Trang chủ > NT Huỳnh Liên > Các Bài Viết Tưởng Niệm
Thành Kính Tri Ân
Xem: 13902 . Đăng: 11/05/2015In ấn
Thành Kính Tri Ân
Bảo Minh Trang
“Nguyện xin hiến trọn đời mình,
Cho nguồn đạo pháp, cho tình quê hương”.[1]
Chỉ 2 câu thơ giản dị mà đã nói lên hạnh nguyện của vị Bồ Tát suốt một đời vì quê hương, đạo pháp. Trong thời gian 40 năm không dài nhưng Ni trưởng đã cống hiến tài năng và nhiệt huyết cho quê hương, cho đạo pháp cho dân tộc, kiến tạo nên một sự nghiệp văn chương hiển hách để lại cho thế hệ mai sau. Ni trưởng như một vầng dương toả sáng trên bầu trời Việt Nam, công hạnh của Ni trưởng đã khắc sâu vào trang sử hào hùng của dân tộc, trong đó những bài thơ, những bài văn của Ni trưởng như dòng suối mát cam lồ thấm nhẹ nhàng âm thầm, nhưng đi sâu vào lòng nhân thế:
Thiên phú anh minh, đốt đuốc Pháp
trao đời nguồn nhiệt huyết;
Bẩm sinh thông tuệ, khai đường Thiền
tặng chúng nét tinh hoa.
“Lợi khí nào cần nhất, nếu không phải là văn?
Giáo pháp nào tối chân, nếu không phải là Phật?
Không có lý Bồ đề, Bồ tát,
Văn chương ấy quả thị hư văn;
Phải nhờ văn minh trí minh đăng,
Chơn lý ấy mới rằng chơn thật”. [2]
Vì tâm niệm như vậy nên đối với đạo nghiệp Pháp bảo Thơ văn, Ni trưởng vô cùng chú trọng, và những bài viết của Ni trưởng vô cùng đa dạng phong phú có đến trên 2000 bài thơ và văn xuôi với tâm niệm “Dĩ văn tải đạo giáo hoá môn đồ”, những ngôn từ Người dùng gần gũi dễ hiểu, nhưng lại bao hàm ý nghĩa súc tích thâm sâu. Vì để triển khai tinh thần giúp đời phụng đạo, Ni trưởng đã phát hạnh nguyện hoằng dương Chánh Pháp qua chủ trương Việt hoá. Người đã bỏ tâm huyết ra biên soạn, phiên dịch và diễn giải các Kinh tạng chữ Hán và Pali như kinh A Di Đà, Kinh Hồng Danh, Kinh Vu Lan, Kinh Phổ Môn, Kinh Báo Hiếu, Bát Nhã Tâm Kinh, Kệ Chơn Lý, Kệ Trích Lục… ra chữ Quốc ngữ để Ni chúng và Phật tử dễ học, dễ lãnh hội, hạnh nguyện của Người thật mênh mông như trùng dương đại hải:
“Nghiêng vai gánh đạo vào đời,
Cho đời tỏ đạo, ta - người đồng tu”. [3]
Thệ nguyện thâm sâu, tâm hồn bác ái vị tha, lòng của Người trải rộng thênh thang trong thơ văn sánh cùng sông biển, chẳng khác nào hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, khi phát 12 đại nguyện phổ độ chúng sanh:
“Chén khổ mình cam uống cạn rồi,
Thương người vị khổ nếm mềm môi.
Nguyện xoay nghiệp chướng non sầu ngã,
Nguyện tát trần hoàn biển khổ vơi”. [4]
Từng lời từng chữ ngọt ngào sâu lắng ướp đẫm tình thương cao cả, một tình thương vô bờ bến đối với chúng sanh đang đắm chìm trong biển khổ chơi vơi, và Ni trưởng như người mẹ hiền dịu dàng đưa chiếc thuyền từ đón đưa những đứa con lạc đường trở về bến giác.
