Trang chủ > Hoạt Động Hệ phái > Khoá Tu

Ni sư Tín Liên chia sẻ Chơn lý tâm tại Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất Sĩ

Tác giả: Ban Truyền thông NGKS.  
Xem: 5958 . Đăng: 26/09/2021In ấn

 

Ni sư Tín Liên chia sẻ Chơn lý tâm tại Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ

 

Đức Tổ sư luôn chú trọng pháp niệm tâm. Tổ sư đã dạy cho Đệ nhị Tổ về cách nhìn tâm, niệm tâm khi ngày đầu tiên Nhị Tổ xin học về pháp môn thiền. Trong chơn lý Sổ tức quan, Tổ sư cũng nói rằng pháp niệm sổ tức tuy hay chẳng bì đặng pháp ngó chừng trái tim tức là niệm tâm, Ngài cho rằng niệm tâm hết sức quan trọng bởi vì nó chi phối trực tiếp đến thân và khẩu của mỗi người. Và trong chơn lý Tâm của Tổ sư chữ tâm còn phát triển đến Thánh tâm, là chơn tâm Phật tánh. Tức là chữ Tâm không chỉ gói gọn trong tâm của người thế gian, tâm sẽ có những chừng mực của bậc chư thiên, của bậc Thánh, của Phật.

 

 

 

Như thế, trong chơn lý Tâm này chữ tâm phát triển lên từng bậc. Khi chúng ta nói đến thân khẩu ý; chữ ý chúng ta nghĩ là tâm của mình, khẩu là thuộc về miệng, thân và khẩu đều từ trong ý, trong tâm chúng ta nó phát tác, nó chỉ đạo nên chúng ta mới bộc lộ biểu hiện ra ở thân và khẩu. Ở đây chúng ta sẽ thấy ý nghĩa chữ tâm được Tổ sư giải thích rộng hơn, từng bậc tiến lên qua 5 phần:

- Phần thứ nhất là ý nghĩa chữ tâm: Tổ sư giải thích ý nghĩa của chữ tâm trong chữ Hán.

- Phần thứ hai Tổ nói là tâm sanh ra vạn pháp.

- Phần thứ ba: Tâm quyết định sự sống còn của chúng sanh, đó là trung tâm, là cốt lõi. Chẳng hạn như cái cây mà chúng ta cắt cái rễ thì nó sẽ chết, như vậy cái rễ là trung tâm, là sự sống của cái cây, còn có những cái cây không phải cắt rễ mà rút đọt nó thì nó sẽ chết, vậy đọt là trung tâm của cây. Như vậy cái quyết định sống còn thì Tổ gọi là trung tâm, là tâm.

- Thứ tư Tổ nói rằng chữ tâm là sự linh thiêng huyền bí, thần thông, yên lặng, nó là hột giống sau rốt là giác chơn hay là Phật tánh, là chơn như, như vậy chữ tâm tiến lên rất cao trong một ý pháp, trong chơn lý tâm.

- Thứ năm người tu là người đang trị bệnh tâm để tâm non trở thành lớn, trở thành già, trở thành cứng chắc để đời.

1. Ý nghĩa của chữ Tâm:

Người Tàu viết chữ Tâm, là vẽ hình trái tim, nhục tâm trong thân người, có ba ống vòi lớn chuyền lọc máu, và phân phát khắp thân mình chất nóng, làm cho sống được nên gọi nhục tâm là chủ của thân. Cũng gọi nhục tâm là quân hỏa (chỗ phân chia lửa, hay như ông vua lửa). Người ta kêu nó là tâm, cũng bởi khi ta ngồi xuống, thì từ đầu đến chân trái tim ở chặng giữa, trung tâm. Trái tim của chúng sanh ở bên tay trái, nên gọi là chúng sanh có tả tâm (tâm tà). Và tâm ấy vốn là sân giận nóng lửa, tức là tâm lo cho sắc thân vật chất hữu hình tả đạo.

Vì tâm chúng ta vốn sân giận nóng lửa như vậy cho nên con người thường bị nghiêng ngã về pháp bất thiện hơn là huân tập những thiện tâm.

Chữ tâm, trên có ba điểm như sao giăng, dưới có cái vòng móc như mặt trăng xế, cũng có nghĩa là ba điểm: Tinh (muốn giữ tinh là giữ giới), Khí (giữ khí là tịnh khẩu), Thần (là chỉ pháp linh thần thông), hay giới, định, huệ ở nơi sắc thân này gọi là tâm. Tâm ấy là sự ngăn ác, giữ mình trong sạch, yên lặng và sáng suốt, mới thiệt là trung tâm điểm, cốt yếu của sự sống đời, là ta vậy.

