Trang chủ > Đức Tổ Sư > Chơn Lý

Giác Ngộ

Tác giả: NT. Tuyết Liên (chuyển thơ).  
Xem: 618 . Đăng: 26/01/2022In ấn

 

 

Giác Ngộ

 
 

 

 

GIÁC NGỘ

 

Vấn: Địa ngục có thật hay không?

Đáp: Có! Địa ngục là chính sắc thân của mình.

Tứ đại bốn vách che ngăn

Sở chấp là nóc, sắc thân là nền.

Chúng sanh là những tội nhân

Ở trong địa ngục bị hành phạt luôn.

Vấn: Có bao nhiêu thứ ngục môn?

Đáp: Địa ngục vô số kể tên không cùng.

Tâm bị nhốt trói vẫy vùng

Cái khổ ép ngặt khốn cùng biết bao.

Một niệm chấp chịu khổ đau

Tâm ích kỷ, tánh ác vào ngục môn.

Thân, miệng, ý tạo tác nên

Địa ngục lớn nhỏ đều tùy tâm sanh.

Nhân nào quả nấy quẩn quanh

Tạo nên địa ngục phạt hành ngày đêm.

Vách sắt, lửa cháy tối đen

Sình lầy chết ngộp bao phen đọa đày.

Vấn: Những sự trừng phạt thế nào?

Đáp: Trong địa ngục chịu khổ đau phạt hành.

Tội do thân khẩu ý làm

Mười điều ác nghiệp lẩy lừng vấn vương.

Kêu là thập điện Diêm vương

Khi mười tội dứt tiêu tan ngục hình.

Tam nghiệp tịnh là niết bàn

Không còn chết sống luân hồi trả vay.

Sự chết sống là đổi thay

Nghề nghiệp chọn lựa an bày kiếp sanh.

Vô minh nên phải quẩn quanh

Sợ đau khổ lại dấn thân tìm cầu.

Muốn tìm chết, bỏ khổ đau

Lại vào cảnh khác chịu đau khổ hành.

Bởi không biết đường thoát thân

Nên mới chịu khổ trầm luân nhiều đời.

Ở trong cõi sắc khổ đời

Việc làm lời nói gọi mời quả nhân.

Mỗi việc vây vi trói trăn

Ngày càng chất chứa nói làm nâng cao.

Như lòi tói sắt quấn đeo

Ý ở trong ấy khổ đau vẫy vùng.

Càng cựa quậy càng rối tung

Thì càng chết thảm vô cùng ai hay.

Cái sắc có ghê gớm thay

Đồng sôi như rượu, sắc thay cột đồng,

Đau thương châm chít khổ lòng

Tay chân kềm sắt vấu đồng xẻ cưa,

Chó sắt là sự ganh đua

Sông mê nguồn ái, đón đưa gọi mời.

Rắn sắt, cá sấu từ nơi

Độc ác, ganh ghét chiêu vời khổ tâm.

Sình lầy là sự tham lam

Lửa cháy sân giận, mê lầm đêm đen,

Xe sắt, ngựa sắt kéo lôi

Tướng sắt đánh đập, cảnh đời phong lưu.

Sức mạnh, tướng tốt, tài hay

Đều là địa ngục trả vay kiếp người.

Muôn ngàn thảm trạng chơi vơi

Lấy tội trừ tội, nghiệp đời càng sanh.

Đáng sợ địa ngục khảo hành

Vừa vơi, gió nghiệp chuyển sanh luân hồi.

Lầm đường lạc nẻo mãi hoài

Hướng theo cái có đời đời khó ra.

Hết đường mất lối hành hà

Tự mình tạo khổ, chấp ta điên cuồng.

Không một ai dám lại gần

Kẻ ấy khó biết cái không bên ngoài.

Nơi có đường đi xa dài

Sạch êm mát mẽ ban ngày sáng thông.

Phá bỏ vách sắt, tường đồng

Đến cảnh giải thoát không không nhẹ nhàng.

Nhứt định sẽ được bình an

Khi đã giác ngộ tìm đàng thoát thân.

Giảm dứt nghiệp tội buông lần

Tội tiêu chắc chắn được phần siêu sanh.

Vấn: Có ai cai quản ngục chăng?

Đáp: Có ! Cái lương tâm ấy chính là Diêm vương.

