GIỚI,

Mới phát sanh TRÍ TUỆ thành PHẬT.

Diệt trừ PHIỀN NÃO xong rồi,

ĐỊNH là THẦN MẬT giữ gìn TÂM CHƠN.

  1.  

Ma quỷ kia, cũng đắc THẦN MẬT,

Cũng đắc ĐỊNH, cũng đắc LINH THIÊNG.

Nhưng các MA khác hơn PHẬT,

Bởi vì MA QUỶ không có TRÍ TUỆ.

Không giữ GIỚI thiện lành trong sạch,

Không GIỚI - HUỆ, ĐỊNH chẳng bền lâu.

Phép có linh ngày sẽ mất,

Kẻ tà ác mà có được phép linh.

Thật nguy hiễm cho tánh mạng NÓ,

NÓ tự cao, sẽ ham danh lợi.

Nếu người ta càng tôn nó,

Sự tà quấy của nó sẽ càng trội.

Thì tội ác của NÓ càng sanh,

THAM – SÂN – SI phiền não càng tăng.

Phép THẦN THÔNG của NÓ mất,

Thế nên lại bị sa vào địa ngục.

Bởi vì tật chướng nặng nề,

Cho nên không thể nào ra khỏi đặng.

  1.  

Vậy người TU, nên phải biết rằng:

Quả linh có tự nhiên yên lặng.

Chớ không tìm kiếm mong cầu,

Quý tâm THẦN MẬT diệt tan não phiền.

Hay hơn nữa, TU là để cho:

Tâm hồn luôn tốt đẹp quý báu.

Giúp cho đời đặng đền ơn,

Cho chúng sanh nhơn loại và TAM BẢO.

Như thế mới dứt trừ nghiệp tội,

Gốc của chúng sanh là tội khổ.

Phải cần tránh sự tự cao,

Thế nên phép linh chỉ là phụ thuộc.

TÂM CHƠN – TRÍ TUỆ thật là của cải.

  1.  

Phải biết rằng: TA có phép linh,

Đở cho TA nhiều việc nơi THÂN.

Cũng đôi khi giúp ích cho:

Chúng sanh những lúc trong cơn tai nạn.

Như thế mới dạn dĩ ham tu,

Có nhiều kẻ thấy  PHÉP THIỆN hiện.

Có cùng phép, Ý sanh THÂN,

Phép THẦN THÔNG biến hóa của CHƯ PHẬT.

THÂN TÂM tự tại an vui,

NIẾT BÀN TRÍ TUỆ CHƠN NHƯ hiển bày.

  1.  

Người đi núi tin tưởng THẦN TIÊN,

Mỗi bước đi, hằng tưởng có THẦN.

Nơi trên đầu, hay trước mặt,

Leo lên dốc núi, dầu mệt tới đâu.

MIỆNG nói thầm khỏe, khỏe, rất khỏe,

CHÂN cố gượng đi như khỏe thật.

Ý liên tưởng đã khỏe rồi,

Thêm nhờ mượn nơi đức tin THẦN TIÊN.

Thế là HỌ đã khỏe thật rồi,

Có thể đi, ba hòn núi nữa.

Cũng chưa biết mệt gì cả,

Thật là huyền diệu linh ứng vô cùng.

Chính ĐỨC TIN và ba cái mật,

Đã thành tựu, có sự linh ứng.

Chớ không có vị THẦN TIÊN,

Ở nơi đó để hộ trì cho HỌ.

  1.  

Một người đi đường xa đói bụng,

Họ nhớ lại, vừa ăn bánh ngọt.

Tưởng tượng ăn năm cái bánh,

Tay chân họ mạnh, như lúc ăn no.

Họ sẽ thấy miệng ngon, no bụng,

Lấy tinh thần hăng hái trở lại.

Nếu đề mục ấy giữ nơi:

KHẨU – THÂN –Ý ấy, sáng ngời ĐỨC TIN.

Nguyện van vái nơi PHẬT TIÊN hoài,

Dầu cho họ, nhịn thêm một ngày,

Hoặc thêm bao lâu đi nữa,

Nếu TÂM vị ấy không bị xao lãng.

  1.  

Người kia dầu mắc bịnh trong thân,

Nóng lạnh, ngăn hơi, mệt nhức đầu.

