Trang chủ > Phật Học > Phật Pháp
Phá trừ vọng chấp
Xem: 8277 . Đăng: 07/03/2015In ấn
Lời Phật dạy - Quyển I
Dịch giả: Tuệ Liên
Chương ba
Phá trừ vọng chấp

A Nan mê tình
Trong các đệ tử Tỳ kheo của Đức Phật, tôn giả A Nan vừa đẹp trai, vừa trẻ trung. Một lần nọ, trên đường ôm bát khất thực trở về, quá khát nước nên A Nan xin một bát nước của một cô gái cạnh giếng nước bên vệ đường. Cô gái tên gọi là Ma Đăng Già Nữ, nhìn thấy A Nan khôi ngô, tuấn tú, nên sanh lòng ái mộ. Từ đó về sau, Ma Đăng Già Nữ như người mất hồn mất vía, suốt ngày trầm tư. Mẹ gặng hỏi nhiều lần cô mới kể cho mẹ nghe rằng mình đã yêu A Nan vô cùng tha thiết, nếu không lấy được A Nan thì nàng chỉ có con đường chết. Mẹ nàng bảo muốn cùng A Nan kết hôn thì phải học ma chú của Bà Tỳ Ca La Tiên Phạm Thiên, khiến cho trí huệ của A Nan bị che đậy. Ngày kia, A Nan ôm bát ngang cửa Ma Đang Già Nữ, nàng cũng rất lịch sự hỏi thăm và mời vào nhà:
- Kính bạch tôn giả A Nan, trong nhà của tôi rải hoa rải hương quét dọn rất sạch sẽ, mong Ngài vào nhà của tôi nhận sự cúng dường.
A Nan vô cùng do dự, mẹ của Ma Đăng Già Nữ cũng giúp cô xúi giục thêm, A Nan không tự chủ được bèn bước vào. A Nan biết mình bị sắc đẹp mê hoặc, tâm lý rất mâu thuẫn, lý trí và tình cảm phát sanh mối xung đột mãnh liệt. Ma Đăng Già Nữ yêu kiều õng ẹo, dựa kề vuốt ve, khiến cho giới thể của A Nan sắp huỷ hoại. A Nan tiếp nhận hào quang nhiếp thọ của Đức Phật, tâm linh trí huệ lập tức sanh khởi sức mạnh, cuối cùng dũng cảm thoát khỏi sự ràng buộc của Ma Đăng Già Nữ chạy trở về tinh xá Kỳ Hoàn. Ma Đăng Già Nữ không cam tâm, mỗi ngày đến Tinh xá Kỳ Hoàn bồi hồi tới lui đợi chờ A Nan, cuối cùng cô đã đợi được. A Nan ngày nọ từ trong Tinh xá bước ra, Ma Đăng Già Nữ vô cùng vui mừng, đi sát sau lưng A Nan, tìm phương pháp thân cận. A Nan không có cách nào hết chỉ đành trở về Tinh xá Kỳ Hoàn, quỳ xuống trước mặt Đức Phật:
- Bạch đức Thế tôn, Ma Đăng Già Nữ mê hoặc con, con đi đến đâu, cô ta đi theo đến đó. Xin Đức Phật đại từ đại bi giúp con giải thoát sự mê hoặc này!
- Ngươi mời Ma Đăng Già Nữ vào đây.
A Nan vâng lời đi ra cửa Tinh xá, cô gái si tình vẫn còn đang ở đó. A Nan bảo với nàng:
- Đức Phật là bậc đạo sư cứu tế chúng sanh, Ngài muốn gặp cô, nhanh theo tôi vào đây!
Ma Đăng Già Nữ do dự một hồi, cuối cùng can đảm theo A Nan bước đến trước Phật. Đức Phật nhìn thấy nàng bèn hỏi:
- Cô muốn lấy A Nan phải không ?
Ma Đăng Già Nữ để hai tay trước ngực trả lời nhỏ:
- Thưa vâng.
- Ngươi muốn kết hôn với A Nan, trước hết ngươi phải xuất gia một lần, phải đợi đến khi nào đạo tâm của ngươi và A Nan giống nhau thì ta sẽ cử hành hôn lễ cho ngươi và A Nan.
Ma Đăng Già Nữ có tâm muốn làm vợ A Nan nên vui vẻ cắt tóc nhuộm y xuất gia, nhiệt tình nghe Đức Phật thuyết pháp, vâng theo những lời dạy của Đức Phật nỗ lực tu hành. Tâm của nàng ngày càng an tịnh, nghe Đức Phật dạy 5 dục là không sạch, là nguồn gốc của các sự đau khổ, giống như con thiêu thân bay vào lửa bị thiêu chết, như tằm kéo kén buộc mình trong tơ. Nếu bỏ đi 5 dục này thì nội tâm mới được thanh tịnh, cuộc sống mới được an lạc. Ma Đăng Già Nữ dần dần hiểu rằng, bản thân mình say mê A Nan, hoàn toàn là những tư tưởng không thiện lành, không thanh tịnh. Nàng vô cùng cảm mến Đức Phật đã độ hoá sự ngu si của mình, quyết tâm vâng theo lời dạy của Đức Phật, đi trên con đường của Đức Phật, hướng về chân lý giác ngộ giải thoát.
(Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh quyển 1)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Tình yêu chấp trước của Ma Đăng Già Nữ cũng là thường tình của nhân gian. Chỉ là người cô yêu là đệ tử của Đức Phật: tôn giả A Nan. Tình yêu này không đem lại hạnh phúc cho người được yêu mà còn khiến cho người ta phải bị phiền não quấy nhiễu, cho nên Đức Phật sắp xếp cho Ma Đăng Già Nữ xuất gia tu hành, khiến cho đạo tâm của nàng và A Nan giống nhau. Ma Đăng Già Nữ cuối cùng hiểu rõ sự chấp trước của mình là một tư tưởng không thiện lành, không thanh tịnh.
Tình yêu nhất định phải thích hợp với mình, không nên tham chấp với những người không nên yêu, như thế không những bản thân mình đau khổ mà người khác cũng phải đau khổ phiền não.
Thái tử Thanh Tịnh
Ngày xưa có một nhà vua tên là Đại Quả, Ngài chỉ có một đứa con trai đặt tên là Đại Lực. Thái tử Đại Lực không thích nữ sắc, càng không muốn lấy vợ sinh con. Bấy giờ, thái tử đổi tên thành Thanh Tịnh. Nhìn thấy huyết mạch của vương thất đoạn tuyệt từ đây vua càng thêm nóng ruột, Ngài bèn tuyên bố khắp dân chúng trong nước :
- Ai khiến cho thái tử Thanh Tịnh ưa thích ngũ dục ta sẽ ban thưởng cho ngàn lượng vàng ròng và nhiều báu vật.
Có cô gái tên là Dâm Chủng tinh thông các việc của đàn bà con gái, nghe được thông báo bèn đến gặp nhà vua, xin nhận lấy nhiệm vụ này. Nàng xin nhà vua cho phép mình tự ý ra vào hoàng cung. Đêm đó vào canh hai, cô đứng ngoài cửa cung thái tử khóc lóc thảm thiết. Đang ngủ ngon bị tiếng khóc làm cho mình thức giấc, Thái tử ngạc nhiên bèn ngồi dậy hỏi thị vệ:
- Ai mà khóc lóc thê thảm như vậy.
Thị vệ thưa rằng:
- Có một cô gái đang khóc ngoài cửa.
- Ngươi đi hỏi xem tại sao đêm hôm khuya khoắt lại khóc ở đây.
Thị vệ ra hỏi, Dâm Chủng trả lời:
- Tôi bị chồng bỏ, nhà cửa đều không, ở ngoài lại sợ bị cướp nên mới than khóc thế này.
Nghe thị vệ bẩm báo, vị thái tử nhân từ liền bảo người thị vệ cho cô gái vào ở chuồng voi. Cô đến chuồng voi vẫn khóc không ngừng. Thái tử lại bảo đưa cô đến chuồng ngựa, ở đó nàng càng khóc thảm thiết hơn. Không có cách nào khác thái tử Thanh Tịnh chỉ đành đem cô gái vào trong tẩm cung của mình. Sau khi vào tẩm cung của thái tử, Dâm Chủng vẫn khóc không thôi, khiến cho thái tử ngạc nhiên bèn hỏi cô ta:
- Sao đến đây rồi mà nàng vẫn còn khóc như vậy?
Gương mặt cô gái lộ vẻ sợ sệt khiếp nhược nói
- Thưa thái tử, tiểu nữ thân gái liễu yếu, trong tâm vô cùng sợ hãi cho nên xót thương mà khóc.
Thái tử nhìn thấy dáng cô đáng thương tội nghiệp bèn nói:
- Vậy cô lên ngủ trên giường tôi đi, như thế sẽ không còn lo sợ nữa.
Sau khi lên giường thái tử, Dâm Chủng không khóc nữa mà còn dùng mọi cách khiêu gợi, khiến thái tử sanh lên lòng dục.
Nhà vua biết được chuyện này rất vui mừng, hỏi thái tử rằng:
- Con nay có yêu cầu gì, ta sẽ thoả mãn cho con.
Thái tử bèn thưa với nhà vua rằng:
- Muôn tâu phụ vương, con muốn phụ vương tuyên chiếu nhập cung tất cả thiếu nữ chưa xuất giá ở trong cõi Diêm Phù Đề do phụ vương thống lĩnh này để họ hầu con trước sau đó mới được xuất giá.
Nhà vua đồng ý lời yêu cầu của thái tử Thanh Tịnh, và bố cáo trong toàn quốc:
- Trong nước ai là gái chưa có chồng đều phải vào hoàng cung hầu thái tử Thanh Tịnh, rồi sau đó mới được lập gia đình.