Nó là mặt sắt, mặt âm

Không tư vị, đó là tâm cang cường.

Nóng nảy nên gọi diêm vương

Cái trí phân biệt gọi là phán quan,

Tội lỗi ghi chép kỹ càng

Không sót một mãy, không quên một điều.

Ý muốn dục là tay sai

Khi vầy khi khác đổi thay vô thường.

Cái ta đi tới cuối đường

Tới chỗ kết quả không đường ngục trung.

Mã diện chạy nhảy lung tung

Ngưu đầu đen đúa ác hung bạo tàng.

Thân là nhà khám mênh mang

Miệng là cửa cái, chân tay cột nhà.

Dòn dông xương sống của ta

Da là vách lá, sườn là mè rui.

Hai lỗ mũi như lỗ hơi

Tai mắt là chỗ thông hơi của nhà.

Nhà có một cửa vào ra

Trong bị đóng kín, đường ra khó tìm.

Bên ngoài mở rộng tiếp duyên

Khiến nên đọa lạc triền miên bao đời.

Vấn: Tại sao gọi là huyết bồn?

Đáp: Huyết bồn là chỗ sanh thân con người

Những ai mà còn luân hồi

Còn tìm vào chỗ thai bào ngâm thân.

Vấn: Mạnh bà cháo lú có không?

Đáp: Có! Rún mẹ con ngậm gọi tên Mạnh bà.

Cháo lú là nước tinh ba

Trong thân mình mẹ để mà nuôi con.

Con nhờ đó sống lớn dần

Đến khi đủ tháng sanh thân ra đời.

Da mẹ như mặt đất bằng

Đứa con như giống mộng ngòi đang ngâm.

Trước khi sinh là ở trong

Thai bào ở chốn tử cung lâu ngày.

Đồ dơ nuôi mạng ngủ say

Nên quên hết việc xưa nay thuở nào.

Vậy nên gọi Ứ Vọng đài

Mạnh bà, cháo lú tích nay lưu truyền.

Vấn: Sao gọi là xuống suối vàng?

Đáp: Con đường nghệ nghiệp thênh thang trí tài.

Thình lình cái chết chắn ngang

Thất bại suy sụp không đường tới lui.

Đau đớn khổ sở vô cùng

Vách tường trước mặt, sau lưng chặn rồi.

Huỳnh tuyền dị lộ ôi thôi

Vô phương đào tẩu mất rồi thân sanh.

Vấn: Nói gương nghiệt cảnh có chăng ?

Đáp: Có ! Gương nghiệt cảnh, phản giác tâm rõ ràng.

Hiện đủ tội lỗi mình làm

Không thể chối cải không lầm quả nhân.

Khi khổ đau tức giận phiền

Việc qua ảo ảnh hiện tiền trong tâm.

Em bé đời trước sát nhân

Nay bị hốt hoảng thình lình việc chi.

Hiện ra cảnh cũ giống y

Đối diện cái chết như khi giết người.

Kẻ bị giết đòi mạng tôi

Vậy là nó chết như hồi gieo nhân.

Người nói bị ma quỷ hành

Thật ra nó bị tưởng hành, tưởng tri.

Trước phản giác kính tức thì

Thấy lại cảnh củ như khi mình làm.

Tâm dằn vặt tội vương mang

Bịnh trị không được suối vàng rước đi.

Người đâm heo, thọc huyết thì

Bình thường hăng hái nào suy nghĩ nhiều.

Đến lúc gặp cảnh khổ đau

Nghiệt cảnh phản dội nói làm sảng mê.

Công lý nhơn quả gần kề

Gieo nhơn hái quả khó bề trốn đâu.

Có hai hạng già giống nhau

Một ông lẫn lộn không sao an lành

Tư tưởng phản dội việc làm

Thấy ra quá khứ tội mình đã gieo.

Suy thời thất chí khổ đau

Địa ngục hiện đến khác nào nhân xưa.

Một ông ít lẫn, lẫn vừa

Bởi hành vi trước việc xưa ít lầm.

Nay đền trả nhẹ nhàng hơn

Tinh thần an ổn nên không lẫn nhiều.

Có ông già sống trong đời

Không lẫn bởi đã nhiều đời ít sai.

Trong tâm định tỉnh hòa hài

Có học đạo lý cũng hay tu thiền.