“Trẩy thuyền từ lập hạnh sắt son
Sóng oan nghiệt không sờn nguyện vọng
Trương buồm giác khởi lòng kiên dũng
Gió nghiệp duyên chẳng núng tâm hồn”. [5]
Cổ nhân nói: “Người sao văn vậy” Thật vậy chất liệu từ bi được thấm sâu vào từng câu chữ của Người:
“Kiếp phù du sống tạm,
bạn đồng hành khi xúm xít đỡ nâng;
Của tạo hoá hưởng chung,
vật chút đỉnh gọi cùng nhau chia sớt.
Xử nghĩa không mong người đáp nghĩa,
mới rằng tròn trịa lòng nhơn;
Ra ơn chẳng nhớ chuyện thi ơn,
ấy thật rõ ràng đức tốt”. [6]
Bố thí là hạnh cao quý Ba La Mật của người Bồ tát, và cũng là đức hạnh của người quân tử thi ân bất cầu báo, đã được Người nói lên rất rõ ràng, cái chân lý bất di bất dịch đã có tự ngàn xưa, kiếp phù du vốn là tạm bợ, nên hãy trải lòng ra cùng người, đừng mong cầu chuyện báo đáp, lời nói đi đôi với việc làm, cả một đời Người, là cả một hành trình tu hành hạnh nguyện ấy, không mệt mỏi, không nao lòng, với ý chí kiên cường bất khuất Người đã: Nối truyền sứ mệnh Như Lai đem chánh pháp cao siêu hoằng dương vạn chốn, Chấn hưng tinh thần Bồ Tát lấy đạo mầu thâm áo quảng bá ngàn nơi.
“Hột cát nhỏ bỏ chìm đáy nước,
Đống đá to chở được qua sông.
Từ bi lái chiếc thuyền không,
Đưa người khổ ải lướt dòng mê tân”. [7]
Chỉ có 4 câu mà lại như bao quát được giáo lý thâm sâu của đạo pháp, nếu không tu hành thì chỉ có 1 hạt cát cũng không thể nổi lên mặt nước, trái lại với người khéo tu hành thì có thể chở được cả đống đá nặng qua sông với công năng diệu dụng tuyệt vời.
“Đoạn dứt thân ta cái tội tình,
Mượn thân hành đạo độ nhân sinh
Suốt đời tận tuỵ thi ân đức
Giác ngộ thế gian, giác ngộ mình”. [8]
Lời thơ như hồi chuông pháp vang lên cảnh tỉnh lòng nhân thế, như vừa khuyên mình lại vừa khuyên người hãy dũng cảm phá tan đi màn vô minh u ám, phá đi cái chấp ngã tự bao đời có sẵn trong tiềm thức, để hoàn thành tâm nguyện của người con Phật.
“Đoạn trừ hoặc chướng vô minh,
Tâm chơn trở lại, tánh linh đem về.
Gieo lan hạt giống Bồ đề,
Xanh tươi nhành lá, xum xuê cội tàng”.[9]
Ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm được thể hiện trong từng câu chữ, tuy là nữ nhi nhưng nào kém bậc anh hào, xứng đáng là hạnh nguyện của người con Phật như Đức Thế Tôn đã từng dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Ni trưởng đã không hổ danh là con Phật, nối bước bậc Cha lành truyền ban chánh pháp, bằng những bài thơ bài văn tuyệt diệu, dễ đi sâu vào lòng người.
“Điều lành hãy gắng làm bia,
Lánh xa điều ác phân chia hai đường.
Để tâm trong sáng như gương,
Chẳng màng sự thế chẳng vương bụi trần”.[10]
Thật trong sáng giản dị nhưng rất dễ thẩm thấu vào lòng người. Chất Phật bàng bạc trong thơ là phương tiện chuyên chở tuệ giác, và hoá thân thành chính nguồn suối mát đẫm vị thiền thanh thoát an nhiên.
