Trang chủ > Đức Tổ Sư > Chơn Lý

Thập Nhị Nhân Duyên

Tác giả: NT. Tuyết Liên (chuyển thơ).  
Xem: 118 . Đăng: 08/01/2022In ấn

 

 

Thập Nhị Nhân Duyên

 

 

 

 

I. Cõi đời có bởi nhơn duyên

Do mười hai pháp hằng chuyền níu nhau.

Chúng sanh có, có khổ đau,

Sau khi khổ, tiến hay tiêu tùy người.

Mười hai duyên có trong đời,

Vô minh, hành, thức, con người có ra.

Danh sắc, lục nhập dung hòa,

Xúc, thọ, ái, thủ, hữu là nhân duyên.

Sanh ra lão tử ưu phiền,

Vô minh tử khổ triền miên nhọc nhằn.

Nguyên thỉ võ trụ tối tăm,

Chưa có tứ đại, chúng sanh, con người.

Đến khi hành khởi chuyển xoay,

Tứ đại dung hợp có ngay địa cầu.

Hành đến thức, mối tương giao,

Cái sống, cái biết, tìm vào gá nương.

Thức sanh danh sắc tên thường

Từ danh sắclục nhập nương làm nền.

Lục nhập gồm đủ sáu tên,

Sắc, thinh, hương, vị, xúc thêm pháp trần.

Có trần, căn tiếp xúc gần,

Sanh thọ ưa chịu nhiễm dần các duyên.

Sanh ra áithủ triền miên,

Có thủ nên có cảnh duyên cuộc đời.

Từ có của cải sanh sôi,

Sanh ra lão tử, đến hồi diệt tiêu.

Quanh quẩn công việc bao nhiêu,

Tử sanh, sanh tử lắm điều khổ thân.

Như mộng, như huyển trong trần,

Ở đâu chẳng biết, không cần đường ra.

Cam tâm tôi mọi quỷ ma,

Cũng như cá cạn, chắc là thiệt thân.

                      

II. Duyên tứ đại, mười hai nhân,

Chúng sanh cũng có duyên trần mười hai.

Vô minh thuở chưa có thai,

Sanh Hành giao hợp duyên này thức sanh.

Sanh ra danh sắc đành rành,

Sắc sanh lục nhập, do gần sắc hương.

Sanh ra xúc cảm nhờ nương,

Do nơi tiếp xúc, thọ thường muốn ham.

Ái  nên thủ giữ riêng làm,

Sanh ra cái có tham lam cho mình.

Có hữu thì tất có sanh,

Sanh con sanh cháu, thêm tình đảo điên.

Sanh tử, tử sanh triền miên,

Để chịu khổ nhọc nối duyên kiếp người.

Chết rồi chỉ biết cõi đời,

Sanh ra để chết kiếp người phù du.

Luân hồi cam chịu tội tù,

Chẳng hiểu thật giả, mê ngu bao lần.

Có thân phải khổ vì thân,

Mê trần phải chịu bao lần thương đau.

Cái chi vừa ý chui vào,

Đổ cho số phận ra sao mặc tình.

                   

III. Khổ vô lý, của chúng sanh

Là do mê muội, chấp mình là cao,

Không chịu xem ngó trước sau,

Nay lần mai lựa trong bầu vô minh.

Mộng mị giả ảo ru tình,

Vui chịu hành hạ, phù sinh kiếp người.

Trí thức mưu mô gạt đời,

Nương theo danh sắc gọi mời tà tri.

Sáu căn thâm nhập hiểu chi,

Tiếp xúc, thọ chịu tham si khổ mình.

Ái luyến không rời tưởng tình,

Chúng sanh quyến thuộc của mình ảo mê.

Nên thủ giữ mãi chấp nê,

Cho là có, có mọi bề trầm luân.

Sanh đi, sanh lại nhiều lần,

Mỗi lần sanh tử thêm phần đớn đau.