Biết sống theo lẽ trung bình

Tâm không sa ngã thọ tình hai bên.

Có giác ngộ, định tự nhiên

Không gặp nghiệt cảnh tâm hiền không mê.

Phản giác an ổn mọi bề

Của phước báo cảnh hiện về sáng vui.

Ông đã đứng trước cảnh trời

Khi sống lúc chết khỏe vui nhẹ nhàng.

Đó là kết quả việc làm

Không ai cướp được thiên đàng  tự tâm.

Nhà sư khất sĩ du phương

Lìa xa tương đối nên thường vui an.

Tu tập công lý nhẹ nhàng

Bỏ dứt nhân quả như đèn lụn tim.

Nhiều năm nhiều đời đã quen

Tam nghiệp đã định không vương cảnh ngoài.

Trước mắt trí huệ của người

Ở đâu cũng chỉ là nơi phẳng bằng.

Trong sạch yên lặng thường hằng

Thỉnh thoảng phát khởi bi từ độ sanh.

Không còn cái sống sắc thân

Không còn trí não chỉ còn chơn như.

Đó là kết quả công phu

Là chỗ đến của chơn như niết bàn.

Cảnh giới địa ngục sắc thân

Ác, khổ, thất bại gian truân muôn phần.

Cảnh giới thiên đàng trong lành

Thiện, vui, sống và thành công miên trường.

Cảnh giới niết bàn, chơn tâm

Bình đẳng sáng rỡ siêu trần tánh chơn.

Ba mặt kiếng, ba cảnh tâm

Ba thế giới đó tự tâm mỗi người.

Các ác, cái thiện, chơn như

Đó là kết quả đến từ nơi ta.

Lúc sống trong cõi ta bà

Hay trong lúc chết hiện ra rõ ràng.

Có dời đổi hay định an

Tùy theo nhơn nghiệp đã, đang làm rồi.

Đúng y chơn lý vậy thôi

Xem người sắp chết ta thời biết ngay.

Buồn, lo, sợ cảnh hiện bày

Hoảng hốt, mê sảng khổ thay dữ dằn.

Là sẽ biết chỗ thọ sanh

Họ đối diện nghiệt cảnh gương tâm mình.

Sau khi thác tâm đảo điên

Ảo ảnh trừng phạt, bị tư tưởng hành.

Có đến cả ngàn năm sau

Chưa tiêu nghiệp tội khổ đau lại càng,

Cái quái trạng nơi việc làm

Không tan mất mà lại càng tăng thêm.

Lồng lộn, tức tối, dữ hung

 Sự trừng phạt lúc lâm chung rõ ràng.

Lúc chết êm ái nhẹ nhàng

Cảnh giới người gặp thiên đàng tự nhiên.

Bởi tâm định trụ an yên

Nên có hiện tượng vui an hiện bày.

Nếu tâm không định có ngày

Khởi ác niệm, cảnh tượng này rã tan.

Là do lúc sống nói làm

Lúc thiện, lúc ác đan xen khôn lường.

Một người tu nhập định thường

Giờ chết lúc sống vẫn thường định yên.

Tức đắc niết bàn hiện tiền

Nhờ sự giác ngộ giữ gìn chơn như.

Nếu sự tỉnh ngộ chưa sâu

Như bậc sơ giác định lâu chưa bền.

Thì cần phải tập tu thêm

Hạnh tự giác ngộ, làm nền giác tha,

Đến khi toàn giác dung hòa

Thành tựu giác mãn mới là thành công.

Khởi bi nguyện độ chúng sanh

Giác hạnh viên mãn tánh đồng Như lai.

Một đời sống sẽ hiện bày

Ba cảnh giới có đủ ngay hiện tiền,

Địa ngục vô đạo, không yên

Chết trơ, thất bại không đường tới lui,

Thiên đường thiện đạo yên vui

Tây phương cảnh giới nghĩ ngơi yên bình.

Ba danh từ kết quả tâm

Cảnh ba giáo lý không gần, không xa.

Tâm hành cao thấp gần xa

Kết quả tương ứng tự ta tu hành.

Đó là cảnh tự tâm mình

Chẳng ai có thể giúp mình được đâu.

Vấn: Làm sao giải cứu cho người

Ở trong địa ngục chịu nơi khổ hình?

