Trang chủ > Đức Tổ Sư > Chơn Lý

Chánh Kiến

Tác giả: NT. Tuyết Liên (chuyển thơ).  
Xem: 490 . Đăng: 08/01/2022In ấn

 

 

Chánh Kiến

 

 

 

 

Chánh kiến cái thấy chánh chơn

Rõ lẽ tà chánh, là nhân đoạn trừ

Mê tín làm việc quấy hư

Người trí chê ngạo, ví như người mù.

Đau mắt thấy đường âm u,

Lần mò đêm tối biết đâu đường dài.

Mê tín không biết đường ngay,

Gia đình mắt nhặm ai bày cũng tin.

Còn gì là tự chủ mình,

Làm sao tiến hóa, bị khinh, bị cười.

Thà làm kẻ ngang trên đời,

Hơn là tà kiến khó rời đường mê.

 

I. ÔNG TÁO

Chuyện thuở xưa bên xứ Tàu,

Giặc mọi Mông Cổ lấn rào, phá ranh,

Chiếm đoạt đất, tranh giành dân

Vơ vét tiền của lòng dân bất bình.

Từ ông táo dân đặt tên

Tỏ sự tức tối dân tình oán than.

Chữ  táo chỉ bệnh bón thân,

Rít róng, nóng nảy khó khăn trong người.

Dùng tên táo để chỉ người

Chỉ thâu vô, chẳng bao giờ thí ra,

Có bệnh táo nên người ta

Nấu táo lấy nước uống mà trừ căn.

Vua Mông Cổ thâu của dân,

Người Tàu hủy mạ táo thần đặt tên.

Vua quan văn võ nhà Châu,

Dân sĩ mạ gọi Thiên thần, táo quân.

Nhớ lại hồi thuở Tôn Văn

Cách mạng lật đổ Mãn Thanh đương thời,

Người Tàu phỉ báng gọi chơi,

Ba cục đất đội nồi là Táo công,

Chỉ sự vơ vét của dân,

Của quan dân mọi chỉ nâng chảo nồi,

Dốt nát sân si khó coi,

Như phun lửa, đội chảo nồi của dân.

Xứ Tàu trọng đạo vua quan,

Vua thánh minh, quan hiền thần phò vua.

Xem dân như con một nhà,

Thanh liêm, chơn chánh muôn nhà bình an.

Vì vậy dọc hai bên đàng,

Trước nhà đều có thiên quan án thờ,

Nghi án tiếp rước quan vua,

Tiếp nghinh chiếu chỉ khi vua vi hành,

Để tỏ lộ tấc lòng thành,

Tiếp rước khi đến, tiển hành khi đi.

Cuối năm phục mệnh triều nghi,

Hai ba, hai bốn là quan vi hành,

Dân tiển đưa dạ chí thành,

Tiếc mến ân đức mong quan trở về.

Vua quan Mông Cổ lấy nê

Bắt buộc dân chúng nạp về cho quan,

Lễ vật, lộ phí, bạc vàng,

Còn đòi xe ngựa cho quan tấn triều.

Bất bình dân chúng bày mưu,

Lập ra lễ cúng có nhiều vật thay,

Ngựa giấy, hạc giấy sắp bày,

Dán áo, sắm mão, hia thay vật dùng.

Chè xôi, muối gạo lễ chung,

Đưa ông Táo, để cầu xin lưu tình,

Về trời nhớ giúp dân lành,

Đừng tâu thêm bớt khổ tình dân đen.

Không còn vàng bạc của tiền,

Dân lấy giấy để phết sơn bạc vàng.

Giả bạc vàng đốt tống quan,

Ai có hỏi đưa Táo quân chầu trời

Việc làm khêu tức khí người,

Ra tay nghĩa hiệp cứu hồi long đong,

Hoặc hả hờn oán trong lòng,

Ghi sâu vết tích cho dân tộc Tàu,

Đừng quên nỗi hận niềm đau,

Việc hồi xưa, của bên Tàu đâu đâu.

Thế mà người ta rủ nhau,

Cúi lạy đưa rước, một màu mê tin.

Một hai chùa cũng nhiệt tình,

Cũng đưa, cũng rước, cũng kinh tán cầu.

Bắt chước nha môn bãi hầu,

Tối ba mươi, lại rước ngài Táo quân.

