Trang chủ > Phật Học > Thiền
Duy Chính đấu với Nam Tuyền
Xem: 10998 . Đăng: 02/11/2015In ấn
TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ
DUY CHÍNH ĐẤU VỚI NAM TUYỀN
Tác giả : Ân Sơn
Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

Lúc Thiền sư Duy chính tham yết Mã Tổ, chỉ một lời khế cơ, hoát nhiên đại ngộ. Thế là nhẹ nhàng ra đi, vân du đến nơi núi sông danh tiếng, tùng lâm lan nhã (chùa kỳ ảo thanh nhàn u tịch).
“Lúc đến nơi đầu suối,
Ngồi nhìn mây kéo lên,
ngẫu nhiên gặp cụ già.
Nói cười mãi không dứt”.
(Hành đáo thuỷ cùng xứ,
Toạ khan vân khởi thời,
Ngẫu nhiên trị lâm tẩu,
Đàm tiếu vô hoàn kỳ).
(Thơ Vương Duy)
Thiền tăng không nhà bốn phương là nhà, tuỳ duyên tiêu nghiệp tháng năm qua; Bát đất xin ăn cơm muôn nhà, bình nước đựng trà nhà nhà dâng; Thiền trượng vượt qua khắp nẻo đường, giày cỏ làm thuyền vượt trùng dương…
Thiền sư Duy Chính tâm vô quái ngại, tuỳ duyên mà ở, tuỳ ý mà đi, từ Giang Tây đến Hồ Bắc, vượt ba ngàn dặm mây nước đến đất Thiểm Tây. Vẻ đẹp thần kỳ của núi Chung Nam hẳn có thể làm đạo tâm thanh tịnh, nhưng sự phồn hoa trong đô thị cũng có thể xúc phát thiền cơ vậy? Chẳng phải cổ nhân đã từng nói, tu Thiền nơi ngã tư đường vẫn tốt đó sao. Huống hồ đạo tràng của Quốc sư Huệ Trung lại ở ngay trong thành Trường An ấy. Nghe nói, Ngài thường xây tháp không có tầng nối (tượng trưng cho cảnh giới Thiền). Đã gần đến nơi rồi, có thể không đi xem được sao? Nói không chừng, có thể mượn đồ hoạ tháp không tầng của Quốc sư Huệ Trung để tự mình cũng có thể xây một cái. Thế là, Thiền sư Duy Chánh đi vào cổng thành Trường An.
Kinh thành rất náo nhiệt, thành quách phố xá muôn màu muôn vẻ, cảnh vật, con người rộn ràng, nhộn nhịp. Thiền sư Duy Chính vừa đi vừa ngắm cũng rất tiêu dao tự tại. Sự tiêu dao của ông lại làm cho người khác không được tự tại - Một ông quan cùng mấy thuộc hạ đang chơi trò đánh toan phạt rượu ở quán rượu bên đường, xuất chiêu bất lợi anh ta thua liên tiếp ba ván. Ngoái đầu nhìn lại, anh ta phát hiện một Hoà thượng đầu trọc lóc lắc lư lù lù đi đến.
“Hừ! Ta bảo tại sao chẳng thắng được ván nào, hóa ra là do cái trứng tròn bên kia đang đến! Đều là do xúi quẩy Hoà thượng này đem đến, liên luỵ đến nổi ta cũng bị cạo trọc đầu!”.
Quan nhân rất phẫn nộ, thuộc hạ lại phụ hoạ thêm: “Tăng nhân kia, đúng ra ngươi nên ở trong núi sâu, tại sao lại có thể huênh hoang khoác lác đi qua chốn này? Phải chơi ông ta một trận mới được”.