Sau khi bố cáo được phát ra, mọi nhà chỉ đành đem con gái của mình dâng cho thái tử hưởng thụ. Trong thành có cô gái con của trưởng giả, tên Tu Man cũng bị đưa vào hoàng cung. Trên đường đi, cô loã thể thân mình đi trong đám đông mà không cảm thấy xấu hổ. Đám con gái thấy nàng như thế liền hỏi:
- Cô là con gái của trưởng giả, danh vọng tiếng tăm đồn khắp, tại sao lại loã thể đi giữa đám người như vậy, có khác gì như con lừa con ngựa đâu.
Tu Ma nghe xong trả lời rằng:
- Chúng ta đều là nữ nhân, nữ nhân thấy nữ nhân có gì xấu hổ? Ở đây toàn là nữ nhân, chỉ có thái tử Thanh Tịnh là nam nhân, vậy đến chỗ thái tử ta sẽ mặc y phục.
Mọi người nhìn lại mình, thật vậy, chúng ta đều là nữ nhân chỉ có thái tử Thanh Tịnh là nam nhân, hôm nay chúng ta bị ô nhục như vậy, tại sao không thể tạo phản như nam nhân.
Như thế, đám con gái bèn trói thái tử Thanh Tịnh lại kéo ra ngoài thành dùng gạch đá đánh chết.
(Phẩm Lực – Kinh Tăng nhất A Hàm)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Trời thường giáng tai hoạ cho những người tham lam dâm vọng, và sự báo ứng cũng rất nhanh. Nếu như có người không sợ báo ứng, đối với những hành vi tà dâm của mình không biết kiểm điểm sửa lỗi thì sẽ rơi vào vực sâu đau khổ tai hoạ. Người tham dâm dù là làm vua ở cõi người, có quyền lực uy thế rất lớn, cũng vẫn là nô lệ của sự ân ái, bị người sai sử chi phối. Người đó có thể đạt rất nhiều tiền của, châu báu, vàng ngọc, được thoả mãn về thanh dục, sắc dục, nhưng lại trầm mê vào đây không được tự do, và không biết ngày nào thoát ra.
Rắn độc
Thuở xưa tại nước Xá Vệ, khi Đức Phật Thích Ca và A Nan đi qua một rừng cây, nhìn thấy một đống bạc trong đám cỏ bên vệ đường, Đức Phật ngừng lại nói :
- A Nan! Ở đây có rất nhiều rắn độc, ông có thấy không ?
A Nan vừa nhìn cũng nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn ! Đúng là rắn độc.
Nói xong, hai người khoan thai tiếp tục bước đi.
Có một người nông dân đang đứng gần đó nghe thấy liền chạy đến xem sao. Thì ra là một đống bạc trắng lấp lánh! Anh ta vô cùng mừng rỡ, nghĩ thầm: “Đống bạc lớn như thế mà Đức Phật lại nói là rắn độc, thật là khờ quá”.
Tức thì ông chạy đi tìm vợ, hai người cùng nhau lén lút chuyển đống bạc về nhà. Khi có tiền, giấu trong nhà thì sợ người phát hiện, đem đi dùng người nông dân lại không dám. Mỗi ngày ông chỉ lấy một chút mua đồ, nhiều lần như thế thì hàng xóm sanh tâm nghi ngờ. Cùng lúc ấy trong kho vua bị trộm mất một số bạc lớn, trên đó có ký hiệu, vì thế hàng xóm liền báo quan. Quan phủ cho người đến điều tra lục soát phát hiện bạc trong nhà anh ta đúng là số bạc nhà vua bị mất cắp. Người nông phu bị bắt đem về trị tội. Lúc bị chặt đầu, nhớ đến lời Đức Phật và A Nan, bây giờ anh ta mới hiểu rõ tiền của là thứ hại người, than rằng: “Rắn độc! Thật là rắn độc”. Quốc vương hỏi anh đã nói gì? Người nông dân liền kể lại câu chuyện, gặp Đức Phật và đệ tử nói tiền là rắn độc. Nhà vua tìm Đức Phật để hỏi thăm về chuyện này. Sau khi điều tra thì biết tên ăn trộm sau khi vào kho vua trộm bạc, phát hiện trên có khắc ký hiệu, nên không dám lấy đi, bèn quăng trong đống cỏ. Người nông phu lúc đó mới được tha cho tội chết.
(Đại Trang Nghiêm kinh luận quyển 6)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Được tiền của chưa chắc đã là phước, huống chi là của bất nghĩa, sẽ đem tai hoạ vào thân. Đức Phật gọi tiền bạc là rắn độc, tức chỉ bạc vàng là thứ gây ra tai hoạ cho người. Cần phải có hành vi đoan chánh, xây dựng cho mình một cái nhìn chính xác về giá trị đồng tiền mới không bị rơi vào ma lực quyến rũ của nó, không có cách nào thoát ra khỏi.
Nan Đà kiểm tài
Ngày xưa có một vị vua tên là Nan Đà. Ông vô cùng ham thích tiền bạc, tận lực thu thập vàng bạc châu báu, hy vọng sẽ đem số vàng bạc châu báu này để lại cho đời sau của mình, ông ta nghĩ: “Ta phải gom góp tất cả trân bảo của đất nước vào một chỗ, không để một chút bên ngoài”. Ông an trí con gái ở trên lầu và dặn những người hầu rằng:
- Nếu có ai đem tiền của đến cầu con gái của ta thì đem người ấy cùng với tài bảo đến chỗ của ta.
Vua Nan Đà dùng phương pháp đó để tập trung tài bảo, tất cả tiền bạc châu báu đều tập trung vào kho của nhà vua, ở trong nước không còn chỗ nào có tài bảo nữa.
Trong nước có một bà goá chỉ có một đứa con trai, bà rất thương đứa con của mình. Đứa con nhìn thấy công chúa đoan trang kiều diễm, dung mạo hơn người, nên đem lòng yêu mến. Nhưng trong nhà anh ta không có tiền của nên không thể kết giao với công chúa. Vì chuyện này mà anh sanh bệnh, suốt ngày chỉ tương tư công chúa, sức khoẻ càng ngày càng cạn kiệt. Người mẹ hỏi:
- Con bệnh gì vậy? Tại sao lại ra nông nổi này?
Người con đem tình cảm trong lòng kể cho mẹ nghe và nói:
- Nếu con không được kết giao với công chúa chắc con sẽ chết.
Thương con, người mẹ nói:
- Nhưng vàng bạc châu báu đều tập trung hết trong kho của vua, mẹ biết đi đâu để kiếm chút bảo vật?
Bà không muốn con mình đau khổ như vậy, nghĩ một hồi rồi nói:
- Khi cha con chết, trong miệng có ngậm một đồng tiền vàng. Con hãy đào mộ cha con, may ra được đồng tiền đó để kết giao với công chúa.
Đứa con trai vâng lời mẹ đi đào mộ, lấy đồng tiền vàng từ trong miệng của cha mình. Sau khi có tiền bèn đi đến chỗ công chúa, nàng liền đưa anh ta cùng với đồng tiền vàng đến chỗ nhà vua. Vua nói:
- Tất cả tiền bạc, bảo vật trong nước, ngoài kho tàng của ta đều không còn ở đâu cả. Nhà ngươi kiếm được đồng tiền vàng này ở đâu? Nhất định là hôm nay ngươi vừa phát hiện một kho tàng dưới đất.
Quốc vương dùng các thứ hình phạt tra khảo, muốn biết người con trai do đâu mà được đồng tiền vàng này. Người con trai trả lời:
- Tôi thật không phải được đồng tiền vàng này từ trong kho tàng dưới đất. Mẹ tôi bảo: khi cha tôi chết có ngậm một đồng tiền vàng trong miệng. Tôi quật mộ lên mới được đồng tiền vàng này.
Quốc vương Nan Đà phái người đi điều tra, quả nhiên không sai, lúc đó mới tin tưởng. Vua nghe sứ giả báo cáo nghĩ thầm: “Ta trước kia thu thập tất cả vàng bạc châu báu trong nước là mong muốn đem những thứ này về kiếp sau. Nhưng người cha của cậu con trai kia chết đi, một đồng tiền vàng cũng không đem theo được, huống chi ta có nhiều bạc vàng châu báu như thế?
Bài kệ rằng:
Tiền tài là vật ngoài thân,
Tham lam keo kiệt có ích gì,
Dù tích chứa muôn vạn ức,
Chết đi không mang được vật gì.
(Đại Trang Nghiêm kinh luận quyển 3)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Mục đích của Phật giáo là muốn chúng ta lìa khổ được vui, mà thế gian này có rất nhiều dục vọng: tham, sân, si, danh và lợi, bạc vàng và gái đẹp, còn Phật giáo thì giúp người nhận thức rằng: sự vật trên thế gian này đều là vô thường. Cảnh đời thay đổi biển cả nương dâu, con người thì sanh lão bệnh tử, tất cả đều nằm trong quy luật sanh trụ dị diệt. Trái cây nhìn dường như bất động, thực tế giờ giờ khắc khắc đang dần dần thúi nát. Quả địa cầu tỷ ức năm sau cũng có ngày huỷ diệt. Bản thân Phật giáo đến một thời gian nào đó cũng không còn tồn tại. Danh lợi, địa vị, vàng bạc, có thứ nào không như vậy đâu?
Con người thường hay có lòng tham, cần phải phá trừ tham, sân, si, không nên quá chấp chặt vào những vật ngoài thân.
Vua hiểu tiếng thú cầm
Ngày xưa, con gái của vua rồng đi chơi bị người chăn trâu bắt trói, đánh đập. Vừa dịp quốc vương đi thị sát ngang đó, thấy con gái của vua rồng bèn giải cứu cho nó. Long nữ khóc trở về nhà, vua rồng hỏi con gái:
- Tại sao con khóc vậy ?