Cư gia mời thỉnh tổ tiên,

Ông bà, cha mẹ ngồi trên chúc mừng,

Tuổi thọ một năm khương ninh,

Mừng sự đoàn tựu gia đình mùa xuân.

Trong chùa các sư nghĩ mình,

Xuất gia cha mẹ siêu sinh hết rồi.

Thôi thì thỉnh Táo một ngôi,

Cũng cúng bái, cũng đúng hồi thắp hương.

Xét kỹ thấy thật là thương,

Cho người mê tín còn vương lệ Tàu.

 

II. TIẾT XUÂN

Tiết xuân bông hoa đón chào,

Mùa xuân mát mẻ khác nào mới sinh.

Mùa hạ người nhỏ trưởng thành,

Mùa thu người lớn đã thành nhân cao,

Mùa đông tuổi già suy hao,

Mới sang xuân như đổi trao chu kỳ.

Lòng người nao nức chờ khi,

Bền như cổ thụ đẹp thì hoa xuân.

Sự chúc thọ tính từng năm

Y như cây cỏ thu đông tháng ngày.

Thế mà xứ nầy ngày nay,

Người ta gọi tết để bày tiệc vui.

Tiết xuân là của cỏ cây,

Gọi tết hay chết để rầy cháu con.

Hay mĩa mai già mà còn,

Ham ăn uống như trẻ con khác gì.

Chuẩn bị tết khổ xiết chi,

Khổ lo mất trí, cũng vì mùa xuân.

Lo đến rối trí, mất tâm,

Lo đến kiệt sức mỗi lần xuân sang.

Xưa xứ Tàu có thôn trang,

Chia ranh tộc họ mỗi làng riêng phân.

Cướp xứ Tàu đông vô ngần,

Thường hay đốt phá thôn trang của người.

Thừa cơ hội dân buông trôi,

Canh phòng bỏ xuội những ngày xuân sang.

Cướp đốt phá pháo nổ vang,

Khiến dân tán loạn cướp càn của dân.

Ông già cao kiến chỉ rằng

Cắm nêu trước cửa treo đèn soi chung,

Một giấy đỏ vẻ tứ tung,

Gọi bùa Thái Thượng Lão Quân trừ tà,

Bùa linh để hộ cửa nhà,

Lại thêm đốt pháo nhà nhà làm theo.

Khi cướp đến đốt pháo reo,

Nối chuyền vang dậy cho nhau biết chừng.

Thị oai với trộm cướp hung

Ai phòng thủ trước sẽ không thiệt mình.

Mùa xuân trong chốn hoàng cung,

Ba mươi quan chức tập trung chờ giờ.

Giao thừa bá quan chầu vua,

Vua khen thưởng, đãi tiệc trong ba ngày.

Mùng bốn đã tất hòa hài,

Quan tại triều nội liệu bài việc quan.

Quan xa về thăm bà con,

Bá tánh thì được vui trong bảy ngày.

Lập vườn huê giả đẹp thay,

Ban đêm ánh sáng như ngày dạo chơi.

Cần lao suốt một năm trời,

Vui chơi bảy bữa tạm thời lãng quên.

Sống với hoa cỏ thiên nhiên

Ôn lại nếp sống cổ nhơn núi rừng.

Người thú cỏ cây đượm nhuần,

Sự thuần khiết, sự sạch trong buổi đầu.

Ngày nay con cháu dãi đầu,

Nhọc nhằn khổ cực có đâu thanh nhàn.

Tạm quên tất cả thời gian,

Bảy ngày xuân nhựt để làm niềm vui.

 

III. TAM NGƯƠN

Bảy ngày xuân chấm dứt rồi,

Hạ nêu bãi cuộc người người phải lo.

Quan đi trấn nhậm ở xa,

Ngày rằm mở cửa thăng tòa vấn an.

Bá tánh thỉnh chúc thiên quan,

Tiếp nghinh chiếu chỉ của quan đương triều.

Rằm tháng Giêng quan thượng triều,

Viếng thần tế miễu tiền triều quan xưa.

Đó là chuyện thuở hồi xưa,

Mà nay dân chúng đón đưa thỉnh mời.

Cúng lạy cầu vái khắp nơi,

Chuyện của thuở trước, mà nay cứ làm.

Rằm tháng bảy là thời gian,

Tăng tự tứ, còn các hàng cư gia,

Cúng dường, nghe pháp để mà,

Học tu tinh tấn chan hòa đạo tâm.

