Trang chủ > Đức Tổ Sư > Chơn Lý

Học Chơn Lý

Tác giả: NT. Tuyết Liên (chuyển thơ).  
Xem: 530 . Đăng: 06/01/2022In ấn

 

 

Học Chơn Lý

 

 

 

Cổ nhân là thú tiến dần

Thú thì chưa biết làm ăn nuôi mình.

Chỉ làm hang ổ che thân

Phòng khi mưa nắng, lúc cần sản sinh.

Thú từ tứ đại hóa sanh

Chỉ biết ăn, sống, trung thành cỏ cây.

Không biết dưỡng sinh thường ngày,

Nên sanh nhiều, chẳng sống dai mấy người.

Sau tập cuốc đất, trồng cây

Cất nhà, may áo, thêm bài thuốc thang,

Cũng vì khổ mới siêng làm,

Càng làm, càng được mở mang trí tài.

Việc làm sáng láng khéo hay,

Tìm cách chế biến mỗi ngày tiến thêm.

Tiện nghi cái sống nâng lên,

Cho tuổi thọ được tăng thêm lâu dài.

Nhưng nào ai biết, ai hay

Quanh quẩn trong ấy không ngày thoát ra.

Khác nào khám ngục hành hà

Muôn đời ngàn kiếp khổ mà không công.

Trong ấy vui khổ xoay vòng,

Như sự an ủi cho lòng nhẹ vơi,

Rồi tiếp tục chịu khổ đời,

Vì dốt nát, không biết nơi  ra vào.

Lẽ thật cuộc đời ra sao,

Võ trụ, thế giới trước sau không rành.

Có sắc thân, thọ cảm sanh,

Có thọ cảm mới hình thành tưởng tri,

Có tư tưởng, có hành vi,

Việc làm kinh nghiệm thức tri cao dần.

Người học, là học mưu sinh,

Chế tạo vật chất cho thân tiện dùng.

Thật, giả không biết cân phân,

Đầu đuôi sau trước có phần ngu ngơ.

Tuy nuôi thân chẳng được lâu,

Lắm khi tranh đoạt mong cầu sướng vui.

Nên người họ lại giết người,

Dữ hơn ác thú, lúc thời cổ nhân.

Sau có người trí thiện hơn,

Bày ra đạo lý biện phân ác lành.

Tập cho cái sống thiện thanh,

Xem nhẹ vật chất, tinh thần không không.

Bắt đầu biết thiện là cần,

Vì cần sống, nên miếng ăn hiền hòa.

Như thế nghĩa là người ta

Lìa  xa học ác để mà nuôi thân,

Bước lên cái học tinh thần

Học nuôi hột giống là phần đúng hơn.

Trước kia học ác nuôi thân,

Giờ học thiện, nuôi tinh thần khác đâu.

So sánh tương đối thấp cao,

Để có cách sống nâng cao lên dần.

Bao nhiêu phương cách nuôi thân,

Bấy nhiêu phương cách để cần nuôi tâm.

Bấy giờ người nhận ra rằng

Sống theo lý trí tinh thần khỏe hơn.

Xa rời địa ngục thấp hèn,

Vượt lên cao khỏi đất bằng khổ vui.

Nhưng ! còn trong giáo lý luân hồi,

Đối đãi thiện ác có rồi đến không.

Thân trí, vật chất, tinh thần,

Chớ chưa biết được lý chân cuộc đời.

Thiện ác, phải trái song đôi,

Thái quá, bất cập chưa rồi, chưa xong.

Con đường chính giữa thanh trong,

Hai bờ thiện ác song song bên đường,

Gọi tiểu đạo, đường nhỏ luôn,

Nếu không có nhỏ, lớn nương đâu thành.

Đại đạo chính giữa quang minh,

Chính nhờ đường nhỏ song hành hai bên.

Vậy nên thiện ác là nền,

Đạo nơi chính giữa vượt trên cõi đời,

Giữa nơi thiện ác khổ vui,

Thiên đường, địa ngục có thời như không.

Đạo là chơn lý không không,

Từ thuở khởi thỉ, đạo trong chơn thường.