- Nhà vua vô duyên vô cớ đánh con.
Vua rồng nghĩ thầm: “Nhà vua này bình thường rất nhân từ, sao lại vô duyên vô cớ đánh người ?”
Đêm đó, vua rồng biến thành một con rắn bò dưới giường của nhà vua để nghe nhà vua nói gì. Nhà vua nói với phu nhân:
- Hôm nay, thị sát dân tình ngoài hoàng cung, thấy người chăn trâu đánh một đứa bé gái, ta đã cứu đứa bé ấy cho nó về nhà.
Hôm sau vua rồng biến thành người đến gặp đức vua nói:
- Đại vương có ân lớn với tôi, con gái của tôi hôm qua đi chơi, bị người hiếp đáp, đại vương đã cứu nó. Tôi là Long vương, nhà vua muốn điều gì, tôi đều thoả mãn yêu cầu của Ngài.
Nhà vua nói:
- Báu vật của tôi đã nhiều rồi, tôi chỉ mong được hiểu tiếng các loài chim thú.
Vua rồng nói:
- Vậy thì Ngài hãy trai giới bảy ngày đi.
Sau bảy ngày vua rồng bèn dạy cho nhà vua tiếng của các loài chim thú và dặn:
- Cẩn thận, đừng để cho kẻ khác biết.
Từ đó nhà vua hiểu được tiếng thú cầm.
Một hôm nọ, đang dùng cơm cùng với phu nhân, quốc vương nghe con bướm cái kêu con bướm đực đem cơm lại ăn, bướm đực nói:
- Mỗi người tự đi lấy mà ăn.
Bướm cái nói:
- Bụng em lớn đi không tiện.
Nhà vua nghe rồi không nhịn được bèn cười lớn lên.
Phu nhân hỏi:
- Đại vương cười gì thế?
Nhà vua im lặng không trả lời.
Một lần sau đó, nhà vua và phu nhân đang ngồi với nhau, nhìn thấy đàn bướm trên bức tường tranh cãi đánh lộn, có con rơi trên mặt đất. Không nhịn được nhà vua lại cười lên. Phu nhân thắc mắc hỏi:
- Đại vương cười gì vậy ?
Nhà vua vẫn không trả lời, mỗi lần hỏi nhà vua đều không trả lời, phu nhân ấm ức nói:
- Nếu đại vương không nói cho thần thiếp biết tại sao Ngài cười như vậy, thần thiếp sẽ tự sát.
Nhà vua nói:
- Vậy đợi trẫm đi về sẽ nói cho hoàng hậu nghe.
Nhà vua ra khỏi hoàng cung.
Vua rồng biến ra hàng trăm con dê đi qua sông. Một con dê mang thai gọi chồng mình :
- Ông nhanh trở lại đón tôi với.
Dê đực nói:
- Tôi mệt rồi, không thể quay trở lại đưa bà qua sông.
Dê Cái nói:
- Nếu ông không đưa tôi qua sông, tôi sẽ tự sát Ông không thấy quốc vương vì đàn bà mà chết hay sao ?
Dê đực nói:
- Vị quốc vương đó quá ngu si mới chết vì nữ nhân, bà muốn chết thì cứ chết, bà nghĩ rằng bà chết rồi tôi sẽ không có vợ khác à?
Nghe được câu chuyện giữa dê đực và dê cái, nhà vua nghĩ thầm: “Ta là vua một nước, chẳng lẽ không thông minh bằng một con dê?”
Khi nhà vua về đến hoàng cung, phu nhân nói:
- Nếu đại vương không nói cho thần thiếp nghe, thần thiếp sẽ tự sát.
- Nếu nàng tự sát thì cũng tốt. Trong cung có biết bao nhiêu cung tần mỹ nữ, ta đâu cần đến nàng.
Kệ rằng:
Ân ái muôn ngàn chủng loại,
Đều do si tâm làm ra.
Chữ tình không phá được,
Sanh tử khó thoát ra.
(Cựu Tạp Thí dụ kinh )
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Sau khi hiểu tiếng chim thú, nhà vua mới hiểu rõ cái tâm tham si của mình, phải vượt ra ngoài thế gian, quan sát tình cảm của nhân loại, mới có thể không tham luyến chấp trước, như thế cảnh giới mới tự nhiên rộng mở thênh thang trước mặt mình.
Tế cây biến dê
Khi Đức Phật còn tại thế, có một ông già, gia đình rất giàu có. Vì để giữ gìn gia sản, ông thường lễ bái cầu thần linh gia hộ và phát nguyện ăn chay trường, không sát sanh.
Một ngày nọ, ông lão bỗng nhiên thèm ăn thịt, nhưng nghĩ đến lời nguyện của mình không dám sát sanh. Vì thế ông nghĩ ra một cách, kêu mấy đứa con đến bên bờ ruộng, chỉ cái cây ở đầu ruộng nói với đám con trai rằng:
- Nhà chúng ta may có chút sản nghiệp, tiền của dồi dào, đều nhờ vị thần cây ban phước. Các con hôm nay bắt một con dê giết để tế thần cây.
Đám con trai nghe lời, lập tức giết một con dê tế thần cây, và ở dưới gốc cây xây một cái miếu, dùng để hàng năm tế thần. Còn thịt dê thì ông lão và các con của ông chia nhau ăn.
Qua vài năm, ông lão qua đời, vì kiếp trước tạo nghiệp, sau khi chết đầu thai thành một con dê trong đám dê của gia đình mình.
Một ngày nọ, mấy đứa con trai lại nghĩ đến việc tế thần cây, họ chọn một con dê trong đám dê chuẩn bị giết để tế thần. Thật không ngờ đến con dê đó tức là cha của họ. Đám con trai cột chặt con dê, chuẩn bị để giết thì con dê bỗng nhiên nói:
- Cây này không có thần linh gì cả, ta xưa kia vì muốn ăn thịt mới thêu dệt lên câu chuyện, kêu các con giết dê tế thần rồi ta và các con cùng ăn thịt, không ngờ ta trả nợ sớm hơn các con.
Lúc đó có một vị La hán đến hoá duyên, dùng sức thần thông của Ngài khiến cho đám con thấy được người cha chuyển kiếp làm dê. Đám con biết được sự tình vô cùng áo não, lập tức đốn bỏ “cây thần”, từ đó sám hối ăn năn làm các điều lành, không còn dám sát sanh nữa.
(Tế thần cây – Tạp Bảo tạng kinh)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Trên đời này có những hạng người vô tri như vậy, gặp phải ruộng phước Tam bảo không chịu bố thí, còn đối với đình miếu quỷ thần, lại vui vẻ kiến tạo xây dựng. do vì mắt tuệ chưa khai mở mà thôi. Họ nào hay suy nghĩ đến điều nhân quả báo ứng, từ đó về sau, lớn thì heo, dê, nai, thỏ, nhỏ thì gà, vịt, cá, tôm, đều bi thương mà chết dưới lưỡi dao, vùng vẫy lăn lộn trong nồi nước sôi không biết là bao nhiêu mà kể. Gây tạo nghiệp sát vô lượng như vậy, thật là thiên đường chưa đến mà địa ngục đã vào trước.
Có câu: “Giới là căn bổn của vô thượng bồ đề”, đã tin phụng Phật pháp thì cần phải nghiêm trừ giới luật, việc không nên làm, nếu làm thì phạm giới. Nếu người nào muốn khai mở giác tánh thành Phật của mình thì đầu tiên cần phải lấy giới luật làm phép tắc căn bổn của chính mình.
Ăn trộm
Ngày xưa, có một người ở trong núi vắng, quanh năm không thấy bóng người, cuộc sống vô cùng đạm bạc.
Một ngày nọ, có người thợ săn đi tìm thú rừng, tìm đến nơi đây. Anh ta kể cho người này nghe rằng cuộc sống ở thành thị phồn hoa vui sướng như thế nào. Người này nghe xong, sanh lòng hâm mộ cuộc sống ở thị thành.
Rốt cuộc, một ngày nọ, người này trèo núi xuyên rừng đến một đô thị, nhìn thấy khắp đô thị đâu đâu cũng là nhà cao cửa rộng, nam nữ ăn mặc thanh lịch sang trọng, món ăn đều là sơn hào mỹ vị, cảm thấy người ở đây thật là quá hạnh phúc. Nghĩ đến mọi người đều sống vô cùng vui sướng như thế, còn mình lại không có một thứ gì, phải làm sao đây? Người này bèn nhân lúc tối trời lén vào hoàng cung trộm lấy y phục của nhà vua. Sau khi vụ trộm bị phát giác, nhà vua bèn phái nhiều binh lính đến khắp nơi điều tra, chỉ vài ngày sau bắt được tên ăn trộm đưa tới nhà vua thẩm vấn. Người này biện bạch không thừa nhận y phục này là đã lấy trộm của vua, còn nói đây là y phục do tổ tiên của mình để lại. Nhà vua nói:
- Nếu đã là y phục của tổ tiên để lại thì nhà ngươi thử mặc xem sao.
Trước mặt nhà vua, người này dùng đủ mọi cách để mặc bộ y phục, nhưng làm cách nào cũng không mặc được. Người này đem món đang mặc trên cánh tay mà mặc dưới chân, đem món đang mặc ngang lưng bụng mà mặc lên trên đầu.
Nhà vua nhìn thấy tình cảnh như thế không nhịn được cười lớn nói:
- Ngay mặc cũng không biết, còn nói là y phục của tổ tiên để lại. Quân đâu đem nó giam vào trong nhà lao.
Như thế người này bị nhà vua bắt giam vào trong ngục tối.
