Trang chủ > Phật Học > Phật Pháp
Tại sao chúng ta có những cảm xúc vui buồn?
Xem: 14169 . Đăng: 31/01/2015In ấn
Tại sao chúng ta có những cảm xúc vui buồn?
Thích Đạt Ma Phổ Giác
Niềm vui, nỗi buồn là trạng thái cảm xúc khi những gì diễn ra như ý muốn hoặc ngược lại. Nỗi buồn trong tình yêu nhiều vô số kể như thương người nhưng không được đáp lại, bị lợi dụng, không được tôn trọng hoặc không hạnh phúc.
Gặp một người khác phái dễ thương chúng ta vui vẻ, ưa thích và người dễ thương đó trở thành đối tượng làm cho cái thấy của mắt được thỏa mãn ngắm nhìn. Sự buồn vui bắt đầu có mặt khi chúng ta mong muốn một điều gì, nếu thỏa mãn thì vui còn không thoả mãn thì buồn.
Nỗi buồn, niềm vui chợt đến rồi đi và nó đi qua cuộc đời tùy theo sự nhận thức của mỗi người mà cảm nhận vui-buồn. Chúng ta đừng bao giờ để cho nỗi buồn kéo dài quá lâu vì sự chấp trước của mình và khi buồn ta phải biết mình đang buồn là nguyên nhân vì sao. Chúng ta buồn mà không biết mình đang buồn cái gì thì rất nguy hiểm, nó sẽ dằn vặt, hành hạ ta da diết. Ta buồn ta biết ta đang buồn thì như vậy ta mới có khả năng chuyển hoá những nỗi buồn, nếu không ta sẽ chết vì những nỗi buồn đó.
Người đời có câu “tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề”, nghĩa là khi còn đang trong giai đoạn tìm hiểu ta thường tôn trọng lẫn nhau, quý mến nhau, yêu thương nhau mà không bao giờ muốn làm phiền lòng nhau, đó là cách thức để lấy lòng người mình đang yêu. Khi cưới nhau rồi thì mọi chuyện lại khác vì lúc này người đã thuộc về ta, ta có quyền mong muốn, bắt buộc người phải phục tùng mình. Nhiều người cứ hay tiếc nuối về quá khứ, dĩ vãng đẹp khi đang tìm hiểu nhau. Khi ấy ai cũng lo lắng, trân quý và tôn trọng nhau.
Nhưng thời gian, cuộc sống cứ trôi qua và chúng ta không thể để bản thân đau khổ hay chết mòn chết mỏi trong những nỗi buồn vu vơ. Ôm ấp nỗi buồn là cảm xúc chấp trước về “cái ta” của mình. Ta thấy bị xúc phạm, cảm thấy bị hất hủi chính vì chấp mình thật có. Nó có thể gặm nhấm ta da diết, làm ta héo hon, cô đơn và sầu khổ. Khi ta có niềm vui thì nỗi buồn biến mất, ta không buồn tức là ta đang vui và vui trong tỉnh giác.
Trên đường đời tất bật với bộn bề công việc, ta đi trong vội vã, vật vờ, ăn trong vội vã và làm cái gì cũng vội vã nên cuộc sống cứ mãi buồn khổ, lo âu hoài; bỗng gặp người có thể chia sẻ buồn vui và từ đó ta bắt đầu có niềm tin vào người đó. Yêu nhau sao thấy khổ quá nhưng ta thà chịu khổ để được yêu, khi hết yêu thì khỏe mà chẳng ai chịu ngừng yêu hay thôi yêu hết.
Chúng ta thấy đó, tình yêu đem lại cho nhân loại niềm vui tràn ngập, nhờ vậy mà thế giới này ngày càng phát triển, mở mang bằng tình người trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong tình yêu cũng tràn ngập nỗi buồn vì con người không biết giữ 5 giới của nhà Phật nên thường sống trong nỗi khổ, niềm đau. Cuộc sống này có những hạnh phúc chợt đến rồi chợt đi vì tất cả đều là vô thường, vì vô thường nên ta luyến tiếc, nhớ nhung, buồn khổ và thường gọi đó là thú đau thương.