Trong con người có ba: Tinh, khí, thần. Muốn giữ tinh thì phải giữ giới, nhất là giới dâm dục, tinh ba này được giữ gìn sẽ kết tụ lại thành xá lợi. Muốn giữ khí thì phải tịnh khẩu tức là giữ định. Thần là pháp linh thần thông, muốn giữ thần hay pháp linh thần thông phải tu Tuệ và đắc Thánh quả. Từ Tứ thiền có thể phát triển năm thần thông; nhưng Lậu tận thông (Lậu tận trí) cuối cùng mới có khả năng đoạn tận các lậu hoặc, phiền não cấu uế. A la hán đạo trí được xem là Lậu tận trí. Vì vậy, mười kiết sử chỉ được đoạn tận khi vị hành giả đắc A la hán đạo trí. Tới trình độ đó, trí tuệ đủ sáng đủ sắc soi thấu bản chất vô thường, khổ, vô ngã. Vì nhìn rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã mà tâm khởi lên sự nhàm chán đối với các pháp, không còn tham đắm dính mắc, cắt đứt gốc rễ và chứng ngộ Niết Bàn.

Hình của chữ tâm, trên có ba điểm cũng tức là thọ cảm, tư tưởng, hành vi. Còn dưới là cái câu móc hình đứa nhỏ, ngồi trong thai bào bụng mẹ, kêu là sắc thân. Vậy nên hình chữ tâm đây là ba ấm: thọ, tưởng, hành, ở trên sắc thân, làm sự sống, cái biết và linh thiêng.

Trong hành uẩn chúng ta có tuệ căn cho nên tuệ căn phát triển trở nên linh thiêng, rất vi diệu.

Người ta cũng nói linh, giác và thần, ba pháp ở nơi thân là tâm vậy. Tánh linh sự giác ngộ, sự hiểu biết thấu đáo thần thông.

2. Tâm sanh ra vạn pháp:

Đức Phật Thích Ca có nói tâm là chơn như. Người có giới định huệ mới được chơn như. Chơn như là hột giống sau chót của các pháp, là pháp tồn tại vĩnh viễn, kêu là ta. Chơn ngã tức là tánh chơn, không vọng, tự nhiên không dời đổi, mới gọi là trung tâm điểm, cốt yếu mục đích của chúng ta, nên gọi pháp chơn tâm ấy là đạo của chúng ta, đạo của người giác ngộ hay đạo Phật.

Chúng ta thường nghe nói “chư hành vô thường, các pháp vô ngã”, các pháp thế gian gồm luôn cả Niết Bàn cũng đều vô ngã. Nhưng ở đây, tại sao Tổ nói Chơn ngã tức là tánh chơn, không vọng, tự nhiên tồn tại vĩnh viễn, không dời đổi tức là phải có một thực thể hữu ngã?

“Chơn ngã” trong Phật Học Phổ Thông được Hòa thượng Thiện Hoa giải thích rằng: thông thường tất cả hành động của chúng sanh đều bị sai sử bởi tham sân si. Vì trong tâm vẫn còn cội rễ si mê vô minh nên hành động của chúng ta bị tham sân si làm chủ và sai khiến. Dù vẫn còn vi tế phiền não tham sân si nó vẫn chi phối các hành động. Những hành động rất thiện nhưng nếu xét cho kỹ, vẫn ẩn một cái gì đó si mê, vì còn nghĩ lợi ích cho mình dù rất nhỏ như một lời khen ngợi chẳng hạn. Con người vì vậy không được giải phóng, không được tự do giải thoát hoàn toàn, chỉ khi đắc A La Hán, Phật thì trong tâm các vị đã đoạn tận tham sân si, vô minh và ái dục. Không có hành động bởi sai xử, không có hành động giữa thiện tâm và bất thiện tâm, mà hành động bởi duy tác tâm, là tâm chỉ huy hành động mà thôi. Không có tham sân si chi phối trong hành động của A La Hán, của Phật cho nên vị đó được giải thoát hoàn toàn. Trong ý nghĩa giải thoát hoàn toàn, tự do hoàn toàn đó gọi là chơn ngã; mới thật sự là hành động của mình, còn những hành động mà do tham sân si sai khiến thì hành động đó không gọi là của mình, mà là do tham sân si sai khiến làm chủ.

Tâm là trung tâm điểm, cốt yếu, trụ cốt của các pháp, của lý trí sự vật. Tâm là một danh từ, tiếng nói để phân biệt chỉ rõ cái trung ương, cái đặc điểm, cái trung tâm; mà tất cả chúng sanh vạn vật và các pháp, cái chi cũng có bởi trung tâm và do trung tâm mới sanh ra tất cả, nên gọi là nhứt tâm sanh vạn pháp, nhứt thiết do tâm tạo, vạn pháp tồn tâm qui nhứt. Tâm là cái đặc điểm, mà cái đặc điểm vua chủ ấy là trung tâm, nên gọi tâm là trung ương chính giữa.