Đáp: Họ khổ bởi đang chấp mình

Muốn thoát khổ phải tự mình làm theo.

Họ khổ là bởi chấp đeo

Xác thân tứ đại giàu nghèo tríu mê.

Vật chất bao phủ bốn bề

Nên khi thất bại ủ ê não phiền.

Họ không còn biết các duyên

Dầu đang ở chỗ nhơn thiên đông vầy.

Họ cũng không thấy được ai

Và họ cũng chẳng thể cho ai đến gần.

Lời khuyên lơn tợ than hồng

Đốt nung tức tối tâm hồn không yên.

Nó ở trong cảnh buồn phiền

Tự mình cô lập thảm tình quạnh hiu.

Sự ác của nó càng nhiều

Thì sự khổ sẽ theo chìu tăng thêm.

Những người mà nó yêu thương

Không ai chia sớt, nó thường lẽ loi.

Nó càng khóc, người càng cười

Nào ai hay biết tâm người khổ đau.

Nó không tìm được đường nào

Ra khỏi tứ đại, vượt rào tham sân.

Nó càng muốn sống, muốn gần

Thì càng thấy chết một mình cô đơn.

Nếu còn chút trí biện phân

Thì nó mới biết mình đang lún chìm.

Thấp sâu nước đất khó tìm

Đường ra thoát khổ ghe phen mịt mờ.

Người có trí huệ bấy giờ

Nhìn thấy nó bị sa lầy rối ren.

Nếu muốn thoát phải tập rèn

Sửa thân khẩu ý không còn tríu mê.

Chết bỏ cái ta khen chê

Linh hồn siêu thoát bay về tây phương.

Có khi gặp được vị thiên

Trước kia đã biết tu hiền cư gia.

Đến khai mở để chỉ ra

Cho nó thấy được đường ra nẻo về.

Nhờ vị ấy dìu dắt lần

Mới ra khỏi chốn hồng trần trói trăn.

Tự nó phải giác ngộ lần

Hối quá dứt bỏ không còn vọng tham.

Rời địa ngục, đến niết bàn

Là pháp siêu độ của hàng thiện nhơn.

Cũng có người tội nặng hơn

Họ đang trong cảnh mơ màng ngây si.

Từ còn thân cho đến khi

Mất thân chưa tỉnh, sau khi chết rồi

Linh hồn mê muội lâu ngày

Không tỉnh ngộ, khó nhập thai làm người.

Nghiệp nặng từ khổ đến điên

Cảnh tượng ấy kêu đọa chìm ngục sâu.

Kẻ ấy thật khó hồi đầu

Trừ khi nó tỉnh cần cầu thoát ra.

Bấy giờ ánh sáng Phật đà

Hào quang pháp lý soi ra nẻo lành

Tâm giác ngộ nó phát sanh

Pháp sư ban rưới pháp lành dứt mê

Bừng tỉnh mắt thấy đường về

Nhìn khắp thế giới tâm bi phủ tràn,

Làm cho vách sắt tham lam

Lòng ích kỷ ngã sập tan không còn,

Lửa sân giận dập tắt luôn

Nồi chảo danh lợi bể tan mất hình.

Bấy giờ nó rất tự tin

Đứng đi theo Phật nói nhìn tự do,

Không còn phải bị chết co

Không mắc kẹt giữa ngục to khổ nàn.

Giờ đây nó rất nhẹ nhàng

Kinh nghiệm tỏ rõ không còn sa chân.

Bay bổng trong cõi hồng trần

Làm người cao thượng không còn trầm luân.

Có người ít tạo nghiệp nhân

Hào quang Phật có công năng biện tài,

Soi đến xiềng xích đứt ngay

Địa ngục sấm nổ vỡ ngay hiện tiền.

Là người có được căn duyên

Gặp đạo giác ngộ túc duyên nhiều đời.

Xuất gia về tịnh độ rồi

Ở nơi đất Phật mừng vui tuôn tràn.

Khi đắc trí huệ tâm an

Phát đại bi nguyện độ toàn chúng sanh.

Tức có tòa sen đỡ nâng

Có giáo hội, có hòa tăng hộ trì,

Đưa về cõi Phật liền khi

Sơ tâm bồ tát tổng trì độ sanh.

Có kẻ thấy được cảnh không

Thấy khổ người khác khởi lòng đại bi.