“Buồn vui, hai mối buộc ràng,
Bằng sắt một sợi, bằng vàng một dây.
Thảy đều ràng buộc cả hai,
Không chăm tháo mở không tài thoát ly”.[11]
Rất bình thản với những buồn vui trong cuộc sống, Người nhận định rất rõ, không nô lệ cho cái vui, không đầu hàng cái buồn, nên lúc nào cũng an nhiên tự tại với tinh thần thoát tục, và nhận thức rõ ràng rằng, cả 2 khổ và vui đều là sợi dây trói buộc, do đó phải siêng năng tháo mở mới có thể thoát ly khỏi nơi thế tục, trực chỉ đến cõi Niết Bàn.
“Văn có đạo vững bền cây tốt,
Đạo nương văn ý tột lý mầu.
Lá cành sầm uất bền lâu,
Văn chương đạo đức cùng nhau độ đời”. [12]
Theo Người văn thơ và đạo pháp phải hoà quyện cùng nhau mới có thể làm mở mang đạo pháp, mới có thể cùng nhau phát triển lâu dài, vì đạo có nương văn mới bày rõ chỗ cao sâu thâm áo, văn có đạo mới lời thanh ý sáng, cả hai cùng hỗ trợ cho nhau làm đạo với đời thêm phần thi vị.
“Cũng đau đớn chịu phần sanh tử,
Nỡ lòng nào bày sự giết ăn.
Oái ăm bạc ác vô ngần,
Giết thân kẻ khác nuôi thân của mình”.[13]
Tính giáo dục trong thơ Ni trưởng đặc biệt không mang tính áp đặt, cưỡng bức, khống chế. Chính đạo lý từ bi của Phật giáo đã làm cho tính giáo dục trong thơ của Sư trưởng trở nên năng động, cởi mở, bộc trực, rất nhẹ nhàng sâu lắng, nhưng làm cho người đọc cảm thấy thấm thía được nỗi đau ngấm ngầm trong đó, và tự cải hoá bản thân đi vào con đường thiện lành đạo đức.
“Duyên nghiệp dứt ngồi thoàn Bát Nhã,
Phước đức trau hái quả Bồ Đề.
Tịnh lòng sen báu trổ huê,
Xa lìa huyễn ngã trở về Chân Như”. [14]
Trong thơ văn của Người được lấy tánh Phật làm trụ cột, bắc cầu cho sự nghiệp thi ca, cho nên thơ Người mỗi bài đều linh hoạt, mỗi câu đều trong sáng. Chính hương vị đạo pháp ngọt ngào đã làm cho nguồn cảm xúc thi ca của Người trở thành vô tận, dạt dào và phong phú diễn cảm chất liệu giải thoát dường như bàng bạc trong thơ, không còn bận bịu vương vấn bụi trần lao.
“Ý nghiệm mật dồi trau đức hạnh,
Mắt tinh vi bỏ chánh theo tà.
Đoan trang mặc áo nhu hoà,
Ngồi toà thanh tịnh vào nhà từ bi”. [15]
Lòng an tịnh, lời thơ cũng an tịnh, cả không gian an tịnh dường như thâu gọn trong ý thơ của người, tĩnh tại sâu lắng, thanh thoát hồn nhiên. Nhưng đôi khi cũng trở nên xúc cảm bi thiết trước tình trạng đau lòng, lời thơ trở nên bi thương ai oán:
“Thân mẹ phải vào vòng giam nhốt,
Người lưu đi mất hút bóng tăm.
Nhà người hiểm hóc u thâm,
Cánh chim bé bỏng biết tầm nơi nào?...
……
Lông sư tử hoá thành sâu dữ,
Nỡ hại thân sư tử chết đi.