Có những nỗi buồn mang tính chất lây nhiễm làm ảnh hưởng đến nhiều người khác. Có những loài động vật khi ăn cỏ rồi chúng lại nhả ra để nhai lại nữa. Chúng ta cũng có thể là loài nhai lại như con trâu, con bò chẳng hạn. Ta nhai đi nhai lại những nỗi buồn chất chứa lâu ngày nên chúng trở thành cảm xúc xấu mang tính ganh ghét, thù hận.
Một trong những nguyên nhân của nỗi buồn là do chúng ta không biết buông xả, ta cứ cố chấp rồi bị ám ảnh trở lại mà làm cho nỗi buồn thêm gia tăng. Bao nhiêu vụ án cha giết con, vợ giết chồng, kẻ tình địch giết hại nhau từ những cảm xúc đau buồn được chất chứa lâu ngày trở lại hại chúng ta. Chuyện buồn, chuyện đau ai mà chả có. Ta tự làm khổ mình bởi những nỗi buồn không đâu khi dĩ vãng, quá khứ đã qua mà ta cứ ôm chúng vào để chúng trở thành nội kết giết mình chết lần chết mòn trong từng giây phút.
Sự cố chấp ấy cũng chỉ để bảo vệ bản ngã của mình do thấy biết sai lầm mà ta tự giết hại đời mình trong đau thương. Chúng ta muốn xây dựng hạnh phúc gia đình thì phải cùng đi chung một hướng và phải là những Phật tử chân chính. Ta không muốn hạnh phúc nhưng hạnh phúc vẫn đến với ta vì trong ta đã có chất liệu của yêu thương và hiểu biết.
Thế gian có câu “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.” Câu tục ngữ này nhắc nhở chúng ta về đời sống hôn nhân cần có tình nghĩa vợ chồng, biết yêu thương và nhường nhịn, cảm thông và tha thứ, bao dung và độ lượng, biết chia sẻ cho nhau những nỗi buồn niềm vui. Vấn đề tài chính, con cái, chia sẻ công việc, chăm sóc gia đình hai bên, ở riêng hay ở chung… đều có thể bàn bạc, thỏa thuận, sắp xếp một cách chu đáo, hài hòa thì việc gì mà làm chẳng xong.
Gia đình là nền tảng của xã hội, sự nghiệp gia đình là sự nghiệp xã hội, nó quan trọng hơn sự nghiệp kiếm tiền để nuôi sống gia đình. Chúng ta làm chủ được buồn vui thì cũng kiểm soát được cảm xúc, nhờ vậy cuộc sống gia đình luôn bình yên, hạnh phúc.
Hai vợ chồng cãi nhau trong nhà rồi dẫn nhau ra đường cãi tiếp nên cả xóm đều nghe như đang xem phim tình cảm đến hồi ướt át. Chuyện gia đình ta nên đóng cửa dạy nhau, khi chồng giận thì vợ nhường lời, khi vợ nóng thì chồng biết cảm thông. Chén úp trong sóng còn khua, huống hồ làm người phàm phu thì không chuyện này cũng chuyện nọ. Khi khuyên dạy nhau ta nên nói ngon nói ngọt, nói cho có tình có lý.
Cảm xúc không đơn thuần như khi hai người đang âu yếm nhau mà còn là khi các căn tiếp xúc với các trần, như mắt xúc hình ảnh, sự vật; tai xúc âm thanh lớn nhỏ, êm dịu hay chát chúa; mũi xúc hương vị thơm tho hay hôi thúi; lưỡi xúc vị ngon ngọt hay đắng chát, chua cay; thân xúc chạm êm ái, nhẹ nhàng hay nóng bức; và ý xúc với pháp trần mà sinh tâm luyến ái hay ghét bỏ.
Mắt nhìn thấy được sắc đẹp thì tâm ưa thích nổi lên muốn chiếm đoạt. Mắt và sắc tìm kiếm lẫn nhau tạo nên cảm xúc yêu thương hay chán ghét. Do mắt có mặt nên sắc có mặt, và nếu không có sắc thì mắt có để làm gì? Khi tai nhận ra âm thanh thì giữa tai và âm thanh tiếp xúc với nhau tạo ra sự dính mắc, muốn thích nghe hoài mà không biết chán; ngược lại thì bực tức, khó chịu.