Luân hồi mãi, khổ biết bao,

Mặc thức chìm nổi, bám đeo vọng tình.

Thảm thương cái kiếp nhân sinh,

Bao giờ dừng được, vô minh nếu còn.

Có người tham quá mất khôn,

Nhẫn tâm tàn bạo diệt luôn thức tình.

Cũng có kẻ mãi giữ gìn,

Chấp cái có, thức trong trần ngộp sâu.

Đến khi tỉnh ngộ hồi đầu,

Biết ra cái sống nhiệm mầu biết bao.

Chủ nhơn chơn thật làu làu,

Chơn như yên lặng đường vào vô sanh.

                     

IV. Luân hồi trong cõi phù sinh,

Biết ai lớn nhỏ, duyên tình trước sau.

Vô minh không biết thế nào,

Lại là trụ cốt chuyển giao luân trầm.

Hành ác là những cây căm,

Duyên giao với thức, sắc danh thêm vào.

Lục nhập, xúc, thọ, ái cao,

Ái mà sáng suốt đi vào chơn như.

Bình đẳng chơn chánh bi từ,

Trí huệ làm Phật đạo sư dẫn đàng.

Ái dục tình khổ đa mang,

Thủ hửu sanh tử là đàng khổ luân.

Tử rồi tiếp tục luân trầm,

Như mọt đeo trụ cốt căm điên đầu.

Níu lấy căm xe chơi vơi

Ôm vành xe thức . . . gọi mời tử sanh.

Ắt bị chết dẹp tan hình,

Mãi sanh tội ác hại mình diệt tiêu.

Vậy ta nên nhớ một điều,

Thương yêu rộng lớn cao siêu thoát trần.

Còn ái tình dục hại thân,

Vô minh đọa lạc luân trầm chẳng vui.

                   

V. Trí huệ trụ cốt an ngôi,

Căm hành thiện, bánh vững rồi chơn như.

Bánh xe pháp bảo đại từ,

Đưa độ sanh chúng vô tư thanh nhàn.

Hơn là mê mãi trần gian,

Vô minh trụ cốt, ác làm căm xe.

Vọng làm vành bánh của xe,

Luân hồi lao nhọc bao phen vui gì.

Bánh xe vô minh tám chi,

Tám khổ đày đọa biết chi thanh nhàn.

Bánh xe trí huệ niết bàn,

Lại có tám đạo vui an vô cùng.

Vô minh dây trói buộc mình,

Càng cựa quậy, càng xiết mình thảm thương.

Trí huệ sắc bén như gươm,

Hươi lên cắt đứt mọi đường khổ đau.

Trí huệ an tịnh biết bao,

Vô minh cấu trược, ồn ào không công.

Suốt đời lo chuyện bao đồng,

Đến chết mê muội cũng không ích gì.

Tỉnh ra trể muộn lở thì,

Cầu mong kiếp khác, biết gì ra sao?

Cảnh trần khói bụi lao xao,

Gió mưa lạnh lẻo chuốc vào thân chi.

Cha con quyến thuộc hiếm khi,

Vợ chồng tâm phúc ít khi mở lời.

Tự mình khổ, mình chịu thôi,

Chẳng kêu cứu được ai người giúp ta.

                             

VI. Một đứa trẻ con trong thai,

Vô minh không biết, sự ngoài (hành) tác duyên.

Sanh thức biết, biến nhiều duyên,

Danh sắc, lục nhập, thì liền sản sanh.

Đến ba tuổi, xúc trưởng thành,

Sáu tuổi có thọ, ái hành mười hai.

Người nhỏ lòng thương thẳng ngay,

Thương cha mẹ, thương những ai thân tình.

Ba mươi tuổi, tuổi trưởng thành,

Biết thương xã hội, chung quanh trong ngoài.

Bốn tám tuổi, thương vạn loài,

Lòng thương cao thượng đông đoài hưởng chung.