Đời sao có chuyện lạ kỳ,
Người sao có kẻ hiểm nguy lạ thường”. [16]
Một lời trách móc nhẹ nhàng nhưng bao hàm cay đắng, lông từ thân của sư tử mọc ra, được sư tử nuôi lớn chăm chút bao ngày, lại trở thành sâu độc hại chính thân của sư tử, trong khi tất cả loài mãnh thú khác không ai hại được chúa tể sơn lâm, một nỗi uất nghẹn âm thầm len vào từng câu chữ đến xót xa, nhưng lời thơ lại trở thành vũ khí nói lên tinh thần bất khuất khi quê nhà bị xâm lược:
“Phụ nữ dịu dàng nhưng bất khuất,
Sống hiền hoà nhưng kiên quyết chống xâm lăng.
Dầu trăm năm ách thống trị ngoại bang,
Vẫn tranh đấu trải can trường kiên nhẫn”.[17]
“Ta phải sống đứng lên đòi quyền sống,
Lửa thiêu thân cho huyết thống động tình,
Lửa thiêu thân cho dân tộc chuyển mình,
Đưa tay đoạt quả hoà bình đoàn kết”.[18]
Thật đầy khí phách và đầy hào hùng khi nói về nữ giới, tuy là thân liễu yếu đào tơ, nhưng chẳng hề thua các đấng nam nhi, vẫn dũng cảm đứng lên tranh đấu giành hoà bình độc lập tự do cho nước nhà, không thẹn danh là con Lạc cháu Rồng.
“Mười hai năm chẵn cách song thân,
Dõi bước vân du nhẹ thoát trần.
Chẳng một lời thăm cùng buổi viếng!
Mà bao tháng lựa với năm lần.
Dãi dầu nắng táp thân bồ liễu,
Lạnh lẽo sương chan gốc tử phần.
Lối cũ đoái nhìn ngơ ngẩn lối,
Mười hai năm chẵn cách song thân”. [19]
Một lời tạ lỗi chân thành với song thân, thật vô cùng cảm động, 12 năm trời vân du viễn xứ, thân bồ liễu phải gánh chịu mưa sa nắng táp dãi dầu, lòng bồi hồi thương cha, nhớ mẹ, không được sớm hôm hầu hạ chăm sóc, nhưng trách nhiệm cao cả của người tu hành thệ nguyện tu báo 4 đại trọng ân, lập nguyện cao viễn quyết đắc đạo để báo đáp ơn sanh thành dưỡng dục. Vì Người đã thấu hiểu lời dạy sâu xa của Phật, quyết lấy sự tu tập giải thoát mà báo đáp thâm ân cha mẹ, bằng cách dùng năng lực cầu nguyện và hướng dẫn cha mẹ đi theo Chánh đạo, làm lành lánh dữ, tạo phước tích đức. Trong Phật giáo nhấn mạnh “tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”, người xuất gia luôn lấy từ bi làm bản hoài, phát Bồ đề tâm, hành Bồ tát hạnh, lợi mình lợi người, cứu độ chúng sanh, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ muôn loài, thương yêu cả những côn trùng nhỏ bé. Người xuất gia dùng năng lực tu hành của mình để báo hiếu. Ngoài ra trong nhiều kiếp luân hồi lục đạo thì cũng có rất nhiều cha mẹ, nếu kiếp này được may mắn xuất gia thì phải tinh tấn tu hành, hoá độ chúng sanh hữu duyên, không chỉ là cha mẹ của kiếp hiện tại, mà còn là cha mẹ nhiều đời về trước. Vì tâm đại hiếu trải rộng mênh mông, Người nguyện thề không chỉ báo hiếu song thân một kiếp này, mà còn báo hiếu song thân từ vô lượng kiếp trước.
“Đưa đường đuốc tuệ chiếu non sông,
Hớn hở muôn hoa gội ánh hồng.
Pháp diệu ngân reo tràng nhạc trỗi,
Căn lành trỗi dậy nức hương xông.
Thảnh thơi may được nguồn ân hưởng,
Nong nả càng lo cội phước trồng.
