Trang chủ > Đức Tổ Sư > Chơn Lý

Pháp Chánh Giác

Tác giả: NT. Tuyết Liên (chuyển thơ).  
Xem: 182 . Đăng: 26/08/2022In ấn

 

Pháp Chánh Giác

 

 

 

PHÁP CHÁNH GIÁC 

 

Tứ diệu đế sanh pháp chơn

Pháp là chánh giác của trong tứ đề

Tứ diệu đế ví như dùi

Cõi đời mặt trống, Phật người chỉ ra

Dùi chạm mặt tiếng vang xa

Tiếng ấy là pháp diễn ra trong đời

Còn chúng sanh là những người

Được nghe chánh pháp ngộ rồi pháp tu

Tứ diệu đế bốn pháp mầu

Khổ, tập, diệt, đạo ý sâu vô cùng

Thương đời khổ Phật dạy rằng

Nầy là khổ, vấn đề cần tư duy

Nguyên nhân sanh các khổ nầy

Là do tập khởi như vầy quán soi

Nầy là pháp diệt khổ rồi

Đề mục diệt, nên kịp thời hiểu ra

Nầy là đạo đế dung hòa

Vấn đề, đề mục để mà huân tu

Đạo con đường chánh thanh cao

Đưa đến tận diệt khổ đau luân hồi

Diệt tập nhân gây khổ đời

Khổ là bởi tập luân hồi thành quen

Khổ, tập, diệt, đạo bốn tên

Bốn vấn đề cần phải nên nhận nhìn

Đề mục dùi trống phát sinh

Là do cái khổ nhân sinh cõi đời

Pháp giác ngộ chỉ cho người

Thấy rõ mặt trống cõi đời duyên do

Phật giống trống pháp chỉ cho

Con đường thoát khổ để lo tu hành

Tiếng trống chính là diệu âm

Sư tử âm, hải triều âm dạt dào

Tiếng trống có đủ ba hồi

Lại thêm chín chập để bồi nhân duyên

Tam thừa, cửu phẩm diệu huyền

Đây là lối thoát cắt duyên khổ sầu

Tứ diệu đế, như bốn căm

Của bánh xe pháp thường năng vận hành

Tam thừa, cửu phẩm có sanh

Ba vòng chín lớp tựu thành theo nhân

Cõi đời mặt đất cảnh trần

Phật là người chủ chuyển vần xoay quanh

Chơn như trụ cốt an lành

Chúng sanh là kẻ bộ hành đang đi

Thùng xe chỗ chứa tiện nghi

Phật làm phương tiện trong khi độ đời

Đưa về cực lạc thảnh thơi

Xe có bánh nên chuyển dời lăn xoay

Có căm mới chạy đông tây

Chơn như làm cốt, sanh căm tứ đề

Tứ đế chánh pháp chuyển mê

Chúng sanh nương đó mà về nẻo chơn

Niết bàn thùng xe chánh chơn

Là chỗ đựng chứa đưa lên nẻo lành

Giải thoát khổ não tử sanh

Về nơi cực lạc hóa thành bên kia

Sự cố gắng như con bò

Nguyện lực ví dụ như là dây cương

Roi thúc dục bò lên đường

Nguyện lực như thể dây cương buộc ràng

Chăm chỉ đi tới niết bàn

Ba vòng chín lớp vận hành từ xưa

Đường còn ghi dấu chân xưa

Pháp chánh giác cho chúng sanh nương về

Nầy bốn xứ niệm cận kề

Thân thọ tâm pháp lối về chánh chân

1. Ta hằng niệm tưởng đến thân

Tìm xét thấy rõ tận căn cội nguồn

Thân là thay đổi vô thường

Chớp bóng, huyển hoặc, mù sương, mơ hồ

Thân là tứ đại hữu vô

Đừng tham chấp, một đống đồ hợp tan

Rồi có ngày sẽ rã tan

Thoạt còn, thoạt mất mơ màng chiêm bao

Tứ đại duyên hợp cùng nhau

Thành một thân sống, khổ đau bắt đầu

Sáu căn tay chân mình đầu

Có sống, linh, biết, lửa cầu đưa duyên

Lửa tắt, duyên hết, nghĩ yên

Như xe máy chạy hơi chuyền, bánh lăn

Có trớn có đủ dầu xăng

Thì nó chạy mãi thời gian lâu dài

Nhưng rồi sẽ có một ngày

Máy mòn tan rã xe nầy hoại hư

