Trang chủ > Hoạt Động Hệ phái > Khoá Tu

Tám nền tảng đưa đến đời sống Phạm hạnh

Tác giả: SC. Hiển Liên phiên tả.  
Xem: 606 . Đăng: 14/10/2021In ấn

 

Tám nền tảng đưa đến đời sống Phạm hạnh

 

SC. Hiển Liên phiên tả

 

 

Sáng ngày 13/10/2021 (nhằm mùng 08/09/Tân Sửu), thuận theo sự sắp sếp của Ban Tổ chức khóa tu, TT. Giác Phổ - Trưởng ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh Đăk-Lăk, Chánh Thư ký Ban Hoằng pháp Hệ phái Khất sĩ, Tri sự tại Tịnh xá Ngọc Quang, TP. Buôn Mê Thuột, đã thăm viếng và chia sẽ ý pháp qua đề tài “Tám nền tảng đưa đến đời sống Phạm hạnh” cho các hành giả tham dự khoá tu “Sống chung tu học” của Ni giới Giáo đoàn III, Hệ phái Khất sĩ, trên diễn đàn online qua phần mềm Google Meet và được livestream trực tiếp trên Facebook trang Pháp âm Khất sĩ.

Bắt đầu thời pháp, Ngài trình bày sơ lược “Phạm hạnh” trong Kinh A-hàm. Khi nói đến đời sống Phạm hạnh thì ai cũng hiểu, bản thân là người xuất gia, dù bất cứ ở hoàn cảnh nào, phương diện nào, chúng ta cũng phải tu tập Phạm hạnh của người tu sĩ. Để học được hạnh tu này, chúng ta phải nương vào lời dạy của đức Phật.

“Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

– Nếu có các ngoại đạo xuất gia đến hỏi ngươi rằng: “A-nan, vì sao dạy người  tu các Phạm hạnh.” Được hỏi như vậy, nên đáp thế nào?

Tôn giả A-nan bạch Phật:

– Bạch Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia đến hỏi con rằng: “A-nan, vì sao Thế Tôn dạy người tu các Phạm hạnh?” thì con sẽ trả lời rằng: Vì để đối với sắc, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên đức Thế Tôn dạy tu các Phạm hạnh. Vì để đối với thọ, tưởng, hành, thức, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các Phạm hạnh. Bạch Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia hỏi như vậy, thì con cũng sẽ đáp như vậy.

Phật bảo Tôn giả A-nan:

– Lành thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. Vì sao? Thật vậy, Ta vì đối với sắc mà tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các Phạm hạnh. Và vì đối với thọ, tưởng, hành, thức, tu  tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các Phạm hạnh.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành”. (Kinh Tạp A-hàm, số 50)

Thứ hai, Ngài nói về Phạm hạnh của Ngài Ca-diếp:

1. Y phục làm bằng những mảnh vải rách.

2. Chỉ dùng ba y.

3. Khất thực mà ăn.

4. Chỉ ăn một bữa vào giờ trưa.

5. Không ăn quá no.

6. Không giữ tiền bạc.

7. Sống độc cư.

8. Sống trong nghĩa địa.

9. Sống dưới gốc cây.

10. Sống ngoài trời.

11. Không ở cố định, thường du hành.

12. Ngồi ngủ, không nằm ngủ.

13. Chỉ dùng bình bát. 

Thượng tọa nhấn mạnh những ý cần phân tích như khất thực là pháp tu căn bản của người Khất sĩ, là hạnh tu của Phật Tăng thuở xưa. Đừng vì lợi dưỡng mà phụng sự cái thân này một cách quá đáng. Ăn càng nhiều thì tham dục càng nhiều. Vậy nên, ăn đủ sống nuôi thân mạng mà thôi. Thêm vào đó, cái phiền toái lớn nhất của tu sĩ là xây dựng vì vấn đề kinh tế khiến cho tâm không thanh tịnh, khó mà tu được. Đối với ngày nay, đời sống độc cư không phải là sống một mình nơi núi rừng mà tìm một tịnh thất đẹp đẽ, đầy đủ tiện nghi, cuộc sống tự do bay nhảy, dùng vật chất để trau dồi cái thân này, lãng quên đường lối tu hành của Phật Tăng xưa. Vì thế, chúng ta nên xem xét những Phạm hạnh nào mà có thể làm được thì nên thực hiện. Mười ba Phạm hạnh này được đức Phật tán thán và Ngài Ca-diếp đã hành trì suốt cuộc đời của mình.