Loài người sanh sau vấn vương,

Không hiểu chơn lý nên thường chấp nương,

Giáo lý ác khổ là đường,

Phương tiện tiến đến cảnh thường vui thanh.

Được sống hạnh phúc yên lành,

Không cần tìm hiểu đạo lành lý chân.

Mê tin vật chất sắc thân,

Bởi từ tứ đại sanh lần các duyên.

Cái ác, cái khổ, cái hiền,

Về sau chán sợ bước lên tinh thần.

Cái sống, cái thiện, cái chân,

Nhưng rồi cũng chán bước lần trở lui,

Hết cao đến thấp luân hồi,

Dưới thấp chán sợ lần hồi bước lên,

Đến chót núi tột cao trên,

Lại từ chót núi té liền hố sâu.

Mãi mãi như thế mong cầu,

Thích ưa nhàm chán dẫn đầu ý căn.

Tình dục tương đối trói trăn,

Luân hồi khổ nhọc trầm thăng nhiều đời.

Nhưng nhờ mê tín khổ đời,

Mới được giác ngộ từ nơi bên lề.

Khổ sở thất bại não nề,

Mới ngộ chơn lý hết mê cuộc đời.

Sau khi thấu lý đạo rồi,

Không nương giáo lý, chấp vào có không.

Gặp được nắm giữ mực trung,

Kêu là đắc đạo ung dung nhiệm mầu.

Ở  đường giữa, không thấp cao,

Đi tới chơn lý quả mầu tự tâm.

Sau khi thực hành đạo trung,

Thấy được kết quả dấu chân ban đầu.

Chơn lý trung đạo nhiệm mầu,

Người trước khai vạch, người sau thực hành,

Đến nơi cực lạc tịnh thanh,

Con đường chánh đại quang minh thanh nhàn.

Gọi thành đạo hay đạo thành,

Nhờ nơi giáo lý mà mình hiểu ra.

Hay từ tương đối nhận ra,

Đến được chơn lý mới là cao trên.

Vì giáo lý có hai bên,

Chúng sanh chấp có mà quên con đường.

Nhảy qua lại theo pháp nương,

Cái ta không định nên thường khổ tai.

Chơn lý là đạo không hai,

Là chỗ đứng vững lâu dài yên vui.

Chánh  đạo tuyệt đối thành rồi,

Con đường giác ngộ cho người hữu duyên.

Đến chơn lý có hai phương,

Ác, thiện, giác ngộ là đường xưa nay.

Thứ hai không đi dông dài,

Chọn con đường tắt đi ngay tâm mình.

Tâm yên tịnh, vọng không sanh,

Quán xét tỏ rõ các hành tự nhiên.

Tự nhiên yên lặng diệu huyền,

Đó là chơn lý tự nhiên buổi đầu.

Nguồn gốc các pháp ban đầu,

Cũng là chỗ đến lý sâu vô cùng.

Nói vắn tắt, khó hiểu thông,

Phải dùng văn tự mới mong am tường.

Chúng sanh mới đi trúng đường,

Có được kết quả không lầm, không sai.

Nguồn gốc các pháp xưa nay,

Vốn từ yên lặng sanh rày các duyên.

Từ trong yên lặng tự nhiên,

Các pháp sanh khởi nhân duyên thế nào.

Cách đi tới ra làm sao?

Đến điểm cuối chót thế nào là xong?

Cái yên lặng trước là sao?

Tự nhiên yên lặng lúc sau khác gì?

Phật xưa ngồi dưới gốc cây

Sưu tầm nguồn gốc pháp từ đâu sanh.

Thấu đạt sự thật mong manh

Từ thành đến hoại có không vô thường,

Sanh già đau chết lẽ thường,

Nói ra các pháp chỉ đường chúng sanh.

Chư Tăng đệ tử y hành,

Tìm nơi thanh vắng tỉnh tâm tham thiền,

Thẩm xét lẽ thật căn nguyên,

Tạo ra phương pháp tùy duyên cuộc đời.

Miễn sao đến chỗ nghĩ ngơi,

Tự nhiên yên lặng cuộc đời thanh trong.