Người TA cũng dùng ĐỨC TIN,

Và BA CÁI MẬT  để đối trị nó.

Một phương thuốc, cấp tốc hay lắm,

Cái kết quả thật là kỳ diệu.

Một người muốn giổ giấc ngủ,

Người liền vái nguyện một vị PHẬT TIÊN.

Người nói thầm liên tiếp NGỦ NGỦ…

Ý tưởng tượng theo hơi thở dều.

Thân mình xem như yếu xụi,

Thế là HỌ sẽ ngủ rất dể dàng.

Bằng chẳng vậy, HỌ đếm một hai,

Đếm HƠI THỞ tưởng mình đã ngủ.

Thân mình không biết cử động,

Vậy thì liền đó, HỌ ngủ ngon lành.

  1.  

Một người bị, chặn ngăn chớn thủy,

Mượn ĐỨC TIN gia hộ cầu nguyền.

Niệm danh hiệu một vị PHẬT,

Nói trong trí tưởng bảo rằng sẽ thông.

Trong trí tưởng, hơi đã trút xuống,

Và khi ấy NGƯỜI thở hơi dài.

Hít hơi dài vô khỏi rún,

Liền phình bụng dưới ra rồi tóp lại.

TAY – CHÂN cử động như thường,

Khí tan, uất mất, rỏ ràng linh thay.

  1.  

Một người kia tin tưởng vị PHẬT,

THÂN – KHẨU –Ý hiệp lại thành một.

Định thần gom BA CÁI MẬT,

Muốn không là không, muốn có là có.

Muốn còn hết, là còn hết,

Do sự nhứt định, ấn quyết chắc tin.

  1.  

Người đứt tay, sợ sệt nhút nhác,

Nói đau đau, càng rên, càng đau.

Một NGƯỜI TƯỚNG đứt TAY – CHÂN,

Đứt thân mình, chặt đứt rớt mất đầu.

Mà còn ngồi yên trên lung NGỰA,

Vẫn còn hăng hái, vẫn múa gươm.

Chỉ cho TA thấy rỏ rằng:

TINH THẦN mạnh mẽ của BA CÁI MẬT.

  1.  

NGƯỜI sống đời, nếu mà còn sợ,

Càng thối nhát, càng loạn thất bại.

TINH THẦN dõng mãnh của NGƯỜI,

Thản nhiên, bình tỉnh, lúc nào như không.

Người ấy thông minh, sáng suốt lắm,

HỌ sẽ thành công trong mọi việc.

  1.  

Sợ MA QUỶ, là có MA QUỶ.

Trong NGŨ TẠNG, thiếu chất thèm ăn.

Có NGƯỜI sợ, ôn dịch bắt,

Trong mình đang yếu. thời khí chụp được.

NGƯỜI không đau, vì tánh biếng lười,

Muốn có người xem mình quan trọng.

Nói đau giả bộ yếu đau,

Tay chân đơ xụi, Ý tưởng mình đau.

Tin tưởng như quỷ thần bắt phạt,

Chính kẻ ấy sẽ bị đau thiệt.

Thuốc không thể nào trị được,

Vì NGƯỜI ấy, giữ cái niệm tưởng đó.

  1.  

Có một người, tư tưởng tình ái,

Người thất vọng, kẻ ấy muốn chết.

Bởi không cử động được chi,

Đau bằng tư tưởng thuốc gì chửa đâu.

Không còn năng lực TINH THẦN,

Bởi BA CÁI MẬT đã đau mất rồi.

Một NGƯỜI CON, chí hiếu, đau nặng,

Người CHA GIÀ, lụm cụm tới thăm.

CON thương CHA, nói mình mạnh,

Xem như lúc mạnh, luôn rán cử động.

Thêm tin tưởng, cầu vái PHẬT – TRỜI,

Thế là NGƯỜI, liền ngồi dậy hẳn.

Đứng đi vui vẻ như thường,

Nhiều ngày không ăn, vẫn không biết mệt.

  1.  

Có một người, lúc nào cũng sợ,

Yếu tinh thần, thấy mình luôn bịnh.

Thình lình xô nó xuống sông,

Làm cho NÓ phải giựt mình sợ lo.