Từ bi bác ái đại đồng,

Từ bi vô lượng tròn xong giác hành

Người thì thương gia đình mình,

Trời thương xã hội rộng tình bao dung.

Phật thương vạn loại con chung,

Xả thân độ chúng, thiên nhân kính vì.

Trái lại.

Vì lòng tư kỷ tham si,

Đam mê ái dục nên đi lầm đường.

Chôn mình biển hận tình trường,

Khổ đau không dứt, vô phương thoát trần.

Ái là quý báu vô ngần,

Cũng là độc hại muôn lần thảm thương.

Vô minh đến tử con đường,

Từ địa ngục đến Niết bàn vui an.

Con đường vĩnh viễn hoàn toàn,

Hay đường đứt đoạn rã tan thụt lùi.

Gọi suối vàng chỗ chôn người,

Hay mây nâng đở chân người tịnh du.

Chữ ái quyết định tối ưu,

Hai nẻo sáng tối do người định phân

a. Ái chúng sanh nẻo chánh chân,

Đi tới thủ lấy thiện nhân giúp đời.

Hữu có ích lợi cho người,

Sanh pháp phương tiện, giúp người hữu duyên.

Đến tử đầy đủ nhân duyên

Chơn như nhập định nghĩ yên Niết bàn.

b. Ái tình dục thì đa mang,

Đến thủ là lấy ác làm niềm vui.

Hữu là có, có nghiệp đời,

Sanh mưu kế độc hại người khổ nguy.

Quả báo ác nghiệp dẩy đầy,

Đến tử chết mất nghiệp dầy còn mang.

Muốn dứt luân hồi khổ nàn,

Ta nên quán sát rõ ràng nhơn duyên.

Dùng trí huệ để xua tan,

Cắt dây ái dục thoát đàng vô minh.

Cho cái thức được yên bình,

Theo đường chánh đạo thì mình yên vui.

Có trí huệ, làm lành thôi,

Mười hai duyên thiện đến nơi niết bàn.

Còn vô minh, ác dẫn đàng,

Mười hai duyên ác, lạc đường trầm luân.

Khởi đầu là tại vô minh.

Hay là trí huệ tiến trình phía sau.

Trí huệ hiểu trắng khởi đầu,

Không hành, không thức có đâu luân hồi.

Lục nhập, xúc, thọ không rồi.

Không ái, thủ hữu đến thời sanh không.

Sanh không thì tử cũng không,

Không thì đâu có vô minh luân hồi.

Chúng sanh khi có biết rồi,

Tham sống sợ chết, nối đời các duyên.

Muốn sống chấp hữu đảo điên,

Có (hữu) rồi phải giữ (thủ), lụy phiền đến thân.

Có ái, thọ, xúc chi phần,

Lục nhập, danh sắc tập lần thức tri.

Muốn biết phải có hành vi,

Làm không hiểu rõ, khác gì vô minh.

Vô minh tức là tối tăm,

Mắt ngơ tai điếc, không cần trắng đen.

Chẳng cần phải quấy chê khen,

Sống như sâu mọt, bám trên cây trần.

Mười hai duyên do tập lần,

Nên gọi duyên tập, tự tâm mỗi người.

Kẻ bắt dưới đi lên vui,

Người trên đi xuống cũng rồi cũng xong.

Mười hai duyên như một vòng,

Hay như đường thẳng mà con người hành.

Niết bàn mục đích cao thanh,

Hay đến địa ngục để hành hạ thân.

Thang mười hai nấc tiến lần,

Lên lầu cao tột hay gần hố sâu.

Khổ vui, còn mất do đâu,

Do sự lựa chọn lúc đầu mà nên.

                        

VII. Mười hai duyên như đám rừng,

Rừng mười hai cửa, bánh (xe) mười hai căm.

Động một cây, động hết căm,

Vào một cửa vào trọn trong đám rừng.

Một nhơn chứa đủ các nhơn,

Dính nhau chuyền níu liên hoàn các duyên..

