Trang chủ > Hoạt Động Hệ phái > Khoá Tu
Nhân sinh quan Phật giáo theo cái nhìn của đức Tổ sư Minh Đăng Quang
Xem: 6362 . Đăng: 14/10/2021In ấn
Nhân sinh quan Phật giáo theo cái nhìn của đức Tổ sư Minh Đăng Quang
SC. Tri Liên
.jpg)
(Pháp thoại của HT. Giác Thành - Tri sự phó kiêm Trưởng ban Tăng sự Giáo đoàn III)
Hôm nay, ngày 6/9/Tân Sửu (11/10/2021), trên diễn đàn khoá tu online do Ni chúng Giáo đoàn III tổ chức, khóa tu Sống chung tu học lần thứ 13 được diễn ra. Học online là một phương tiện mới mẻ được ứng dụng tổ chức tu học cho Tăng Ni hiện nay. Tình hình đại dịch Covid kéo dài, ảnh hưởng rất lớn đến toàn cầu và đời sống tu tập của Tăng đoàn Phật giáo, nhưng với tinh thần cầu tu, cầu học của Ni chúng đã mở ra khoá tu này. Đây là việc làm đáng được khích lệ, đáng được tán dương.
Nay nhà Sư được Ban Tổ chức mời đến để thăm hỏi, sách tấn và có vài ý pháp gởi đến toàn thể Ni chúng. Chủ đề hôm nay chúng tôi gởi đến đại chúng là Nhân sinh quan Phật giáo theo cái nhìn của đức Tổ sư. Trong bộ Chơn lý, từ bài Võ trụ quan (sự hình thành quả địa cầu) cho đến Ngũ uẩn, Lục căn, Thập nhị nhân duyên và Bát chánh đạo, đức Tổ sư trình bày rất nhiều vấn đề liên quan đến con người trong vũ trụ.
Trong Tiểu Kinh Māluṅkya (thuộc Trung bộ, số 63), Tôn giả Māluṅkyaputta đặt những câu hỏi đến đức Thế Tôn về sự hình thành của vũ trụ và con người, như con người từ đâu sanh ra và khi chết đi về đâu… Nhưng đức Phật không trả lời câu hỏi này, Ngài thường quở trách các đệ tử không nên quá chú trọng về hình thức vì nó không đem lại lợi ích gì cho đời sống Phạm hạnh. Ngài lấy ví dụ sau: “Như một người bị mũi tên bắn, và đó là mũi tên có tẩm nhiều thuốc độc. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ đến chữa trị chăm sóc. Nhưng người ấy không chịu mổ và nói: “Tôi sẽ không rút mũi tên này ra một khi tôi chưa biết được người nào đã bắn tôi, người đó thuộc dòng hoàng tộc, Bà-la-môn hay thương gia, hay người làm công, và mũi tên làm bằng loại gì, v.v…”.
Khi bị mũi tên bắn trúng người, việc trước tiên, có trí chỉ nên tìm cách rút mũi tên ra và thoa thuốc vào. Không cần phải quan tâm đến mũi tên xuất phát từ đâu, do ai bắn ra, nó thuộc loại tên gì và làm bằng cách nào, v.v… tất cả đều không quan trọng. Nếu cứ loay hoay tìm hiểu những điều không cần thiết thì sẽ bị chết trước khi biết được nguyên nhân của nó. Do đó, đối với vấn đề vũ trụ, đức Phật không trả lời, vì đây là vấn đề rất rộng lớn và nó cũng không đem đến lợi ích cho hành giả tu tập Tâm giải thoát hay Tuệ giải thoát.