Trí thức ứng dụng tức thì

Giúp đỡ thiên hạ làm vì việc chung.

Như có được vầng mây lành

Của kẻ mến đức nâng lên thiên đường.

Hưởng được phước lạc vô biên

Chết bỏ địa ngục sinh lên cõi trời.

Nhưng không tham hưởng phước trời

Xuất gia khất sĩ sống đời du tăng.

Tu tập tâm chơn thường hằng

Chắc được bình đẳng an nhàn tịnh yên.

Bằng chẳng vậy nên tạo duyên

Nghe học pháp bảo trí yên tánh mầu.

Như có hào quang trên đầu

Tâm không mê muội ngỏ hầu tự tin.

Luôn luôn thính pháp văn kinh

Tâm mới yên định huệ sinh trí mầu.

Nhiều người quy hướng hộ trì

Như vầng mây đỡ chân vì chư thiên.

Tâm không định trí không yên

Mây tan đoàn rã khổ liền phát sinh

Hai nữa các vì chư Thiên

Chớ ham bóng sắc thân tiên dịu dàng.

Thân mình mới có hào quang

Không té rớt, được nhẹ nhàng sáng trong.

Chư tiên siêng năng dầy công

Trau dồi phước đức đừng mong phước nhiều.

Đừng ham toại hưởng phong lưu

Quyến thuộc quý mến, ngôi cao vững vàng.

Khi nào phước huệ đầy tràn

Xuất gia làm Phật lại càng quý hơn.

Chớ đừng tham chấp oai quyền

Không kiêng không sợ rả tan có ngày.

Cái vui vật chất của trời

Cái vui trí não của người giống nhau.

Hết thích ưa, nhàm chán mau

Ở trên cao mãi té nhào như chơi.

Dưới sâu chết ngộp nhóng trồi

Không ở một chỗ lâu dài bình yên.

Vấn:  Lý như vầy người có tiền

Lại làm sớ điệp, cầu nguyền vái van.

Lầu kho, phướng xá lập đàn

Xin tội vong có được phần nhờ chăng?

Đáp: Thân địa ngục, trí thiên đường

Tâm người là cảnh tây phương nhẹ nhàng.

Cầu xin người đừng ác gian

Vái đừng mê muội, tham gian khổ mình.

Khuyến tu, tập thiện, làm lành

Còn việc sớ điệp chỉ làm cho vui.

Vừa lòng thân thuộc mọi người

Sự linh nghiệm có hay không còn tùy.

Biết đâu vía dại đôi khi

Lòng của kẻ chết vui cười chút thôi.

Thấy vậy mát dạ no vui

Cho rằng con cháu thương người chưa quên.

Nếu họ học đạo tu hiền

Đoạn dứt ích kỷ tham riêng cho mình.

Mới mong siêu thoát nhẹ nhàng

Lên cảnh giới Phật không còn đọa sa.

Vấn:  Đến ngày kỷ niệm người ta

Có làm mâm cổ đủ đầy cúng vong,

Vái cầu vong linh về ăn

Như vậy có được chút phần nào chăng?

Đáp:  Cha mẹ còn sống cần ăn

Con nên cung dưỡng đạo hằng hiếu thân.

Chết rồi biết có đó chăng

Mà lo cúng vái lăng xăng làm gì.

Việc làm ấy chỉ thích nghi

Chớ không có được ích chi vong hồn.

Việc ấy để dạy cháu con

Gương hiếu thảo biết làm tròn hiếu thân.

Có người hưởng của tiên linh

Nên lo cúng vái thỏa tình vậy thôi.

Vấn:  Làm sao giúp kẻ chết rồi

Cho vong tội lỗi nhẹ hồi khổ đau?

Đáp:  Biết rằng vong giả tội sâu

Thì con cháu phải tin sâu thực hành.

Hãy thuyết pháp hoặc giảng kinh

Cho vong tỏ ngộ làm lành gieo duyên.

Như vậy chắc họ được yên

Nhờ tu mà được tội khiên giảm dần.

Nhờ nghe pháp tỏ đạo huyền

Người được giác ngộ về miền lạc bang.

Vấn: Có phải đối với người thân

Tất cả khi chết phải cần cầu siêu?