Thân cũng thế nó giống như

Vi trùng kết tụ đấu tranh lâu dài

Bên thắng, bên thua chạy dài

Rã hàng tan ngũ lâu ngày mất luôn

Các pháp dung hợp có thân

Nhơn duyên sanh khởi lần lần đổi thay

Cái nầy, cái nọ đổi thay

Cái kia, cái khác nay mai đổi dời

Sắc ấm là thân trong đời

Là trung đạo giữa hai bờ có không

Hợp nên có, tan nên không

Thân là vỏ tạm, nuôi thân hột nầy

Thân vỏ mất, tâm hột còn

Cây sanh nhánh lá, rốt tồn hột tâm

Nguồn cội có, giáo lý sanh

Các pháp, trí huệ thân tâm ta người

Thân là vật tạm trong đời

Như lỗ cống, như rác đồ bẩn dơ

Hang sâu, hố độc lửa hừng

Như con ngạ quỷ, hung thần gớm ghê

Lớn như biển cả hư vô

Nhỏ như kim nhuyển mơ hồ như không

Thân như lầu ngọc, núi châu

Đền vàng, ao bạc kim cương trong đời

Thân tai họa, thân thúi hôi

Ích lợi vô hạn, độc thời vô biên

Gọi nó là gì tùy duyên

Như mặt đất chứa không riêng thứ gì

Danh từ pháp lý chi chi

Tên gì cũng được phải tri vô thường

Phải hiểu tánh nó không bền

Không là ta, không của ta chớ lầm

Chớ nên cố chấp thích ham

Tự cao luyến ái mà nên nhận nhìn

Biết ra chủ tể nơi thân

Tìm xét coi cái nguyên nhân chỗ nào

Như một đống lửa cháy cao

Tìm coi biết rõ nhân nào gây nên.

Nguyên liệu nào lửa cháy bền

Nhận ra thấy được ta liền dứt mê

Giác ngộ thấy rõ đường về

Không bị cái sắc phủ che tinh thần

Thân không có, thân không bền

Dứt được sở chấp tâm hồn tự do

Không cần biết thân là chi

Tâm được an ổn oai nghi rỡ ràng.

2. Ta hằng niệm thọ trong thân

Tìm xét thấy rõ thọ trần không vương

Bởi có thân, thọ gá nương

Không thân thì thọ cũng dường như không

Khi có việc, tạm dùng thân

Khi hết việc, chẳng có thân thọ gì

Lúc cần dùng, ta tùy nghi

Hết dùng hủy bỏ có thì như không

Có lúc thân như kim cương

Lúc như thây chết sình chương ngoài đồng

Nó hợp với trẻ con đông

Với ông già lão nó thường bỏ đi

Có thân, có bệnh thường khi

Thái quá bất cập bệnh thì phát sanh

Bệnh nương gá thân hình thành

Dùng thân nuôi bệnh, hết dùng bỏ đi

Người nói nuôi bệnh ngẫm suy

Bệnh không có hết khi thì còn thân

Trong đời không có xác thân

Không bệnh hoạn, như nạn nhân giữa đời

Thân, bệnh là pháp đổi dời

Các tánh chất ở trong đời tạo sanh

Các vi trùng bệnh hoành hành

Một may, muôn rủi phải đành mà thôi

Trẻ nhỏ nào cũng ham chơi

Là nhân tạo bệnh, chiêu vời bệnh duyên

Không ai muốn bệnh, muốn phiền

Bệnh là không có, không bền như ma

Lúc có, lúc không rầy rà

Thân không, bệnh do đâu mà phát sanh

Quán suy thấu hiểu đành rành

Dứt được niệm bệnh, bệnh thành như không.

Bệnh không làm ta nãn lòng

Thân đâu hết bệnh, không cần quan tâm

Mà ta nên nhớ nghĩ rằng

Dùng thân tạm để nuôi tâm trưởng thành

Ngày kia mục đích đã thành

Trí đầy, tâm đủ đâu cần đến thân

Bệnh không ảnh hưởng tinh thần

Can đảm lướt tới, tựu thành thắng duyên

Dứt niệm bệnh, hết não phiền

Tinh thần hăng hái không phiền, không ưu.