NÓ sợ chết, hăng hái lội lên,

Lội vô bờ, thế là hết bịnh.

Một người vì tánh giận hờn,

Tánh buồn, tánh sợ, tánh lo, tánh phiền.

Sẽ xấu xa, mau già khô héo,

Bởi vì thiếu TINH THẦN mạnh mẽ.

Cho dầu có uống thuốc hay,

Cũng không dung hợp, cho mau mạnh lành.

  1.  

Một người chết, tay chân đã lạnh,

Tim hết đập, thân mình còn ấm.

Mắt còn mở, còn nuối chờ,

Các người con cháu ở xa chưa về.

Lấy tinh thần, họ chống cự lại,

Họ khấn vái PHẬT TRỜI miệng nói:

KHOAN! KHOAN! Chậm lại,chậm lại,

Thấy mình đang sống, Ý tưởng phải sống.

Kẻ ấy không bao giờ chết được,

Trừ khi người mong đợi đã đến.

An ủi họ đã yên lòng,

Họ bằng lòng chịu chết, họ sẽ chết.

  1.  

Một người chết, nhứt định ngày giờ,

Họ sẽ làm THẦY thuốc thua cuộc.

THẦY nói ba ngày sẽ chết,

Nhằm vào đúng ngày mùng ba sẽ chết.

Nhưng người bịnh, muốn chết ngày rằm,

Miệng nói thầm chưa chết, chưa chết.

Thân mình cố gắng gượng lại,

Tưởng xem mình như mạnh mẽ không đau.

Thế là ngày mùng ba không chết,

Hai lá phổi mặc dầu bể nát.

Lá gan kia đã mục rồi,

Đúng vào ngày RẰM, họ nói muốn CHẾT.

Ý tưởng tượng, thân không cựa quậy,

HỌ cầu xin PHẬT – TRỜI cho CHẾT.

Thế là HỌ CHẾT thật rồi,

Chết theo Ý tưởng như lời cầu xin.

  1.  

Một người kia QUAN THẦY xem bịnh,

THẦY nói rằng ba tháng nữa chết.

Người kia muốn chết tháng nầy,

Ba mươi tháng nầy, chỉ năm ngày nữa.

Họ cầu vái PHẬT – TIÊN gia hộ,

Xin sự chết đúng ngày đã định.

Thân mình xui liệt không ăn,

Đúng ngày nhứt định, thắng QUAN THẦY rồi.

Có như thế, chúng ta thấy rỏ,

Lúc bình thường, sống chết mạnh đau.

Món ăn, thức uống, bên trong,

Bà con quyến thuộc bên ngoài phụ thôi.

  1.  

Có những mộng, những điềm báo trước,

NGƯỜI tỉnh táo sẽ biết được liền.

Biết rằng: Chứng bịnh trong mình,

Như người hiểu đạo, THẦN – TIÊN hộ trì.

Nhờ chăm chú tư duy niệm tưởng,

Niệm PHẬT – TRỜI –TIÊN – THÁNH hiển linh.

ĐỨC TIN đầy đủ lòng thành,

Gom BA CÁI MẬT, tự mình an nhiên.

  1.  

Người có TU từ nhiều đời trước,

Đời NAY không có đạo giáo nào.

Căn lành ấy, còn đủ sẳn,

Không tham, không loạn, không ác, không thù.

Hằng ngày thường tư duy tỉnh táo,

Nhận thấy rỏ, những mộng, những điềm.

Dầu không đau, họ cũng biết,

Chọn ngày giờ HỌ  biết mình sẽ chết.

KHẨU – THÂN – Ý không tư lự,

Do BA CÁI MẬT, toại nguyện an vui.

  1.  

Người CƯ SĨ, ngày thường vọng động,

Đến lúc đau, TÂM được ĐỊNH YÊN.

ĐỨC TIN ngay thẳng vững vàng,

THẦN THÔNG HỌ ĐẮC, trong giờ bỏ THÂN.

HỌ dùng phép THẦN THÔNG mới đắc,

Mà hủy liền, thân xác họ ngay.

Lâm chung xuất hiện THẦN THÔNG,

Cho người xem thấy, để mà noi gương.

  1.  

Người XUẤT GIA, chuyên tu THIỀN ĐỊNH,

Mượn ĐỨC TIN, gom BA CÁI MẬT.