Ít vận chân thành ghi kỷ niệm,
Tạ tình tri ngộ giúp nên công”. [20]
Chí nguyện của người tu hành phải giữ tâm mình thật kiên cố bằng cách xác định rõ mục tiêu hay chính là chí nguyện của người xuất gia “Thượng cầu Phật đạo, Hạ hoá chúng sanh”. Lấy đó làm nơi nương tựa cho tâm Bồ đề, nhắc nhở mình mỗi khi gặp những chướng duyên biết vươn lên và thức tỉnh, không để cho sự si mê và chấp thủ chế ngự, cố phấn đấu giải thoát cho bản thân và tất cả vạn loài chúng sanh. Đó là ý nghĩa cao cả của người xuất gia, chứ không phải đơn giản như có nhiều người lầm tưởng. Những lời thơ lời văn của Ni trưởng là hoa thơm là cỏ quý được vun đắp bằng phân tro trí tuệ, nước mát từ bi được chăm sóc khéo léo nơi khu vườn bác ái, để lại cho đời, và đi vào dòng thời gian vạn hữu bất biến, thắp sáng cho trần hoàn một ngọn đuốc thiêng liêng của tình thương và trí tuệ. Với tài năng siêu việt, bản chất thông tuệ, tinh thần từ bi bác ái của Ni trưởng, đã biến thành chiếc chìa khoá thần diệu mở kho tàng đạo pháp và điểm tô nền đạo pháp thêm phần phong phú. Những bài kinh tụng thường nhật như Di Đà, Hồng Danh, Phổ Môn, Báo Hiếu, Bát Nhã, Tâm Kinh, Xưng Tụng Tam bảo, Kinh Vô Ngã Tướng, Kinh Pháp Cú, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương... bằng chữ Hán và Pàli đều được Ni trưởng Việt dịch theo lối văn vần cho hàng môn đồ dễ hiểu, dễ đọc tụng, dễ thâm nhập diệu nghĩa, dễ học thuộc lòng và phổ biến rộng sâu. Và những bài kệ như Quy Sơn Cảnh Sách của Ngài Quy Sơn, Khoá Hư Lục của vua Trần Thái Tông đã được Ni trưởng chuyển thành thơ thành kệ uyển chuyển rõ ràng dễ hiểu. Với tài năng trác tuyệt Ni trưởng đã sáng tác, lưu lại cho đời những bài thơ, bài kệ, đủ thể loại, ca ngợi cái hay, cái đẹp của con người và cuộc đời, giáo dưỡng, khích lệ, sách tấn Chúng Ni và Phật tử nỗ lực tiến tu, triển khai đạo nghiệp ngày càng toả sáng. Những bài kinh, bài pháp, bài thơ dưới ngọn bút của Ni trưởng như bừng sáng lên toả ngát mùi thơm đạo vị, và thấm đượm mãi cho lòng muôn vạn người tô bồi cho vườn kinh pháp thêm phần rạng rỡ thấm sâu vào lòng dân tộc Việt Nam, vườn thơ và đạo nghiệp ấy là ánh sáng của chân lý, cánh cửa của hoà bình, hoa thơm của đạo pháp, đã được đúc kết thành nhiệt huyết tinh hoa của dân tộc. Đúng vậy Người là tinh hoa của dân tộc và đạo pháp, Người là ngọn đèn thiêng của chốn thiền môn, Người là đoá sen vàng toả ngát hương thơm Bi Trí Dũng, Người là vầng trăng huệ sáng lung linh xoa dịu chốn trần gian tăm tối, Người không thẹn danh là trưởng tử Ni của Tổ Sư, đã nối gót Tổ Sư tiếp bước hoằng truyền Thích Ca chánh pháp, Người là bậc nữ lưu hào kiệt đáng kính ngưỡng nhất của thời đại chúng ta cho mãi đến ngàn đời sau:
Tài năng trác tuyệt để cho đời,
Quảng bá hương thiền đến vạn nơi.