Tình yêu tràn ngập cảm xúc mà cảm xúc này là do từ cả hai phía cùng khởi lên sự ham thích như nhau, như mũi của chúng ta thích xúc chạm với hương thơm của người kia, thân hai người xúc chạm lẫn nhau tạo ra cảm giác thương yêu trong khoái lạc tột cùng. Xúc chạm dễ chịu dẫn tới cảm thọ luyến ái, không muốn lìa xa và xúc chạm khó chịu dẫn tới cảm thọ đau thương, muốn ghét bỏ; hay có những cảm thọ không dễ chịu mà cũng không khó chịu như mỗi ngày khi ta uống nước.
Chúng ta hằng ngày mắt thấy, tai nghe, tiếp xúc với trần cảnh nhưng không có tỉnh giác nên buồn vui lẫn lộn, cứ thế mà cảm xúc dâng trào tạo nên cảm thọ khó chịu hay thích thú. Thật ra, không có ai là người thọ, bởi vì thọ là vô ngã và nó cũng vô thường. Vô ngã vì không có thực thể cố định và vô thường vì thọ đến rồi đi.
Đã nói thọ là vô ngã vì như huyễn, không thực có, chợt đến rồi đi; vậy khổ và vui cũng không có gì là thực. Cái gì thực thì nó còn hoài và luôn hiện hữu. Nếu chúng ta nhìn thấy hình ảnh sự vật bằng con mắt của ưu sầu, buồn khổ thì dù cảnh có đẹp hay nên thơ cách mấy cũng trở thành buồn bã vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” Cảnh đẹp có thể viết thành bài thơ nhưng nỗi buồn cứ xâm chiếm tâm hồn ta thì cái đẹp kia có ý nghĩa gì. Cũng vậy, khi ta đang vui với cái vui của Chánh pháp, ta thấy chỉ là thấy, ta nghe chỉ là nghe thì ta-người-hoàn cảnh trở thành nhất như.
Cuộc sống hôn nhân gia đình là nhân tố nền tảng của xã hội, nhờ vậy ta mới duy trì giống nòi nhân loại. Có rất nhiều hạnh phúc trong yêu thương khi hai vợ chồng đã có con với nhau. Đứa con là kết tinh của tình yêu thương giữa hai vợ chồng. Chính đứa con giúp cho tình yêu giữa hai người ngày càng thêm mặn nồng, đằm thắm. Nhìn đứa con lớn lên theo từng ngày tháng, biết lật, biết bò, rồi biết đi từng bước chập chững, biết nói, biết cười, biết gọi ba mẹ, rồi đi học, đi làm, đứng vững trên hai đôi chân trong sự bảo bọc của hai bờ vai cha và mẹ.
Đời sống lứa đôi hạnh phúc như thế khi hai người có cùng chí hướng, đồng quan điểm, có yêu thương và hiểu biết, là những Phật tử chân chính nên tình yêu của họ đẹp như trong mơ.
Những người độc thân hay những vị xuất gia không muốn tiến tới hôn nhân vì hàng trăm lý do thì họ tìm kiếm hạnh phúc bằng cách nào? Có người thì xem sự nghiệp là hạnh phúc, có người cho công việc phụng sự là hạnh phúc, có người cho sống độc thân là hạnh phúc và có người cho rằng cứu độ chúng sinh là hạnh phúc tối thượng. Dù sao đi nữa thì những hạnh phúc của thế gian cũng chỉ có giới hạn, chợt đến rồi đi không được lâu dài.
Do vậy, nhà Phật có câu “yêu thương xa lìa khổ” nên người xuất gia không lập gia đình, không tìm cầu hạnh phúc thế gian. Vậy thì người xuất gia sẽ sống ra sao? Họ sống bằng hạnh phúc chân thật mà nước, lửa, con người không thể cướp lấy được. Hạnh phúc này khó diễn tả được, chỉ người nóng lạnh tự biết.
Chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước kia là hoàng thái tử có cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, hạnh phúc của Ngài ít có ai với tới. Nếu trong đạo lý chân thật không có hạnh phúc tối thượng thì đức Phật đâu phải nhọc nhằn 49 năm giáo hóa không biết mệt mỏi, nhàm chán và khất thực mỗi ngày, ai cho gì ăn đó. Nếu không có được bình an nội tại thì làm gì Ngài phải chịu khổ nhọc đến thế ư? Thật sự, Người xuất gia sống đời đơn giản, đạm bạc và biết cách làm cho mọi phiền não tham-sân-si tan hòa vào hư không.