 

 

Cái chính thứ ba là Thượng tọa giảng về Tám Phạm hạnh trong Kinh Tăng chi bộ.

– Này các Tỷ-kheo, có tám nhân duyên này để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh khi chưa đạt được, và sẽ đem lại sự tăng trưởng, thuần thục và viên mãn để phát triển trí tuệ đã đạt được. Thế nào là tám?

 (1) Ở đây, vị Tỷ-kheo sống nương tựa vào bậc Đạo sư hay một vị đồng tu trong vai trò giáo thọ, và vị Tỷ-kheo này đã có một cảm giác tàm quý sắc bén (hổ thẹn và sợ hãi), và tỏ ra ái mộ kính trọng đối với vị giáo thọ ấy. Đây là nhân duyên thứ nhất để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

Nhân duyên đầu tiên đức Phật dạy trong đời sống Phạm hạnh là phải có tàm và quý. Người tu sĩ phải tự hổ thẹn với chính mình được gọi là “tàm”. Đối với người mà sinh tâm hổ thẹn được gọi là “quý”. Nhờ biết tàm quý mà chúng ta dừng lại cái tâm u mê, dục vọng sai khiến mình. Ở thế gian, cũng nhờ cái tâm tàm quý mà gia đình luôn được bảo hộ, gia phong được duy trì, sống xứng đáng làm con người ở cõi nhơn thiên.

Chính cái tâm hổ thẹn và sợ hãi thúc đẩy đời sống tu học của chúng ta tiến bộ mỗi ngày trên con đường đạo đức. Vậy nên, Thượng tọa nhấn mạnh: “Tàm quý là bước đầu tiên tiến đến con đường giác ngộ, ly tham, viễn ly”.

(2) Do vị Tỷ-kheo sống nương tựa vào các bậc thầy này, vị ấy thường đến gần và hỏi các bậc thầy: “Thưa Tôn giả, điều này là như thế nào? Ý nghĩa của nó ra sao?” Các bậc thầy này lúc đó sẽ khai mở cho vị Tỷ-kheo những gì chưa được khai mở, làm rõ nghĩa những gì còn mơ hồ, và giải tỏa sự hoang mang của vị Tỷ kheo về nhiều điểm còn nghi vấn. Đây là nhân duyên thứ hai để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

Điều thứ hai, đức Phật dạy các đệ tử sống phải biết nương tựa các bậc thầy qua thân giáo, khẩu giáo. Mới bước vào đạo, tâm còn vọng tưởng, chưa thực hành được các pháp nên bậc thầy chỉ bảo làm công quả để an trú vào công việc để tạo phước đức. Nếu không có pháp tu rõ ràng thì sẽ rơi vào đam mê thú vui ở đời như: Facebook, Zalo, Youtube,... Nên lấy pháp công quả để giữ cái tâm của mình và bậc thầy lớn nhất chính là kinh điển, có xem kinh điển, gần gũi các bậc thầy thì mới tháo gỡ những khúc mắc trong thân tâm. Có nghi mới có ngộ, đại nghi thì đại ngộ.

(3) Sau khi đã học hỏi giáo pháp, vị ấy cố gắng thành tựu hai thứ an tịnh: An tịnh thân và an tịnh tâm. Đây là nhân duyên thứ ba để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

An tịnh thân là tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền. An tịnh tâm là mắt gián vào kinh, miệng đọc tụng, tâm yên tịnh. Cái khó nhất là ngồi thiền, nếu không an trú vào đề mục thì dễ sanh vọng tưởng và hôn trầm. Vì thế, để cho trí tuệ được phát sinh, chúng ta cần phải an tịnh thân tâm của mình.

(4) Vị ấy có đức hạnh, biết chế ngự bằng những giới luật của Giới bổn Tỷ-kheo, (8) đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy rõ sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhất. Chấp nhận những quy luật huấn luyện, vị ấy tự học tập và rèn luyện mình. Đây là nhân duyên thứ tư để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

“Bước đầu bổn phận làm trò,

Cả thân tâm ý dâng cho người thầy.