(Trộm áo trong kho vua – Kinh Bách dụ )
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Sanh ra ở cõi đời này, có người giàu sang, có người nghèo khổ, phú quý bần tiện không giống nhau, cách sống cũng không giống nhau, phước báo và nghiệp báo của mỗi người cũng không đồng. Cuộc sống trong núi rừng có sự lạc thú và hưởng thụ của nó, cuộc sống đơn thuần đơn giản trong núi rừng chưa chắc không phải là một cuộc sống tươi đẹp. Không nên nhắm mắt hâm mộ ưa thích cuộc sống của người, không nên làm nô lệ cho vật chất, thậm chí có những hành vi trộm cắp. Nên biết sự hưởng thụ do trộm cắp đem lại rốt cuộc chỉ là một giấc mộng hư huyễn, phải bị trừng phạt. Trong cuộc sống hiện thực, giống như người trộm y phục rất nhiều, loại người này có một bệnh chung là “Ưa nói xạo”. Có người vì danh, có người vì lợi, cho nên mất đi lý trí. Thật là bi ai.
Quá tham không lợi
Có hai con quỷ lượm được một cái rương, một cây gậy và một đôi guốc. Chúng đều muốn chiếm riêng làm của mình nên tranh chấp mãi không thôi.
Lúc đó có người đi ngang nhìn thấy hai quỷ tranh chấp bèn hỏi rằng:
- Ba món đồ này có công dụng gì mà các ngươi tranh nhau dữ vậy?
Hai quỷ trả lời:
- Cái rương này có thể biến ra đồ ăn thức uống, y phục mùng mền cho đến vàng bạc châu báu. Còn cây gậy này, nếu cầm nó trong tay thì hết thảy địch thù đều quy phục, không dám chống cự. Đôi guốc này mang vào thì có thể đằng vân, muốn đi đến đâu thì lập tức sẽ bay đến đó.
Người này nghe xong bèn bảo với hai quỷ rằng:
- Các ngươi hãy tránh xa một chút, tôi sẽ phân xử công bằng cho.
Hai quỷ nghe theo lời của anh tránh ra nơi khác.
Người này bèn lập tức ôm cái rương, tay cầm gậy, chân mang đôi guốc bay lên không trung, rồi từ trên không trung nói với hai quỷ rằng:
- Nay thì các ngươi có thể bình an rồi, vì không có gì để tranh chấp nữa.
Hai quỷ nghe rồi vô cùng áo não vì mất của nhưng không làm gì được anh ta.
(Hai quỷ tranh vật – Kinh Bách dụ )
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Bố thí giống như rương báu, tất cả sự hưởng dụng vật chất của người đều do phước báu của lòng nhân thiện bố thí đem lại; thiền định như gậy báu, tu thiền định có thể hàng phục oán tặc phiền não; trì giới như đôi guốc báu, trì giới luật thanh tịnh, có thể sanh vào cõi trời cõi người.
Hai con quỷ trong chuyện ví dụ cho tà ma, ngoại đạo, trong pháp hữu lậu miễn cưỡng tìm cầu phước báu, kết quả là không có được một thứ gì. Chỉ có nhất tâm nhất ý tu các điều lành và bố thí, trì giới, thiền định, mới có thể thoát ly biển khổ, chứng đắc đạo quả.
Hai con quỷ trong câu chuyện vì quá tham lam, kết quả lộ ra nhược điểm mới bị người lợi dụng, khiến mình cuối cùng không có được món gì. Vì thế xin khuyên người đời, chớ vì lợi ích của cá nhân mình mà tranh chấp lẫn nhau, cuối cùng 2 bên đều thương tổn, mà để cho kẻ thứ 3 được lợi.
Keo kiệt thành bần cùng
Ngày xưa, có người nhà giàu tên là Y Lợi Sa, tuy rất giàu có nhưng bản tính lại vô cùng bủn xỉn keo kiệt. Hàng ngày không những một xu cũng phải chia làm hai để tiêu xài, mà ngay cả một chút lợi nho nhỏ bằng hạt mè cũng không muốn cho kẻ khác, ngay cả cuộc sống hàng ngày của mình cũng rất khắt khe. Mặc thì toàn y phục rách nát chỉ có thể che thân, vá cũng không dám vá, ăn toàn gạo tấm vụn nát, đồ ăn ươn thối, không có chút dầu mỡ béo bổ.
Y Lợi Sa có một người hàng xóm, gia cảnh tuy không giàu có, nhưng ngày ngày đều ăn cá ăn thịt, cứ năm bảy ngày thì mời bạn bè đến tiệc tùng, cuộc sống vô cùng vui sướng.
Y Lợi Sa thấy như vậy, rất không phục, nghĩ thầm: “Ta giàu có hơn nó biết bao nhiêu lần, mà nó thì hàng ngày sống như vua vậy, tự do sung sướng còn ta thì gian nan khổ cực, thật là không hợp lý, phải thay đổi hoàn cảnh mới được”.
Sau khi nghĩ như vậy, Y Lợi Sa bèn làm một quyết định vĩ đại, giết một con gà, lại đong một lít gạo trắng, dự định sẽ ăn một bữa cơm ngon lành. Đang chuẩn bị nướng gà, Y Lợi Sa bỗng nhiên do dự, nghĩ rằng: “Ta nướng thịt gà, mùi thơm bay lên sẽ bị hàng xóm ngửi được, thì làm sao đây? Nếu có người đến hoá duyên, thì càng khó xử hơn”.
Nghĩ tới nghĩ lui, bèn nghĩ ra một cách. Anh ta đánh xe đến một chỗ hoang vu không người không khói, sau đó nấu cơm, nướng thịt gà để ăn một bữa cho đã đời.
Hành vi của Y Lợi Sa đều bị Đế Thích nhìn thấy, liền biến thành con chó đến bên cạnh anh ta, hít hít lỗ mũi, lè lưỡi, chảy nước miếng, đi chung quanh Y Lợi Sa như muốn xin đồ ăn.
Y Lợi Sa nhìn thấy con chó quá đáng ghét, làm cho mình ăn không vô, bèn nghĩ ra cách đuổi con chó đi. Anh ta đứng lên giả bộ rộng rãi nói với chó rằng:
- Ngươi muốn ăn đồ ăn của ta, không sao, nhưng mà ngươi phải đáp ứng một điều kiện: Nếu ngươi có thể đưa bốn chân lên trời, thân mình bay lên ngừng giữa hư không. Ta có thể thưởng cho ngươi một chút thức ăn.
Không ngờ con chó lại gật đầu, nó đưa bốn chân lên trời, bay lên và ngừng ở giữa hư không.
Y Lợi Sa giật mình, muốn phân chia cho chó chút thức ăn, nhưng quá đau lòng. Nên anh ta giả bộ dáng điệu rộng rãi nói với chó rằng:
- Bốn chân hướng lên trời, thân hình nằm ở giữa hư không thật ra thì con chó nào cũng đều biết làm cả, ta đây chỉ muốn thử xem ngươi có muốn ăn đồ ăn của ta không ? Nếu ngươi thật sự muốn ăn đồ ăn của ta thì hãy móc cặp mắt quăng trên mặt đất thì ta sẽ cho đồ ăn.
Lời nói vừa xong thì cặp mắt của con chó đã rơi trên mặt đất. Lúc đó Y Lợi Sa mừng nghĩ rằng: “Như thế ngươi có thấy gì đâu mà đòi ăn”.
Anh ta lập tức dọn hết cơm và thịt gà đi chỗ khác thật xa mới an tâm ngồi lại ăn thật no nê. Từ khi cha sinh mẹ đẻ cho tới nay, chưa được ăn một bữa ngon như thế này. Vua trời Đế Thích nhìn thấy anh ta bủn xỉn, keo kiệt như vậy thật đáng ghét, phải trừng trị anh ta một trận cho biết.
Đế Thích biến thành Y Lợi Sa, lấy xe anh ta về nhà. Vừa về tới nhà bèn bảo người canh cửa rằng.
- Nếu có người mạo nhận ta đến đây thì phải đánh đuổi không cho vào nhà.
Nói xong liền vào nhà đem tài sản mà Y Lợi Sa bao nhiêu năm cực khổ tích luỹ phân phát bố thí cho người nghèo, lại thưởng tiền bạc cho cả trăm người giúp việc và cho họ trở về nhà của họ.
Nhìn thấy người bình thường vốn bủn xỉn từ xưa đến nay, bỗng nhiên phát đại thiện tâm, mọi người đều kinh ngạc, sau đó hết lời xưng tụng.
Lại nói đến Y Lợi Sa, ăn xong cơm, tâm ý thoả mãn rồi bèn trở về đến chỗ để xe thì không còn thấy xe đâu nữa, khiến anh ta vừa giận vừa nóng ruột, tìm suốt cả ngày không thấy cuối cùng chỉ đành đi bộ về nhà. Đến cổng, người giữ cửa ngăn lại không cho anh ta vào. Anh ta nổi giận lôi đình hét lớn
- Đồ khốn nạn, làm sao ngay cả chủ của ngươi mà ngươi không nhận ra. Nếu không nể tình ngươi ở đây làm việc mười mấy năm, ta nhất định sẽ trừng trị ngươi! Lần này chỉ trừ vào tiền lương, lần sau không dễ dàng bỏ qua cho ngươi như vậy đâu.
Người gác cổng nghe rồi bèn cười giễu rằng:
- Hèn gì ông chủ dặn dò, bảo chúng ta phải đánh đuổi người nào đến đây mạo nhận ông chủ, nay thật có người dám đến mạo nhận là ông chủ.
Vì thế bất kể Y Lợi Sa thét gào như thế nào, người giữ cửa không chút nể nang dùng gậy đuổi ra khỏi nhà.