Bây giờ, chúng ta sẽ quay lại quá khứ có một không hai từ xưa đến nay của đức Phật Thích Ca Mâu Ni để tìm hiểu động cơ nào khiến thái tử đủ sức mạnh để bỏ hết tất cả vợ đẹp con xinh, tiền tài danh vọng, thần dân thiên hạ và quyền hành cao nhất? Thái tử khi ấy còn quá trẻ nên năng lượng tình dục rất mạnh. Chính vì vậy, công chúa Da Du Đà La mới sinh cho chàng một đứa con trai bụ bẫm, kháu khỉnh và giống cha như khuôn đúc.
Như chúng ta đã biết, thái tử là con người bằng xương, bằng thịt như mọi người. Ngài đâu có bệnh hoạn gì mà nỡ đang tâm đành đoạn bỏ đi trong khi chàng và nàng đang trong giai đoạn yêu thương cực kỳ mặn nồng, tha thiết. Ở lứa tuổi mà con người hưng phấn, sung mãn nhất về tình dục thì thái tử vẫn quyết tâm bỏ lại sau lưng tất cả tuy trong lòng vẫn còn luyến tiếc, nhớ thương.
Nhiều chàng thanh niên ước ao chỉ cần được ngủ một đêm với các người mẫu hay hoa hậu thì sáng mai dù có bị xử bắn cũng vui vẻ chấp nhận, bằng lòng. Con người ta ai cũng khát khao, thèm muốn tình dục. Đây là một sự thật mà không một ai có thể chối bỏ được. Thế gian này sở dĩ mọi người ra sức nỗ lực làm việc nhọc nhằn, vất vả bất kể ngày đêm cũng đều chỉ muốn được tiền tài danh vọng, vợ đẹp con ngoan. Đó là ước mơ chung của nhân loại, ít ai có thể đi ngược lại lòng ham muốn luyến ái ấy.
Vậy mà thái tử Sĩ Đạt Ta đã dũng mãnh, can đảm chấp nhận đau thương, dám hy sinh tình cảm cá nhân để ra đi tìm cầu chân lý sáng ngời cho nhân loại. Luyến ái và ham muốn khoái lạc tình dục một khi ai có cơ hội gần gũi nó thì khó lòng lìa bỏ được; như bản thân chúng tôi chẳng hạn, tôi sống ngu chết dở cũng vì nó.
Năm nay tôi đã 54 tuổi rồi mà trong lòng vẫn còn thèm khát thứ dục vọng đó. Nó là cái gì mà làm cho cả thế giới loài người phải điêu đứng, vọng động, điên đảo, tranh hơn tranh thua để có được chút xíu ái ân đó thôi.
Thái tử chấp nhận bỏ hết tình riêng với tuổi đời đang còn hưng phấn mãnh liệt nhất thật ra cũng đắng cay và chua xót lắm vì đó là cái nhiều người mong muốn được như Ngài mà không bao giờ được. Ngài đã vô lượng kiếp tu tâm từ rộng mở, muốn tìm ra nguồn gốc và thân phận của tất cả chúng sinh để tìm ra giải pháp giúp con người thoát khỏi sinh-già-bệnh-chết.
Nhờ có lý tưởng cao cả và lập trường vững chắc đó mà thái tử mới thoát ra được lưới ái, lìa buộc ràng để ra đi tìm đạo giải thoát. Nếu Ngài không có tâm nguyện cao cả, lớn lao để cứu khổ chúng sinh thì cũng khó mà vượt qua khỏi chiếc lưới luyến ái vợ đẹp con xinh.
Con người sống muốn làm được việc gì lớn lao, quan trọng cần phải có lý tưởng cao cả để phục vụ. Ta phải biết bỏ tình riêng để làm việc chung. Chính vì vậy, những người làm cách mạng thường sống độc thân để hoạt động, vì khi độc thân họ có can đảm nói và làm những điều họ cho là đúng để đem lại an vui, lợi ích cho đất nước.