Đáp: Người nào có giữ giới điều

Năm giới, tám giới cầu siêu làm gì

Vì họ đã biết đường đi

Về cảnh siêu vượt khỏi đi cúng cầu.

Năm giới sinh về cõi trời

Dục giới toại hưởng phước trời giàu sang.

Chữ siêu là vượt khổ nàn

Nên người Phật tử hiểu đàng mình đi.

Vấn: Nếu như đã nói vậy thì

Thiên đường, địa ngục cảnh này có không ?

Đáp: Sự cảnh cũng có, cũng không

Nhưng là cảnh giả đường mong tưởng nhiều.

Lý nghĩa là thiệt giáo điều

Dạy cho ta biết những điều nên tu.

Cảnh giả dầu có hay không

Cũng không ảnh hưởng tinh thần người tu.

Thân là địa ngục âm u

Thiên đường trí sáng, tâm tu cảnh nhàn.

Ấy là cảnh thiệt đời thường

Từ trong tâm trí nghiệm thường tỏ thông.

Cảnh ngoài hữu vô tương đồng

Sẽ dời đổi nên sẽ không chắc bền.

Dầu có đến đó hay không

Cũng không ảnh hưởng tinh thần của ta.

Giác ngộ cảnh trong tâm ta

Cảnh ngoài nếu có cũng là phụ thôi.

Niết bàn tâm hơn cảnh rồi

Trí thiên đường sẽ thiện vui hơn nhiều.

Thân địa ngục sẽ tự chiêu

Khổ hơn là cảnh ở ngoài thân ta.

Cảnh ngoài thay đổi mau là

Cảnh trong khó đổi bởi ta chấp lầm.

Kẻ  đã giác ngộ tự tâm

Không lo nghĩ việc giả chân bên ngoài.

Vấn: Có cảnh giới những linh hồn

Bình thường như cõi xác thân con người.

Đáp: Có ! Linh hồn xác thịt không hai

Xác thân là quần áo nơi linh hồn.

Cổi bỏ thân xác áo quần

Còn lại cảnh giới linh hồn tự nhiên.

Có xác thịt là hồn linh

Đang mặc quần áo chuyện bình thường thôi.

Quần áo như nhà tạm thời

Linh hồn như chủ quyền nơi cửa nhà.

Cái đang biết sống là hồn

Xác thịt đâu có trí khôn con người.

Linh hồn thường tại đời đời

Không như xác thịt đổi thay vô thường.

Áo quần thay đổi luôn luôn

Như cây chuối mẹ (bỏ) cây con có liền.

Linh hồn thường tại theo duyên

Nếu sinh diệt chỉ có chăng một phần.

Sống chết, giáo lý danh từ

Chỉ sự giác ngộ cho người tỉnh ra.

Thiện là sống, ác chết  là

Tâm luôn bị cái ác tà chôn sâu.

Cái khổ địa ngục đối đầu

Lẽ sống chết là chỉ câu vô thường.

Tâm thay đổi khó định yên

Nghề này nghiệp nọ đổi đường, đổi tên.

Thiện là đạo đường xa dài

Ác là đoản ngắn chết ngay mất đường.

Thân bằng da thịt gân xương

Bằng tư tưởng, bằng khí thường khác chi.

Cũng hoạt động, cũng đứng đi

Cùng một cảnh giới có gì khác đâu.

Ta và họ ít thấy nhau

Chuyện ai nấy biết liên can làm gì

Ta  ở chỗ động đứng đi

Họ nơi chỗ tịnh hành vi như mình.

Nghề nào nghiệp nấy phân minh

Nhưng khác cảnh giới nên mình còn nghi.

Ta biết có không làm gì

Có hồn không xác việc này thường thôi.

Vấn: Trong đời nên sợ cái gì ?

Đáp: Nên sợ tội lỗi việc này cần hơn.

Biết pháp tương đối quả nhơn

Công lý có sẳn ta nên an lòng.

Thưởng phạt giác ngộ công bình

Giác ngộ được là con đường thênh thang.

Tự bình biết cách sống an

Hư nên tự chịu không phiền người trên.

Thưởng phạt cho ta biết đường

Các Ngài tròn phận không còn băn khoăn.

Từ đó tạo phước ta an

Tạo tội chịu khổ không liên can người.

Khi ta đã giác ngộ rồi

Mà còn làm quấy tội này về ta.