Quan nhân và thuộc hạ hạ giọng đằng hắng mấy câu, trong đó có một người bước đến cửa quán rượu, đứng sau một con lừa. Thời đó, người miền núi đều dùng con lừa làm phương tiện để đi đường, cho nên trong thành Trường An ở trước cửa mỗi quán xá đều có chỗ buộc lừa cho khách. Lúc Thiền sư Duy Chính thong thả đi qua con đường trước quán rượu, người kia lặng lẽ đổ rượu nóng trong chén lên mông con lừa. Con lừa bị đau hoảng sợ đá hậu, không ngớt kêu la. Đúng lúc đó, quan nhân bỗng nhiên làm như có việc liên can, đến lớn tiếng gọi: “Hoà thượng!”
Thiền sư Duy Chính nghe gọi ngoái đầu lại , đang chuẩn bị đáp lời, quan nhân lại chỉ tay đến con lừa, rồi cười ha hả với thuộc hạ.
Thiền sư Duy Chính vẫn một mực tự nhiên, bình thản, mỉm cười không đáp, tay phải chỉ chỉ quan nhân, rồi lại chỉ chỉ con lừa. Tuồng như vẽ một đường liên kết giữa người và lừa.
Đồng loại thì tương ứng với nhau để tìm cầu tiếng nói chung.
Chùa xưa danh tiếng trong thiên hạ rất nhiều nhưng không giữ nỗi bước chân thong dong của Thiền sư Duy Chính, mà một vùng núi hoang vắng tịch mặc lại làm cho Ngài treo túi nải lên cao.
Cỏ hoang mênh mông dọn làm lối đi, cờ thiền phấp phới tung bay trong gió. Thiền sư Duy Chính lại là đệ tử ruột của Mã Tổ, đã trải qua trau dồi tôi luyện trong ‘Tuyển Phật Trường’. Cho nên, lúc Ngài bắt đầu xây dựng đạo tràng, mặc dù chỉ là một vùng hoang dã, nhưng Thiền tăng khắp nơi đua nhau hội về, đốn cây, đào đá, chuyển gạch, chở ngói để xây nhà; khai hoang, cày ruộng, gieo trồng, chăm bón để trồng lương thực.
Xây chùa cho Tăng ở yên ổn, làm ruộng để phát triển lương thực. Vài năm gian khổ, chùa của Thiền sư Duy Chánh cũng coi như đã thâu nhận được cả trăm tăng chúng, xây được cả trăm phòng xá, khai khẩn cả trăm mẫu ruộng, thế mà Ngài lại nhẹ nhàng ra đi. Ngài bỏ lại địa vị phương trượng, lặng lẽ lên núi cao, tìm đến đạo tràng của Bách Trượng Hoài Hải, nhận chức Tây Đường dưới tướng của vị đại sư huynh này. Tây Đường là chỉ cho người đã từng trú trì một chùa khác mà nay làm khách ở chùa này. Trong lễ nghi truyền thống, dùng phía đông làm chỗ ở của chủ, phía tây là chỗ ở của khách, mời người đã thoái vị ở một tự viện khác trong chốn Thiền tông Tòng lâm vào chùa của mình, thỉnh họ ở nơi nhà phía tây để tiếp đãi họ như là một vị khách, nên có tên gọi tây Đường này. Sau này, Thiền sư Duy Chính ở lại núi Bách Trượng rất nhiều năm, cho nên trong sử gọi Ngài là ‘Bách Trượng Duy Chính’ (cũng có những điển tịch Tiền tông gọi Ngài là ‘Bách trượng Niết bàn’).
Ở trên núi Bách Trượng còn có một vị Tăng đức cao trọng vọng khác. Một hôm, Ngài đến liêu phòng của Thiền sư Duy Chính, Duy Chính tự nhiên không nói chuyện Thiền với Ngài, càng không bàn luận gì với Ngài cả, chỉ bày ra những việc hằng ngày - Mặt trời vận chuyển, ánh nắng đã chiếu qua cửa sổ, trong phòng lập tức sáng lên. Cao tăng bỗng nhiên nổi sấm giữa trời thanh, mạnh mẽ dùng lời lẽ sắc bén vấn nạn Duy Chính: “Là cửa sổ dựa gần vào mặt trời, hay mặt trời dựa gần vào cửa sổ?”