Y Lợi Sa nhìn thấy tài sản mà mình nhịn ăn, nhịn mặc, cực khổ dành dụm bao lâu nay bị đem hết cho người nghèo, tức giận đập đầu, đập ngực, kêu trời kêu đất đau thương không muốn sống nữa, nhưng không ai thông cảm thương xót. Vì quá tức giận nên hoá điên, tài sản không còn một thứ gì Y Lợi Sa chỉ đành trên đường phố xin ăn sống tạm qua ngày tháng.
(Cựu Tạp Thí dụ kinh)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Bủn xỉn keo kiệt như Lợi Sa, thật là ít thấy. Kết quả là trời giận người hờn, khiến mình trở thành kẻ nghèo khổ đi xin ăn. Mục đích tích chứa tiền của là để cho mình có cuộc sống thoải mái, tiện nghi, nhưng chỉ biết quá tiết kiệm keo kiệt khiến cuộc sống của mình khó khổ nghèo đói như người ăn mày, giống như bỏ gốc đi tìm ngọn, không biết là mình đang làm cái gì.
Trọng giàu khinh nghèo
Nước Trúc Xoa Thi La có một thôn làng tên là Bác La Hu La, làng này có một thương nhân, tên là Xưng Già Bạt Tra, ông ta xây dựng một ngôi chùa đến nay vẫn còn. Xưng Già Bạt Tra vốn là con trai của một ông trưởng giả, tiền của dồi dào, sản nghiệp giàu có, sau đó nhà cửa làm ăn thất bại, trở thành nghèo khó, khi nghèo khó thì bà con thân thích đều khinh thường, không xem như bà con thân thuộc nữa. Buồn giận, anh bèn bỏ nhà ra đi làm bạn với một đám thương buôn, đến nước Tần. Anh ta ở nước Tần khổ cực buôn bán kiếm rất nhiều tiền của bèn lên đường trở về nước. Lúc đó những người bà con nghe nói anh làm ăn phát tài giàu có đều cùng nhau dọn những món ăn vật uống, hương hoa, kỹ nhạc bên vệ đường nghênh tiếp anh. Xưng Già mặc một bộ đồ bình thường, đi trước đám thương nhân. Xưa kia nghèo khổ, tuổi còn nhỏ, nay thành gia lập nghiệp đã già đi nhiều rồi nên bà con thân thích đi đón anh ta không nhận ra anh nữa, còn nắm lấy anh hỏi rằng:
- Xưng Già ở đâu?
Anh đáp:
- Ở phía sau.
Thân thích liền chạy đến sau đám thương nhân hỏi:
- Xưng Già ở đâu?
Đoàn thương nhân trả lời:
- Người đi phía trước là Xưng Già.
Bà con thân thích tìm được Xưng Già liền hỏi:
- Ông là Xưng Già, tại sao lại nói với chúng tôi ông ở phía sau?
Xưng Già trả lời:
- Xưng Già không phải là tôi, ông ta là những món đồ trên lưng lạc đà và những con lạc đà trong đoàn. Tại sao nói như vậy? Nếu tôi đơn độc trở về, bà con nhất định khinh thường, ngay cả nói chuyện cũng không thèm nói. Nhưng nay được biết tôi có nhiều tiền của, quý vị tranh nhau đón tôi. Cho nên tôi nói Xưng Già ở trên những con lạc đà ở phía sau.
Bà con thân thích nghe nói vậy vô cùng xấu hổ, nói:
- Ông nói gì vậy, chúng tôi không hiểu!
Xưng Già trả lời:
- Khi tôi nghèo khổ, nói chuyện với quý vị quý vị cũng không để ý đến, nay nhìn thấy tôi phát tài liền bày những thức ăn món uống trên đường để đón tiếp tôi. Quý vị không phải đón tiếp tôi mà đón tiếp những món tiền của châu báu này.
Kệ rằng:
Buồn cho người đời hiểm ác,
Phần đông chạy theo thế lực.
Khinh ta vì ta nghèo khó,
Trọng ta vì của cải ta.
(Đại Trang nghiêm kinh luận quyển 15)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Có câu: “Trước khinh sau cung kính” là nói về thái độ của bà con quyến thuộc đối với sự bần cùng hay thành đạt của một người. Phàm phu tục tử đều có tâm lý hoặc lộ rõ ra hoặc dấu kín, đó là khinh nghèo trọng giàu. Như người ta thường nói, nghèo tại thành thị không ai hỏi, giàu ở sơn lâm có kẻ tìm.
Thân thích là mối chân tình ở nhân gian, cần phải giữ gìn và xem trọng mối thân tình này, nên phá trừ lòng tham luyến tiền bạc, nên xem trọng tình nghĩa, thành tâm đối đãi với người, nhiệt tình giúp đỡ lẫn nhau, đó mới là đạo làm người.
Không đức mất vật báu
Có một người rất nghèo, nhưng không muốn lao động kiếm tiền, suốt ngày chỉ sống trong huyễn tưởng, cầu nguyện thần linh gia hộ cho mình phát tài. Anh ta nhìn thấy người ta đến đình miếu tế bái thiên thần để cầu cho gia đình hạnh phúc, con cháu đầy nhà, tiền của dồi dào, bèn cũng đi đến miếu tế bái thiên thần.
Anh quá nghèo, trong nhà không kiếm được món gì tế bái thần linh, bèn đi xin ăn, khó khăn lắm mới chuẩn bị được một chút lễ vật, đi đến miếu tế bái cầu nguyện. Anh quỳ trên mặt đất, nghĩ đến hoàn cảnh nghèo khổ khó khăn của mình, lệ rơi lả tả. Anh thành kính dập đầu xuống đất lễ bái thần linh, cứ niệm mãi:
- Cúi mong các vị thần đại từ đại bi ban cho con tiền của vàng bạc.
Anh cúng vái lần này rồi lễ bái lần khác, nhưng tiền của vẫn không có. Anh không nản lòng, vẫn tiếp tục đi mượn đồ, đi xin ăn đem về cúng tế thiên thần. Anh tin rằng tâm thành thì tự nhiên có cảm ứng. Anh thành tâm thành ý cúng bái 12 năm, không bao giờ gián đoạn, một lòng mong mỏi mộng ước của mình thành sự thật.
Thấy anh thành tâm tha thiết, Thiên thần thương xót hiện ra chơn thân, hỏi:
- Mười hai năm nay, ngươi không ngừng lễ bái cúng tế cho ta, ngươi mong muốn ta giúp nhà ngươi cái gì?
- Con hy vọng con muốn gì được nấy.
- Ta sẽ cho ngươi được như nguyện ước.
Thiên thần bèn tặng cho anh một món bảo bối, gọi là “bình đức”, nói :
- Chỉ cần ngươi lắc bình này 3 lần thì những gì ngươi muốn sẽ từ trong bình này biến ra.
Nhận được bình thần anh ta mừng vui khôn xiết, quên cả cám ơn thiên thần, khi nhớ lại thì thiên thần đã biến mất.
Anh cầm cái bình lên nghĩ rằng: “Cái bình này chẳng lẽ lại có sức thần kỳ như vậy sao? Để ta thử xem”. Lúc đó anh đang đói, bụng kêu rột rột, bèn lắc cái bình 3 lần nói:
- Hãy biến ra cho ta những thức ăn ngon nhất trong thiên hạ.
Lập tức trên cái bàn hư cũ của anh, bày đầy những sơn hào hải vị. Anh mừng quá múa men tay chân, nói:
- Bảo vật này thật đúng như lời thiên thần! Nay ta muốn gì sẽ được cái nấy.
Vì quá đói anh ăn ngốn ngấu, nhìn thấy những thức ăn trên bàn vẫn còn mà mình đã no quá rồi, anh cảm thấy quá đầy đủ.
Nhưng qua một lúc anh lại không thoả mãn. Chỉ ăn no chưa đủ, còn phải mặc ấm nữa. Anh bèn lắc cái bình yêu cầu những y phục tốt nhất trên cõi đời này. Bình thần lại hiện ra các thứ y phục tốt đẹp. Nhìn thấy biết bao nhiêu y phục mới xinh đẹp trên chiếc giường cũ của mình, anh vẫn chưa thoả mãn, yêu cầu bình thần cho giường mới, nhà mới…
Anh trở thành một người giàu có xa gần đều biết tiếng, chỉ cần anh muốn thứ gì thì được thứ đó. Vàng bạc châu báu mọi thứ đều có, đình đài lầu cát san sát với nhau, ngựa xe người hầu tiền hô hậu ủng, mời khách tặng quà ứng tiếp không ngớt.
Người hàng xóm trước kia hiếu kỳ hỏi:
- Xưa anh nghèo rớt mồng tơi, mà nay sao lại giàu như vậy?
Anh đắc ý lắc lắc cái đầu, ngạo mạn nói:
- Do ta tế thần thành tâm, thiên thần ban cho ta một cái bình thần, ta muốn thứ gì thì bình thần biến ra thứ đó, cho nên ta mới trở nên giàu có như vậy.
Anh ta chỉ vào y phục trên mình và những thứ chung quanh nói:
- Những thứ này đều là bình thần biến ra cho ta!
Người hàng xóm không tin nói:
- Cái bình này làm sao có thể chứa được nhiều món đồ như vậy, nếu muốn chứa được nhiều đồ như vậy thì phải rất lớn, trên đời này làm gì có cái bình như vậy?
Thấy láng giềng không tin anh ta bèn cầm cái bình ra nói:
- Bình thần không lớn, nhưng mà muốn cái gì thì hiện ra cái nấy.
Người hàng xóm nửa tin nửa ngờ nhìn cái bình nói:
- Vậy ông hãy bảo nó biến ra một cục vàng.
- Đừng nói một cục vàng, mà một núi vàng cũng có thể biến ra được, nhìn đây!