Cũng là ngày người nông dân,

Cúng vái tế lễ thần nông phò trì,

Từ giả gia đình để đi,

Vào rừng núi, để kịp thì trồng gieo,

Địa quan trung ngươn lệ theo,

Của người làm ruộng, trèo đèo vượt non.

Tháng mười hạ ngươn thủy quan,

Lệ người buôn bán thương thuyền tế sông,

Người chài lưới kẻ thủy trầm,

Đãi tiệc từ giả thân nhân lên đường,

Mong rằng trên bước tha hương,

Lành nhiều, dữ ít, thuận đường bán buôn.

Đời nay không hiểu tích tuồng,

Tam ngươn, tứ quý, hoa hương vái cầu.

Không hiểu nhân quả lý sâu,

Không lo tích phước, vọng cầu bình an.

Ngày tháng trùng cũng vái van,

Không biết công lý lại càng mê tin.

Nghĩ rằng thần quyền chí linh,

Mà quên phước nghiệp tự mình gieo nhân.

Mờ quáng ác thiện không phân,

Khó được giác ngộ cảnh trần khó ra.

Kẻ mê tín thiện ít mà,

Dầu thiện đi nữa khó mà thoát thân.

Mê thì chấp, mãi gieo nhân

Không trí huệ nên mãi lầm mê tin.

 

IV. CÚNG TẾ

Đành là tế lễ rất hay

Nhưng vì tham chấp nên hay tham cầu.

Cầu cho mình được phước mầu,

Như sự trao đổi, có đâu thiện lành.

Cúng tế thánh hiền tự tâm,

Trọng kỉnh trí đức, trau tâm của mình.

Nhắc lại công hạnh tiền nhân,

Để cho hậu thế biết ân tiền hiền.

Ta cầu vái ích kỷ riêng,

Sao đành buộc tội thánh hiền làm chi.

Cúng tế để biết kỉnh vì,

Kỉnh người chết, trọng người khi sống còn.

Cúng do mến đức mang ân,

Nghe dạy biết lạy, tập nên người hiền.

Nếu cúng nên cúng Thánh hiền,

Hiểu rõ lịch sử mới nên tôn thờ,

Đừng cầu ma quỷ vẫn vơ

Việc không biết đừng cúng thờ vái van.

Như ngày mùng một tháng giêng,

Ngày vía Di lặc ưu tiên ngày đầu,

Di lặc đã giáng sinh đâu,

Do lòng vọng tưởng mong cầu chúng sinh.

Ráp nhau cúng vái cầu xin

Xin Ngài phò hộ. Thử mình hỏi thăm

Lịch sử, ngày giờ, tháng năm,

Kỷ niệm chi để người dân phụng thờ.

Chắc là không có, không ngơ,

Như nghe nói chín phương trời cao xa.

Mười phương Phật khắp ta bà,

Rồi lo cúng vái. Hỏi là lặng thinh

Không biết lịch sử sách kinh,

Thế mà vẫn cúng, vẫn tin, vẫn cầu.

Làm rồi ngồi ngó mặt nhau,

Xẻn lẻn hổ thẹn, biết bao sai lầm.

Trung thu cúng Đường Minh Hoàng,

Ông vua dâm dục nhà Đường, Trung Hoa.

Nhắc đến những ngày vía là,

Nên hiểu chữ vía sâu xa tận tường,

Vía là phách, cũng là tình,

Là cái ý tưởng bảy tình buồn vui,

Phật Thánh tánh giác ngộ rồi,

Sao còn có những buồn vui thất tình.

Các vị ấy có sách kinh

Hay là giáo lý cho mình học tu.

Trên trời chức phận danh từ,

Sao ta hiểu được thực hư thế nào.

Hằng hữu không biến đổi sao ?

Ví như bộ truyện đời sau Phong thần

Nguyên tác của ngài Bạch Vân,

Bộ Tây du Khưu Trường Xuân lưu truyền.

Hai ngài bịa chuyện thần tiên,

Trong khoảng lịch sử lưu truyền Thương Châu.

Diễn ra tuồng tích nhiệm mầu,

Huyền Trang du học thỉnh cầu chơn kinh.

Lấy ngày tháng mỗi Phật tiên,

Biên làm Phật lịch lưu truyền dân gian.

Người sinh, bệnh tật, tai nàn,

Đúng ngày, năm, tháng lại càng sợ lo.