Trong kinh Lăng Nghiêm có nói ý rằng vạn pháp này là do tâm tức là do chơn tâm biến hiện mà ra, từ chơn tâm biến hiện ra vạn pháp và vạn pháp quy tụ vào chơn tâm. Tâm chơn như là nơi quy hướng của tất cả các pháp.

Từ trong tâm chỉ huy ra các hành động. Tâm nghĩ ác sẽ nói ác và hành động ác. Tâm nghĩ thiện sẽ nói lời thiện, làm việc thiện. Thân ác, khẩu ác đều từ tâm tạo và ngược lại. Đẹp hay xấu, đoản thọ hay trường thọ… cũng do tâm.

Cỏ, cây, thú, người cũng từ tâm biến hiện ra. Khởi thủy loài người, khi chưa có vạn vật và chúng sanh thì cái gì tạo ra vạn vật tất cả, có phải là từ chơn tâm? Đây là mối nghi lớn của mỗi hành giả, độc giả khi suy tư đến đây.

3. Tâm quyết định sự sống còn của tất cả chúng sanh: “Tâm cũng như là trụ cốt của bánh xe, vì có trụ cốt mới có cây căm và vành bánh lăn chạy.”

Muốn tạo thành bánh xe phải có trụ cốt, trụ cốt là cái cần yếu có trước mới có căm và vành. Tâm là cái có trước mới có chúng sanh này.

NƠI CỎ CÂY: thì Tâm là cái sống, như: tâm cây tre, cây trúc, là cái đọt phía trên giữa các lá nhánh, hễ rút đọt thì cây chết. Tâm cây xoài là cái rễ cái, chính giữa các rễ con phía dưới, hễ đứt rễ cái là nó chết. Tâm cây chuối là cái lõm lõi nơi giữa cây, hễ mất lõm lõi ấy thì cây chết. Nơi cỏ cây ta thấy cái tâm của thân, hoặc ở trên, ở dưới cũng có, nhưng nó là chủ của sự sống, và ở giữa những cái chung quanh, nên gọi là tâm sống. Cũng như cái tâm của con nít là sự sống, nó chỉ biết nói, làm, lo, nhớ, tính cái sống thôi.

NƠI THÚ NGƯỜI: thì Tâm là sự biết, như: kẻ thì nói để cho biết, làm để cho biết, lo nhớ tính để cho biết. Để khi chết rồi, thì chỉ còn cái biết ấy đem theo. Cũng như cái tâm của trẻ nhỏ, người nhỏ, họ sống để chỉ tìm thấy nghe hiểu cho được biết, họ là cái biết, lấy biết làm tâm, nên gọi là tâm biết. Lấy biết làm mục đích, nên ráng học tìm, không cần khổ vui, được mất, miễn là cho được cái biết với đời.

NƠI TRỜI PHẬT: Tâm là sự linh thiêng huyền bí ẩn mật, thần thông, yên lặng, các Ngài dầu có nói, có làm, có lo lắng nghĩ ngợi đi nữa, là cốt yếu để đem lại cho cái chơn như yên lặng nín nghỉ mà thôi. Bởi chủ tâm là chơn như yên lặng chưởng linh diệu và nuôi luôn các cái biết, cái sống, nên gọi tâm của Trời Phật là linh diệu. Chỉ lấy linh diệu làm tâm, kêu là tâm linh diệu hay diệu tâm. Cũng như người lớn ông già, nhứt là ông già chỉ sống bằng sự trầm tĩnh yên lặng để nuôi chứa sự linh diệu, sự mầu nhiệm của tâm mình.

Tâm là hột giống sau rốt hay giác chơn, Phật; còn chúng sanh thì cái tâm đang thành tựu còn non nớt nhỏ nhít yếu mềm, nên gọi là chưa có tâm. Chưa có chớ chẳng phải là không có. Cũng như chưa có giác chơn, chớ chẳng phải là không có giác chơn. Cho nên nói chúng sanh là Phật vị lai, chớ hiện tại chưa phải là Phật rồi.

Chúng sanh là hột non, không sống với tâm chơn mà sống với phiền não phàm trần. Chỉ có hột già cứng chắc mới để đời đời.

          Cũng như hột giống còn non nhỏ đang ẩn trong trái, hoặc chưa có, chớ chẳng phải là không có hột giống. Hột giống có ba phần: thân làm, miệng nói và ý tưởng, tức là thân, khẩu, ý, hay làm, nói, tưởng. Chính cái nghiệp nơi thân khẩu ý là tâm. Ở đây, Tổ nói tâm cũng chính là hột giống chia làm 3 phần: thân, khẩu, ý. Tâm bao gồm luôn cả thân và khẩu, chứ không chỉ nói về ý. Tâm là nguồn khởi của nghiệp. Trong Thắng pháp tập yếu chính cái thiện tâm và bất thiện tâm của mình là nghiệp. Vì thiện tâm khi khởi lên tức cho ra thiện quả, bất thiện tâm khởi lên tức cho ra quả bất thiện. Như vậy khi tâm khởi thì lập tức cho ra nghiệp quả, báo ứng. Như vậy cái nghiệp là tâm, biểu hiện ở thân, ở khẩu. Vậy nên muốn biết tâm của kẻ khác ở tại đâu, ra sao thì ta hãy xem nơi sự nói, làm, tưởng của họ. Nếu bỏ nói làm tưởng ra, là tâm không có.