Trong bộ Chơn lý, đức Tổ sư cũng đề cập sơ lược về Thế giới quan và sau đó là Nhân sinh quan. Nhân sinh quan không chỉ đề cập đến con người mà đề cập đến tất cả chúng sinh, từ cỏ cây cho đến thú người trời Phật. Ngài mô tả con người sinh ra từ loài thú rồi tiến hoá lần lên. Đây cũng là một học thuyết tiến hoá mà các nhà khoa học cũng đã chứng minh. Nhưng trong đạo Phật, còn có một học thuyết khác là học thuyết về nghiệp. Con người không phải do loài thú tiến hoá thôi, mà còn do nghiệp.
.jpg)
.jpg)
Trong Kinh Tăng chi bộ, đức Phật xác nhận: “Này các Tỳ Kheo, Như Lai gọi Tư tâm sở (hành động có chủ ý) là nghiệp. Vì có chủ ý nên người ta mới hành động bằng thân, bằng lời và bằng tư tưởng”. Nghiệp (kamma) không phải là thuyết định mệnh, cũng chẳng phải là một giáo lý bàn đến sự tiền định. Nghiệp quá khứ ảnh hưởng đến hiện tại thật nhưng không hoàn toàn chi phối nó, vì Nghiệp (kamma) thuộc về quá khứ cũng như hiện tại.
Quá khứ và hiện tại ảnh hưởng đến tương lai, có thể xem quá khứ là nền tảng, dựa vào đó, cuộc sống diễn tiến từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Tương lai thì chưa đến, chỉ có khoảnh khắc hiện tại là hiện hữu. Do đó, khôn ngoan sử dụng khoảnh khắc hiện tại vào mục đích tốt hay xấu, hoàn toàn tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân. Mỗi hành động đều tạo ra một kết quả và chính nhân đi trước và quả theo sau, vì thế cho nên chúng ta nói về Nghiệp như nói đến quy luật Nhân quả. Do đó, chúng ta cần phải thận trọng trong mỗi hành động của chính mình.
Ðức Phật dạy:
“Giống nào người đã gieo,
Từ đó quả người gặt,
Hành thiện gặp quả thiện,
Hành ác gặt quả ác,
Ðã gieo hạt giống nào,
Người phải gặt quả nấy”. (Kinh Tương ưng, quyển 1)
Trong kinh “Khởi thế nhân bổn” của Trường bộ, đức Phật dạy rằng, nguồn gốc của con người đầu tiên trên trái đất là do những người tại cõi Quang Âm thiên (cõi thứ 6 trong 16 cõi trời Sắc giới) chuyển sinh xuống sau khi trái đất hình thành. Như vậy, theo quan điểm của Phật giáo, nguồn gốc của con người trên trái đất này được xuất phát từ một thế giới khác trong vũ trụ.
Những người này đến cõi ta-bà, thấy những điều kỳ lạ, như nước lóng lánh giống như sữa và họ nếm thử, sau đó họ thấy có vị thơm ngon và khởi tâm ham thích. Từ đó, họ mất đi thần thông, không thể bay về xứ họ nữa và họ trở thành loài người đầu tiên trên trái đất này. Họ là người của cõi trời nên họ có sắc vóc xinh đẹp và trí tuệ, nhưng ở mặt đất lâu ngày, ăn những thức ăn do đất sinh ra nên họ trở nên xấu xí và nặng nề, từ đó, họ tạo ra bao nhiêu tội lỗi, chịu luân hồi sinh tử, trầm luân và mỗi một kiếp là sự đổi thay thân xác và tính cách. Vì vậy, có đoạn thơ sau:
Thật ra là một tràng mê
Từ đời vô thỉ kéo lê đến giờ
Biết bao kiếp lên bờ xuống nước
Khi thăng thiên, khi rớt xuống phàm