Cuộc sống độc lập đó cho phép họ sống thực sự là một người có bản lĩnh dám chấp nhận xả thân, hy sinh để phục vụ vì lợi ích đất nước mà không bị vướng bận bởi sự đam mê, luyến ái vợ chồng, con cái. Những người ngoài đời muốn làm cách mạng còn phải xa lìa ái dục như thế thì huống hồ là người có chí hướng cao thượng như thái tử Sĩ Đạt Ta khi đã phát tâm vì lợi ích của tất cả chúng sinh.
Dưới cội Bồ Đề với đủ thứ loại ma uy hiếp, khủng bố tinh thần nhưng thái tử vẫn bất động trước những hình thù quỷ quái nhất cùng những lời hăm dọa khủng khiếp nhất. Ngay đến tuyệt chiêu cuối cùng của chúa ma là hóa hiện ra hình ảnh của các cung phi mỹ nữ và công chúa Da Du Đà La thật xinh đẹp đến trước mặt Ngài, một trang tuyệt sắc giai nhân sà vào lòng ôm chặt lấy Ngài mà kể lễ, khóc than trong nước mắt hết sức tội nghiệp nhưng Ngài vẫn không lay động.
Nếu giả sử lúc đó chúng ta là người đang trong hoàn cảnh như vậy thì liệu chúng ta có đủ sáng suốt để vượt qua tình xưa nghĩa cũ hay không? Hay chúng đành chấp nhận quay gót trở về theo tiếng gọi con tim để sống trong tình yêu thương nam nữ mà quên đi lý tưởng cao cả trên cầu thành Phật, dưới cứu độ tất cả chúng sinh?
Nước mắt đàn bà cùng sắc đẹp nghiêng thành đổ nước và những lời tỏ tình âu yếm, ngọt ngào là thứ khó có ai chịu nổi mà làm ngơ. Vậy mà đức Phật của ta vẫn bình tĩnh, sáng suốt thấu rõ hết mọi vấn đề nên ngài vẫn như như bất động, mặc cho người đẹp khổ sở khóc lóc, van xin, năn nĩ ỉ ôi.
Một phàm phu bình thường sao có đủ can đảm ngoảnh mặt làm ngơ khi người vợ yêu đầu ấp tay gối thuở nào, nhất là bây giờ nàng lại xinh đẹp, dễ thương hơn ngày xưa rất nhiều bởi sự biến hóa tài tình của ma vương. Lúc bấy giờ, không gian như ngưng đọng, vạn vật đều im lặng chờ xem thái tử giải quyết ra sao. “Đi đi, ta không dùng đâu đồ đãy da hôi thúi.” Chỉ một câu nói nhẹ nhàng của Ngài mà làm tất cả lũ ma thảy đều biến mất.
Vậy lúc ấy thái tử đã sử dụng tuyệt chiêu gì để vượt qua luyến ái tình dục ấy? Ngài chỉ dùng cây cung Thiền định cùng lưỡi kiếm trí tuệ để quét sạch mọi ma mị trong tâm, do đó ma quỷ bên ngoài không thể nào xâm nhập nổi. Đó là phương pháp độc nhất vô nhị có một không hai trên cõi đời này để chuyển hóa ham muốn dính mắc vào luyến ái tình dục.
Phật dạy: “Trong đời này có hai hạng người đáng được tán thán, ca ngợi và cung kính cúng dường. Hạng người thứ nhất từ nhỏ đến lớn chưa từng vi phạm lỗi lầm, lại hay thương yêu bình đẳng, giúp đỡ mọi người. Hạng người thứ hai đam mê hưởng thụ, dính mắc, hay làm các điều xấu xa tội lỗi mà làm tổn hại cho người và vật; nhưng họ nhờ gặp các thiện hữu tri thức hướng dẫn, chỉ dạy nên biết ăn năn, sám hối chừa bỏ những thói hư tật xấu mà làm mới lại chính mình để vươn lên vượt qua số phận tối tăm bằng trái tim yêu thương và hiểu biết”.
Cũng như đức Phật của chúng ta trước khi thành tựu đạo pháp Ngài đã có tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ, quyền hành cao nhất trong tay nhưng vẫn hiên ngang, dũng mãnh vượt qua được lưới ái dục khi tuổi đời đang sung mãn và hưng phấn nhất. Chính vì vậy, ngày hôm nay ta tôn kính Phật, thờ Phật, lạy Phật suốt đời suốt kiếp để bắt chước, học hỏi, tu tập cho được bằng Phật mới thôi.