Thiền sư Duy Chánh cười nhẹ nhàng, nói: “Trưởng lão, trong phòng Ngài có khách, Ngài hãy về phòng thôi”.
Chính câu nói Thiền làm cho giông tố thành mưa xuân, chuyển lửa nóng thành mát mẽ, biến sóng dữ thành lăn tăn, đã đưa Thiền sư Nam Tuyền danh tiếng lẫy lừng đến.
Nam Tuyền Phổ Nguyện sau khi đắc pháp từ Mã Tổ Đạo Nhất vẫn thường đi các nơi tham vấn các Thiền sư nổi tiếng. Ngày hôm đó, Ngài đến núi Bách trượng, không phải đến phương trượng gặp đại sư huynh Hoài Hải mà là đi vào phòng của Thiền sư Duy Chính. Thiền giả gặp nhau chẳng có gì khách sáo, huống hồ là hai huynh đệ tâm niệm tương thông, ý chí tương hợp, cho nên Duy Chính không đợi Nam Tuyền hỏi mà hỏi trước: “Đại tông sư các nơi có thuyết pháp cho mọi người không ?”.
Câu hỏi này của Thiền sư Duy Chính, xem ra dường như rất bình thường nhưng lại ẩn chứa sự sắc sảo nhạy bén của thiền cơ, rất khó mà xướng hoạ với nó. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi thành đạo, đã giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm, kinh điển lớn nhỏ thuyết ra hàng trăm hàng ngàn. Vậy mà lúc Ngài sắp lâm chung lại nói: “Bốn mươi chín năm, Ta chưa từng nói một chữ. Nếu ai nói Phật có thuyết pháp là huỷ báng Phật”.
Thế thì Phật Tổ thương xót, phổ độ chúng sanh, cuối cùng là có thuyết pháp hay không thuyết pháp? Cũng như vậy, các Đại tông sư hoằng hoá khắp nơi thì có thuyết pháp cho mọi người hay không?
Nam Tuyền gật gật đầu, nói giọng bình tĩnh: “Có, có chứ!”
Nam Tuyền trả lời như vậy đúng là cao nhân, lớn gan cự phách - Biết rõ ràng trong núi có hổ mà lại đi đến núi hổ, hay là thật sự không hiểu, cho nên giống như anh chàng lỗ mãng không hành động theo lý lẽ?
Cho sai tức là sai cũng được, tự nhiên như vậy thôi, đến lúc đó, Thiền sư Duy Chính đương nhiên muốn tiếp tục hỏi tiếp: “Vậy thì thuyết pháp cho mọi người là gì vậy?”
Nam Tuyền Phổ Nguyện buột miệng nói: “Không phải tâm, không phải Phật, không phải vật”.
Liên tục phủ định ba cái như vậy, theo ý nghĩa của Nam Tuyền, biểu đạt đúng là ‘từ trước đến nay cũng chưa hề nói một chữ’, không dính mắc chút nào. Thế mà, cuối cùng Ngài vẫn dùng ‘ngôn ngữ’ để biểu đạt tầng ý nghĩa này vậy!
Đây chính là nói, ham nhìn trăng sáng trên trời, mất đi trân châu trong tay!
Bạn có biết, chổi quét lá rụng, chổi quét trần ai nhưng lại đem chổi mà in dấu xuống đất.
Chính vì như vậy, Thiền sư Duy Chính cười hì hì nói với Nam Tuyền: “Đây không phải là pháp thuyết cho người, mà ông lại nói ra rồi!”
Nam Tuyền là đại Tông sư tinh nhanh cổ quái, đương nhiên Ngài biết tuỳ cơ ứng biến. Ngài theo sau bức bách Duy Chính rằng: “Ta chỉ nói như thế, Hoà thượng, ngươi nên nói như thế nào?”