Muốn thành tựu cái tâm, thì cần phải có đủ cả thân khẩu ý, nếu thiếu một cái, cũng chưa gọi là tâm, hột giống được. Hay như hột giống còn lỡ dở chưa tròn. Một người kia nói ác, nhưng không làm ác, hoặc làm ác mà không nói ác, hoặc ý tưởng ác, mà không làm, như thế cũng hột giống lỡ dở chưa thành tựu.

Tổ ví tâm như là hột giống (có 4 loại hột chỉ cho 4 trạng thái tâm: hột non là chỉ thú tức là trong tâm lấy sự ác làm chánh yếu, hột lớn là tâm người lấy nhơn từ làm chánh yếu, hột già chỉ tâm của trời có tâm thiện rộng rãi hơn và hột giống của Phật thì chín, là no tròn chắc thiệt tức là thân khẩu ý chơn, sống với bản chất thật của các pháp). Tất cả chúng sanh đều có tâm chơn như. Tâm chúng sanh còn non nớt và đang dần trưởng thành hướng đến già cứng chơn như.

          Vậy cho nên:

                   Hột giống thú là: thân, khẩu, ý ác.

                   Hột giống người là: thân, khẩu, ý nhơn.

                   Hột giống Trời là: thân, khẩu, ý thiện.

                   Hột giống Phật là: thân, khẩu, ý chơn.

          Nói cho rõ nữa kẻ thì lấy ác làm tâm, kẻ thì lấy nhơn làm tâm, kẻ thì lấy thiện làm tâm, kẻ thì lấy chơn làm tâm, ác, nhơn, thiện, chơn là pháp lý, nên gọi là tâm lý, lấy lý mà tạo thân khẩu, ý, làm thành tâm hột. Tâm ác như hột non, tâm nhơn như hột lớn, tâm thiện như hột già, tâm chơn như hột chín no tròn chắc thiệt đời đời. Chính tâm chơn mới gọi là thiệt tâm, còn tâm vọng động của ác, nhơn, thiện, là hột giống còn có thể hư hoại, dời đổi chưa chắc định. Cũng như trong cái chơn như không vọng động, thì thân, khẩu, ý, mới chắc thiệt của ta, là ta, là chơn ngã.

          Tâm là pháp lý, lấy pháp lý tốt đẹp yên vui nào đó làm trung tâm điểm, mục đích trụ cốt hột giống, do đó thân khẩu ý sẽ xuất hiện ra toàn là những cái tốt đẹp yên vui, dẫy đầy mãi mãi.

          Phật tánh, chơn tâm chỉ là pháp lý danh từ, không có thực thể. Cũng như bây giờ chúng ta muốn tiến lên thành chơn như, thành Phật tánh thì chúng ta phải làm sao cho tâm chúng ta thuần thiện. Muốn thuần thiện thì chúng ta phải căn cứ vào một pháp thiện nào đó để làm kim chỉ nam để tâm ta hướng theo, sống cho đúng như vậy và ở đây chính là Bát Chánh Đạo. Chính Bát Chánh Đạo là Giới Định Tuệ, là pháp lý tốt đẹp yên vui để làm trung tâm điểm, mục đích chủ chốt để chúng ta noi theo, để chúng ta sống theo, để chúng ta tập tành thân khẩu ý thiện.

          Bởi tâm là pháp, là giáo lý danh từ, nên con đường đi là sự thật hành, do giáo lý danh từ, tâm pháp ấy, kêu là đạo, và đến được sự kết quả của mục đích ấy, kêu là đắc quả, hay là sự thành đạo. Đạo quả ấy là tâm pháp, tâm là pháp, là đạo, là quả, cho nên kêu quả tâm, đạo tâm, hay pháp tâm cũng được. Tất cả chúng sanh chỉ có một cái tâm như nhau không sai khác, ấy là cái chơn như không vọng động. Cũng như cái chết, cái ngủ, cái yên lặng, cái nín nghỉ, là tất cả in nhau như một.

          Vậy nên tất cả chúng sanh mà chỉ có một cái tâm, tâm ấy là Phật, là tâm chơn, pháp chơn, đạo chơn, quả chơn, tức là thân, khẩu, ý chơn như không vọng động. Ngoài cái chơn như một ấy, là tất cả chúng sanh đều vọng động, thì nào còn có ai giống được với ai, và làm sao sống chung, ở chung với nhau cho được. Thế nên Phật gọi đời là một đám rừng hỗn loạn, bởi vạn tâm, vạn pháp, vạn đạo, vạn quả, chen lấn tranh đua, thì đâu có sự hòa bình yên vui mãi mãi. Như vậy là chỉ có Phật mới có tâm chắc thiệt, có một tâm ẩn kín quí báu, và dầu bao nhiêu, tất cả chư Phật cũng chỉ có một tâm, giá trị in nhau thôi, tâm ấy là chơn như pháp.