Chạm một mắc bị dây chuyền,

Vướng vào thì khó gặp duyên ra ngoài.

Trong cảnh cùn khổ nếu may,

Biết thương hòa hợp, cùng khai mở đường,

Biết lo học hỏi tìm phương,

Cắt đứt xiềng xích, làm gương thoát trần.

Mười hai duyên, mười hai đường,

Đường đến cảnh Phật, đường gần ngục môn.

Ác là địa ngục mê hồn,

Thiện là cảnh sáng thiên đường thảnh thơi.

Huệ là cảnh Phật cao vời,

Mười hai duyên cảnh cho người chọn nhân.

Mười hai duyên của chúng sanh,

Tánh mê, tật xấu trở thành bệnh duyên.

Mười hai món thuốc chữa liền,

Nết tốt, tánh giác con đường rảnh rang.

Ai cũng có một thói quen,

Nếu muốn hết khổ, chọn duyên pháp hành.

Bỏ sở chấp, quày đầu nhanh,

Vào đâu ra đó, là thành công ngay.

Nắm lấy nhơn duyên mười hai,

Đi tới khổ sở, lui rày vui yên.

Trí huệ là lưỡi gươm thiêng,

Hươi lên cắt đứt các duyên khổ sầu.

Trí huệ đuốc sáng đêm thâu,

Dẹp tan bóng tối, như cầu thanh lương.

Giúp ta vượt khỏi tình trường,

Là đôi cánh, giúp vượt tuôn chuồng lồng.

Như mưa dẹp sạch bụi hồng,

Như bè vớt kẻ dưới dòng thủy lưu,

Nhà che mưa nắng tối ưu,

Không gì hạnh phúc hơn người thảnh thơi.

Bến bờ giác ngộ gọi mời,

Là cặp mắt sáng, là trời là trăng.

Đường dài sẽ hết nhọc nhằn,

Khi có trí huệ tăng phần an vui.

Niết bàn vĩnh viễn sống đời,

Hột sen khô, cất để đời mai sau.

Khác hơn cái sống bọt bào,

Non nớt, hư rã làm sao sống đời.

Thân như võ mộng tạm thôi,

Người trí dùng tạm để nuôi hột lành.

Cái chết ai cũng hãi kinh,

Thân chết không mất, mặc tình đổi thay.

Biết chết mới khổ đọa đày,

Như hột non thúi dùng xài được đâu.

Cái khổ chính là con sâu,

Ác gian chất thúi còn đâu biết lành.

Phải nuôi biết sống thiện thanh,

Trường tồn, vĩnh viễn, an lành yên vui.

                         

VIII. THỨ LỚP CỦA MƯỜI HAI NHƠN DUYÊN NƠI LOÀI NGƯỜI

Tứ đại hòa hợp thành người,

Vô minh, không sáng tuổi nôi vừa tròn.

Hành, ngạ quỷ, cây cỏ non,

Một đến sáu tuổi chỉ toàn đói, tham.

Thức, thú vật, súc sanh làm,

Sáuà mười hai tuổi, giận hờn đua tranh.

Danh sắc, A Tu La thần,

Mười hai à mười tám, việc làm si mê.

Lục nhập, nhơn, tính thiện về,

Mười tám à  hăm bốn, u mê giảm dần.

Hai bốn à ba mươi tuổi trần,

Tính thiện, cảm xúc thiên nhân cõi trời.

Thọ, nhập lưu, tuổi ba mươi,

Tới ba sáu tuổi sống đời cư gia.

Ái là vãng lai, Tư đà (Hàm),

Ba sáu à bốn hai tuổi, trải qua bi từ.

Thủ, bất lai, A Hàm như,

Nắm giữ đạo chánh, duyên từ độ sanh.

Bốn hai à bốn tám, nguyện lành

Chọn đường giải thoát, tu hành xuất gia.

Hữu, Vô sanh, La Hán qua (quả)

Bốn tám à năm bốn sống xa lánh đời.