Đúng vậy, pháp không thể nói ra, ông làm sao mà nói? Xem ông ứng phó như thế nào!
Thiền sư Duy Chính tuồng như mềm nhũn, ngã xuống thiền sàng, dựa vào thiền bảng, thở dài một hơi rồi nói: “Ta chẳng phải là cao tăng, tôn túc, đại tông sư gì, làm sao ta biết có thuyết pháp hay không thuyết pháp?”
Nam tuyền theo sau làm bộ ngơ ngác nói: “Ý của ngươi ta không hiểu”
Thiền sư Duy Chính nói: “Ta đã nói với ngươi quá nhiều rồi mà”.
Câu nói này thật là đã nói quá nhiều – cũng như rùa linh dấu đuôi, càng muốn che cáng lòi ra, phải ăn ba mươi gậy!
Hoá ra, hai vị đại tông sư này đang ra sức biểu diễn cho chúng ta. Sau này, đến thời đại nhà Tống, Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển của Thiền tông Vân Môn khen công án này rằng:
Phật Tổ tự xưa không làm người,
Nạp tăng xưa nay luôn vân du.
Gương sáng làm đài thật vi diệu,
Cứ quay phía nam nhìn Bắc đẩu.
Đẩu bỉnh chiếu, khắp nơi nơi,
Vuốt được mũi, quên mất miệng.
(Phật Tổ tùng lai bất vi nhân,
Nạp tăng kim cổ cánh đầu tẩu.
Minh kính đương đài liệt tượng thù,
Nhất nhất nam diện khán bắc đẩu.
Đẩu bỉnh thùy, vô xứ thảo,
Niết đắc tỉ khổng thất khước khẩu.)
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn sao sáng mà ngộ đạo, từ vườn Lộc Uyển sơ chuyển pháp luân đến khi nhập Niết bàn ở Song Lâm, Ngài ra đời thuyết pháp bốn mươi chín năm, nhưng Ngài lại nói mình chưa từng nói một chữ nào. Vì sao vậy? Từ xưa đến nay, Thiền tăng vân du hành cước, đi khắp nơi tham vấn hỏi đạo ‘ý của Tổ sư từ Thiên Trúc đến’, ‘đại ý của Phật pháp’, là vì trong lòng họ còn nghi hoặc, tâm tánh chưa an. Mỗi người chúng ta đều có một tấm ‘gương cổ’ (Thiền sư ngày xưa thường lấy ‘gương cổ’ để thí dụ tự tánh), sâm la vạn tượng, dài ngắn vuông tròn, không có cái gì không phản ánh, trời đất vạn vật, lớn nhỏ nhiều ít, mỗi mỗi đều hiển hiện. Nhưng nếu chúng ta tìm sự hiểu biết trên ‘dài ngắn vuông tròn lớn nhỏ’ cuối cùng tìm chẳng thấy, cho nên Thiền sư Tuyến Đậu Trọng Hiển nói: “Gương sáng làm đài thật đặc biệt, cứ hướng phía Nam nhìn Bắc đẩu”.
Quay mặt về hướng Nam, làm sao có thể nhìn sao Bắc Đẩu? Làm sao có thể nhìn thấy sao Bắc Đẩu? Tuyến Đậu Trọng Hiển sợ chúng ta hiểu sai ý, nên nói tiếp: “Sao Đẩu bính chiếu, còn tìm nơi đâu?”. Ý là, sao Đẩu bính trong bảy sao Bắc Đẩu chiếu xuống phương Nam, bầu trời sắp xuất hiện ánh bình minh, bạn còn muốn đến đâu tìm kiếm nữa? Đừng bao giờ ‘rờ được lỗ mũi mà quên đi cái miệng’ nữa!