Cũng như vậy, người sắp chết,

Không còn cần thiết gì về ngoại sự.

THÂN – KHẨU – Ý là một năng lực,

Là sức mạnh, là phép THẦN THÔNG.

Làm cho bay bổng trên không,

Hào quang biến đủ, thân hình tỏ thông.

Cũng như NGƯỜI không còn thân xác,

Họ liền cầu PHẬT – TIÊN hiện tại.

Bởi do chứng đắc THẦN THÔNG,

THÂN TÂM Ý tưởng hiển linh rỏ ràng.

  1.  

Phép THẦN THÔNG do BA CÁI MẬT,

Sẽ xuất hiện, lần theo mỗi bậc.

Ấylà ấn chứng sự tu,

Kết thành từng loạt, quả linh thực hành.

Những người có tâm hồn đầy đủ,

Là rất cần không thể bỏ qua.

THẦN THÔNG xuất hiện nơi TA,

Tự nhiên yên lặng chẳng do mong cầu.

THẦN THÔNG có, xa lìa giả cảnh,

Do sự không phiền não vô tư.

THẦN THÔNG có sẳn mỗi người,

Khi nào TÂM ĐỊNH nó thời hiện ra.

NÓ mất di TÂM NGƯỜI rối loạn,

TÂM loạn là GIỚI LUẬT không nghiêm.

Cũng như nước bị gió, bùn,

Thế thì chẳng đặng chảy thông bao giờ.

Hết gió, bùn, nước thông như củ,

Tiếc cho NGƯỜI chẳng biết cái linh.

Mọi người vọng động chung quanh,

Làm sao mà thấy QUẢ LINH hiển bày.

Món của quý, họ đành quên lững,

Chỉ ôm đeo bọt nước rong rêu.

Hiệp tan, tan hiệp gì đâu,

Không công khổ nhọc mãi sầu đau thương.

  1.  

Vị LA HÁN, có đủ LỤC THÔNG,

TÂM xao động, phải mất THẦN THÔNG.

Dám nào MA QUỶ tự cao,

Người phàm, cõi tục, ngộ đâu, được nào.

  1.  

Vị ĐẠO SƯ, ở trên NÚI TUYẾT,

Cởi áo ngồi, hơi nóng bốc ra.

Làm khô trăm tám cái bao,

Nhúng đầy giá ướt chỉ vào một đêm.

Một ĐẠO SĨ bèn dùng tư tưởng,

Biến hóa ra cục lửa bừng bừng.

Lửa này chạy khắp thân mình,

Lửa hừng hực cháy thân hình nóng ran.

Một người kia ĐỊNH TÂM quán tưởng,

Cục lửa này bằng một cọng nhang.

Lần lần bằng cả thân mình,

Rồi bằng cái nhà và cả thế giới.

Cái ý tưởng mạnh mẽ như thế,

Là do THÂN KHẨU Ý mật vậy.

  1.  

Các NHÀ SƯ ở xa cách núi,

Bằng tư tưởng, chuyện trò với nhau.

Do BA CÁI MẬT đây rồi,

THÂN yên TÂM định hai người giống nhau.

A LA HÁN chân đi mỗi bước,

Ngọn núi nầy qua ngọn núi kia.

Cũng bằng Ý định hoài hoài,

THIỀN SƯ nhập định rỏ bày muôn phương.

Còn lúc thường TÂM luôn xao động,

Thế là không hiểu hết việc chi.

Người hành thiền, khỏi tầm sát,

Không còn học hỏi tự nơi mình nữa.

Trong yên lặng ứng sanh cảnh vật,

Những vị khác tiếp xúc điều lành.

Trong yên lặng nó hiện ra,

Vật chi cũng nhìn thấy, cũng nhận nghe.

VỊ PHÁP SƯ ngồi yên nói pháp,

Gặp đoạn khó thì liền NHẬP ĐỊNH.

Sẽ như có NGƯỜI chỉ dạy,

Trong cái yên lặng hiện ra tất cả.

Nhớ tất cả việc từ thuở nhỏ,

Soi rỏ kiếp quá khứ vị lại.

ĐỊNH TÂM chơn như xuất lộ,

Thế là đủ sự linh ứng tiên tri.

