Trang chủ > Đức Tổ Sư > Bài Viết

Tinh thần nhập thế của Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

Tác giả: Diệu Anh.  
Xem: 11070 . Đăng: 17/03/2015In ấn

TINH THẦN NHẬP THẾ
CỦA ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

 

Diệu Anh (Đại diện Phật tử GĐ VI)

 

I. DẪN NHẬP

Trên 2000 năm ươm mầm và bén rễ, Phật giáo đã ăn sâu vào tâm thức con người Việt Nam bởi nét đẹp từ bi, tinh thần bình đẳng và giá trị đạo đức siêu việt. Đã có biết bao thế hệ tiền nhân noi theo gương hạnh của chư Phật, chư Tổ làm cho mạng mạch Phật pháp sống mãi trên đời. Chắc hẳn suối nguồn diệu giác liên tục tuôn chảy trong tim của mọi người con xuất gia đều khởi nguyên và kế thừa từ gương hạnh của Phật, Tăng, Thánh chúng. Cho nên, trong tâm thức của mỗi vị xuất gia đều luôn nêu cao chí nguyện: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi bổn hoài”.

Tuy nhiên, để có một gia tài Pháp bảo đồ sộ như vậy phải kể đến công ơn trời biển của bậc khai sáng Phật giáo. Đó chính là đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngài sinh ra tại Ấn Độ, cũng là một con người như chúng ta nhưng Ngài lại có một tuệ giác cao siêu nên hướng đến sự giác ngộ giải thoát. Chứng kiến những nỗi đau khổ của chúng sanh nên Ngài xuất gia tu tập tìm ra Chánh Giác. Sau đó, Ngài đem ánh sáng giác ngộ giáo hoá khắp muôn loài làm cho mọi chúng sanh hữu duyên đều được an lạc, giải thoát. Trải qua gần 25 thế kỷ biến đổi thăng trầm, ngọn đèn Chánh pháp bừng lên tại Việt Nam qua sự nối truyền của đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Với mười năm hoằng hoá, đức Tổ sư đã xiển dương Phật pháp bằng tinh thần nhập thế vừa từ bi, vừa trí tuệ qua hình ảnh một nhà sư y vàng, bát đất vô cùng gần gũi với mọi người.

Đạo Phật vào đời bằng vô vàn phương tiện nhưng đều chung mục đích truyền bá con đường giác ngộ. Đức Tổ sư đã đi vào cuộc đời bằng sự giác ngộ và tâm hồn cao thượng của mình. Để thấy rõ giá trị cao đẹp đó, người viết chọn đề tài TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG để làm sáng tỏ con đường hoằng pháp của Ngài.

II. NỘI DUNG

1. Thuần Việt nghi thức kinh tụng

Trong việc truyền bá Phật pháp, vấn đề ngôn ngữ nói và viết là một phương tiện không thể thiếu. Tinh thần của Phật giáo là “ôtuỳduyên giáo hoá” nghĩa là tuỳ theo thời duyên, cảnh ngộ của từng địa phương, dân tộc mà truyền đạo. Nếu chúng ta mang đến nguồn ngôn ngữ xa lạ thì rất khó đi sâu vào quần chúng xã hội. Vì để hiểu được ngôn ngữ của ta đòi hỏi người địa phương phải bỏ thời gian học tập lâu dài. Điều này chỉ dân trí thức mới làm được, còn người bình dân, ít học khó mà chấp nhận. Bằng chứng là Hệ phái Bắc tông dùng ngôn ngữ Hán Việt, lời ít mà triết lý quá nhiều. Khi tiếp cận nền Phật học Hán tự, những người bình dân khó mà hiểu được nghĩa lý sâu xa trong đó. Còn Hệ phái Nam tông lại dùng ngôn ngữ Pa li – mẫu tự La tinh. Ngôn ngữ này tuy gần gũi với Phật nhất nhưng chỉ có thành phần xuất gia và tại gia nội bộ Hệ phái Nam tông mới học hiểu và hành trì được.

Chính vì lẽ đó, Tổ sư Minh Đăng Quang khai đạo tại miền Tây Nam Bộ đã sử dụng ngôn ngữ bình dân, chất phát rất gần gũi với mọi đối tượng. Đặc biệt là Tổ sư đã dùng hai loại thơ bản sắc Việt Nam là lục bát và song thất lục bát để trước tác các bài kệ tụng diễn giải Phật pháp.