Thật ra, chúng ta đi tu hiện giờ đâu có gì để buông xả và dính mắc nặng nề như đức Phật ngày xưa. Nhất là các thầy tu trẻ thì đâu có gì để ôm giữ, chất chứa trong lòng. Vậy mà thầy tu như bông xoài, thấy thì dường như quá nhiều nhưng đến khi thành trái xoài thì chẳng còn được mấy trái.
Đức Phật đã ví dụ sự si mê luyến ái, ham muốn khoái lạc ngũ dục giống như chiếc lưới ái ân, chiếc lưới dục vọng, một khi ai đã dính vào lưới này thì khó bề thoát ra. Người thật tâm muốn vượt qua lưới ái buộc ràng thì trước tiên phải có niềm tin vào Tam bảo, tin vào chính mình, có chí nguyện thoát ly sinh tử, có thầy lành bạn tốt và gìn giữ giới luật, oai nghi. Kế đến, họ phải điều phục ngay nơi tâm ý của mình để thanh lọc nội tâm, dẹp hết tâm ma bên trong thì tâm ma bên ngoài không thể xâm nhập nổi.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng mấy thưở nào ra.
Người chồng hay người vợ đều có thể giúp nhau hóa giải các phiền muộn, khổ đau bằng cách lắng nghe và có sự cảm thông với nhau, khi hiểu nhau thì cái gì cũng có thể tha thứ và bỏ qua. Thương nhau mà không hiểu nhau thì chỉ làm khổ nhau lẫn nhau.
Lắng nghe để ta biết nhu cầu của người thương và nói ra để bày tỏ những nỗi khổ niềm đau. Sống chung thì phải giao tiếp mà giao tiếp hay nhất là lắng nghe và chia sẻ. Chỉ lắng nghe thôi chưa đủ mà chúng ta còn phải biết chia sẻ và nâng đỡ cho nhau. Chia sẻ để cảm thông, yêu thương để hạnh phúc và càng yêu nhau ta càng thấu hiểu lẫn nhau.
Hai vợ chồng thường hay tranh cãi vì không hiểu nhau và không biết lắng nghe thì từ đó hạnh phúc mất dần theo ngày tháng, ngọn lửa yêu thương sẽ ngày càng phai nhạt. Lắng nghe không chỉ là bổn phận và trách nhiệm mà nó còn là biểu hiện của tình yêu nên ai biết lắng nghe sẽ có được sự yêu thương bền vững.
Thế gian trai lớn lên thì dựng vợ, gái lớn lên thì gả chồng. Chúng ta mong muốn điều gì thì phải có đam mê và lập trường, một khi đam mê rồi thì phải chinh phục cho bằng được. Một số chàng trai thường tự hào mình có số đào hoa, nhưng đến khi lớn tuổi họ chỉ sống một mình. Do vậy, dân gian thường nói “lắm mối tơ hồng tối nằm không”. Vì ta không chung thủy mà chỉ biết thoả mãn dục vọng nên không ở với ai lâu dài, thay tình như thay áo thì làm sao không cô đơn cho được. Ta mang tiếng là số đào hoa nhưng thực ra chẳng hưởng được gì mà chỉ làm ta thêm gian dối để lợi dụng, lường gạt người khác.
Sống chung thủy một vợ một chồng mới bảo đảm được hạnh phúc lâu dài. Kiếp chồng chung hay năm thê bẩy thiếp là do lòng tham lam, ích kỷ của ta mà ra. Vậy thì có gì vui đâu? Vui trên sự đau khổ của nhiều người khác là cái vui suy đồi nhân cách, mất phẩm chất đạo đức, cái vui ấy xã hội ngày nay không ai chấp nhận.
Tình yêu như cái ao chứa nước có thể bốc hơi và nước ngày càng cạn kiệt đi. Người xuất gia tu tập để thấy tất cả chúng sinh đều là cha mẹ nhiều đời của mình nên sẽ thương yêu bình đẳng với tất cả chúng sinh. Do kiếp trước thương con quá và có tâm luyến ái nên kiếp này người mẹ tái sinh trở lại làm vợ.
Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ, vợ chồng, họ hàng người thân và con cái, cháu chắt của nhau. Nếu chúng ta không thấy mối tương quan này mà yêu thương trong vội vã, vật vờ sẽ làm khổ đau cho nhau mãi không thôi.
Khi chúng ta nhìn hình ảnh sự vật thì mình biết rõ ràng như thế, nghe tiếng chim hót ta biết là tiếng chim hót, xúc chạm với thân này thì ta biết nóng lạnh, trơn nhám. Ta kiểm soát thân tâm là chỉ đơn thuần nhận diện từng tâm niệm của mình, chúng thế nào thì ta biết rõ thế đó, chỉ cần như thế ta sẽ làm chủ được bản thân.
Khi nhìn thấy người con gái đẹp hay chàng trai dễ thương thì cảm thọ dễ chịu phát khởi, ta bắt đầu nhớ nhung hình ảnh đó và muốn chiếm hữu. Sự nhớ nhung hay mơ tưởng đã tạo ra cảm thọ yêu thương vì ý đang nắm giữ và dính mắc vào chúng. Chúng ta chỉ mới tiếp xúc bằng cái nhìn đầu tiên hay lời nói mà chưa có thời gian tìm hiểu nhau, chưa nói lời yêu thương nhau, chưa sống chung với nhau mà đã cảm thấy nhớ nhung. Khi chưa lấy nhau ta chỉ mới biết tương tư, mới bắt đầu yêu đơn phương thôi mà tâm ta đã tổn thương rất nhiều vì yêu là chết trong lòng một ít.
Mắt tiếp xúc với cái gì thì ta biết cái đó và thấy chỉ là thấy. Ta thấy sự vật trong hiện hữu và thường xuyên quán chiếu các pháp tính của nó là không nên không có gì làm cho ta dính mắc khi tiếp xúc.
Thân xúc chạm các vật thể ta biết rõ tất cả cảm giác đang có là không thực thể, do đó ta không tham cầu các đối tượng xúc chạm. Ý tiếp xúc với pháp trần ta biết rõ nó chỉ là bóng dáng của quá khứ nên không dính mắc, nhớ nghĩ vào đó mà bình thản, an nhiên giải thoát.
Ta học cách chuyển hóa hay nhất là thực tập buông xả bằng sự quán chiếu hay chú tâm vào một điểm. Thế gian bên ngoài là một trường đời hỗn hợp dễ làm con người ta ứng xử không đúng đạo. Khi đi vào chùa thấy sư cô hay quý thầy nào hiền lành, chất phát thì lại sinh tâm luyến ái và muốn se duyên kết tóc với người tu.
Người xuất gia lấy niềm vui chúng sinh làm niềm vui chính mình, để tránh tình trạng lôi kéo luyến ái yêu thương người tu nên sống chung với đại chúng, nương tựa Tăng thân mà tập hạnh buông xả, sẻ chia. Người tu mà ở một mình thì sẽ có ngày bị ma bắt vì ma trong tâm chưa được điều phục nên dễ dàng chạy theo lời con tim réo gọi. Tình yêu có thể rất đẹp cho người thế gian nhưng không đẹp đối với người tu vì ái ân chỉ dành cho người cư sĩ tại gia.
Ta lớn khôn trong tình thương cha mẹ,
Niềm vui nỗi buồn khiến lệ tuôn rơi.
Ta đi qua trong quá khứ khổ đau,
Để được sống yêu thương trong hiểu biết.
BÀI LIÊN QUAN
Trong thương yêu có hạnh phúc và đau khổ ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5689 xem)
Bản thể chân như qua hình ảnh Nhất Chi Mai của Thiền sư Mãn Giác ( Thích Đạo Phong , 17057 xem)
Vai trò của thầy, bạn trong tu học ( Diệu Thể , 9922 xem)
Nuôi bệnh được phước ( Quảng Tánh , 5337 xem)
Vì sao ta luyến ái và chấp thủ? ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 16172 xem)
Hạnh phúc hay đau khổ là do ai? ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5489 xem)
Tại sao có sự sống chết tiếp nối nhau? ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 8616 xem)
Tiền bạc không mang lại hạnh phúc ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao , 6377 xem)
Nhân quả ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao , 7220 xem)
Con người sống chết vô cùng tận ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5249 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