Mặc người uốn nắn chuyển xoay,

Đặng mình diệt hẳn riêng tây ý xằng.”

(Bài kệ Ý - Luật nghi Khất sĩ)

Người xuất gia bước đầu vào đạo thì sẽ được bậc thầy chỉ dẫn oai nghi, giới hạnh. Trong Thập lục hạnh, mỗi hành giả đi, đứng, ngồi, nằm đều được rèn luyện một cách cẩn thận. Chấp nhận những quy luật huấn luyện ấy, chúng ta sẽ trở thành bậc mô phạm, xuất trần thượng sĩ.

(5) Vị ấy học hỏi nhiều, nhớ những gì mình đã học hỏi và củng cố những gì đã học hỏi. Những giáo pháp ấy tốt đẹp ở chặng đầu, tốt đẹp ở chặng giữa và tốt đẹp ở chặng cuối, với ý nghĩa và lời văn diễn đạt đúng đắn, xác nhận đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh - những pháp này vị ấy đã học hỏi nhiều, thuộc lòng, tụng đọc, chuyên tâm nghiên cứu và khéo thể nhập với chánh kiến. Đây là nhân duyên thứ năm để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

Nếu học rộng nghe nhiều mà không thực nghiệm tâm linh, không ứng dụng vào việc làm, tri hành không hợp nhất, hạnh giải không tương ưng thì khó mà đến được chỗ tốt đẹp của đạo. Người xưa thường nói: “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu thì chẳng khác nào cái đãy đựng sách”. Quảng học đa văn mà không lập chí hướng thượng thì chỉ làm mồi cho ngũ dục (chạy theo dục lạc thế gian), đôi lúc lại sa vào chỗ cao tâm (tăng thượng mạn), như con thiêu thân vì ham ánh sáng mà bay tấp vào ngọn đèn, khó lòng tránh khỏi cái họa bị lửa đốt. Tiếc thay cho những kẻ mãi vẩn vơ hái hoa bắt bướm ở hai bên vệ đường mà quên rằng mình định đi đâu, đến đâu, làm uổng phí công lao những người dọn đường và chỉ lối!

Học là phải nhớ, khi nhớ rồi ráng thực hành trong đời sống tu tập của mình. Giáo pháp ấy đem lại sự tốt đẹp cho mỗi hành giả ngay từ thời điểm tập sự cho đến khi trưởng thành. Chúng ta lớn lên hành đạo là làm chỗ nương tựa cho cư gia, bá tánh. Nói cách khác là sơ thiện, trung thiện và hậu thiện. Ba thời đều an lành và thiện.

(6) Vị ấy tinh cần, sống với nỗ lực nhắm vào việc từ bỏ các pháp bất thiện và đạt được các thiện pháp. Vị ấy vững vàng và dũng mãnh trong nỗ lực của mình, không lãng tránh nhiệm vụ đối với các thiện pháp. Đây là nhân duyên thứ sáu để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

Đời sống Phạm hạnh của người xuất gia cần phải tinh cần, tinh tấn. Có câu:

“Trên đường đạo không gì bằng tinh tấn,

Không gì bằng trí tuệ của đời ta,

Sống điêu linh trong kiếp sống ta-bà,

Chỉ tinh tấn là vượt qua tất cả”

Vậy nên, chúng ta tinh tấn làm những việc thiện lành, đoạn trừ các việc bất thiện, hướng đến con đường giải thoát giác ngộ an vui. Khi các thiện pháp sanh khởi và lấp đầy thân tâm thì các bất thiện pháp sẽ không có chỗ tạo tác.

(7) Khi vị ấy đến giữa chư Tăng, vị ấy không tham gia vào những câu chuyện phù phiếm vô ích. Tự mình nói vế giáo pháp hay yêu cầu người khác nói pháp, hoặc vị ấy không tránh né việc giữ im lặng của bậc Thánh. Đây là nhân duyên thứ bảy để có thể chứng được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh...