3. Ta hằng niệm tưởng ý căn

Tìm xét thấy ý cũng là không không

Chấp sống nên sợ tử vong

Sợ mất thân, nên ý hằng khởi lên

Sợ già, sợ bệnh triền miên

Mãi mê vọng, ý nói làm theo duyên

Ý có do bởi sáu căn

Ý thái quá bất cập gần một bên

Tương đối không định, không bền

Tốt xấu, dơ sạch, như hình huyển ma

Ý tham sân si rầy rà

Ý giới định huệ như là báu châu.

Nơi đứa bé thọ làm đầu

Thân thọ không có ý đâu còn gì

Còn ý, khổ còn kéo trì

Hết ý, hết khổ lấy gì gọi ta

Ý là giặc, ý là ma

Ý là bệnh, của tâm tà ác sanh

Là thầy hướng đạo dạy lành

Cũng là kẻ dẫn vào đàng ngục môn

Ý theo cảm giác sinh tồn

Vốn không thông sáng cũng đồng vô minh

Ý trình độ tạm chúng sinh

Khi đến trí giác, ý tình hoàn không.

Ý có do tưởng, thú cầm

Đến lớp người, ý tập hành nhớ lo

Đến trời thì ý chết co

Đến Phật diệt tận, ý là không không

Theo lẽ tấn hóa đại đồng

Ý không tồn tại, theo dòng thời gian

Trẻ sanh ý, lớn ý còn

Già thì ý hết buộc ràng vấn vương

Kẻ muốn tấn hóa vượt lên

Không bảo thủ ý chấp nương thọ tình

Bỏ quên, ý mất không sinh

Thân còn không có ý nương đâu tồn

Niệm như thế, khiến tinh thần

Cứng cõi, dõng mãnh lực hùng phát sanh

Dứt được niệm ý tiêu tan

Không còn chấp ý dứt đàng trầm luân.

4. Pháp là phương pháp cảnh trần

Ta niệm tưởng pháp ngộ lần theo duyên

Có thân, thọ, ý gá nương

Pháp tùng theo đó tâm vương biến hành

Pháp có ác, thiện, chánh chân

Pháp là kinh nghiệm, công năng, luận bàn

Chỉ giải hướng dẫn rõ ràng

Pháp là luật pháp, con đàng kỹ cương

Pháp có, do ý dẫn đường

Hết ý, hết pháp tự nhiên yên bình

Pháp là huyển dối, danh xưng

Như ngón tay chỉ, đồ dùng, bè đưa

Hết việc rồi sẽ bỏ đi

Nhờ pháp trí huệ đủ đầy chơn như

Pháp là sự học ban đầu

Cho người cái giác, hiểu sâu cuộc đời

Có thân, thọ, ý gọi mời

Mới có pháp, thân, thọ rồi huyển mơ

Thân không, thọ ý không ngơ

Pháp nương đâu có, bấy giờ đều không

Các cái ấy nó tạo lần

Cái ta thành tựu, các nhân tiêu hình.