Anh lắc cái bình 3 lần, lập tức một khối vàng lấp lánh hiện ra ở trên bàn. Người hàng xóm nhìn sửng không chớp mắt, cầm khối vàng lên cắn một miếng rồi nói:
- Vàng thật, là vàng thật!
- Còn phải giả? Toàn đều là vàng ròng.
- Có thể biến ra một cô gái đẹp được không?
- Đương nhiên được, muốn 1000 cô gái đẹp cũng được.
Anh ta lập tức lắc cái bình, trong chớp mắt, một cô thiếu nữ đẹp như tiên sa cá lặn xuất hiện ở trong nhà. Người hàng xóm vỗ tay cười nói:
- Thật là một cái bình quý báu! Ông có cái bình này thì muốn gì được nấy!
- Đương nhiên rồi!
Anh ta vô cùng đắc ý:
- Có cái bình báu này thần tiên cũng phải hâm mộ, ta là người giàu có nhất trong cõi đời này.
Nói xong, anh múa tay múa chân nhảy đến ôm cô gái đẹp. Cô gái nhẹ nhàng tránh qua một bên, anh ôm vào khoảng không, may nữa té xuống đất:
- Tất cả đều thuộc về ta, ngươi cũng là của ta.
Anh lại chồm vào cô thiếu nữ. Người thiếu nữ nhìn anh vẫy tay nói:
- Lại đây.
Rồi chuyển mình một cái, cô núp sau bình phong, anh đập đầu vào tấm bình phong, lỡ tay bình thần rớt xuống bể ra thành từng mảnh nhỏ. Theo tiếng âm thanh bể vụn của cái bình, trong nhà bốc lên một làn khói mịt mù. Khói mây tan hết thì tất cả đều tiêu mất: nhà cửa, áo mới, xe ngựa, người đẹp, vàng bạc, người hầu… không còn một thứ gì. Trên cái ghế xiêu vẹo trong ngôi nhà cũ, anh hàng xóm vẫn còn ngồi trên đó, còn anh ta áo quần rách nát như trước, nằm trên mặt đất kêu: “Ai da, ai da, đau đầu quá!”
(Phá huỷ bình đức – Thích thị yếu lãm)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Tham lam chỉ khiến cho mình mất tất cả những gì mình có, bình thần tên là “bình đức”, tức là ý nói người nào có đức mới có thể hộ trì giữ gìn vật báu này, nhưng mà người làm biếng không có đức, lòng tham không đáy, vì thế không thể có được vật báu này, còn “đức” tức là vật báu của chúng sanh.
Đổi mũi cho vợ
Ngày xưa, có người lấy một cô vợ rất xinh đẹp, chỉ có tội là cái mũi rất xấu.
Một lần nọ, anh chồng ra ngoài thấy một cô gái rất đẹp, chẳng những dung mạo xinh đẹp, mà lỗ mũi càng dễ thương, vì thế anh ta nảy ra ý định: “Lỗ mũi cô gái này thật là xinh đẹp, nếu ta cắt mũi của cô này về thay cho vợ, có phải vợ ta sẽ hoàn toàn xinh đẹp không?”
Anh nắm chặt người con gái, dùng dao cắt mũi của cô này rồi vội vàng đem về nhà, kêu người vợ ra nói
- Nhanh lên! Nhanh lên! Anh thay cho em lỗ mũi rất đẹp.
Nói xong liền cắt lỗ mũi của người vợ và chắp cho vợ mình cái mũi đẹp ấy, nhưng bất luận là dùng cách nào cũng không thể thay mũi cho vợ mình được. Rốt cuộc, không ráp được mũi mà người vợ lại bị mất mũi càng thêm xấu xí khó coi.
Như thế anh vừa cắt mũi của cô gái khác, vừa cắt mất mũi của vợ mình, không có ích lợi gì, mà còn khiến cho hai cô gái phải chịu sự đau khổ vô ngần.
(Đổi mũi cho vợ – Kinh Bách dụ)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Người đời nghe nói các vị Tăng sĩ tuổi lớn, đạo cao đức trọng, được người ta tôn kính cúng dường, bèn nghĩ rằng: “ta nay cũng phải được như các Ngài”, thế là tự khoe khoang, không chút hổ thẹn, tự cao tự đại nói rằng mình có đức hạnh hơn người. Làm như thế chẳng những đã không được danh lợi như mình mong cầu, mà còn làm hại đến phẩm hạnh của mình nữa.
Như cắt lỗ mũi của người khác không thể gắn lên mặt của vợ mình, chỉ làm tổn thương diện mạo vốn có.
Không có thước tấc không thành món đồ vuông tròn, mọi việc đều có định luật của nó. Chỉ biết sự mong ước của mình mà không tôn trọng thực tế khách quan, rốt cuộc chỉ là lòng tốt làm việc xấu, nhìn thấy người có món đồ quý đẹp bèn bất kể tất cả, muốn chiếm món đó làm của riêng mình, cũng không suy nghĩ mình có thể sử dụng được chăng, lòng tham càng lớn, sự tổn thất càng nhiều.
Tham tài hoá rắn
Ngày xưa, nước Ba La Nại có một người rất ham vàng. Mỗi ngày trời vừa hừng sáng, anh ta liền siêng năng đi khắp nơi làm việc kiếm tiền, không dám nghỉ ngơi. Tất cả tiền bạc cực khổ kiếm được đều dùng mua vàng là thứ anh thích nhất. Tiền kiếm được càng ngày càng nhiều thì số vàng càng ngày càng nhiều. Từng miếng vàng nho nhỏ không thể thoả mãn lòng tham muốn, vì thế anh đem tất cả số vàng đúc thành một cái bình vàng, mỗi ngày đều đem cái bình vàng ra ngắm nghía, không muốn rời tay.
Mỗi ngày đều bỏ rất nhiều thời gian ngắm nghía cái bình vàng nên sự tham ái đối với bình vàng càng ngày càng sâu. Dần dần, cái tâm thưởng thức bình vàng chuyển thành lo lắng – sợ người trộm bình vàng. Vì thế anh bèn ở trong nhà lén đào một cái hầm bí mật giấu bình vàng vào trong đó không cho ai hay biết. Sau khi có được một bình vàng, anh ta lại muốn có nhiều bình vàng, vì thế lại càng đem sức mình làm việc kiếm tiền, không dám nghỉ ngơi đôi phút, lại nhịn ăn nhịn mặc, một xu cũng không dám tiêu xài. Tiền kiếm được đều đem đi đổi vàng, lại đúc thành một bình vàng. Như thế, quên ăn quên ngủ làm việc, dần dần bình vàng tăng đến bảy cái, nhưng ngày đêm lao lực, sức khoẻ của anh càng ngày càng yếu. Sức khoẻ suy nhược của anh không kham nỗi việc nặng nhọc như thế, cuối cùng anh chết đi sau một cơn bệnh nặng.
Do vì sự tham ái bình vàng, nên sau khi chết đi bèn đầu thai thành một con rắn độc quanh quẩn trong hầm chứa vàng. Hàng ngày quyến luyến bảy bình vàng này không rời, vì thế sự tham chấp bình vàng càng sâu nặng. Khi mạng chung, rắn lại chuyển sinh làm thân rắn, cứ như thế đời này qua đời khác đều chuyển sinh làm thân rắn để canh giữ bảy bình vàng trong hầm mà không được sanh lên nhàn cảnh.
Hàng vạn năm trôi qua, người tham vàng vì tâm niệm tham luyến bình vàng mà mãi tái sanh làm thân rắn, ngày này qua ngày khác, rắn cứ loanh quanh trong cái hầm giấu vàng.
Một ngày nọ, cuối cùng đối với cuộc sống và thân rắn cứ mãi không thay đổi này vô cùng mệt mỏi, sinh lòng chán ghét, nghĩ rằng: “Chẳng lẽ ta cứ mãi đời đời kiếp kiếp là thân rắn canh giữ mấy bình vàng này sao? Ta không thể như thế hoài được. Vì tham ái bảy bình vàng, đời đời kiếp kiếp sanh thân làm rắn độc. Ta không muốn làm thân rắn sống những tháng ngày như vậy nữa! Ta phải thay đổi cuộc sống của ta”.
Vì thế rắn độc bèn rời khỏi cái hầm mà mình đã canh giữ vạn năm, bò ra vệ đường, ẩn thân vào trong đám cỏ. Nó phát hiện có người đến gần đám cỏ bèn phát xuất âm thanh để gợi sự chú ý của người đi đường. Người đi đường nghe có tiếng động bèn dừng lại nhìn chung quanh xem âm thanh xuất phát từ đâu, nhưng không nhìn ra tung tích lại cất bước đi, rắn thấy thế nóng ruột bò ra khỏi bụi cỏ, nói với người đi đường rằng:
- Xin ông đến gần một chút, tôi có việc muốn nhờ ông giúp đỡ.
Người đi đường nghe tiếng rắn độc nói giật mình hỏi:
- Ngươi kêu ta đến gần là muốn hại ta chăng?
- Nếu tôi muốn hại ông, ông đến gần mới có thể hại được sao? Phiền ông đến gần tôi một chút.
Nghe rắn độc nói như thế, người đi đường tuy lo sợ nhưng cũng phải đi đến gần rắn. Rắn bèn nói ý định của mình là muốn đem một bình vàng cúng dường Tăng chúng, mong người đi đường giúp nó thành tựu công đức này. Nghe tâm nguyện của rắn, người đi đường rất tán thán khen ngợi, bèn nhận lời giúp đỡ.
Người đi đường theo lời hứa đến chỗ của rắn và gánh con rắn cùng với bình vàng đi đến chùa. Giữa đường có người thấy cảnh tượng người gánh rắn nên cảm thấy hiếu kỳ bèn hỏi người gánh rắn đi đâu vậy? Nhưng người đi đường lại kiêu ngạo không thèm trả lời.