Dầu người ngàn năm xa xưa,

Cũng lo khấn nguyện xin cho an lành.

Người ta biên tên, nêu danh,

Trong sách kêu gọi thánh thần, tà ma.

Kêu cúng mãi để rồi ra,

Quỷ thần nhập bướng, tà ma lên đùa.

Xưng tiên, xưng Phật cho vừa

Với sự cúng bái, đón đưa người đời.

Cho đến họ cũng gọi mời,

Dọa xoa, la sát của thời xa xưa,

Lập đền, tạo cốt để thờ,

Kêu hoài ma quỷ nhập vô ứng liền,

Giả xưng Phật Thánh thần tiên,

Cho người cúng bái, khấn nguyền, cầu xin.

 

V. QUAN VÂN TRƯỜNG

Cũng như ông Quan Vân Trường

Ông là một vị tước vương đại thần,

Em Lưu Bị, gọi quan Công

Đời sau phong chức Diện Hồng Đế Quân [1].

Chùa muốn các quan nể nang

Phong cho ông chức Già Lam Hộ (Pháp) chùa.

Tín đồ đạo Phật bao người,

Không có chánh kiến mê nơi thần quyền,

Ráp nhau cúng lạy khấn nguyền,

Không lẽ lạy để theo gương ác thần.

Cũng có nhà sư canh tân,

Cũng cúng lạy, cũng thờ thần noi gương.

Cũng có kinh sách phô trương,

Ghi trang lịch sử dạy đường trung cang.

Xúi sự đua tranh thế gian,

Người không chánh kiến lạm bàn mê tin.

Thờ ông thịt trâu cử kiêng,

Lở ăn mộng thấy Châu Xương hiện về,

Xách dao rượt chạy mõi mê,

Vì  tin thờ cúng không hề biết chi,

Tìm hiểu giáo lý dạy gì?

Xúm nhau cúng lạy chuyện ghi sách Tàu.

Tên tuổi thần thánh đâu đâu,

Cũng tin cũng cúng, cũng cầu vái van.

 

VI. ĐÌNH THẦN

Trong xứ ta theo lệ làng

Mỗi làng đều có đình thần thờ chung,

Thần là quan võ tử vong,

Xếp trong lục đạo vào hàng Tu La.

Thấp hơn nhơn loại người ta,

Bởi nhơn loại đã có hòa, có nhơn,

Giữ một giới không sát sanh.

Còn quan tướng rất dữ hung bạo tàn,

Phò tá một người vua riêng,

Mà nở sát hại sinh linh muôn người.

Lấy sức mạnh để xưng hùng,

Danh lợi cám dổ, phong thần xưng vua,

Thần là nô lệ, trung vua,

Ăn thịt uống máu, tranh đua chức quyền.

Mà người lạy bái noi gương,

Bỏ đường nhân loại, theo đường tu la.

Đã vậy mỗi năm người ta,

Đem chuyện chém giết để mà khen hay.

Người ta lại còn sắp bày,

Giết trâu heo, để cúng rồi chia ăn.

Người xưa cúng vì buộc ràng,

Ngày nay có kẻ vì ăn mà làm.

Cúng vì vọng tưởng muốn ham,

Cúng thần, thần sẽ nhận làm cháu con.

Tệ đến nổi người ta còn,

Lấy chén hứng máu, móng, lông để vào,

Đem cúng riêng trên bàn cao,

Nghĩ làm như vậy thế nào cũng linh,

Cũng được thần quỷ thương tình,

Ban khen, thương mến hộ mình bình yên.

Ở trong một xứ văn minh,

Dân tộc tiến bộ mà mình còn mê.

Còn làm những việc chấp nê,

Đồng bóng ợ ngáp, bà về ông lên.

Dối xưng thần thánh Phật tiên,

Kêu đòi cúng tế, kỳ yên trong làng.

Mấy chị đàn bà vái van,

Có thịt, có rượu người càng hoan nghênh.

Cũng có kẻ nói thần tiên,

Tuy không ăn thịt nhưng còn binh gia.

Thế nên cúng cũng chính là

Cúng cho bộ hạ binh gia các Ngài.

Thuở xưa có lúc xứ Tàu,

Giặc giả ly loạn người cao kiến bày,

Quan tướng trà trộn đóng vai,

Thầy pháp, thầy thuốc, hát bài sơn đông.