Như tứ đại kết thành thân

Sau thân có, chỉ biết thân đủ rồi

Ta, chơn như, định là tôi

Như nhiên chơn thật, vun bồi biết linh

Cái ta là cái thật tình

Thường bền bất biến, thọ tình thì không

Do thân thọ ý pháp sanh

Còn thân, còn ý thọ tình gá nương

Còn thì khổ não vô thường

Hết thì hết khổ, pháp dường như không

Pháp là cái chấp viễn dông

Vô thường, tương đối, có không đổi dời

Không ta, không của ta rồi

Pháp nương đâu có, ta người ở đâu

Pháp tà là pháp khổ sầu

Pháp chánh là pháp nhiệm mầu an vui

Trung đạo giải thoát thông lưu

Pháp tà biên kiến gọi mời tử sanh

Tà pháp, chánh pháp mông lung

Không căn, không gốc tạm dùng tùy duyên

Bình thường mỗi lúc tự nhiên

Như không có, lúc gặp duyên lộ hình

Nên gọi pháp không chỗ nương

Niệm tưởng như thế tâm thường định an

Lấy định làm tâm hàm tàng

Không còn lầm chấp mơ màng có không

Chấp lầm khổ não vô cùng

Bị pháp mê hoặc chơn tâm đâu còn

Chơn tánh võ trụ bình thường

Mới có sống biết, mới thường tự tin

Mới thật có sống, biết, linh

Là vô năng sở, pháp tình hết trơn

Tâm như thế như kim cương

Thời gian vạn vật không làm chuyển lay

Dứt đặng niệm pháp xưa nay

Không còn chấp pháp tâm rày an nhiên

Thân, thọ, ý, pháp là duyên

Là bốn ý pháp còn thiên bên lề

Bốn cõi đọa lạc chấp nê

Như tứ chi, không phải là trái tim

Bốn cảnh huyển ma đảo điên

Không nên quyến luyến, cái triền khổ vui

Thì tâm mới được yên vui

Trí mới rộng sáng thành người trượng phu

Dứt đoạn niệm thân ban đầu

Thọ  ý pháp cũng một mầu thanh lương

Là bốn dứt đoạn phi thường

Giúp người giải thoát khỏi đường tử sanh

Cảnh giới chơn như tựu thành

Không chi ngăn ngại, tựu thành bốn thông

1. Bởi không còn cái sắc, không

Cái có che đậy, định thần thấy xa

Nhờ dứt đoạn bốn niệm tà

Tâm hằng định, thần đủ và linh thiêng

Điện lực mạnh mẽ vô cùng

Đắc được đạo nhãn dung thông xa gần

Mắt trần, mắt thần linh thông

Từ nơi mắt thịt nhìn trông khắp cùng

Chánh tín là nhân thành công

Trời, thần, pháp, huệ cũng không xa rời

2. Dứt đoạn thọ được thảnh thơi

Thái quá bất cập sự đời có không

Thọ chuyền níu không cản ngăn

Tai trí thông suốt tiếng tăm, cõi đời

Vạn vật chúng sanh đổi dời

Nhờ dứt bốn niệm thảnh thơi trí lòng

Tâm hằng định, thường linh thông

Tai đạo nghe suốt khắp cùng

Tại nơi tai thịt niệm lòng chánh chơn

3. Bởi dứt đoạn ý sạch trơn

Không còn phiền não là nhân đoạn lìa

Xa khác hẳn thế gian kia

Trí phân biệt, đã phân chia tỏ tường

Thấy rõ trong ngoài pháp nương

Nhờ trong chỗ định thấy tường bất an

Trong chỗ kín thấy rõ ràng

Trong chỗ trống hở, lại càng định tâm

Nhờ sự kín đáo âm thầm

Tâm dứt bốn niệm, thâm trầm vô vi

Trở nên huyền bí diệu kỳ

Tâm hằng định, thần đủ đầy linh thông

Sức linh thành tựu vượt dòng

Điện lực đầy đủ tinh thông các mùi

Biết hết tâm ý con người

Không chi ngăn ngại mũi trời tỏ thông

Mũi thần, pháp huệ linh thông

Mũi đạo chứng đắc nhờ không biếng lười

Chánh tinh tấn đưa đến nơi

Trong ngoài hết thảy đạo đời đều thông

4. Bởi dứt đoạn pháp có không

Ngăn che, nghi hoặc thảy đồng sạch trơn

Trí được huệ, tâm được chơn

Cắt đứt mạnh mẽ không không nhẹ nhàng

Không bị níu kéo buộc ràng

Nhờ dứt bốn niệm tâm càng định yên

Sức linh thành tựu theo duyên

Tinh thần đầy đủ đắc liền thần thông