BA CÁI MẬT của mình có cả,

Những điều hay, điều giỏi rỏ ràng.

Không cần phải ai chỉ dạy,

Nó luôn ở trong cái ĐỊNH tự nhiên.

Sự quý báu an hòa diệt tận,

Không bao giờ phóng tâm xao xuyến.

Mình nên làm chủ lấy mình,

Nó là một vị THẦN mạnh mẽ nhất.

Một thần lực, một thắng lực,

Một toàn lực, một nghị lực phi thường.

  1.  

Nếu TÂM ta YÊN LẶNG hãy xem,

Ngày hôm nay mắt trái ta giựt.

Trái tim ta luôn hồi hộp,

Hãy chờ xem kết quả sự báo tin.

Ngọn gió lạ, một sự rung mình,

Con bướm bay, một tiếng chim kêu.

Một cành cây rớt, lá rụng,

Lặng yên tự nhiên, trong BA CÁI MẬT.

Nhờ vậy đó mà họ hiểu biết,

Biết rỏ hết những việc sắp đến.

Một cách tỉ mỉ công phu,

Sự linh nghiệm như một nhà mỹ thuật.

Họ khéo léo mới được hơn người,

Tiên tri ấy thành công yên lặng.

Chúng ta không thể ai ngờ,

Chúng ta lãng xao bỏ qua quên mất.

Không chú ý đến việc gì cả,

Thêm sự giải đải chẳng bền công.

Mãi trông bên ngoài xao động,

Việc gì đối với TA như mờ quáng.

  1.  

Hai người HỌC TRÒ, học một THẦY,

Hôm THẦY sai HAI TRÒ đem thơ.

Lúc về TRÒ KHÓ nói rằng:

Trước mặt ta đi con Voi cái già.

Đi trước ta một giờ đồng hồ,

Con Voi cái đui một mắt trái.

Một lúc lại nói con Voi,

Còn đi cách xa một khúc lộ quanh.

Trên lưng Voi có người đàn bà,

Đàn bà ấy có thai sáu tháng.

Và con gái nhỏ sáu tuổi,

Làm cho người HỌC TRÒ SANG đi trước.

Điều đó làm TRÒ SANG không tin,

Khi kịp gặp con Voi mới biết.

TIÊN TRI THẦN NHÃN trò kia,

Khi về TRÒ SANG mách lại ÔNG THẦY.

Sự dạy học THẦY chẳng công bình,

Ông THẦY bảo: THẦY không có biết.

TIÊN TRI THẦN NHÃN phép gì,

THẦY đâu có dạy riêng tư TRÒ nào.

Học TRÒ KHÓ, nó mới thưa rằng,

Nhờ THẦY dạy, chăm chỉ ĐỊNH TÂM.

KHẨU – THÂN –Ý đều yên lặng,

Gắng công tìm xét, biết được việc ấy.

TRÒ KHÓ biết con Voi cái già,

Là bởi thấy dấu chân to lớn.

Con Voi đi trước một giờ,

Bởi phân tiểu đó mới vừa nguội lạnh.

Một mắt trái con Voi bị mù,

Bởi cỏ bên mặt mới đứt ngang.

Cỏ bên lề trái còn nguyên,

Con voi đi cách xa một khúc lộ.

Bởi dấu chân nơi lỏm cát ướt,

Nước ấy nó còn đang rỉ đọng,

Trên lưng Voi có một người,

Người đàn bà đang mang thai sáu tháng.

Và một em bé gái sáu tuổi,

Xem dấu chân chổ Voi đứng lại.

Hai người ấy liền bước xuống,

Dấu chân bé gái sáu tuổi nhỏ dài.

Dấu chân kia là của đàn bà,

Mà bên chân mặt lại nặng hơn.

Lún sâu nơi chổ đất khô,

Được như vậy cũng nhờ BA CÁI MẬT.

Cho nên nhận ra thấy hiểu,

Bởi vì chẳng bận việc bên ngoài.

  1.  

Cũng như vậy, các nhà TRINH THÁM,

Đều lạnh lùng với việc xã giao.

Sự danh lợi, sự phiền rộn,

NGƯỜI tuy ít nói, ít làm, ít nhớ.

Mà NGƯỜI được những thành công,

Không ai tìm ra được những bí mật.