Liên quan đến thiền cơ: Mở Đất Ngộ Đạo
Trong sách cổ của Thiền tông, có hai thuyết liên quan đến Thiền sư Bách Trượng Duy Chính. Theo các sử sách như ‘Ngũ Đường Tập’ được tập thành vào thời Ngũ Đại (thành sách vào năm thứ mười niên hiệu Bảo Đại thời Nam Đường – năm 952 Tây lịch) và ‘Ngũ Đăng Hội Nguyên’ (thành sách vào giữa năm Nam Tống) nói Ngài là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, nhưng ‘Bích Nham Lục’ vào thời Bắc Tống (thành sách vào năm thứ bảy niên hiệu Tuyên Hoà thời Tống Huy Tông), ‘Lâm Gian Lục’ của Huệ Hồng Giác Phạm, đều nói Ngài là vị trú trì đời thứ hai ở núi Bách Trượng - tức môn nhân của Bách Trượng Hoài Hải. Hơn nữa, họ đều cho rằng Bách Trượng Hoài Chính và Bách Trượng Niết Bàn là một người. Huệ Hồng Giác Phạm chuyên môn nêu ra những văn bia do một văn nhân đời nhà Đường là Hoàng Vũ Dực soạn viết, ghi chép rất tỉ mỉ. Đồng thời văn bia này là do một trong những nhà thư pháp vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc là Liễu Công Thúc viết, nổi tiếng xưa nay cho nên càng làm tăng thêm sức thuyết phục của nó.
Người viết không phải là học giả, không có hứng thú khảo chứng gì. Sở dĩ tôi đưa ra một đoạn lịch sử lằng nhằng này là vì Hoà thượng Bách Trượng Niết Bàn có một công án ‘khai điền đại nghĩa’ rất đặc sắc.
Theo tài liệu ghi chép, Ngài xuất gia từ nhỏ, vì Ngài lấy việc trì tụng ‘kinh Niết bàn’ làm thời khoá hằng ngày, trước nay chưa hề nói pháp danh của mình cho nên mọi người gọi Ngài là ‘Hoà thượng Niết Bàn’ (nhìn ở góc độ này có lẽ Duy Chính mới là pháp danh chính thức của Ngài). Sau này, khi Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải đã viên tịch, Ngài tiếp tục đảm nhận chức trú trì chùa Bách Trượng thay Ngài Hoài Hải, vì thế gọi là Bách Trượng Niết Bàn. Trong quá trình khởi công xây dựng tòng lâm trên núi Bách Trượng, Hoà thượng Niết Bàn bỏ công sức ra nhiều nhất, công lao rất to lớn.
Ngài là trú trì ở trong Tòng lâm Thiền tông chính là tượng trưng cho Phật, nhưng Ngài lại chưa từng thuyết giảng Phật pháp cũng không khai thị Thiền yếu, mỗi ngày chỉ dẫn dắt cho các đệ tử lao động cực nhọc – khai hoang trồng trọt, xây dựng chùa chiền. Nhưng phải biết các Thiền tăng bỏ nhà xuất gia là vì liễu sanh thoát tử, thành Phật làm Tổ chứ không phải đến để làm thợ gạch ngói cho bạn! Nên hiểu rõ rằng người ta không quản dặm trường xa xôi đến quy y với bạn là vì tâm địa ngộ triệt nhân sinh, tuyệt đối không phải đến để làm anh nông dân! Phải làm thợ gạch ngói, anh nông dân thì người ta còn xuất gia làm gì?
Thế là có một ngày, sau bữa điểm tâm, các đệ tử không chuẩn bị các công cụ lao động như thường lệ nữa, mà đánh trống thỉnh chuông, tề tập tại pháp đường - thỉnh Hoà thượng thăng toà, tuyên giảng Phật pháp. Trước tình hình như vậy, Hoà thượng Bách Trượng Niết Bàn đành đến pháp đường, bước lên toà sư tử cao cao. Một vị Thiền tăng từ trong đại chúng bước ra, thưa rằng: “Đại ý của Phật pháp là gì?”