Kẻ nào vì mến đạo mà chuyên trau giồi kiến thức, ứng dụng sở tri vào việc ngôn tránh hý luận, dựa nương vào đạo để vun bồi lợi ích cá nhân (danh vị, lợi dưỡng), không khéo kẻ ấy sẽ trở thành người phá đạo, làm hoen ố đạo. Vậy nên, người xuất gia giữ khoảng cách với mọi người là để yên tâm tu tập, trau dồi bản thân, hoàn thành sứ mạng tự độ, độ tha của mình. Hơn nữa, ngày nay, chuyện phù phiếm tràn lan mạng xã hội và đời sống, nếu chúng ta không tự mình tỉnh thức, sống trong chánh pháp, giữ sự im lặng của bậc Thánh, chúng ta đang xa dần đời sống Phạm hạnh.

(8) Vị ấy sống và quán chiếu sự sanh diệt của năm thủ uẩn, như thế này: “Đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt; đây là thọ... đây là tưởng... đây là hành... đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt.” Đây là nhân duyên thứ tám để có thể chứng được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh... Do tám nhân duyên này, các bạn đồng tu kính trọng vị ấy như là người đã biết và thấy đúng như thật, và những phẩm hạnh ấy đưa đến sự ái mộ, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết. Này các Tỷ-kheo, đây là tám nhân duyên để có thể đạt được trí tuệ làm nền tảng cho đời sống Phạm hạnh khi chưa đạt được, và sẽ đem lại sự tăng trưởng, thuần thục và viên mãn để phát triển trí tuệ đã đạt được.

Bởi do nhân hòa hợp tất cả những nghiệp duyên từ trong quá khứ mà kiến tạo ra con người trong kiếp này. Nói một cách khác, con người chỉ là sự kết hợp, tạo thành của ngũ uẩn mà thôi. Bởi vì, uẩn có nghĩa là tích tụ thành một khối. Ngũ uẩn thì có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và sau cùng là thức uẩn. Một cách dễ hiểu là thân thể con người gồm có hai phần là thân xác và tâm linh. Phần thân xác có hình dáng nên gọi là sắc uẩn còn phần tâm linh vì không có hình sắc nên gọi là danh và bao gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.

Vậy “ngũ uẩn” là một danh từ dùng chỉ cho con người hay nói một cách rộng rãi là chỉ cho toàn thể nhân sinh vũ trụ. Và tiến trình thấy rõ tất cả những hiện tượng vật chất và tâm này không kéo dài, chúng chỉ tạm thời khởi sinh rồi hoại diệt. Thật vậy, các hiện tượng vật chất và tâm khởi sinh một cách đơn độc rồi mất tức khắc một cách đơn độc. Chúng ta sẽ thấy một cách rõ ràng chúng không độc lập, chúng bị đàn áp bởi sinh diệt, không toại nguyện, và không có linh hồn, tự ngã, không cốt lõi; ta không thể kiểm soát sự sinh diệt của chúng, chúng diễn ra theo những duyên liên hệ của chúng. Tất cả năm uẩn - sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, đều mang đặc tính là vô thường, khổ, và vô ngã. 

Khi thấy được ba đặc tính đó, chúng ta quán chiếu sự sanh diệt của năm thủ uẩn cho đến khi chín muồi. Nhờ quán sát các hiện tượng vật chất và tâm, cuối cùng năm uẩn sẽ bị loại trừ, phát sanh trí tuệ, tâm nhu nhuyến, định tĩnh, được mọi người kính mến, mô phạm cho trời, người. 

Tóm lại, người xuất gia tu hành Phạm hạnh là suốt đời giữ giới, phòng hộ các căn, nuôi mạng thanh tịnh, chánh niệm tỉnh giác nhằm phát huy tuệ giác phá tan chấp thủ năm uẩn. Giải thoát hay khổ đau đều bắt đầu từ năm uẩn của thân tâm này. Nếu chấp thủ, dính mắc, còn sanh y đối với năm uẩn thì thuận chiều sinh tử. Ngược lại, cũng từ năm uẩn, nếu ‘yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh’ thì chứng đạt giải thoát. Trong Chơn lý, số 6 “Có và không”, đức Tổ sư dạy: “Có giữ giới vạn vật mới tốt đẹp, có thiền định chúng sanh mới sống đời, có trí huệ các pháp mới trọn lành trong sạch.”

-----ooOoo-----

Nguồn: daophatkhatsi.vn 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVII

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVII

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