Lịch sử xưa có đoạn rằng:

Tỳ khưu nhập định bay lên cõi trời,

Gặp vua trời hỏi khúc nôi

Nguyên nhân tứ đại con người từ đâu?

Chơn lý ấy như thế nào?

Dẫu cho thượng đế không sao trả lời.

Vì lẽ các bậc vua trời,

Chưa ngộ chơn lý, cuộc đời chưa thông,

Các Ngài từ tứ đại sanh,

Làm sao biết được ngọn ngành xưa nay.

Sư ấy tìm đến Như Lai,

Được Phật hoan hỷ chỉ bày cội căn.

Khi xả định tứ đại sanh,

Chúng sanh, các pháp thường hằng biến thiên.

Khi người nhập định tham thiền,

Ấy là chỗ đến các duyên dứt rồi.

Lời dạy chỉ rõ khúc nôi,

Câu nói vắn tắt đủ rồi lý chơn.

Câu nói ấy đã bao trùm,

Tứ đại, vũ trụ, duyên nhân các loài.

Lẽ sanh diệt tự xưa nay,

Chúng sanh các pháp không ngoài lý chơn.

Duyên hợp vọng sự xoay tròn,

Duyên tan các pháp hoàn toàn là không.

Tăng xưa là bậc tinh ròng,

Chuyên tu thiền định quán tầm lý chơn.

Tìm Phật hỏi rõ nguồn cơn,

Sau lời Phật dạy lý chơn hiển bày.

Giác ngộ các pháp xưa nay,

Như chai nước đã đựng đầy không lưng.

Cũng như thế thấu lý chơn,

Là đắc chánh định, không còn xuyến xao.

Người giác ngộ như kẻ đau

Mà được biết rõ thế nào nguyên nhân,

Biết các bộ phận trong thân,

Biết thuốc đối trị, chẳng cần cầu ai.

Tự mình uống vào hết ngay,

Không còn khổ sở loay hoay đau sầu.

Bậc thượng trí có khác đâu,

Biết mình có bệnh, pháp mầu dược linh.

Chỉ thương cho các chúng sanh,

Ngây si chẳng biết bệnh mình ra sao.

Chẳng biết nguyên nhân từ đâu,

Nên thường trúng độc hèn lâu không lành.

Chẳng biết vị thuốc pháp hành,

Chẳng biết tánh thuốc dùng lầm bệnh thêm.

Có khi mất mạng cũng nên,

Phải nhờ người khác chăm nom lo dùm.

Mạng mình người khác cầm căn

May nhờ rủi chịu phập phồng lo âu.

Sợ người ghét hại mưu sâu

Đến đổi chiều chuộng cúi đầu mới yên.

Cầu người nghĩ đến nhân duyên,

Ban ơn cứu tử, phước dường hườn sanh.

Thờ người hơn cha mẹ sanh,

Bảo sao nghe vậy mê tin người bày,

Nhắm mắt đánh liều nào hay,

Tới đâu hay đó trong tay người cầm.

Sự thật là vậy muôn năm,

Nếu không giác ngộ ngàn năm luân hồi.

Đức Phật bậc giác ngộ rồi,

Chư Tăng thượng trí quán soi tham thiền,

Thấu được các pháp do duyên,

Thấy ra chơn lý tự nhiên ban đầu.

Chúng sanh thì có được đâu

Phần đông chỉ biết mong cầu muốn ham.

Mảng lo ăn uống tham lam,

Sân giận sình nổi phải cam chịu hành.

Hư thúi tạng phủ trong mình,

Điên cuồng mê sảng không còn tỉnh tâm.

Đức Phật thương kẻ lạc lầm,

Chỉ cho phương pháp vừa tầm chúng sanh.

Đưa thuốc trước uống cho lành,

Đợi khi bớt bệnh ân cần dạy răn,

Con đường giác ngộ làm tăng,

Tu theo chánh pháp siêng năng định thiền.

Thấy rõ các pháp nhân duyên,

Rõ biết chơn lý tự nhiên ban đầu,

Với người thượng trí căn sâu,

Sẽ được giác ngộ đạo mầu tự tâm.