Bày cớ quy tụ nhóm đông,

Chiêu binh mãi mã đồng lòng ra tay.

Việc đời trước truyền đến nay,

Thành ra đạo lệ ai ai cũng làm.

Si mê, khuấy rối tinh thần,

Đảo điên phong hóa nhân tâm bao người.

Trách gì xứ khác chẳng cười,

Dể bề lôi cuốn người người tin theo.

 

VII. BÀN THIÊN THẦN

Xứ ta chậm tiến còn nghèo,

Lễ nghi phong hóa đều theo xứ Tàu.

Như ngay trước cửa ra vào,

Đặt bàn hương án cúng thờ chư thiên,

Gọi bàn tứ phước thiên quan,

Dành khi tiếp rước vua quan vi hành

Những nhà ở tại kinh thành,

Dọn bày nhọc sức nên đành để luôn,

Đó là chỗ để thắp hương,

Mỗi khi lễ cuộc chớ thường thì không.

Đời nay gọi bàn thiên thần,

Lại thêm có cúng âm binh xôi chè.

Những nhà có tín hiệu riêng,

Là nơi tích thảo, đồn lương âm thầm,

Âm mưu dựng nước cứu dân,

Việc làm ấy đúng theo từng lúc thôi.

Không phải cúng vái bên ngoài,

Những người mê tín, có ai chỉ dùm.

Cứ chín phương trời vái chung,

Nhưng  ông thiên tử cửu trùng nào hay.

Mãi nói làm những việc này,

Không hiểu ý nghĩa, quấy thay cho người.

 

VIII. QUAN HÔN TANG TẾ

Khổng Tử dạy đạo nhân luân,

Quan, hôn, tang, tế rất cần cho nhau.

Quan là kính trước, nhường sau,

Hôn là gả cưới buộc nhau cang thường.

Tang là ly biệt đôi đường,

Tế là cúng tế thánh hiền bề trên.

Đó là bốn phép trau tâm,

Bốn phép phải có để đừng hại nhau.

Việc làm nghĩa lý thanh cao,

Chớ không phải sự vái cầu tham lam.

Lấy lễ phép để làm nền,

Oai nghi tư cách bề trên bậc người.

Kìa xem loài thú nhỏ thôi

Cá bày giáp trụ chào nhau đồng loài,

Lợn kia hít hửi tỏ bày,

Mèo có lễ giáo lấy tay chạm rờ,

Chim kia ríu rít kêu chào,

Đó là lễ giáo ngọt ngào tình thân.

Lễ giáo là phép thiện nhân,

Loài thú còn có, người cần đẹp hơn.

Lễ giáo để dạy cháu con,

Sớm chiều kính lễ tri ơn sanh thành.

Anh em đi thưa về trình,

Cung kính, quý trọng thật hành theo gương.

Biết lạy không dám cang cường,

Lạy trừ kiêu mạn, quý thương kính vì.

Cha mẹ chịu con lạy mình,

Phải giữ đạo đức, đặng mình dạy con.

Con lạy như đem hiếu tâm,

Làm vui cha mẹ, nhắc thầm nên tu

Lạy là bổn phận hiếu từ,

Gia đình lễ giáo thiên thu tình người.

Lạy người sống, đạo hợp thời,

Không phải đợi chết lạy nơi bàn thờ.

Lễ là pháp dạy trẻ thơ

Thành nên người lớn cũng nhờ lễ nghi.

Lễ  giáo là một tiến trình,

Chuyển hóa người ác đến thành Phật tiên.

Lạy để chuyển ác thành hiền,

Nâng cao cái học là duyên tiến lần.

Dầu đứa con nhỏ của mình,

Trí tâm hoàn hảo mình còn kỉnh tôn,

Xem như trời Phật hiện tiền,

Không gọi con nhỏ, xưng mình mẹ cha.

Bấy giờ cha mẹ trong nhà,

Thấy mình như một tín đồ trung kiên,

Nuôi ông thầy mấy chục năm,

Đổi thành phước bấy nhiêu năm cúng dường,

Một vị Phật thật tròn duyên

Là chỗ siêu việt tinh thần lễ nghi.

Mình phải lạy khi làm người

Làm trời khỏi lạy, ta người như nhau.

Đến thành vô thượng tối cao,

Người người đảnh lễ kính chào xưng tôn.