Kiếp người, kiếp thú lam nham
Kể sao hết nỗi thăng trầm tiền thân
Khi thì phú, khi bần cùng hạng
Lúc ấm no, lúc chẳng áo cơm
Khi ngói gạch, khi lá rơm
Lúc làm quân tướng, lúc làm tù nhân
Kiếp thì bị treo thân lủng lẳng
Khi thì ngồi chập cẳng ra oai
Kiếp thì chết chẳng chôn thây
Kiếp thì tống táng chật ngoài chật trong
Kiếp thì bị trôi sông lạc chợ
Kiếp thì thây tan rã giữa đồng
Kể sao hết kiếp não nùng
Của tiền kiếp, khách trần hồng đã mang
Kiếp làm gái chịu đàng đẻ chửa
Kiếp làm trai con vợ đùm đề
Khi thì trọn nghĩa phu thê
Khi thì bướm chán ong chê giữa chừng
Có kiếp bị cùi phong, xụi bại
Có khi thì điên dại mù câm
Sống không nhà cửa ăn nằm
Lang thang đường phố xin ăn qua ngày
Có kiếp bị bọn trai lừa gạt
Có kiếp thì bị thát vì tình
Kiếp thì làm kẻ bán mình
Kiếp thì cô quạnh trong tình cấm cung
Khi thì được anh hùng vang dội
Khi thì mang lấy tội phản thần
Kiếp thì quý tợ ngàn cân
Khi thì rẻ nát còn hơn con giòi
Kiếp thì được người coi như vua chúa
Khi thì ra thân đứa ăn mày
Mới cười, kế khóc chua cay
Cứ như thế đó đổi thay không ngừng…
Ý này cũng được Tổ sư khẳng định trong trong Chơn lý “Sanh và Tử”, “Nam và nữ” rằng nghiệp được tạo ra do hành động, lời nói và ý nghĩ từ lục căn, lục trần và lục thức dẫn đến chuỗi dài của sự sống và chết, sự luân hồi vô tận của kiếp nhân sinh. Do đó, nhà thơ Bùi Giáng nói:
“ Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc,
nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay.”
Dạo chơi cõi trần này có rất nhiều nguy hiểm và rủi ro, chẳng hạn như đại dịch Covid đang lan tràn và hoành hành trong cả nước và trên thế giới tạo ra muồn vàn khó khăn. Nhiều người bị mắc kẹt nơi tâm dịch khi đến nơi đó vì một công việc và rồi không thể rời đi. Ở đó, người ta phải đối mặt với những hiểm nguy, chết chóc. Cho nên, đối với kiếp nhân sinh này, chúng ta cứ tưởng là dạo chơi một chút nhưng nếu tạo ra nghiệp thì phải bị trầm luân vô lượng kiếp có khi đánh mất cả chính mình.
Trong nhiều kinh bàn về luật nhân quả, nói kiếp sống hiện tại không phải là kiếp sống duy nhất mà chúng ta sẽ còn phải tái sinh nhiều lần trong vòng luân hồi cho tới khi được giải thoát. Từ niềm tin có nhân quả báo ứng trong đạo Phật ảnh hưởng từ kiếp này tới kiếp khác sẽ giúp chúng ta có cái nhìn thông suốt từ quá khứ, hiện tại đến vị lai. Nhìn về thân phận, kiếp sống của mình trong hiện tại để thấy những gì mình đã làm trong quá khứ và những hành động trong kiếp sống này sẽ tạo ra quả nghiệp gì trong tương lai. Nếu quả nghiệp trong kiếp sống này không được con người sửa chữa thì nó sẽ là hạt giống cho nhân quả ta phải nhận trong tương lai. Cho nên mới nói “ngày xưa quả báo thì chầy, ngày nay quả báo một giây nhãn tiền.” Nhìn thấy nhân quả báo ứng để chọn đường thiện mà đi, tránh những đày đọa về sau.