Như vậy đối với chúng sanh,

Si mê chưa sáng Phật đành tùy duyên,

Làm phù thủy, làm chư thiên,

Họa phù, đọc chú trị liền chứng mê.

Tạo niềm tin, họ quay về,

Sau dùng chánh pháp trừ mê dần dần.

Kẻ ấy tin Phật như thần,

Như thánh linh hiển chỉ cần tin theo.

Còn hạng mê tín thứ hai,

Tin lời Phật nói là hay nhất rồi.

Dùng chung một pháp một bài,

Đâu biết lời Phật chỉ bày tùy duyên,

Giáo pháp có tiệm có huyền,

Tùy cơ phương tiện giáo khuyên độ đời.

Đừng quá mê tin vào nơi,

Kinh sách đủ thứ, cùng lời danh nhân.

Sẽ phải đảo điên tinh thần,

Pháp nào cũng học không cần nghĩ suy.

Bệnh mình nặng nhẹ thuốc gì,

Hỏi thầy cho rõ bệnh chi, thuốc nào.

Học hỏi tánh thuốc ra sao,

Hỏi trước rồi sẽ uống sau trị lành.

Cũng vậy tất cả chúng sanh,

Phần nhiều mê tín tham sân đủ điều.

Nuôi lòng ngã ái tự kiêu,

Không chịu học hỏi chấp liều pháp môn.

Làm sao thấy được lý chơn,

Tự mình đi xuống thấp hơn, tự mình.

Chúng sanh sao chẳng tự tin,

Như thường lành mạnh an bình quý hơn.

Lành mạnh bình an chánh chơn,

Nơi thân tứ đại, tâm hồn chúng sinh.

Nhọc nhằn cầu cạnh pháp linh,

Sự vui cùng khổ ngoài mình ích đâu.

Hết vui khổ thân phong trần,

Đến lo vui khổ tinh thần trí tâm.

Họ là những kẻ sai lầm,

Tự mình trói buộc giam cầm mình thôi.

Kẻ chấp như bị tù đày,

Ở trong khám tối chịu hoài đắng cay.

Sao chẳng chịu tỉnh biết ngay,

Sự tốt đẹp của thường ngày bình an.

Các pháp từ chơn lý sanh,

Để rồi các pháp quy thành lý chơn.

Ánh sáng từ mặt trời sanh,

Quy về một mối tinh quang mặt trời.

Pháp là phương tiện tạm thôi,

Chỉ cho sanh chúng thấy nơi cội nguồn.

Giáo lý chỉ là pháp nương,

Pháp như tay chỉ con đường giác chơn.

Đến với chơn lý cội nguồn,

Làm người giác ngộ như thường bình an.

Phật nào có bảo chúng sanh,

Tin Ngài độc đoán, thờ Ngài độc tôn,

Giữ gìn pháp lý kim ngôn,

Khư khư mờ quáng không hơn người mù.

Sự mê tín lợi bước đầu,

Kẻ ác được thiện mặc dầu còn mê.

Lớp tạm cho kẻ nặng nề,

Người quá mê tín khó bề tiến xa.

Bậc thượng trí đã hiểu ra,

Lìa xa mê tín mới là thông minh.

Sống tự nhiên, được yên bình,

Vượt qua phước tội thì mình thảnh thơi.

Giác ngộ mới thoát luân hồi,

Giữ tâm yên lặng định nơi việc làm.

Chúng ta nên phải biết rằng,

Mỗi câu pháp lý, ý người chỉ trăng.

Thấy được ánh trăng vĩnh hằng,

Đó là mục đích Phật tăng độ người.

Như  bè đưa qua biển khơi,

Chứ không phải đứng giữ nơi chiếc bè.

Để chịu chết giữa biển đời,

Còn thiệt hại lớn hơn nơi bờ này.

Học Phật để đừng hiểu sai,

Thờ Phật để có gương Ngài tu tâm.

Tu tâm là để đắc thành,

Chơn như toàn giác không lầm, không mê.

Chớ đừng hầu hạ cận kề,

Nghĩ rằng đã được hết mê, hết lầm.