          Cũng có thể nói rằng: Chính Phật là pháp chơn như, trong cái chơn như tự nhiên thì đâu có thấy gì là thân khẩu ý, xuất lộ ra tại chỗ nào. Nên gọi Phật là không có tâm, hay tâm chơn, thân chơn, khẩu chơn, ý chơn, đã chơn như không vọng động thì cũng như không có vậy.

          Còn trái lại, chúng sanh thì có lưỡng vạn tâm, vì tâm hằng chuyền níu theo hai lẽ tương đối của pháp tình, khi vầy, khi khác, không thường, không tự chủ, không sở chấp, không nhứt định, không lẽ một, nên thân, khẩu, ý điên đảo theo vạn pháp, vạn đạo rối khổ tơi bời. Người ta cũng có thể nói ngược là: chúng sanh không có tâm, không có nhứt định, không có thường, không có lấy các pháp nào, đạo nào làm mục đích, làm trung tâm điểm trụ cốt tốt đẹp yên vui, nên không có đắc quả hưởng được chi cả. Kìa như một con ma đói lúc nào cũng vẫn đói và cái đói, đói mãi không cùng, không chỗ đến, không có tâm.

Ấy bởi như người trồng cây xấu, đã có trái chua cay đắng chát, mà trái lại thân khẩu ý của họ lại hay dời đổi vọng động không chừng, lăng xăng mãi vì sợ sệt, vì tham vọng, vì thất bại, hột giống ấy nào có để yên. Và vun tưới, mà hầu sanh cây trổ trái được để hưởng dùng. Cũng như bậc Trời, người, thần, thú, ma, địa ngục, các chúng sanh ấy, mãi lăn xoay theo vòng tương đối của bánh xe luân hồi khổ não, là bởi điên đảo vì vạn tâm phàm vọng không chơn như nhứt định. Vì thế mà gọi là chúng sanh không có tâm, không có chơn, hay là có cái tâm phàm vọng, có hai vạn tâm, có những cái tâm thay đổi giả dối, ma biến, quỷ quyệt, cái thân, khẩu, ý, ấy xấu xa, lậu tệ tráo chác uốn nắn trang sức, gạt gẫm bằng sự tô điểm, sơn phết, lòe loẹt bên ngoài chốc lát, dối trá không thật.

Tâm chúng sanh như vậy thì thật đáng bỏ, vì pháp chúng sanh, là rất tà ác, độc hại đã vô ích không công, mà lại khổ sầu tai họa. Và đời của chúng sanh là đời không mục đích, không căn bổn, thật vô lý lếu rộn mệt nhọc. Thế nên chư Phật gọi chúng sanh là những con ma bệnh, chính mình là kẻ bệnh và truyền bệnh lây kẻ khác. Nọc bệnh là tham, sân, si tam độc, cái chất độc có từ trong tứ đại là mẹ đẻ của chúng sanh. Bởi tham sân si mới sanh ra muôn triệu thân khẩu ý là tâm bệnh. Tham sân si là pháp độc, là tâm bệnh, là nơi mỗi người, pháp độc bệnh hằng xây trở ra muôn triệu chứng, muôn triệu pháp, muôn triệu tâm, muôn triệu đạo, muôn triệu cái kết quả độc hại khổ sở.

5. Người tu là đang trị bệnh tâm:

Những ai muốn chữa bệnh, tức là phải tu phải tập một tâm, lấy giữ một pháp, thật hành một đạo, phải lựa pháp lý nào tốt đẹp yên vui, trọn lành, sáng, mà làm trung tâm điểm, cốt yếu mục đích tâm. Tập cho thân, khẩu, ý, thuần thục, tủa ra nhập vào, toàn là pháp quý báu ấy, để cho được kết quả chơn như, trọn sáng lành yên vui tốt đẹp mạnh mẽ sống đời (Pháp lành sáng là thuốc hay, và chơn như là không còn bệnh hoạn). Muốn vậy thì người bệnh là chúng sanh phải kiên tâm trì chí, nhứt tâm uống thuốc, giữ một thứ thuốc nào trị ngay bệnh mình đó, mà uống mãi, cho đến khi lành mạnh. Lấy món thuốc lành đó làm tâm làm thân khẩu ý, làm ta, của ta, tức là lấy một thiện pháp làm tâm.