Một số tôn giáo cho rằng con người được Thượng đế sinh ra. Trong Kinh Tăng chi bộ, quyển 1, mô tả một đoạn về quan điểm của các giáo phái thời đó liên quan đến nguồn gốc của con người: “Mọi cảm thọ lạc, khổ hay trung tính mà con người thọ nhận, tất cả những thứ đó đều do sự sáng tạo của một đấng Thượng đế toàn năng.” Không đồng ý với điều này, đức Phật dạy: “Nếu cho là như vậy, thì do sự sáng tạo của Thượng đế toàn năng mà con người sẽ trở thành kẻ sát nhân, trộm cắp, tà dâm, dối trá, phỉ báng, lường gạt, mách lẻo, tham lam, nham hiểm và tà kiến. Ðối với những người chấp nhận sự sáng tạo của Thượng đế là lẽ phải tất yếu như vậy, hiển nhiên họ sẽ không muốn làm, hay không cần thiết phải làm điều này, tránh làm điều nọ”.
Ðề cập đến các tu sĩ loã thể đang hành khổ hạnh, đức Phật nói: “Này các Tỳ Kheo, nếu các chúng sanh phải thọ lãnh khổ đau và hạnh phúc do sự sáng tạo của Thượng đế, vậy thì các tu sĩ loã thể này ắt hẳn đã được tạo ra bởi một vị Thượng đế ác độc, vì hiện tại họ đang thọ lãnh khổ đau quá mức.” (Kinh Devadaha, thuộc Trung bộ, số 101). Vì vậy, chính con người phải có trách nhiệm đối với hạnh phúc và khổ đau của mình; con người tạo ra thiên đàng và địa ngục cho chính mình, họ là chủ nhân ông của số phận riêng của họ, là con của quá khứ và cha mẹ của tương lai.
Nói về nhân sinh quan, đức Phật dạy trong kinh, duyên khởi của con người là do vô minh. Vô minh là gốc là nhân quá khứ và ái dục là nhánh lá, là sự tiếp diễn đời này sang đời sau, kiếp này sang kiếp sau. Không phải chúng ta có mặt trong một kiếp mà là vô lượng kiếp. “Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Đây gọi là lý duyên khởi (hay lý duyên sinh).”
“Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn toàn, hành diệt; do hành diệt nên thức diệt; ...; lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Này các Tỳ-kheo, như vậy là đoạn diệt.” (Kinh Tương ưng, quyển 2)
Vì con người bị vướng mắc vào vô minh, ái, thủ, nên vì lợi ích giải thoát, Thế Tôn đã trình bày Duyên khởi dưới dạng thức mười hai chi phần nhân duyên. Với sự có mặt của tham ái hay chấp thủ, các chi phần nhân duyên của Duyên khởi được nhìn thấy là hữu vi (vô thường, đoạn diệt); với những ai ngay trên đời này mà ái diệt, thủ diệt thì các pháp là không khổ đau, là trung đạo, là vô vi, như chính Thế Tôn xác định quan điểm của mình: “Khi Tôi thanh tịnh, Tôi thấy thế giới thanh tịnh”. Bài kệ mở đầu Trung Luận, Tổ Long Thọ cũng nói lên ý nghĩa ấy:
“Bất sanh diệc bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn,
Bất nhất diệc bất dị,
Bất khứ diệc bất lai,
Năng thuyết thị nhân duyên,
Thiện diệt chư hý luận.” (Chương I, Trung Luận)
Cảnh giới của mỗi người tu hành là do chính mình tạo ra, con người là trung tâm điểm trong vũ trụ. Cho nên Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió, không có Hư không vô biên xứ, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng, mặt trời. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sinh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn diệt khổ đau.”
Và: “Này các Tỷ-kheo, có sự không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có sự trình bày xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi.” (Kinh Tiểu bộ).