Quyển Kinh tụng ban đầu dành cho hàng cư sĩ trì tụng mỗi đêm tại tịnh xá hay tư gia là Kinh Tam Bảo. Đây là bản kinh có từ thời Tổ sư. Về sau, các vị đệ tử lớn của Tổ đã trước tác và sưu tập thêm những nghi thức cùng các bài kinh được thi hoá và các bài kệ khác in hoàn chỉnh thành quyển Nghi Thức Tụng Niệm. Bản Kinh tụng này được trì tụng cho đến ngày nay.

Chính nhờ lối văn vần ở các bài kệ tụng trong bộ Chơn Lý và trong Nghi Thức Tụng Niệm mà quần chúng xã hội dễ dàng tiếp thu. Không luận là hạng bình dân hay trí thức ai cũng có thể hiểu nghĩa và thuộc lòng những bài kinh và kệ tụng này. Đây chính điểm đặc sắc mang đậm bản chất của Phật giáo Việt Nam.

2. Bài trừ mê tín dị đoan

Hủ tục mê tín dị đoan mang tính chất tà kiến luôn xuất hiện ngoài xã hội và trà trộn vào trong Phật giáo. Do không thông hiểu chánh pháp và vì nguồn lợi dưỡng cho nên người ta dùng yếu tố thần quyền để chế tác ra nhiều lễ nghi huyền bí. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho Phật giáo bị suy đồi tại Việt Nam trong giai đoạn Tổ sư ra đời.

Khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, dân trí Việt Nam không được nâng cao bởi chính sách ngu dân của người Pháp. Giai đoạn này, hàng ngũ xuất gia trong đạo Phật không thể xiển dương giáo pháp nên phải áp dụng phương tiện lễ nghi. Và lễ nghi đó vô tình đã trở thành những điều mê tín cho xã hội.

Trong quyển Chơn Lý 22 CHÁNH KIẾN, Tổ dạy: “Trong một xứ mà dân tộc mê tín thì cũng như một gia đình mắt nhặm, ai muốn dắt dẫn bảo sao nghe vậy và cứ nhắm mắt làm theo thì còn gì là sự tự chủ và tiến hoá láng giềng, kẻ khác ai mà chẳng xỏ mũi cười khinh. Thật vậy, thà là làm kẻ ngang ngạnh còn hơn là người tà kiến[1]”.

Trong việc mê tín dị đoan, con người thường đặt nặng những việc cúng tế. Các việc cúng tế đó thường diễn ra trong các việc như cưới hỏi, ma chay, đám giỗ, tế đền, miễu… và trong việc cúng tế bao giờ cũng sát sanh hại vật. Đây là những việc làm mê tín trong xã hội Việt Nam và thâm nhập vào trong Phật giáo.

Tổ sư đã dạy về việc cúng tế như sau: “Cúng tế để biết khiêm nhường kẻ chết, đặng không ngăn bạo giết hại người sống, mang ơn mến đức mà thờ, nghe dạy là lạy, biết kỷ niệm lịch sử mà giữ mình, có như thế mới tập tánh nên người minh đức. Vậy nên sự cúng tế là tốt cho tâm tu, trí học, mà nên cúng tế Thánh Hiền, chớ đừng vái cầu ma quỉ và phải hiểu kỹ lịch sử lý nghĩa sẽ nên thờ, còn việc nào nhảm nhí không rành thì cũng nên bỏ luôn cho rảnh nhẹ[2]”.

Ý nghĩa của việc cúng tế là: “Ấy là để cho biết kỉnh trọng người chết thì không nên ăn thịt kẻ sống lẫn nhau, do đó người ta dạy việc cúng tế tiền hiền để biết tập cung kỉnh vâng nghe lời dạy của xưa kia, người ta dạy cho đám cưới biết cười, đám chết biết khóc, chết là sự tan rã của khối tình thương, người ta tập biết khóc biết buồn biết nhớ thương người chết. Nhà có tang không rượu thịt ca hát nói cười, đóng cửa bỏ việc làm ăn ngày đó, ngày kỷ niệm giỗ quảy cũng vậy họ xúm nhau lại nhắc lịch sử điều hay của người quá vãng, họ thắp nén hương lòng khen ngợi, cắm nhánh hoa chào mừng, tặng cho nhau quả tốt của việc làm, ngày giờ ấy họ hiệp khối lại những tâm hồn thân mật. Đến bữa ăn họ kỉnh trước rồi ăn sau, có chi ăn nấy vị họ mà ăn kỉnh chớ không phải mượn cớ cúng mà ăn, bởi phép ăn thì không cúng thí, còn cúng thí thì chẳng tự ăn vậy[3]”.