Cái lạy ấy như vần công

Là pháp tu sửa khi tâm chưa hiền.

Người nào chưa biết tập rèn,

Đức tánh khiêm nhượng, chưa quen lạy người.

Không bao giờ đến lớp trời

Có được đức tánh của người thượng nhơn.

Một gia đình biết tu chơn,

Không dạy lễ giáo cho con được hiền,

Con sẽ hổn ẩu hoang đàng,

Có khi còn giết hại càn mẹ cha.

Thiếu gương con hiền chắc là,

Cha sẽ giải đãi thế là quên tu.

Cha hiền sanh con hiếu từ,

Hổ phụ sanh hổ tử thì không sai.

Xưa một người nọ đóng xe

Để chở cha mẹ lên rừng cọp ăn,

Con trẻ thấy hỏi sự tình

Hỏi xin cha để cho mình chiếc xe,

Để mai sau cha tuổi già,

Con sẽ làm giống như cha bây giờ.

Nên các nhà nho đương thời

Làm gương hiếu nghĩa để đời dạy con,

Tự tay phụng dưỡng song đường,

Thuốc men, cơm cháo, chiếu giường ấm êm,

Không sai tôi tớ vợ con,

Cha mẹ chết, nguyện ba năm giữ mồ,

Lập hương án để phụng thờ,

Vừa trả hiếu đạo, cũng vừa dạy con.

Đến bữa kỉnh trước mới ăn,

Xem như cha mẹ còn đang hiện tiền.

Việc làm trước mắt là gương

Chết mà nhớ kỉnh, sống còn quên sao?

Đời hổn loạn chém giết nhau,

Bởi thiếu lễ giáo không sao yên bình.

Đành rằng lẽ thật công bình,

Như nhau tất cả sao mình kính cung.

Lễ giáo thuốc tạm không dùng,

Thì sao trị dứt ác hung, quấy tà.

Đến khi tâm tánh thuần hòa,

Đạo đức quý trọng hơn là tài năng.

Hồi xưa cách sống cổ nhân,

Thịt của kẻ chết, chôn trong bụng người,

Nên người trí mới gạt lời,

Chết để ba bữa ăn thời rất ngon,

Đặng cho sình thúi khỏi ăn,

Lại bảo muốn bổ chôn trăm ngày dùng,

Để cho thịt rã tiêu tùng,

Đó là cách để khuyên cùng với nhau,

Đừng nên ăn thịt lẫn nhau,

Cúng tế để biết kỉnh chào tiền nhân.

Dạy cho đám cưới biết cười,

Đám chết biết khóc mất rồi tình thương.

Ngày giổ quảy thắp nén hương,

Nhớ người đã khuất, khi ăn tưởng tình,

Vì ăn tưởng nhớ tiên linh,

Không mượn cớ cúng để mình được ăn.

Tang gia xưa chẳng đãi đằng,

Khách cũng chẳng dám bận lòng tang gia.

Sự cưới gả cũng chỉ là

Dụng mỹ nhân kế, người ta biết hiền,

Cưới gả để tập tình thương,

Thương một người đến biết thương nhiều người.

Nương nhau tùng cát sống đời,

Không cho lướt bụi, tuôn rào nhân luân.

Quan hôn tang tế biệt phân,

Giữa người với thú, đạo nhân hình thành.

Người xuất gia đã ly trần,

Qua lớp nhân đạo không cần quan hôn,

Không giữ lệ cúng, việc làm,

Của người thế tục, khi là người tu.

 

IX. TỤC MỞ CỬA MẢ

Mở cửa mả sau khi chôn

Ba ngày quyến thuộc đến thăm mộ phần,

Từ biệt trước khi đi làm,

Thương người tử biệt, khóc than giả từ.

Nhắc kể công mẹ ốm gầy,

Mẹ đi con ở lạc bầy bơ vơ,

Bấy lâu mẹ dắt con khờ,

Nay thân mẹ gởi đồng khô thảm tình.

Khấn vái huỳnh tuyền hồn linh,

Thang mây nhẹ bước thỏa tình tử tôn.

Thang mây, cây mía lệ tồn,

Xứ ta tục lệ vẫn còn đến nay.

X. GIÁC NGỘ

Đời nay người ta còn bày

Đưa chôn đi táng có ngay nhà giàn,

Có rồng phụng sơn phết vàng,

Làm nhà giàn giả tâm can thỏa tình.