  1.  

Có một nhà SƯU TẦM KHẢO CỨU,

Một KỸ SƯ nghề nghiệp, đạo thuật.

Bên ngoài không bị gàn trở.

Bên trong không ai thấy được TÂM NGƯỜI.

Người bí mật, hay người phi thường,

Người kỳ lạ, hay người siêu nhân.

Người TRỜI PHẬT ai cũng vậy,

Ai ai cũng ở trong cõi yên lặng.

Không ai lường biên đếm được,

Không ai bị những phứt tạp bên ngoài.

  1.  

Sự đi học của mỗi người,

Dầu cho có môn học nào cũng vậy.

Không ai dạy ai được cả,

Họ đều nương nhau trong lúc ban đầu.

Rồi sau tự ai nấy đi,

Đi trên cõi mênh mông không ai thấy.

  1.  

Người HỌC ĐẠO cũng đều như vậy,

Nương văn tự hình thức lúc đầu.

Rồi là họ đi sâu vào,

Ở trong huyền bí thâm u khó gặp.

Từ hữu vi, bước tới vô vi,

Như thân người, thân thú, cây cỏ.

Bỏ thân mà linh hồn đi,

Sẽ đi tới mãi, cái không cái thật.

Sẽ nối tiếp thay cho cái có…

Linh hồn còn, xác thân sẽ mất.

Người mà không có THẦN MẬT,

Người có xác thân, không có linh hồn.

Một người sợ ban đêm bóng tối,

Bởi kẻ ấy là thiếu tinh thần.

Do không có BA CÁI MẬT,

Sau khi chết, người ấy sẽ rất khổ.

Nếu gặp cảnh vắng vẻ sợ lắm,

Kẻ ấy sẽ ở chổ ồn ào.

Luôn luôn có nhiều người ở,

Người nầy luân hồi, khổ mãi, chết mãi.

Người ấy không tự chủ được,

Đời họ bị tai nạn như cát bụi.

  1.  

Một NGƯỜI TU giữ BA CÁI MẬT,

Ví dầu như chưa đắc quả PHẬT.

Tinh thần rất là mạnh mẽ,

Chính đó là một sức lực cứng cõi.

Đó là một bản lĩnh phi thường,

Càng NHẬP ĐỊNH, càng phát THẦN THÔNG.

Càng trang nghiêm, càng thuần hậu,

Giữ gìn oai nghi, luôn luôn chỉnh túc.

Người yên lặng tránh được họa tai,

Người có được bình đẳng bậc trung.

Không nên thái quá bất cập,

NIẾT BÀN của NGƯỜI vững chắc im lìm.

  1.  

Người đi sâu vào trong cái thật,

Không còn sợ lạc nẻo lầm đường.

Lộn quanh cái có thế gian,

Vậy nên sự học của NGƯỜI chính là:

Phải học giới, học định, học huệ,

Sự TU là trau GIỚI – ĐỊNH – HUỆ.

Tức là sự học tu theo,

Lẽ thật đúng pháp, không sợ giả dối.

Mới tránh được sự nguy hiểm,

Của sự tương đối, của sự lạc lầm.

  1.  

Chính cõi đời, là cõi lạc lầm,

Người lầm lạc, hoảng hốt rối loạn.

Phải chịu khổ tâm tội lỗi,

Thân này tội báo, càng vay, càng trả.

Vay trả mãi, cũng tại thân này,

Nợ càng thêm, tội nghiệp càng to.

Đã quen khổ não càng lấp,

Vô minh che lấp, nhắm mắt đi càng.

Còn biết đâu, phương hướng con đường,

Tìm GIẢI THOÁT, khó mà TỰ GIÁC.

  1.  

Tóm lại:

Nếu NGƯỜI muốn đắc sanh THẦN MẬT,

Điều đầu tiên GIỚI LUẬT nghiêm minh.

Xuất gia KHẤT SĨ TĂNG NI,

Lục căn thu thúc, giới trì tịnh thanh.

Có GIỮ GIỚI, để gìn TAM NGHIỆP,

Mới ngăn trừ, dứt được nghiệp trần.

Nên NGƯỜI GIẢI THOÁT hoàn toàn,

Ở nơi cảnh vắng êm đềm thâm u.