Và trong quyển Chơn Lý này, Tổ sư đã phân tích về tất cả các vấn đề mê tín trong việc thờ cúng như: ông Táo, tiết xuân, tam ngươn, cúng tế, Quan Vân Trường, đình Thần, bàn Thiên thần, quan hôn tang tế, tục mở cửa mả.

Sau khi phá bỏ những điều mê tín dị đoan, Tổ sư dạy về sự giác ngộ qua chánh kiến như sau: “Vậy chúng ta nên nhớ rằng: Vì ăn mới cúng, chớ không phải vì cúng mới ăn nghĩa là vì lòng nhắc nhở mình đang có món ăn chi thì cúng nấy chớ không nên tìm món cúng để mà ăn.

Và tốt hơn là ngày cúng tế, chúng ta hãy thành tâm yên lặng cũng đủ hoặc nhắc nhở lịch sử hay rộn lắm hãy là nhang, bông, đèn cũng sự sạch sẽ lắm rồi; Vì lòng nhắc nhở noi gương dễ dạy là linh hồn no mập chớ đâu có ăn uống chi được, còn như sự thờ cúng thì thờ cốt tượng, đâu bằng thờ kinh sách học hành, dầu thờ kinh sách cũng chẳng bằng thờ ông thầy dạy đạo cho mình hiện tại đang sống, nhưng thờ ông thầy kia sao bằng thờ bản tâm của mình trong sạch[4]”.

3. Chấn hưng niềm tin vào Phật giáo thuần Việt

Niềm tin vào Phật giáo Việt Nam là niềm tự hào dân tộc rất có giá trị trong tâm thức của chúng ta. Nếu Phật tử Ấn Độ tự hào là cái nôi của Phật giáo, nếu Phật tử tại các nước Thái Lan, Lào, Campuchia… tự hào là Phật giáo Nguyên thuỷ thì chúng ta cũng tự hào là Phật giáo Việt Nam với dòng thiền Trúc Lâm và hình ảnh của nhà sư Khất Sĩ.

Nhìn lại giai đoạn Phật giáo suy vi cùng tột, hàng Phật tử thời bấy giờ mất đi niềm tin vào Phật giáo. Họ tìm đến chùa chỉ để nhờ vào cúng kiến, lễ nghi chứ không có chỗ nương tựa ở hàng Tăng bảo cao quý. Những người xuất gia thời đó cũng không có pháp môn hành trì vì không có người hướng đạo.

Tổ sư xuất hiện với hình ảnh thanh bần, giản dị mà rất phi phàm đã phục hưng được niềm tin vào Phật giáo Việt Nam. Đạo Phật Khất Sĩ đi vào lòng người bởi các điều cao quý như sau:

- Đầu trần, chân không.

- Ngày ăn một bữa (ăn chay).

- Khất thực hàng ngày.

- Không giữ tiền.

- Không ở một nơi nhất định.

Và còn rất nhiều công hạnh khác vô cùng đặc sắc như: thuyết pháp, làm thơ, xây dựng tịnh xá…

Khi còn tại thế, Tổ sư được miêu tả là người rất gần gũi và sử dụng nhiều phương tiện để hành đạo. Ngài đích thân trông coi xây dựng tịnh xá, đào ao trồng sen, cho mua xe hành đạo miền xa. Ngài còn ghi âm giọng tụng kệ và cho mở xưởng in các quyển Chơn Lý do Ngài giảng dạy.

Đây là hình ảnh vô cùng cao quý và xúc động của bậc Tổ khai sơn. Chính hình ảnh gần gũi này, mà đồng bào Phật tử cảm thấy rất ấm lòng, làm cho niềm tin vào Đạo Phật Việt Nam ngày càng vững mạnh và kiên cố.

Tổ sư dạy rằng: “Phật là người giác ngộ. Chúng ta sớm nên giác ngộ. Vì sự giác ngộ tâm chơn quý báu hơn cái thiện lành thức trí, và cái thiện lành thức trí cần ích hơn là sắc thân vật chất, ác quấy, tội lỗi, danh vọng, vui chơi, cái có nơi ngoài tứ đại[5]” (Chơn Lý “Giác ngộ”).