Lưỡi trời, thần, pháp, huệ thông

Lưỡi đạo chứng đắc tự trong lưỡi người

Nhờ lực trì giới chuyển dời

Thân mạng vượt khỏi cảnh đời gian nguy

Lời nói thần lực diệu kỳ

Do sự kín đáo tường tri mọi điều

Nầy bốn thần thông cao siêu

Thiên nhãn, thiên nhĩ rất nhiều sự hay

Tha tâm, thần túc kỳ tài

Do bốn dứt đoạn trừ ngay vọng tà

Tâm định yên trụ sáng lòa

Gom thần góp điện chắc là thành công

Người tâm định có bốn thông

Sanh năm căn bổn tánh đồng chơn như

1. Mắt căn thanh tịnh bi từ

Sanh ra chánh tín là từ niềm tin

2. Tai căn thanh tịnh nhiếp tâm

Sanh ra chánh niệm không lầm, không mê

3. Mũi căn thanh tịnh vẹn bề

Sanh chánh tinh tấn hết mê hồng trần

4. Lưỡi căn thanh tịnh chánh chân

Sanh trì giới, biết giữ gìn ngăn che

5. Thân căn thanh tịnh lắng nghe

Sanh ra thiền định tâm đà lặng yên

Việc làm trong sạch không phiền

Mắt, tai, mũi, lưỡi có liền bốn thông

Vậy nên gọi nhãn TÍN CĂN

Nhĩ căn là NIỆM quá trình tự nhiên

Thiệt căn TRÌ GIỚI vui yên

Thân căn THIỀN ĐỊNH vui miền chơn như

Là năm kết quả do tu

Năm chứng đắc, có được từ năm căn

Bốn dứt đoạn, bốn thần thông

Năm căn thanh tịnh tạm là có ta

Năm căn thanh tịnh có ra

Do chơn giác ngộ, gọi là quả linh

Mắt không ngó việc phàm trần

Tai không nghe tiếng tục trần đúng sai

Mũi ngửi không đắm không say

Lưỡi nếm vị cũng không hay nhiễm trần

Không ô nhiểm khi chạm thân

Bởi căn trong sạch trở thành thánh căn

Bậc tu đến đây chỉ cần

Tín, niệm, tinh tấn, giới phần trang nghiêm

Thiền định, không vọng định yên

Mắt, tai, mũi, lưỡi phàm trần sạch trong

Tín, niệm, tinh tấn làm căn

Không dùng năm lực, năm căn thế trần

Niệm lực sức mạnh chánh tâm

Tinh tấn, sức lực mạnh phần siêng năng

Trì giới lực sức oai thần

Thiền định lực sức định thần cạn sâu

Nhờ năm sức lực nhiệm mầu

Quả linh đạo lý có phần tăng thêm

Năm sức lực được thành nên

Là do cội rễ năm căn của mình

Thanh tịnh trong sạch các trần

Thắng phục tất cả trở thành toàn năng

Khó ai làm chủ xác thân

Khó ai dạy độ được phần trí tâm

Khó ai kềm chế tự thân

Vậy mà năm lực oai năng lực hùng

Kềm chế phục trị các căn

Đổi phàm làm thánh có phần khéo hay

Không còn sanh tử khổ dài

Thân trong sạch, do lưỡi nầy sạch trong

Lưỡi trong sạch do mũi căn

Mũi trong sạch do tai căn sạch trần

Tai căn trong sạch có phần

Mắt căn trong sạch góp phần tạo nên

Mắt trong sạch do bốn thông

Bốn dứt đoạn, bốn niệm phần thọ thân.

Như thế có thể hiểu rằng

Bốn niệm đọa lạc sanh phần giác chơn

Ngộ rồi đoạn dứt căn duyên

Bốn thần thông chứng sanh thêm căn phần

Thứ năm tức là căn thân

Là thân thánh đã trọn phần viên thông

Có năm sức lực dung thông

Sanh ra cái giác Phật thân tròn đầy

Cũng nghĩa từ bốn niệm nầy

Sanh bốn giác ngộ đoạn ngay não phiền

Chứng bốn thần thông định yên

Tín, niệm, tinh tấn, giới niềm lạc an

Chánh tín là thiên nhãn thông

Mắt trời thông suốt xa gần duyên nhân

Tai trời là thiên nhãn thông

Chánh niệm trợ giúp thần thông tai trời

Chánh tinh tấn lực đại hùng

Tha tâm thông suốt mũi trời viên dung

Trì giới là thần túc thông

Lưỡi trời thông suốt chơn thần bay cao

Bốn căn viên mãn dạt dào

Sanh ra thiền định một màu thanh lương

Nhờ sức lực của định thiền

Phát sanh ý giác châu viên pháp hành.