Như vậy chữ tâm này nhỏ hơn cái tâm chơn như Phật tánh. Trên con đường tu tập hành giả lấy Bát Chánh Đạo làm tâm tiến lên là thánh đạo, chánh trí, chánh giải thoát. Bởi thế chúng ta thường nói chúng sanh có muôn triệu tâm. Vậy tại sao người ta lại nói chúng sanh có muôn triệu tâm, người tu chỉ có một tâm và Phật không có tâm nào cả. Hay người ta nói ngược lại nghe cũng được là Phật mới có tâm, người tu đang tạo tâm và chúng sanh chưa có tâm gì cả. Phật mới có tâm tức là có chơn tâm Phật tánh, hiển lộ là Ngài sống với Phật tánh chơn tâm, Ngài sống trong cảnh giới Niết bàn, chữ chơn tâm đồng nghĩa với Niết Bàn, Phật tánh đồng nghĩa với Niết Bàn A La Hán quả chứ không phải Niết Bàn của sơ quả, nhị quả. Người tu đang tạo tâm tức là chúng ta đang cố gắng để có tâm chơn như, vun bồi những cái tốt đẹp, bỏ cái tâm xấu ác để tâm của mình càng ngày càng chơn, càng thiện, càng tốt đẹp. Và chúng sanh chưa có tâm gì cả tức là nói đến những hạng người bất thiện, tạo nghiệp ác, tâm tánh thay đổi lúc vui lúc buồn, lúc thiện, lúc bất thiện và đa số là những bất thiện thì như vậy là chưa có tâm hay là chưa có chơn tâm.

Tại sao nói người tu có một tâm? Người tu có một tâm là người tu lấy Bát Chánh Đạo, Giới Định Tuệ trở thành tâm của mình tức là mình chọn pháp tốt, pháp hay để tu tập và xem pháp đó như tâm của mình, là mục tiêu là trung tâm điểm để đạt tới. Chúng ta sống với chánh ngữ thuộc về tu khẩu; chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về thân nên chúng ta không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm; về ý là chánh kiến, chánh tư duy. Kể cả các tu sĩ đang tu tập cũng chỉ có một tâm thôi, đang tu tập theo Phật, theo đạo đế, là con đường Tứ Diệu Đế mà Phật vạch ra để tu tập.

Tại sao nói Phật không có tâm nào cả? Vì sau khi tu Bát Chánh Đạo Giới Định Tuệ đã trở về chơn tâm Phật tánh. Cũng giống như khi mới tu ban đầu nhìn núi ra núi, nhìn sông ra sông, rồi về sau tâm phân biệt thấy núi không phải núi, sông không phải sông, nhưng sau khi tu rốt ráo thì núi chính là núi, sông chính là sông, tức là trở về bản chơn thanh tịnh vốn có. Cho nên Phật đã chơn như rồi không còn có pháp không còn có tu gì nữa, Ngài là bậc vô học không cần phải học không cần phải tu gì thêm, bấy giờ là sự an hưởng chớ không còn tâm, pháp, bệnh, đạo gì tu tập chi chi đến đó là Phật cho ta thấy không còn thấy tâm chơn như ở chỗ nào nữa. Trở về với bản lai diện mục rồi thì Ngài không còn lấy một pháp nào tu nữa, Ngài chỉ có an hưởng thôi, như trở về bản chất thật vậy. Nên nói Phật có chơn tâm cũng được mà không có chơn tâm cũng được.

Ở đây, Tổ cũng dạy tùy bệnh tâm mà mỗi người dùng thuốc khác nhau, không ai giống ai. Ví dụ có người tâm tham nhiều thì phải dùng pháp để đối trị với tâm tham của mình. Khi ngồi thiền thì nhất tâm đối trị dục tham, những cái dính mắc đối với ngũ dục, thường quán bất tịnh để thấy sự bất tịnh của cơ thể mình; hoặc phải quán vô thường để thấy rằng sắc này là vô thường đừng có mê đắm, không có giá trị gì để trói buộc mình. Người tu khi chữa bệnh thì tùy bệnh mà mình cho thuốc, trong ngũ đình tâm quán, đối với người tâm hay loạn hay phóng tâm thì người ta dùng pháp niệm sổ tức để đối trị loạn tâm. Đối với người có tâm ái dục, tham sắc nhiều thì quán vô thường, quán tử thi. Để đối trị với người có tâm si vô minh thì người ta quán 12 nhân duyên để thấy rằng vạn pháp do nhân duyên sanh để đoạn trừ được vô minh và ái dục. Cho nên Phật nói rằng bệnh tâm của mỗi người tùy bệnh mà cho thuốc.

Và có một ý pháp nữa Tổ nói rằng tu tâm là tu thân khẩu ý. Vậy chúng ta nên nhớ rằng: Tâm là thân khẩu ý, ngoài thân khẩu ý thì không có tâm, thế thì ta hãy bỏ tâm xấu lấy tâm tốt, bỏ dở lấy hay vậy. Và sự tu là tu tâm chớ không có tu riêng thân, hay khẩu, hoặc ý gì cả. Nhưng cũng tùy nơi bệnh nào nhiều, là người ta phải lo sửa chữa nó trước, để rồi tất cả đều được trọn lành, là tâm chơn tốt đẹp, nên tức gọi là tu tâm.