Nương một pháp để tìm tâm,

Là tìm chơn lý sẵn trong muôn đời.

Ngộ rồi phải bỏ pháp thôi,

Chớ đừng giữ pháp để rồi mê luân.

Chấp pháp chẳng thấy lý chân,

Hay là học mãi kiếm tầm pháp hay.

Của chư Phật đã diễn bày,

Điên đảo tâm trí phí hoài thời gian.

Chỉ cần một pháp thuận an,

Làm chìa khóa mở kho tàng tự nhiên.

Tỏ ngộ chơn lý diệu huyền,

Từ trong chơn lý pháp thiêng sẳn dùng.

Pháp lý không tận, không cùng,

Ai người giác ngộ lấy dùng tự do.

Nghe pháp mục đích để cho,

Biết Phật, chơn lý sẵn kho bảo tàng.

Mà đừng vái Phật cầu Tăng,

Cho là quý báu, chẳng năng tu hành.

Có thật quý báu đi chăng,

Là do sanh chúng lạc lầm quá lâu.

Trôi lăn biển khổ, nguồn sầu,

Hôm nay thấy gặp báu châu của mình.

Thiện ác có do duyên sanh

Nương pháp thiện ác như cầu qua sông.

Người hiểu chơn lý là không,

Mê tin thái quá mà không biết gì.

Bị người đầu độc hiểm nguy,

Bảo chi nghe nấy còn gì tự do.

Tìm học chơn lý để cho,

Hiểu được chơn lý, mà lo tu hành.

Người có sức mạnh yên bình,

Chư Phật cũng khỏi nhọc phiền vì ta.

Người biết chơn lý như là,

Người thợ làm bánh đứng ra thực hành.

Bột, đường cách thức làm nhanh,

Tự mình làm được không ăn bánh người.

Ngộ chơn lý cũng vậy thôi,

Không tin ai hết để rồi chỉ tin.

Chơn lý vũ trụ yên bình,

Hiểu được chơn lý thì mình tự tu.

Tự độ, độ tha vân du,

Khỏi cần tha độ cho dù Phật tiên.

Tu học chơn lý diệu huyền,

Nghe học pháp để tự tìm lý chơn.

Nghe pháp không hiểu thiệt hơn,

Hoặc đem pháp nói vào trường hợp riêng.

Không đúng ý nghĩa nhân duyên,

Hủy mạ giáo pháp Phật truyền dạy ra.

“Tin ta mà không hiểu ta,

Ấy là bày báng, ấy là khinh chê”.[1]

Mỗi người phải tự tìm về

Cội nguồn chơn lý, đừng mê pháp huyền.

Nắm chơn lý đủ nhân duyên,

Đến với chơn lý đạo thiền tỏ thông.

Liệng bỏ pháp lại sau lưng,

Cho người hậu học  biết chừng đi theo.

Mình không chứa giữ pháp nào,

Từ cái học ác buổi đầu tiến lên.

Thứ hai học thiện tu hiền,

Đến học chơn lý là duyên sau cùng.

Ở lớp ác ta chưa thông,

Dốt với cái thiện ở trong cuộc đời.

Đến lớp thiện, lại dốt nơi

Dốt với chơn lý để rồi tìm lên.

Cái học chơn lý làm nền,

Người biết chơn lý hiểu luôn ác hiền.

Chơn lý ở ngoài nhân duyên,

Ngoài vòng dối giả ác hiền tỏ ngay.

Phật xưa thấu được pháp này,

Có đủ thập hiệu[2] đức Ngài Thế Tôn.

Bởi Ngài đã thấu lý chơn,

Khắp trong thế giới giả chơn cuộc đời.

Chơn lý là lẽ thật thôi,

Không cao, không thấp, nhưng người không thông,

Vì bị hoặc nghiệp áng tâm,

Hoặc mãi quanh quẩn trong trần biết chi.

Thoạt nghe sanh dạ hoài nghi,

Cho là huyển hoặc lắm khi ngây khờ.

Nếu như có một người kia,

Thấy sự biến hóa của đời khổ vui.