Trong đời tất cả mọi nhà

Ai cũng giác ngộ thật là an vui.

Chừng đó không có ông trời

Quan tòa, diêm chúa hay người tội nhân.

Vì giác ngộ là thánh nhân

Tội sanh pháp luật, quan đâu muốn làm.

Trong đời ai muốn làm quan

Là còn mê muội, tự cam khổ nàn.

Quan phạt người, ai phạt quan

Người kia tạo khổ phải mang án hình.

Quan xử phạt cho công bình

Phạt người lầm lỗi, tội mình ra sao.

Nhân quả có tha người nào

Nên trong trần thế đề cao công bằng.

Quan bị ép buộc mới làm

Nếu người giác ngộ, quan hàm ích chi.

Chẳng là làm Phật hết đi

Tất cả giác ngộ không gì quý hơn.

Sao chưa giác ngộ lẽ chơn

Để ai cũng rảnh không còn hơn thua.

Hết tội lỗi không quan vua

Nên sợ tội lỗi để cho công bình.

 

TÓM LẠI

Sự giác ngộ của chúng sanh

Là thật có chớ quan tòa vốn không.

Nên ta tự xét lấy lòng

Hổ thẹn tội lỗi mới mong dứt trừ.

Tốt hơn là để cho người

Chế trị xử phạt cực người lắm thay.

Tội lỗi có nơi sắc thân

Cái có, cái ác đến lần vô minh

Tham sân hành phạt lấy mình

Si mê nhốt phạt khổ thân vô cùng.

Hãy bỏ cái ác xuống chân

Đất vô dụng lót dưới chân làm nền.

Trí ta như cửa, như nhà

Tâm ta là chủ an hòa bên trong.

Tâm chủ bước đi thong dong

Nền sắc thân bọc đỡ nâng chủ nhà.

Trí thức làm chủ chắc là

Không còn tai nạn rầy rà vô minh.

Hồi nghĩ lại

Ai cũng từ có sanh thân

Loay hoay vật chất lo phần áo cơm.

Ăn mặc ở bệnh sắc thân

Cũng mong vui sướng dư hơn cho mình.

Chấp lấy sắc thân tôn vinh

Nào ta có nghĩ tâm mình ra sao.

Ác quấy tội lỗi thế nào

Chỉ lo thiện bị thiệt thòi kém thua.

Nào có nghĩ thiện bền vui

Hơn là cái ác tươi cười phù du.

Mà quả báo là khổ đau

Ngàn ngày đâu dễ quày đầu thoát ra.

Đến chừng khổ báo hành hà

Mới hay lầm lạc, mới là ăn năn.

Mới hết mê chấp xác thân

Chúng ta mới gặp chủ nhân của mình.

Không còn sợ sệt cúi lòn

Bởi ta trong sạch không còn sợ ai.

Cũng không tham muốn sắc tài

Thái quá bất cập bỏ ngoài, cắt duyên

Ta được nhập định nghĩ yên

Theo đường trung đạo gieo duyên niết bàn.

Vô thượng chánh đẳng giác chơn

Chơn như thành Phật niết bàn tự tâm

Phật nhờ giác ngộ nên thành

Chúng ta học Phật tự mình sẽ nên,

Biết sự giác ngộ tâm chơn

Quý hơn cái thiện, cái lành của thân.

Thiện lành trí thức thiện nhân

Cần hơn vật chất lợi danh cõi đời

Cái có tứ đại nơi ngoài.

Vậy sự giác ngộ rất cần cho ta.

Có giác ngộ mới hiểu ra

Thiên đường, địa ngục chính là tự tâm.

Giác ngộ mới hết mê lầm

Giác ngộ mới quý chơn tâm của mình./.

 

 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. Tuyết Liên chuyển thơ

 

 

-----oo0oo-----

Nguồn: www.daophatkhatsi.vn

BÀI LIÊN QUAN

Khuyến Tu  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 360 xem)

Chánh Pháp  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 472 xem)

Chánh Kiến  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 472 xem)

Tam Giáo  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 428 xem)

Thập Nhị Nhân Duyên  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 668 xem)

Thần Mật  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 444 xem)

Sanh và Tử  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 420 xem)

Ăn Chay  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 416 xem)

Cư Sĩ  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 456 xem)

Tánh Thủy  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 596 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVII

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVII

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