Như cúng vía nhắc gương lành,

Người chỉ cầu vái lệ thành thói quen.

Sinh trùng ngày giờ thần tiên,

Người ta liền nói là duyên tốt lành,

Khuyến khích cho kẻ hậu sanh,

Học gương tiền bối tài danh giúp đời.

Đức hạnh là gương sáng soi,

Như sao sáng tỏ giữa đời tối tăm,

Cõi trời cõi đất xa xăm,

Để chỉ người trí cao tầm hơn mê

Tên của chư vị Phật tiên

Chỉ là danh pháp, hạnh nguyền độ sanh.

Người nào có được đức lành,

Ai có hạnh đức, có danh tương đồng.

Đời là trường học sống chung,

Chúng sanh vạn vật cộng đồng với nhau,

Cách sống đối đãi cùng nhau,

Đều là pháp lý đổi trao học hành.

Chúng ta phải học cho rành,

Đừng nên nhắm mắt đưa chân theo người.

Đã chán lại bị chê cười,

Thật là có hại cho người mê tin.

Người tu dẫn độ chúng sinh,

Mình phải giác ngộ cho rành xưa nay.

Cái thấy trước phải chánh ngay,

Phải dùng trí huệ vẹt khai mà nhìn,

Khắp cùng thiên hạ chúng sanh,

Chọn việc ích lợi mới tin không lầm.

Bắt chước xu hướng thì đừng,

Mọi việc sẽ được sáng trưng tỏ tường.

 

TÓM LẠI

Bổn ý của bài viết này,

Khuyên ngăn ngày giổ đừng bày giết ăn.

Đổ thừa cúng kiến tổ tông,

Mà đành đổ lỗi cha ông đọa đày,

Cúng kiến rồi chia nhau ngay,

Mà để cha mẹ  chịu thay cho mình.

Công lý nhơn quả đành rành,

Ấy là giặc giả tử sanh oán thù.

Gương ác để lại thiên thu,

Để cho con cháu mịt mù trầm luân.

Thật tội lỗi cho thế gian,

Chẳng thấy đường sáng nên càng nạn tai.

Trong đời dứt được lẽ này,

Mừng nhân loại biết đường ngay sống đời

Nghĩa là giết thú giết người

Cầu mình trường thọ sống đời là sai.

Nhân quả báo ứng xưa nay,

Giết người, người giết trả vay liền liền.

Trong đời báo ứng dữ hiền,

Là do nhân quả tội khiên bao đời.

Ai mà biết lẽ ấy rồi,

Thật là hoan hỷ bao người chánh tin.

Những ngày cúng kiến tiên linh,

Thành tâm yên lặng tưởng tình người xưa.

Hương đèn bông trái cũng vừa,

Nhắc nhở công đức kế thừa tiền nhân.

Linh hồn hoan hỷ no lòng,

Chớ đâu ăn uống mà trông cổ bày.

Còn như thờ cúng các Ngài,

Thờ cốt tượng, đâu bằng lời dạy răn,

Dầu thờ kinh sách học hành,

Không bằng thờ kính thầy đang hiện tiền,

Nhưng thờ thầy học tinh chuyên,

Sao bằng thanh tịnh, tâm kiên định rồi,

Cung kính là để vâng lời,

Vâng lời là để biết nơi thực hành,

Thực hành kết quả trọn lành,

Chính tâm trong sạch của mình mới hay.

Vậy khuyên tất cả ai ai,

Hãy nên biết giữ tâm này sáng trong.

Tâm thanh tịnh, sống đại đồng,

Chánh kiến kết quả của lòng chánh tin.

Ai ơi ! Chánh kiến lòng minh

Hãy dùng chánh kiến thấy nhìn viên thông./.

 

 

[1] Hồng Diện Đế Quân

 

 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. Tuyết Liên chuyển thơ

 

-----oo0oo-----

Nguồn: www.daophatkhatsi.vn

BÀI LIÊN QUAN

Tam Giáo  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 436 xem)

Thập Nhị Nhân Duyên  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 680 xem)

Thần Mật  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 444 xem)

Sanh và Tử  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 424 xem)

Ăn Chay  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 420 xem)

Cư Sĩ  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 456 xem)

Tánh Thủy  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 600 xem)

Học Chơn Lý  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 448 xem)

Lục Căn  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 552 xem)

Trên mặt nước  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 612 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVII

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVII

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