Sẽ tìm cái thật cuộc đời,

Tốt nhất là tự tìm nơi chính mình,

Thấy con đường thật đăng trình,

Ắt sẽ đến chốn an bình tự nhiên.

Vọng sự có sẳn lý chơn,

Cái thật từ chỗ giả hình nhận ra.

Cái trúng ở nơi trật mà,

Từ trật quấy, kinh nghiệm là thành công.

Nên sự học thật mênh mông,

Bao nhiêu trường lớp cũng không hết bài.

Người hiểu chơn lý không sai

Như bao người khác, đứng ngoài sự duyên.

Ở trong cảnh thật hiện tiền,

Nhìn thấy tỏ rõ giả duyên cuộc đời.

Thấy ai lầm lạc chơi vơi,

Dùng phương tiện chỉ dắt người lầm mê.

Lời nói thiên hạ tin nghe,

Thấy được ích lợi, mới là pháp vương.

Chơn lý không có khác thường,

Với người thật biết, theo đường thật đi.

Học chơn lý cũng giống y,

Các môn khoa học của người thế gian.

Nhưng chỉ đi theo một đường,

Vào cái chân thật trường tồn vĩnh miên.

Không ôm đeo cái ảo huyền,

Nhận ra cái thật, cái chơn như là.

Cũng như người thợ cất nhà,

Trước dựng giàn tạm sau là thi công.

Đến khi cất nhà thành công,

Giàn trò giở bỏ mới xong căn nhà.

Cái học cũng giống như là,

Bước đầu thiện ác cũng là tạm thôi.

Học với chơn lý xong rồi,

Cái học thiện ác cũng thôi không dùng.

Thế thì sự học phải thông,

Học để mở trí, đặng hòng bước lên.

Học đôi pháp, tới lý chơn,

Rốt ráo sự học, không vòng quẩn quanh.

Như kiến quanh quẩn theo vành,

Nghĩ tạm từng nấc nơi vành bánh xe.

Chẳng chịu đi thẳng căm xe,

Vào trong trụ cốt là nhà an yên.

Đi lạc bởi ham vui chuyền,

Không nhớ mục đích cùng quên cửa nhà.

Chơn lý như mặt trời xa,

Pháp lý ánh sáng như là trăng sao.

Thế sự hang tối âm u,

Chúng ta phải học đi từ bước lên.

Trước học nuôi sống sắc thân,

Tạo tác giả vật chúng sanh cuộc đời.

Lối học ấy giả tạm thôi,

Phải học cứu cánh thoát đời phù du.

Khi xưa dưới gốc vô ưu,

Phật nói giáo lý Hoa Nghiêm thượng thừa,

Trời người ngơ ngác hiểu chưa ?

Hoa Nghiêm chơn lý Phật thừa chánh chơn.

Đem cái thường thật ân cần,

Nói không ai hiểu, bởi lầm chấp quen.

Không hiểu được pháp chánh chơn,

Phật đem giáo lý chia phân ba thừa.

Tùy duyên có pháp thấp vừa,

Dắt từng bước đến Phật thừa tối cao.

Chúng sanh càng lún, càng sâu,

Nhìn lên thấy Phật càng cao, cao vời.

Nào ai có biết có hay,

Chúng sanh, chư Phật ai ai cũng người.

Đứng đi trên đất thường thôi,

Sống trong cái thật, ở nơi cái thường.

Chúng sanh tìm cái phi thường,

Hay tìm vọng động nên thường khổ nguy.

Thấy Phật tự nhiên huyền vi,

Còn mình quen tánh một khi muốn dừng,

Chịu khổ cực rèn tập lần,

Kiên tâm trì chí để tâm lặng dần.

Đối với chơn lý thật chân,

Hoa Nghiêm tối thượng không cần học chi.

Cái thật sẵn có mọi khi,

Mọi nơi, mọi chỗ có gì khác đâu.

Thế mà chúng sanh mong cầu,

Học ác, học thiện đâu đâu cũng tìm.

Chỉ thấy cái ta trước tiên,

Sự vật che áng đương nhiên mê lầm.