Giác là lực của năm căn

Gọi chủ tể hay tâm hồn của thân

Do sức lực của căn thân

Thành tựu ý giác bảy phần thanh cao

Thất bồ đề ý giác cao

Sống, biết, linh đủ gọi tên tam hồn

Hay giới định huệ mạng môn

Một thân hình Phật phách hồn tinh thông

Bảy ý giác thể đại đồng

Ý chơn chánh, ý Phật hằng lợi sanh

Là bồ đề báu trong trần

Bồ đề ý giác bảy phần thanh cao

1. Phân biệt lành dữ khác nhau

2. Siêng năng tinh tấn tiến vào đường chơn

3. An lạc trong chốn thiền môn

4. Thắng phục tâm ý không còn phân vân

5. Niệm tưởng đạo lý quả nhân

6. Nhứt tâm đại định trọn phần an vui

7. Vui chịu mọi cảnh trong đời

Bảy ý giác tức bảy phần huệ sâu

Bảy ý chánh chơn pháp mầu

Là ý Phật, ý dẫn đầu huệ chơn

Ý giác là gốc cây chơn

Bảy ý giác, bảy nhánh tàng xum xuê

Năm căn bổn là rể cây

Thiền định rể cái nuôi cây vững vàng

Năm sức lực sự sống an

Bốn pháp thần túc vượt đàng tử sanh

Cái ta hột giống để dành

Bốn xứ niệm mặt đất dành trồng cây

Bốn dứt đoạn cuốc đất nầy

Vun tưới nuôi hạt có ngày thành công

Bát chánh đạo quả thuận dòng

Thành nên trái giác giữa dòng thời gian

Bảy ý giác, bảy nấc thang

Bảy trình độ tạm con đàng vô sanh.

1. Phân biệt lành dữ thực hành

Là nhân bố thí quả thành Nhập Lưu

Xuất gia giải thoát các điều

Nhập vào nguồn đạo cao siêu thuận dòng.

2. Tinh tấn lực, tâm đại hùng

Thực hành nhẫn nhục chứng phần Nhứt Lai.

3. Tâm an lạc đạo hòa hài

Nhân tinh tấn, quả Bất Lai sẽ thành

4. Thắng phục tâm ý làm lành

Nhân trì giới tất quả thành Vô Sanh

5. Nhớ tưởng đạo lý thực hành

Nhân thiền định, Duyên Giác phần quả chơn

6. Nhất tâm đại định kiên cường

Nhân trí huệ, quả đắc thành Giác tha

7. An vui  mọi cảnh dung hòa

Chơn như giác ngộ kết tòa Như Lai

Bảy ý giác được hòa hài

Bồ đề bảy trượng nhiếp hòa lợi sanh

Là tòa thất bảo an lành

Là chỗ Phật ngự chứng thành viên thông

Là bảy món ăn tinh thần

Của chư Khất sĩ thường dùng tu tâm

Giác thứ nhất chính là cơm

Bảy ý giác một con đường thông lưu

Kết quả từ đầu đến đuôi

Từ bỏ ác, đến chơn như sau cùng

Như sanh, già, chết thuận dòng

Cái giác chót là trọn thành nghĩ yên

Tròn trịa vô chấp, vô phiền

Chơn như đắc quả nghĩ yên Niết Bàn

Cái nóc nhọn tột cao trên

Là chỗ rốt ráo vững yên tinh thần

Sự tròn trịa sẽ góp phần

Lăn xoay đi tới không còn nạn tai

Cái ta ngồi nghĩ yên nơi

Dưới cội chánh giác thảnh thơi thanh nhàn

Dưới tòa báu, tâm kim cang

Đắc thêm hai pháp thần đang hiển bày.

1. Túc mạng thông, rõ xưa nay

Mạng số bao kiếp trả vay cuộc đời

Nhất tâm đại định hiểu nơi

Trở lực mạng số đầy vơi kiếp người

Người tu tâm định sáng soi

Nên mới biết hiểu mạng người chúng sanh.