Thấm đượm trần gian màu thiện sáng,
Bồi tô đạo pháp sắc minh ngời.
Tinh hoa mở khoá trùm sông biển,
Nhiệt huyết khai tâm chiếu đất trời.
Đúc kết kho tàng Kinh Luật Luận,
Tài năng trác tuyệt để cho đời.
Thật là trần gian hữu phước hữu duyên mới gặp hội Thánh nhân xuống thế Bồ Tát vào đời, đem hạnh nguyện Ba la mật nối truyền Thích Ca Chánh Pháp ban truyền cùng nhân thế, Người là đoá sen vàng đem sắc vô ưu trải mát lòng dân tộc, người là ngọn đuốc thiêng đã toả sáng ngời đất Việt, Người là dòng mưa pháp đã đem vị ngọt cam lồ ban rải khắp trần gian, Người như ngọn gió mát xua đi những phiền não nhiễu nhương trong lòng hàng tứ chúng, Người là tàng cây cổ thụ che mát cho hàng đệ tử, dù nay xác thân Người đã trả về cho tứ đại, tháng ngày an nhiên yên nghỉ chốn Niết bàn, nhưng Người sẽ vĩnh viễn hiện hữu với trần gian với chánh pháp với lòng thương kính tri ân của các hàng đệ tử, công hạnh của Ngài sẽ mãi mãi là:
Vị ngọt cam lồ ấm áp lan,
Trừ tiêu nhiễu loạn với tai nàn.
Vô Ưu đượm thấm hồn dân tộc,
Bát Nhã tô bồi cõi thế gian.
Chí dũng đưa người vầng tuệ chiếu,
Tâm kiên độ chúng sắc minh tràn.
Môn đồ kính ngưỡng ghi ân đức,
Vị ngọt cam lồ ấm áp lan.
[1] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Kinh xưng tụng Tam Bảo, Nxb Tôn giáo năm 2013 đầu trang.
[2] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2012, tr. 15
[3] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 81
[4] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Kinh xưng tụng Tam Bảo, Nxb Tôn giáo năm 2013, tr. 226
[5] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Kinh xưng tụng Tam Bảo, Nxb Tôn giáo năm 2013, tr. 229
[6] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Kinh xưng tụng Tam Bảo, Nxb Tôn giáo năm 2013, tr. 202
[7] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 8
[8] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 35
[9] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 46
[10] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 54
[11] Ni Trưởng Huỳnh Liên, Đóa Sen Thiêng, Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2012, tr. 81
[12] S Đ D, tr. 186
[13] S Đ D tr.138
[14] S Đ D. 134
[15] S Đ D. 144
[16] S Đ D. 155,156
[17] S Đ D. 273
[18] S Đ D. 278
[19] S Đ D. 419
[20] S Đ D. 441
BÀI LIÊN QUAN
Tưởng niệm cố Ni trưởng Huỳnh Liên ( Bảo Minh Trang , 6672 xem)
Noi gương Sư bà con quyết chí xuất gia ( Tiểu Thiện , 7128 xem)
Học thơ Sư bà con nguyện tu học tinh tấn ( Tiểu Nhu , 13808 xem)
Tỉnh mộng ( Tiểu Chơn , 10496 xem)
Xuất gia báo hiếu Mẹ Cha ( Tịnh Thanh , 11368 xem)
Nghe lời thơ kệ nhiệm màu - Con phát nguyện xuất gia ( Tịnh Thành , 28113 xem)
Con nguyện ( Tiểu Duy , 8001 xem)
Uống nước nhớ nguồn ( Liên Hộ , 11656 xem)
Ni trưởng Huỳnh Liên - Đóa sen cao quý mãi tỏa sáng ( Đoan Hạnh , 12420 xem)
Cảm niệm hạnh đức của Ni trưởng đệ nhất ( Tâm Liên , 11904 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