Sanh, Duyên Giác, Bích Chi thời,

Năm bốn à sáu mươi tuổi giác ngộ đời phù du.

Giác tha, Bồ tát kiêm ưu,

Sáu mươi àsáu sáu chết rồi cái ta.

Sống đời vô ngã vị tha,

Từ sáu sáu à bảy hai là chơn như

Qua khỏi bảy hai tuổi từ, (tử)

Niết bàn trọn vẹn, gọi từ Vô sanh.

Nhơn duyên tấn hóa tu hành,

Theo trình độ pháp tuổi sanh kiếp người.

Sống như thế, đắc đạo thôi,

Quả kết hiện kiếp, không rời nhân tu.

Mọi người phải biết cách tu,

Cần học giới luật, tu như diễn bài.

Muốn có kết quả đường dài,

Trước phải rèn tập không ngoài nhơn duyên.

Trước lấy trí huệ làm nền,

Quan trọng chữ Ái, đứng trên là người.

Tiến tu đến Phật cao vời,

Bằng đứng dưới Ái tức thời chúng sanh.

Hai đường phân định đành rành,

Ta nên thận trọng, tử sanh do mình.

                             

IX. NHÂN QUẢ CỦA MƯỜI HAI NHƠN DUYÊN

Nhân quá khứ vô minh, hành

Quả hiện tại thức, sắc danh kết vào. (lục nhập)

Xúc, thọ, ái, thủ, hữu câu,

Sanh, tử kết quả bắt cầu vị lai.

Từ kiếp trước nhân nối dài,

Vô minh không sáng nào hay lỗi lầm.

Làm ác, tạo nghiệp gây nhân,

Quả lục nhập, thức, sắc danh hiển bày.

Xúc, thọ, ái, hữu, thân này,

Là nhân hiện tại nối dài thân sau.

Sanh, tử vị lai đón chào,

Tiếp nối nhân quả, khít khao không lầm.

Nếu muốn vị lai không sanh,

Dừng ngay hiện tại, không thành nhân duyên.

Xúc, thọ, ái, thủ, hữu triền,

Phải nên chấm dứt sự liên kết cầu.

Không nhân, không quả có đâu,

Không thức, danh sắc bắt cầu thân sau.

Vô minh, hành dứt trừ mau,

Đã là quá khứ làm sao đổi dời.

Hôm nay phát nguyện tu rồi,

Khai thông trí huệ, chuyển dời tương lai.

Tập hành thiện, bỏ ác ngay,

Dứt luân hồi, tiến đến ngay Niết bàn.

Không còn tám vạn khổ nàn,

Hưởng ngay tám vạn đạo an chơn từ.

Không còn sanh tử phù hư,

Luân hồi diệt dứt chơn như hiển bày.

Toàn chơn, toàn giác, Như Lai,

Hoàn toàn tịch tịnh, vượt ngoài trầm luân./.

 

 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. Tuyết Liên chuyển thơ

 

-----oo0oo-----

Nguồn: www.daophatkhatsi.vn

BÀI LIÊN QUAN

Thần Mật  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 116 xem)

Sanh và Tử  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 108 xem)

Ăn Chay  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 84 xem)

Cư Sĩ  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 100 xem)

Tánh Thủy  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 112 xem)

Học Chơn Lý  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 148 xem)

Lục Căn  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 196 xem)

Trên mặt nước  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 148 xem)

Chơn Lý - Tổ sư Minh Đăng Quang (Sách PDF)  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 40288 xem)

Chơn Lý 51 - Quan Thế Âm  ( Tổ sư Minh Đăng Quang , 30791 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

Thông báo Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức tại các Tịnh xá, như sau: KHÓA 35: Tịnh xá Ngọc Lâm - Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu KHÓA 36: Tịnh xá Ngọc Long - Xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

VIDEO HÔM NAY

Ni sư Phụng Liên chia sẻ đề tài Giảng về nghĩa chữ Phật (P1) - Ni sư Phụng Liên

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