2. Lậu tận thông dứt tử sanh

Gốc nguồn phiền não rõ rành cội căn

Vui chịu với mọi duyên nhân

Hòa vui diệt tận khổ căn luân hồi

Đắc Niết bàn thật thảnh thơi

Ứng cúng, La hán xứng người đại nhơn

Như cá đã nhảy khỏi ao

Học trò thi đậu, là điều vinh vang

Ít người được, báu thế gian

Người người quy ngưỡng xứng hàng vô sanh

Đắc xong bảy giác thấy mình

Như là Phật tử mới sanh ra đời

Sống bằng mạng Phật thảnh thơi

Có đủ giác tánh, từ nơi xác phàm

Ở trong nhà Phật khuôn vàng

Mạng sống chánh giác ngày càng lớn lên

Đến già tâm mới chắc nên

Nghĩ ngơi thiệt thọ gọi tên bồ đề

Như Lai toàn giác trọn bề

Hoàn toàn trọn vẹn, lối về chơn như.

Con đường sống tiến bên kia

Tám pháp thánh, tám con đường độ sanh

Bát chánh đạo pháp thực hành

Ở ăn làm việc an lành biết bao

Bởi cõi giới pháp thanh cao

Việc đời cõi thế không vào nơi đây

Ý giác lẽ sống tròn đầy

Chơn như rốt ráo cõi nầy bình an

Tám chánh đạo là con đàng

Của bậc giác ngộ đã đang thực hành

Chứng quả Phật độ chúng sanh

Vừa tu đi tới dắt lần người mê

Khoảng đường đi tới bồ đề

Thân tâm cảnh giới lối về chơn như

Không còn nghĩ điều riêng tư

Cõi vô tận, cảnh chơn như tinh thần.

Khỏe khoắn sung sướng vô ngần

Ít tu, thiếu phước khó gần cảnh chơn

Cõi thánh, tám chánh đạo chơn

Thấy chánh, nghĩ chánh, nói làm chánh chơn

Sống chánh, siêng năng không sờn

Niệm tưởng, yên định chánh chơn trọn phần

Thực hành Bát chánh chuyên cần

Niết bàn và chốn hồng trần khác chi

Nhưng trái lại chúng ta thì

Cũng đang ở tại cõi ni cảnh đời

Luân hồi khổ não chơi vơi

Thật là đáng tủi cuộc đời trầm luân

Tám chánh đạo, chơn lý 05

Tìm xem rõ biết pháp đăng diệu kỳ.

Tóm lại quyển Chánh Giác nầy

Ba mươi bảy pháp bồ đề giác chơn

Bốn xứ niệm hiểu tận tường

Bốn dứt đoạn, chấm dứt phần tử sanh

Bốn thông chứng đắc đành rành

Năm căn bổn, để đắc thành lực năng

Bảy ý giác, pháp thánh nhơn

Tám chánh đạo, ba bảy phần kết chung

Cách tu thành đạo viên dung

Của chư Bồ tát vô cùng quý hay

Pháp tu thành đạo xưa nay

Lục thông chứng đắc không sai con đường

Chúng ta nên phải thường thường

Đọc đi, đọc lại mới tường lý chân

Nếu chưa đắc được lục thông

Thì đâu đắc được quả đồng Bích Chi

Bồ tát, Như Lai tổng trì

Con đường chánh giác lối đi tỏ tường

Những ai đã từng thực hành

Mới thấy rõ, rộng xa hơn pháp nầy

Như người uống nước tự mình

Nóng lạnh tự biết, quanh mình ai hay

Pháp Chánh Giác, rất chánh ngay

Nhưng người tu đã có ai thực hành

Tự mình cố gắng trì hành

Không ai giúp được nếu mình không tu

Pháp Chánh Giác viết đến đây

Thì cũng tạm đủ viết nhiều không hay

Vậy xin kính chúc ai ai

Hữu tình cùng với vô tình hữu duyên

Tất cả đều được tiến lên

Con đường Chánh giác đặng nên đạo lành./.

 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. Tuyết Liên chuyển thơ

 

-----oo0oo-----

Nguồn: www.daophatkhatsi.vn

BÀI LIÊN QUAN

Chơn Lý Thờ Phượng  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 148 xem)

Chơn Lý Pháp Hoa  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 204 xem)

Chơn Lý Địa Tạng  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 232 xem)

Đại Thái Thức  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 672 xem)

Chơn lý Đi học  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 256 xem)

Đời đạo đức  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 236 xem)

Quan Thế Âm  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 276 xem)

Vô lượng Cam Lộ  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 376 xem)

Pháp Tạng  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 281 xem)

Tu và Nghiệp  ( NT. Tuyết Liên (chuyển thơ) , 436 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVII

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVII

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