Rắn độc nhìn thấy thái độ kiêu ngạo của người đi đường, không vui, khởi lên lòng sân giận, độc tâm càng bộc phát, định nhả độc phun chết người này, nhưng sau đó lại nghĩ: “Người đó tuy có lòng kiêu ngạo nhưng có ân đối với ta, mình không thể vì sự sân giận mà đem oán đáp ân”. Vì thế, dằn xuống lửa giận. Đi đến chỗ không người, rắn bèn nghiêm khắc trách người đi đường:
- Lòng kiêu ngạo vừa rồi của ông trái ngược với đạo từ bi.
Người đi đường nghe xong vô cùng hối hận, lập tức phát nguyện bỏ đi tâm kiêu ngạo, từ bi khiêm nhường đối đãi với mọi người.
Sau khi đến chùa, người đi đường bèn đem tâm nguyện của rắn trình bạch với các vị pháp sư trong chùa, các vị này vô cùng tán thán, không những nhận sự cúng dường mà còn khai thị Phật Pháp cho rắn nghe:
- Bố thí cúng dường được phước báu giàu sang, keo kiệt bỏn sẻn thì đoạ làm loài quỷ đói. Giữ giới thanh tịnh được sanh vào cõi trời, cõi người vui hưởng mọi sự lành. Thấy Đức Phật và Tăng chúng sanh tâm hoan hỷ chiêm ngưỡng lễ bái thì được thân tướng đoan nghiêm xinh đẹp.
Rắn độc nhìn thấy Tăng chúng thanh tịnh, lại được nghe Phật pháp cam lồ, tâm khai ý giải, trong lòng vô cùng mát mẻ, hoan hỷ, sinh tâm tinh tấn bố thí, quyết định cúng dường các bình vàng còn lại, nên thỉnh một vị Tăng đi theo mình đến căn hầm bí mật lấy sáu bình vàng còn lại cúng đường Tăng chúng.
Vì công đức thanh tịnh thù thắng cúng dường Tăng chúng, nên sau khi rắn chết đi được sanh lên cõi trời Đao Lợi.
(Bảy bình vàng – kinh Hiền Ngu)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Chỉ vì quá tham luyến vàng, mà làm rắn độc ngàn năm, lại vì một niệm giác ngộ, khởi tâm thanh tịnh, thành tâm sám hối, cúng dường cho tăng chúng những bình vàng mà trước kia mình tham luyến không rời. Do thiện căn phước đức này mà diệt tội tiêu khiên, siêu sanh lên cõi trời Đao Lợi. Hai kết quả khác nhau quá xa như vậy là do thái độ đối với vàng khác nhau tạo thành: mê luyến thì đoạ, xả bỏ thì được siêu thoát. Câu chuyện này dạy cho ta bài học: có thể xả bỏ thì được an lạc, được tự tại.
Khỉ ác chết biển
Thuở xưa, trong khu rừng sâu xa xôi có một đám khỉ, tổ tiên của nó nhiều đời sinh sống ở đây. Trong rừng khí hậu ôn hoà, mỗi năm bốn mùa đều có trái cây ngon ngọt nuôi sống chúng. Nước suối chảy róc rách đem lại nước ngọt và cá tươi cho loài khỉ. Cuộc sống của chúng thật bình an và vui vẻ.
Trong đám khỉ có hai con khỉ chúa, mỗi khỉ chúa thống lãnh 500 con khỉ nhỏ. Một con khỉ chúa thì trung hậu hiền lành, quan tâm ái hộ thần dân nên được đàn khỉ tôn kính; còn con khỉ chúa kia thì hung hăng tàn bạo, cứ muốn nuốt luôn 500 con khỉ kia, tự mình thống trị thiên hạ, trở thành đại vương trong núi.
Một ngày nọ, khỉ chúa hung ác đem 500 con khỉ của mình tấn công đàn khỉ kia. Do vì đối phương đồng tâm hiệp lực, dũng mãnh chiến đấu cho nên nó bị đánh tơi bời, thảm hại chạy chốn.
Khỉ chúa ác vẫn không phục, chuẩn bị nuôi dưỡng tinh thần binh lính khỉ, để tấn công tiếp. Nó hướng dẫn đàn khỉ đi đến bên bờ biển, nhọc công suy nghĩ kế hoạch.
Lúc đó gió nổi lên, sóng cuồn cuộn đập vào hòn đá, làn sóng bị đập ra thành từng mảnh vụn và biến thành vô số bọt nước. Không bao lâu bọt nước trắng xoá, càng ngày càng nhiều, dần dần nhô lên giống như một hòn núi nhỏ. Đám khỉ ở trên bờ nhìn thấy cảnh tượng kỳ quan như vậy đều ngạc nhiên ngẩn cả người.
Con khỉ chúa vô cùng ngu xuẩn, nhìn thấy bọt nước càng ngày càng cao cho rằng là núi Tuyết, bèn nói với bầy khỉ rằng:
- Vận may của chúng ta đến rồi! Ta từng nghe nói trên biển có núi Tuyết, trên núi có vô số trái cây ngon ngọt, lại có pháp bảo có thể chiến thắng quân địch. Ta đi thám thính trước. Nếu trong nửa ngày mà ta không trở lại, tức là trong đó có đồ ăn rất nhiều, cuộc sống sung sướng vô cùng, các ngươi có thể đi theo ta. Nếu không phải như vậy ta sẽ trở về lập tức báo cho các ngươi hay.
Đàn khỉ gật đầu khen hay. Con khỉ chúa bèn trèo lên cây, không một chút do dự nhảy vào trong đống bọt nước, kết quả là chết chìm dưới đáy biển. Đàn khỉ trên bờ xoa tay xoa chân, nôn nóng chờ đợi, sau đó không đợi được nữa, chúng nó nhìn thấy khỉ chúa không trở lại nên cho rằng trong núi Tuyết nhất định có vinh hoa phú quý suốt đời hưởng thụ không hết, lại có những trái cây ngon ngọt, chúng ta mau mau đi theo khỉ chúa. Thế là cả bầy cùng nhảy vào trong bọt nước, cuối cùng là chết chìm dưới đáy biển.
(Khỉ thiện khỉ ác – Tạp Bảo tạng kinh)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Trên làm sao thì dưới bắt chước như vậy, khỉ chúa ác độc suốt ngày cứ nghĩ đến việc tranh hơn, giành phần thắng, lại ngu xuẩn vô tri, để đến nỗi một mạng ô hô chết chìm dưới đáy biển. Những khỉ con, khỉ cháu cũng học theo, cuối cùng cũng chôn vùi tánh mạng của mình trong biển cả. Đại khái như lời người ta thường nói “làm lành gặp lành, làm ác gặp ác”.
Di Lan kỳ ngộ
Thuở xưa, có 500 người thương nhân ra biển buôn bán, thủ lĩnh đoàn là Di Lan, là một người rất thông minh.
Trong biển có cá thần tên là Ma Kiệt, lật úp chiếc thuyền của đoàn thương nhân, khiến đoàn đều chết chìm trong biển cả, chỉ có Di Lan vớ được miếng gỗ, nên được sống sót. Anh ta bập bềnh theo con sóng, cuối cùng lên được bờ đến một chỗ tên Tỷ Ma.
Khi lên được bờ, anh đi vòng khắp nơi xem xét, rồi mới nghỉ ngơi. Sau đó, anh thấy một con đường mòn nhỏ bèn đi theo con đường này, từ đằng xa nhìn thấy trong rừng cây rậm rạp xanh um, có một toà thành bằng bạc, nơi đó có một con sông xinh đẹp bao bọc thành trì, có bốn cô thiếu nữ dung mạo tuyệt trần, đi ra thành đón tiếp, nói:
- Chàng đi đường cực khổ, chúng em rất hoan nghênh chàng đến đây. Đây là thành bằng bạc, trong có cung điện dùng bảy báu vàng ròng, bạc trắng, thuỷ tinh, lưu ly, san hô, hổ phách, xà cừ dựng xây. Chúng thiếp bốn người sẽ là người hầu của chàng, từ sáng đến tối đều nghe lời sai khiển, chỉ mong chàng đừng bỏ nơi này ra đi.
Di Lan bèn vào thành, sống cuộc đời muốn gì được nấy với bốn cô gái đẹp. Ở được vài nghìn năm, Di Lan nghĩ: “Những cô gái này không để cho ta yếu già chắc có nguyên nhân gì”. Nhân lúc bốn cô gái ngủ say bèn lén trốn ra đi.
Anh đi một hồi, từ đằng xa lại thấy có một thành bằng vàng, có tám cô gái xinh đẹp cũng bước ra nghênh đón như bốn cô gái trước vậy, nhưng tám cô gái này đẹp hơn bốn cô trước nhiều. Cung điện trong thành tên là Tiết Mạc do ngọc trai minh nguyệt tạo thành. Sự mỹ lệ đẹp đẽ còn hơn cung điện của bốn cô gái kia. Ở đây hàng vạn năm anh lại bắt đầu hoài nghi tám cô gái này không để cho anh già yếu nhất định là có lý do. Vì thế thừa cơ hội tám cô ngủ say bèn lén trốn đi.
Sau đó, anh lại thấy một toà thành bằng thuỷ tinh, lại có mười sáu cô sắc đẹp tuyệt trần đón tiếp anh, lời nói cũng giống như hai lần trước, mời anh vào thành, sự hoa lệ của toà thành và sắc đẹp của những cô gái này đều hơn những cô gái trước. Ở đây hơn vài vạn năm anh vẫn không thoả mãn. Vì thế thừa cơ các cô ngủ say lại bỏ đi.