Các phương tiện mà Tổ đã làm luôn hướng người ta vào lối sống thiện lành, được xem là sự nuôi mạng chơn chánh (Chánh mạng) cho hàng xuất gia. Hình của Tổ là hình ảnh của một con người giác ngộ. Khi con người trở nên giác ngộ là thành Phật, là điều quý báu hơn hết trên cuộc đời. Cho nên, Ngài khuyên chúng ta cần phải nên sớm giác ngộ để vượt qua vật chất ác quấy, tội lỗi của xác thân tứ đại.

Đây là đời sống phạm hạnh và trí tuệ tuyệt vời trong mọi cung cách sống của Tổ sư góp phần làm cho hình ảnh của hàng xuất gia trở nên thiêng liêng trong lòng của Phật tử Việt Nam.

III. KẾT LUẬN

Đoàn thể Phật giáo là những vị đồng tu phạm hạnh hướng về giải thoát và làm lợi ích cho mọi người cho nên đời sống của các Ngài hoà hợp trọn vẹn như nước với sữa. Ở đó không có sự phân biệt chủng tộc màu da, không phân biệt giai cấp và giới tính. Ở đó chỉ có sự hỗ trợ và dìu dắt nhau tu tập bằng những nguyên tắc bình đẳng (lục hoà) để cùng hướng về mục đích cuối cùng là giác ngộ và giải thoát.

  Sau khi chứng ngộ chơn lý tại Mũi Nai, đức Tổ sư đã xây dựng nên Tăng đoàn gồm hai bộ chúng Tăng Ni với hình thức biệt truyền rõ nét. Từ nền tảng này, Tổ sư đã vạch ra tinh thần nhập thế qua việc ứng dụng ngôn ngữ địa phương, văn hoá bản địa, hình thức thoát tục mà giản đơn, lối sống mẫu mực... khiến cho việc hoằng pháp lợi sinh đạt hiệu quả rất cao. Bằng chứng là từ lúc hình thành cho đến ngày nay, Hệ phái Khất Sĩ đã đi vào nề nếp ổn định và phát triển mọi nơi trên toàn lãnh thổ Việt Nam và lan toả ra nước ngoài. Đây là một thành tựu rất khả quan góp phần chấn hưng Phật giáo tại nước nhà và góp phần phát triển Phật giáo trên toàn thế giới.

  Đạo Phật luôn tuỳ duyên hoá độ vì căn cơ con người đều khác nhau và luôn biến đổi theo những hoàn cảnh và thời gian cụ thể. Do đó, để hoá độ con người, chư vị Tăng Ni xuất gia phải luôn học tập tinh thần nhập thế của đức Tổ sư Minh Đăng Quang để đề ra nhiều phương pháp truyền bá con đường giác ngộ hơn nữa. Có như vậy, đạo Phật mới ngày càng hưng thịnh và có thể hoàn thành sứ mạng lợi ích cho số đông chúng hữu tình vậy.

 

[1] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý tập II, nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2009, p.29.

[2] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý tập II, nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2009, p.37-38.

[3] Sđd, p.53-54.

[4] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý tập II, nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2009, p.59.

[5] Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn Lý tập II, nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2009, p.169.

BÀI LIÊN QUAN

Làm lợi ích cho người qua Chơn Lý của Tổ Sư Minh Đăng Quang  ( Cô giáo Thủy , 9623 xem)

Nhớ Tổ Sư  ( Phật tử chùa Thuận Phước , 5784 xem)

Tưởng niệm Đức Tổ Sư  ( Ngọc Phạm , 0 xem)

Công ơn Đức Tổ Sư  ( Ngọc Điều , 5610 xem)

Tưởng niệm Đức Tổ sư  ( Phật tử Tịnh xá Ngọc Diệp , 0 xem)

Hoài Niệm  ( Tịnh Thảo , 5492 xem)

Nỗi Lòng Đệ Tử  ( Liên Hải , 5440 xem)

Kính Dâng Đức Tổ sư  ( Liên Hộ , 10125 xem)

Tưởng Niệm Đức Tổ Sư  ( Liên Hỷ , 10840 xem)

Nhớ Tổ Sư tức nhớ Tứ Thánh Chủng  ( Sư cô Hiệp Liên , 6440 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