Trọng tâm là cái tâm, nó chi phối thân, khẩu, ý. Tâm này bao hàm cả thân, khẩu và ý. Muốn biết tâm của một người, ta phải xét cả thân, khẩu và ý, xét xem nguồn chỉ huy hành động của người đó như thế nào.

                   Thân làm là bao vỏ của tâm – hột.

                   Miệng nói là thịt cơm của tâm – hột.

                   Ý tưởng là ngòi mộng của tâm – hột.

          Gồm cả thảy là tâm hột, nếu tốt chắc là đời đời, bằng xấu hư là tiêu hoại, đó là sự sống hay chết của tâm hột. Vậy chúng ta nên phải lựa tìm pháp tốt quí yên vui nào đó làm tâm và thực hành, vun bồi tô đắp, vừa là được sự kết quả vĩnh viễn cho ta, và để gương đạo lại cho kẻ chung quanh đời sau đi theo với; ấy là để ân hậu lại đời đời, giá trị của ta xứng đáng biết bao? Có như thế mới phải là đền ơn tứ đại, vạn vật, chúng sanh và các pháp.

Kìa như khi xưa, đức Khổng Tử dạy nhơn đạo, lấy chữ nhơn làm tâm. Đức Lão Tử lấy cái không làm tâm, người tu kẻ thì lấy giới làm tâm, kẻ thì lấy định làm tâm, kẻ thì lấy huệ làm tâm. Phật thì lấy chơn làm tâm, Trời thì lấy thiện làm tâm, thú thì lấy ác làm tâm, ma thì lấy tà làm tâm… Tâm ấy tức là thân khẩu ý, hay cũng là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, trí, giác, mà tên của nó là một cái pháp.

Chính cũng vì lẽ ấy mà đức Khổng Tử đặt tên cho chúng sanh là hột giống, là nhơn. Còn Phật thì gọi chúng sanh là chủng tử, hột giống của tứ đại; mà người ta cần phải cất để dành hột giống tốt, và phá bỏ nhổ đi những hột giống xấu, liệng thảy đi những cây trái bậy hư, mà gìn giữ chăm nom cây trái có ích lợi, để đời. Sự lựa chọn ấy là pháp luật, pháp luật là công lý vũ trụ cái gì thiện lành giữ lại, cái gì xấu ác thì bỏ đi.

Biển cả không dung chứa tử thi, quy luật sàng lọc chính là pháp luật, đó là công lý của võ trụ.

 

Thế nên gọi tất cả chúng sanh có một đạo, có một pháp, có một tâm, cũng như có một thân người, một trái tim, mà sự sống của tất cả cơ thể đều do những lằn máu của một trái tim một: Chơn như là tâm của tất cả, ai chưa biết chơn như là kẻ đó chưa biết tâm mình. Cũng như chúng sanh đang ở chung quanh một cái vòng tròn lớn của vành xe. Trong đó chỉ có một cái chơn như là tâm cốt, kẻ nào ngó ra, là chẳng thấy tâm mình. Ai dòm vào trong, thì sẽ thấy tâm mình là tâm của tất cả chỗ đến, đạo của mình là của tất cả, càng đến càng gần, rồi sẽ đến chung, ở chung hiệp một.

Muốn đến với trung tâm chơn như phải làm sao?

Muốn đến với tâm chơn như, hành giả phải quay vào bên trong, tinh khí thần mới vững, Tổ nói rằng khi mà vào đại định thì trí tuệ, quả linh thần thông từ đó mà ra.

Muốn đến với trung tâm chơn như, thì tất cả chúng sanh như những con mọt đeo ngoài vành bánh xe, phải quay vào bên trong yên lặng, và thẳng tới nơi yên lặng mãi, đó là nhập định. Trong nhập định đến chơn như và đắc chơn như ấm kín như ở trong ngòi mộng, ngủ nghỉ sống đời, mà đừng nhọc sức trơn trợt leo trèo bên ngoài vành bánh, cũng đừng tìm ra bên ngoài chỗ xao động. Và nên phải nhớ mà đóng các cửa nơi thân miệng ý, chớ để bụi lấp tuôn vào, làm cho dơ nặng, ngăn trở té lui, cùng chẳng khá gần với quỷ ma, mà phải bị sự lôi trì xô ngã. Như thế nghĩa là chúng ta phải định, phải nhập định, phải tìm cảnh tịnh, tâm cảnh phải tịnh định luôn luôn, thì chơn như mới xuất hiện, chỗ trung tâm mới đến được.