Dầu thần hay thiên nhãn thông,

Không thấy chơn lý cái không yên bình.

Huống chi nhục nhãn mắt phàm,

Làm sao thấy rõ lẽ chơn trở về.

Học các pháp đến Hoa Nghiêm,

Học giáo lý để đi tìm chơn như.

Tất cả sự học kinh thư,

Rốt ráo để hiểu như như chơn thường.

Chúng ta nên học lý chơn,

Là trường đại học thượng nhân bậc thầy.

Muốn học phải giải thoát ngay,

Những mối ràng buộc gia tài, tình thân.

Giới thân phải giữ trong ngần,

Tâm định yên lặng trí lần mở mang.

Xuất gia khất sĩ làm tăng,

Người vào giáo hội tinh cần học tu.

Học tu cực nhọc buổi đầu,

Sau được mạnh khỏe vui câu thanh nhàn.

Một kiếp tu hành yên an,

Ngàn đời rảnh khổ nghiệp trần không vương.

Một thời ngộ đạo chơn thường,

Vạn thuở an hưởng niết bàn tự tâm.

Đúng theo chơn lý người nên,

Xin ăn tu học quý hơn ngọc ngà.

Trường học giáo hội tăng già

Không ở một chỗ, ta bà vân du.

Trường học chơn lý tối ưu,

Học mãi không chán, không lui, học dài.

Không phải chỉ học một bài,

Mà được toàn học, được đầy đủ đâu.

Là sự học có đuôi đầu,

Học không gián đoạn, học lâu, không ngừng.

Chơn lý trường học đại đồng,

Không phải bàn, lớp, ở trong một nhà.

Là trường học của chúng ta,

Không phải đời đạo mà là của chung.

Không phải đảng phái, pháp môn,

Chơn lý không phải độc tôn Phật trời.

Tạm gọi tên chơn lý thôi,

Danh từ phân biệt chỉ nơi rốt cùng.

Cũng như tiếng Phật chỉ chung,

Ai người giác ngộ đều dùng như nhau.

Chơn lý không có thấp cao,

Thiên về duy vật, hoặc vào duy tâm,

Duy thức cũng chẳng tin lầm,

Không tin sự vật không lầm chấp chi.

Cũng không vất bỏ cái gì,

Đúng chơn lý vạn vật thì tự nhiên.

Tự nhiên sống mãi trường miên,

Trường học chơn lý tự nhiên muôn loài.

Thế nên tất cả ai ai,

Cũng phải đi học hiểu bài mới khôn.

Có được niềm tin chánh chơn,

Kết quả chánh định đúng chơn lý rồi.

Giải thoát ra khỏi nhà đời,

Bước qua trường đạo học lời chơn không.

Chơn lý võ trụ đại đồng,

Nơi ấy đựng chứa dung thông ta người.

Mặc sức xin pháp học lời,

Chúng ta nên phải tới nơi lớp trường.

Học hiểu chơn lý bình thường,

Bình an lành mạnh như thường, như chơn.

 

[1] Tăng Nhất A Hàm

[2]. Sĩ Trung Thắng, là Thế Gian Giải, là Thiên Nhơn Sư, là Vô Thượng Sĩ, là Thiên Thượng Tôn .v.v...

 

 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. Tuyết Liên chuyển thơ

 

-----oo0oo-----

Nguồn: www.daophatkhatsi.vn

BÀI LIÊN QUAN

Lục Căn  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 680 xem)

Trên mặt nước  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 764 xem)

Chơn Lý - Tổ sư Minh Đăng Quang (Sách PDF)  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 45992 xem)

Chơn Lý 51 - Quan Thế Âm  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 31499 xem)

Chơn Lý 1 Võ Trụ Quan  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 20746 xem)

Lời Giới Thiệu Chơn Lý  ( Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên , 14539 xem)

Tinh hoa Chơn lý  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 12383 xem)

Chơn Lý 63 - Đạo Phật Khất sĩ  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 6654 xem)

Chơn Lý 64 - Khổ và vui  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 6662 xem)

Chơn Lý 61 - Hòa Bình  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 5142 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVII

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVII

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