.jpg)
Qua những cách định nghĩa về duyên khởi của đức Thế Tôn, chúng ta có thể rút ra được những nhận định sau đây về giáo lý Duyên khởi. Thứ nhất, các pháp do duyên mà sinh và cũng do duyên mà diệt. Chúng không bao giờ tồn tại độc lập. Chúng ta không thể tìm thấy một linh hồn bất tử, một bản ngã nào chi phối các pháp. Điều này nói lên tính chất vô ngã của các pháp. Các pháp mang tính duyên sinh là các pháp hữu vi, có sinh có diệt. Pháp vô vi không nằm trong phạm vi duyên khởi. Định nghĩa quan trọng nhất có lẽ là mười hai chi phần nhân duyên. Đức Phật thuyết minh mười hai chi phần duyên khởi chủ yếu nhắm vào con người. Khi mười hai nhân duyên sinh khởi tức toàn bộ khổ đau tập khởi. Và khi mười hai nhân duyên đoạn diệt đồng nghĩa với khổ đau đoạn diệt. Định nghĩa duyên khởi qua mười hai chi phần nhân duyên có giá trị đặc biệt trong sự tu tập giải thoát khổ đau. Đồng thời nó rất có giá trị về mặt tìm hiểu về nhân sinh quan của chúng hữu tình.
Cuối cùng, chúng ta biết rằng thế giới của mỗi người do chính người đó tạo nên, tốt, xấu, cao, thấp…đều tương ưng với tâm tưởng của họ, vì con người chính là chủ nhân ông của nghiệp. Do đó, có câu thơ viết rằng:
Đời là đường sắt dài vô tận,
Ta một thế nhân một chuyến tàu,
Hết đến ga này ga khác đến,
Con tàu không trụ ở ga nào.
Tàu toả khói mờ, tàu chuyển bánh,
Ga tàu ủ rũ đứng trong sương,
Nhưng nào ngăn được nào giam được,
Cái kiếp con tàu kiếp bốn phương.
.jpg)
.jpg)
Tóm lại, sau khi trình bày nguyên nhân con người sinh ra và những hệ luỵ mà con người phải chịu sanh tử luân hồi, cuối cùng, đức Phật dạy phương pháp tu tập đó là Bát chánh đạo hay Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Tu tập nghiêm túc theo giáo pháp này, con người phá bỏ được tất cả phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến), sẽ được thăng tiến dần dần, từ người lên đến trời, cho đến đạt được bốn Thánh quả A-la-hán, giải thoát khổ đau và đạt được an vui ngay trong kiếp sống hiện tại, chấm dứt chuỗi dài sanh tử luân hồi.
-----ooOoo-----
Nguồn: daophatkhatsi.vn
BÀI LIÊN QUAN
HT. Giác Pháp thăm và sách tấn Ni giới Giáo đoàn III nhân khóa Sống chung tu học lần thứ 13 ( SC. Liên Phiên tóm tắt , 4132 xem)
Ni giới Giáo đoàn III: Khóa tu Sống chung tu học lần thứ 13 - ngày thứ 4 ( Ban Thư Ký Khóa Tu , 6836 xem)
Ni giới Giáo đoàn III: Khóa tu Sống chung tu học lần thứ 13 - ngày thứ 3 ( SC. Trang Liên , 3929 xem)
Ni giới Giáo đoàn III: Khóa tu Sống chung tu học lần thứ 13 - ngày thứ 2 ( SC. Hội Liên , 4232 xem)
Ý nghĩa sống chung tu học qua “Tiểu kinh Rừng Sừng Bò” ( TN. Liên Lộc tóm tắt , 8672 xem)
Ni giới Giáo đoàn III: Khóa tu Sống chung tu học lần thứ 13 - ngày thứ nhất ( Ban Thư Ký Khóa Tu , 7264 xem)
Sống chung tu học qua ý pháp Lục hòa ( Mây Viễn Xứ , 4296 xem)
Ni giới Giáo đoàn III: Khai mạc Khóa tu Sống chung tu học – Lần thứ 13 ( Ban Thư Ký Khóa Tu , 5684 xem)
Ni sư Tín Liên hướng dẫn pháp tu thiền và trả lời câu hỏi của thiền sinh ( Ban Truyền thông NGKS , 6588 xem)
Ni sư Tín Liên chia sẻ Chơn lý tâm tại Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất Sĩ ( Ban Truyền thông NGKS , 5960 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