Có chơn như mới có định, mà cũng có định mới có chơn như. Chơn như tức là định yên lặng hay quả Niết bàn, là cảnh giới mực trung giữa trụ cốt xe, mặc cho bên ngoài vành bánh lăn chuyển, mà kẻ ở bên trong vẫn mãi nghỉ ngủ ngồi yên, đó mới là chỗ đến, kết quả, mục đích của chúng sanh vậy. Chỗ ấy không có tên gọi chi cả, mặc dầu người ta cưỡng dùng nhiều tên để gọi. Nhưng có thể gọi là sự ngủ nghỉ của chúng ta thôi.

Tóm lại tâm, pháp, đạo, trung, quả, vốn không hình dạng, chúng ta hiểu nó bằng lý trí, dùng nó làm phương châm, để đi đến cõi thuần lương. Tuy ta không thấy chớ nó là mạng sống của ta. Cũng như ta chẳng thấy không gian hay thời gian, ta không thấy cái hôm qua, cái ngày mai, cái bữa nay, và sự gì sắp đến, ta đang ở đâu. Bởi con mắt thường của ta không thấy, bởi trí ta chẳng mở mắt ra nhìn, chớ có lẽ nào trong đời một kẻ vô tâm mà sống được, còn người vọng động thì nào ai có biết họ ra sao? và ở đâu, đi đâu, đến đâu.

Cũng y như thế, có tâm chơn là có chúng sanh, và không có tâm chơn là không có chúng sanh vậy. Trong kinh Pháp Cú số 20 đức Phật dạy người sống với tà tâm xấu quấy thì sống như đã chết như thây ma chết rồi, còn người thiện lành dù chết đi rồi vẫn xem như sống.

                   Người chơn thật ai cũng kính yêu.

                   Kẻ vọng giả nhiều người khinh bỉ.

          Người ở trong cái chơn như yên lặng thì đâu còn có thấy hay không thấy, nghe hay không nghe, ngửi hay không ngửi, nếm hay không nếm, làm hay không làm, tưởng hay không tưởng, nói hay không nói,… Người nhập định rồi thì sẽ không hay biết những lao xao bên ngoài. Trong kinh có vị kể rằng, khi ngồi nhập định mà 500 cỗ xe đi qua và lội ngang suối nhưng vì ngài đã nhập vô trong định nên không hay biết gì, khi Ngài mở mắt ra Ngài thấy cát bụi mù mịt, toàn bộ suối bị đục vì 500 cỗ xe mới vừa đi qua. Đức Phật cũng nói rằng khi Ngài ngồi nhập định mà sét đánh mấy con trâu chết Ngài cũng không hay dù Ngài ngồi ở gần đó .

Dầu ở trong thế giới nào, hay là ở khoảng không gian, đến đâu và ở đâu, họ cũng trối mặc, họ không còn cố chấp nên không có khổ. Họ là cái yên vui trong thế giới yên lặng của tự mình, mà không phải lo sợ bị ai chen vào phá hại.

          Như vậy chơn như là một danh pháp, là quả Niết bàn, là trạng thái định yên lặng thanh tịnh có lạc, là trạng thái của tâm chơn chớ không có phải chi là chơn như hết.

          Tâm chơn như là một từ ngữ để diễn tả trạng thái chơn như không còn bệnh hoạn. Khi uống thuốc pháp thì không còn tham, sân, si. Như người bệnh được hết bệnh, nhẹ nhàng, khỏe khoắn, như người đang nóng nực được sưởi mát khi ngồi dưới tán cây.

          Tóm lại, tất cả chúng ta đang tu tập đây tức là những người bệnh đang uống thuốc trị bệnh. Hành giả phải chọn một pháp là Bát chánh đạo làm kim chỉ nam để thực hành, cốt là trở về chơn tâm Phật tánh. Tổ dạy muốn trở về chơn tâm thì thân mật, khẩu mật, ý mật, phải đóng hết các cửa để đạt được định. Thiền mục đích là để phát triển định, tâm được thanh tịnh, thanh là trong sạch và tịnh là định, yên lặng. Nhờ trong sạch và yên định làm cơ sở cho trí tuệ phát triển mới nhìn thấu được bản chất thật của các pháp. Ở đây, là chúng ta thấy rõ được hơi thở, bản chất của hơi thở nó vô thường, vô ngã như thế nào. Qua chơn lý Tâm, Tổ dạy về tâm, pháp mà chúng ta đang tu tập mỗi ngày là dùng hơi thở để cột tâm, thanh lọc tâm, mỗi ngày được thăng hoa và trở về tâm chơn tâm Phật tánh. Chúng ta phải quay vào bên trong quán sát thân tâm và cảm thọ để định được phát trển, từ đó mới thấy được chơn tâm, sống với chơn tâm. Khi đạt được đại định tức là đạt được trạng thái tâm chơn như, là cứu cánh cần đạt đến.

 

 


 

 

-----ooOoo-----

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