Nhờ cảnh VẮNG, tạo sanh TÂM vắng,

Nơi TÂM vắng, chính là miếng đất.

Của nơi NIẾT BÀN kỳ diệu,

Vậy nên NGƯỜI XUẤT GIA phải giữ giới.

Ở nơi vườn rừng am cốc,

Chổ thanh vắng vẻ dể tu THIỀN ĐỊNH.

  1.  

Đây NĂM GIỚI cũng là TÁM GIỚI,

GIỚI mới tập của người CƯ SĨ.

Ở trong TRẦN THẾ ồn ào,

Vậy cần tu tập giảm phần khổ thôi.

Chưa thể đắc, quả linh hiện tại,

Có rán lắm, đắc lúc lâm chung.

Giống như người mới XUẤT GIA,

Sự đi XUẤT GIA cũng như người CHẾT.

Một cái CHẾT, đắc quả còn THÂN,

Một cái CHẾT, đắc quả mất THÂN.

Giống nhau hai cái CHẾT ấy,

Cho nên sớm muộn gì ai cũng CHẾT.

Cái CHẾT rất vui, tự mình CHẾT,

Hơn là CHẾT khổ, tự ép ngặt.

Nhưng mà dầu sao đi nữa,

Cái CHẾT có ĐẮC QUẢ vẫn vui hơn.

Cái CHẾT không ĐẮC QUẢ rất khổ,

Vậy nên CHÚNG TA rán bỏ bớt:

Lạc lầm mê tríu hiện tại,

Tập cái CHẾT cho quen lần THANH TỊNH.

Cũng vì thế mà lúc xưa kia,

Người GIÁC NGỘ XUẤT GIA để tu.

Từ trong TU sanh ra HỌC,

Chớ không phải XUẤT GIA là để học.

HỌC mãi mà quên lo TU,

Đến khi CHẾT để TÂM còn vọng động.

Ắt phải bị luân hồi trở lại,

Bởi vì mãi ham HỌC quên TU.

Nên đời nay ít có ai,

THÀNH ĐẠO – ĐẮC QUẢ; trơn trợt bên ngoài.

Ít ai được vào sâu trái hột,

Ít có ai chịu nhận xét rằng:

TRÍ HUỆ sẽ sanh PHÁP BẢO,

Đúng hơn là PHÁP BẢO sanh TRÍ HUỆ.

Có GIỚI ĐỊNH, mới có HUỆ,

Chưa có THẦN THÔNG  đâu có TRÍ HUỆ.

Thế thì hãy khoan tưởng lầm,

Là mình ĐẮC ĐẠO, CHỨNG QUẢ chi hết.

 

 

-----ooOoo-----

BÀI LIÊN QUAN

Công Lý Võ Trụ (Chơn lý số 10)  ( NT. Minh Liên , 248 xem)

Chánh Đẳng Chánh Giác (Chơn lý số 9)  ( NT. Minh Liên , 296 xem)

Nam và Nữ  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 96 xem)

99 năm - Vầng dương hiện thế  ( Ngọc Hạnh , 112 xem)

Ứng dụng tinh thần Đạo đức của Tổ Sư trong thời kỳ Hội nhập - Phát triển  ( Nguyện Liên , 1644 xem)

Tư tưởng Thiền của Tổ sư Minh Đăng Quang trước môi trường sống và gội sạch tâm thức tự thân  ( Hòa thượng Giác Toàn , 4448 xem)

Lời tưởng niệm của Ni giới Hệ phái Khất sĩ  ( Ni Giới Khất Sĩ , 4484 xem)

Sợi chỉ Chơn lý nhiệm mầu  ( Hòa thượng Giác Toàn , 2488 xem)

Hoà thượng Giác Toàn thuyết giảng về con đường tìm lại chính mình  ( Ban TTTT Hệ phái , 3204 xem)

Rạng ngời trí tâm  ( Quang Toàn Thành Anh , 2080 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

Thông báo Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức tại các Tịnh xá, như sau: KHÓA 35: Tịnh xá Ngọc Lâm - Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu KHÓA 36: Tịnh xá Ngọc Long - Xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

VIDEO HÔM NAY

Ni sư Phụng Liên chia sẻ đề tài Giảng về nghĩa chữ Phật (P1) - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