Đại ý của Phật pháp vi diệu khó mà đáp được, mở miệng là sai, động niệm là quấy, không được mảy may thành lập, há lại có thể nói được sao? Thế Bách Trượng Niết Bàn lại không chút do dự mà nói rằng, nhưng lời của Ngài cũng chỉ là: “Các ngươi đều đi cuốc đất cho ta, ta giảng thuyết Phật pháp cho các ngươi”.
Các đệ tử nghe xong liền phấn chấn tinh thần, đi khai khẩn núi hoang. Có lẽ vì lời hứa của Sư phụ, cũng có lẽ vì để nghe được Phật pháp tối diệu, bọn họ ai nấy đều mình trần xông xáo, đua nhau mà làm, mồ hôi dầm dề như mưa, những cây cuốc trong tay họ múa thành một vòng tròn sáng bạc…
Họ toàn tâm toàn ý làm việc quên mình, tất nhiên đã đem lại những thành quả to lớn. Đến lúc mặt trời xuống núi, một vùng đất mới bằng phẳng rộng lớn xuất hiện trên sườn núi. Các đệ tử vuốt những giọt mồ hôi lấp lánh trên trán, tập trung ở đầu bờ ruộng, thưa với Hoà thượng Bách Trượng Niết Bàn đang đứng trên đám đất vừa canh tác rằng: “Mở ruộng rồi, xin Hoà thượng nói đại ý của Phật pháp!”
Thiền sư Bách Trượng Niết Bàn đối diện với những cặp mắt chờ đợi, đối diện với đám đất mới toanh đầy hy vọng, chầm chậm, chầm chậm dang hai tay ra….
Ánh mặt trời đỏ rực từ sau lưng Ngài chiếu ngang qua khảm lên hình dáng của Ngài những kim quang xán lạn, giống như thân thể Ngài đang phóng ra hào quang thần kỳ vậy! Các đệ tử ngẩng đầu nhìn thần thái vừa vui vẻ vừa ôn hoà, vừa hiền từ vừa thần thánh của Sư phụ, tâm linh cảm thấy xúc động mạnh mẽ, bỗng nhiên hiểu ra lao động tức là tu thiền, sinh hoạt tức là chân đế của Phật pháp. Khen rằng:
Nam Tuyền Duy Chính xách nước kéo bùn,
Một vùng thất bại, thấu lộ thiền cơ,
Mở ruộng tu hành, hình hai mà một ,
Dang rộng hai tay, đại nghĩa mặc khế.
(Nam Tuyền Duy Chính, đới thủy đà nê.
Nhất trường bại quyết, thấu lộ thiền cơ.
Khai điền tu hành, hình nhị thực nhất.
Triển khai song thủ, đại nghĩa mặc khế.)
BÀI LIÊN QUAN
Cuộc chiến trong Pháp ( Thường Huyễn , 9669 xem)
Từ thiền đến Hoa Nghiêm ( Suzuki - Tuệ Sỹ , 11616 xem)
Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm “Bất ưng trụ sắc sanh tâm” ( Lê Huy Trứ , 127754 xem)
Thiền Nhân Lanh Lợi ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 15565 xem)
Thiền tông có đủ trí tuệ vô hạn và sức sáng tạo ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 11936 xem)
Những nguyên tắc cơ bản của Thiền quán ( Sayādaw U Janaka, TK. Giác Hoàng dịch , 0 xem)
Âm Thanh Của Trứng Gà ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 13348 xem)
Giáo Hoá Thích Khách ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 15659 xem)
Chất Thiền trong sáng tác của Kawabata Yasunari (Nhật Bản) & Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam) ( TS.Huỳnh Quán Chi , 14957 xem)
Miêu tả chân ngã ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 86767 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