Lần này anh gặp một toà thành bằng lưu ly, có ba mươi hai cô gái từ trong thành ra đón tiếp, cung kính phục tùng như những cô gái trước, và mời anh vào thành. Toà cung điện này tên là Tước Đan và báu vật, ca kỹ, đồ ăn thức uống, gái đẹp đều vượt xa những thành trước.
Di Lan cũng giống như những lần trước ở đây rất lâu, sau đó cũng thừa các cô gái ngủ say rồi trốn đi.
Lần này anh lại thấy một cái thành bằng sắt nhưng lại không thấy người đón.
Di La suy nghĩ: “Thành bạc có bốn người, thành vàng có tám người, thành thuỷ tinh có mười sáu người, thành lưu ly có ba mươi hai người, tất cả đều ân cần đón tiếp. Lần này không có ai đón tiếp, chẳng lẽ họ đều là những người rất tôn quý sao”.
Sau khi nhiễu quanh thành một vòng, có một con quỷ mở cửa, Di Lan vào thành, thấy quỷ tên là Câu Dẫn có một cái vòng sắt cháy hừng hực trên đầu. Quỷ đang canh tội nhân bèn lấy vòng sắt đó chụp trên đầu của Di Lan. Di Lan lập tức óc não chảy ra, thân mình cháy đen. Anh chảy nước mắt than rằng:
- Từ bốn cô mỹ nữ đến tám cô, từ tám đến mười sáu, từ mười sáu đến ba mươi hai, từ cung điện Tiết Mạc đến cung điện Tước Đan, ta đều cảm thấy không đủ, cứ tưởng được nhiều hơn, nên mới chịu tai hoạ như vậy. Không biết khi nào mới thoát được nạn này?
Quỷ xem tội nhân trả lời:
- Số năm mà nhận chịu hình phạt này bằng với số năm mà ngươi sống trong các thành, lúc đó mới thoát khỏi hình phạt này.
Sau đó vòng sắt trên đầu Di Lan di chuyển xoay tròn sáu ức năm mới ngừng lại.
(Di Lan bổn sanh – kinh Hiền Ngu)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Tục ngữ nói tai hoạ không gì lớn hơn phóng túng theo lòng dục của mình, điều ác không gì lớn hơn nói lỗi của người. Ác là cọp dữ, dục là vực sâu. Không có bữa cơm nào miễn phí. Lòng dục của con người thì vô cùng vô tận. Di Lan trong câu chuyện, gặp đại nạn không chết, lại có phước ở trong thành bạc, nhưng lòng ái dục tham lam bành trướng phát triển, từ thành bạc đi đến thành vàng, từ thành vàng đi đến thành thuỷ tinh rồi đến thành lưu ly, cuối cùng anh rơi vào thành sắt quỷ môn, bản thân mình hưởng thụ bao nhiêu năm thì phải chịu tội bấy nhiêu năm ở thành sắt này.
Vua bồ câu tự cứu
Xưa có bồ câu chúa, hướng dẫn thuộc hạ của mình là 500 con bồ câu đến vườn hoa của nhà vua tìm kiếm thức ăn. Quốc vương nhìn thấy bèn sai người giăng lưới bắt hết cả đàn. Quốc vương ra lệnh đem đàn bồ câu nhốt vào trong lồng, dùng gạo ngon và thịt nuôi chúng lại sai người chuyên nuôi dưỡng chúng. Bồ câu chúa bị nhốt trong vào trong lồng, một lòng niệm Phật sám hối tội lỗi của mình, khởi lên những tâm niệm lành, hy vọng giải thoát đàn bồ câu. Nó nói với đàn rằng:
- Trong kinh Phật dạy, giới tham là giới quan trọng nhất, người do tham mà được phú quý, giống như người khát đói mà được thức uống độc vậy, chỉ được vui vẻ một thời, mà bị khổ não rất lâu. Các ngươi chỉ cần tuyệt thực, không ăn những thức ăn ngon này thì có thể bảo toàn tánh mạng.
Đàn bồ câu trả lời:
- Đã bị nhốt vào trong lồng thì còn có hy vọng gì nữa?
Bồ câu chúa trả lời:
- Làm trái nghịch lời dạy của Đức Phật, tâm lúc nào cũng chứa đầy tham lam thì sẽ không bảo toàn được thân mạng.
Thế là tự mình tuyệt thực, thân thể mập mạp càng ngày càng ốm gầy đến lúc có thể từ trong khe của lồng bay ra được, bèn nói với đàn chim:
- Nếu tuyệt thực không ăn thì sẽ được như ta vậy.
Nói xong bèn bay ra khỏi lồng.
(Bổn sanh vua bồ câu – Lục độ tập kinh)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Giảm mập mà có thể cứu được mạng mình thật là một chuyện lạ kỳ. Câu chuyện này dạy cho chúng ta bài học là không nên có nhiều tham dục. Thật vậy, người vì tiền của mà chết, chim vì thức ăn mà mất mạng. Lòng tham dục là nhược điểm yếu nhất trong con người. Xưa nay trong ngoài biết bao nhiêu người không vượt ra khỏi sự mê hoặc của danh lợi ái dục mà thân bại danh liệt. Nhưng mà điều đáng buồn là, mặc dầu đã có xe trước đổ, nhưng vẫn có không ít người đang tiếp tục bước vào vết bánh xe đổ đó.
Vua Đảnh Sanh
Ngày xưa, có một quốc vương tên Đảnh Sanh, là một nhà vua rất có thế lực ở thời đó. Các nước ở đông, nam, tây, bắc đều thuần phục. Vua Đảnh Sanh có chuyển luân bảy báu, có voi màu trắng, có ngựa chiến màu xanh biếc, có hạt châu minh nguyệt, có vợ đẹp như tiên, có quan văn quan võ tài năng xuất chúng. Ngoài ra vua còn có ngàn đứa con trai khôi ngô tuấn tú, mỗi mỗi đều thông minh bác học, sức mạnh điều phục mọi người, trí dũng song toàn. Quốc vương thường tự hào điều đó. Một ngày nọ, vua nghĩ rằng: “Đất nước của ta đây ngang dọc 32 vạn dặm, mùa màng sung túc, dân chúng giàu có, sự giàu sang của ta thật là trên đời hiếm. Tuy được như thế nhưng ta vẫn mong vua trời lại có thể ban phước cho ta, mưa một trận vàng bạc bảy ngày bảy đêm, nếu có thể ân tứ cho ta như thế thật là quá tốt đẹp”.
Vua trời Đế Thích bèn thoả mãn lời nguyện của nhà vua, mưa xuống vàng bạc, khắp nơi trong nước đều lấp lánh vàng bạc. Vua Đảnh Sanh mặt rồng hoan hỷ, dân chúng chúc mừng lẫn nhau, được sự vui mừng và đầy đủ chưa từng có. Qua vài ngày vua Đảnh Sanh lại nghĩ: “Tuy đất nước ta ở phía tây, 32 vạn dặm, lại có bảy báu, ngàn người con văn hay võ giỏi, vua trời Đế Thích ban mưa vàng mưa bạc chưa từng thấy, nhưng ta nghe nói, phương nam có cõi Diêm Phù Đề ngang dọc 28 vạn dặm, dân chúng nơi đó thiếu ăn thiếu mặt. Nếu được cõi ấy, chẳng phải là tốt đẹp hay sao?”. Nghĩ xong Đảnh Sanh bèn cởi bánh xe vàng, bay đến phía nam, theo sau nhà vua là bảy báu và quân đội, nhanh như điện chớp đến cõi Diêm Phù Đề. Vua quan và dân chúng nơi này sớm đã nghe danh vua Đảnh Sanh, nên khi vua vừa đến tất cả đều thuần phục. Vua Đảnh Sanh lại bỏ thời gian mấy năm trị lý đất nước này rất tốt đẹp, đất nước được giàu mạnh, dân chúng an cư lạc nghiệp, no cơm ấm áo.
Nhà vua lại nghĩ: “Ta nay có đất đai ở phía tây và phía nam, nghe nói phía đông có cõi Phách Vu Kiến ngang dọc 36 vạn dặm. Nơi đó dân chúng no cơm ấm áo, muốn gì có nấy, thật là một cõi nước giàu mạnh. Nếu ta có thể chiếm được cõi nước này thì hay biết bao!”
Vua bèn cưỡi trên bánh xe vàng bay về hướng đông, bảy báu và quân đội cũng theo sau lưng bay về cõi Phách Vu Kiến. Nhà vua và dân chúng nơi đó đều hoan nghênh Ngài. Trị lý vài năm, quốc gia thái bình thịnh trị, Vua Đảnh Sanh nghĩ rằng: “Ta nay có ba cõi nước ở ba cõi nước ở đông tây, nam. Ở phía bắc là cõi Uất Đan ta nên chiếm lấy”. Vừa nghĩ như vậy bánh xe vàng lập tức đem nhà vua bay đến phương bắc, bảy báu và đại quân cũng theo đến đó. Vừa vào nước Uất Đan, thì thấy bốn bề ruộng lúa xanh ngắt, lại thấy các thứ cây báu, các thứ y phục mềm mại hoa lệ, các thứ kỳ trân, dị bảo treo trên những cây báu. Vua Đảnh Sanh và tuỳ tùng ăn thứ gạo cơm thơm phưng phức, mặc những thứ y phục hoa lệ, trang sức bằng những đồ quý báu, cuộc sống rất vui vẻ.
Vài năm sau, vua Đảnh Sanh lại nghĩ: “Ta nay đã được bốn phương thiên hạ, trên đời này không còn gì đáng truy cầu. Ta nên đi đâu đây? Cần phải lên cõi trời để hưởng sự sung sướng ở đây!” Nhà vua vừa nghĩ như thế, bánh xe chuyển luân liền bay vút lên trời, thất bảo và quân đội theo sau. Vua trời Đế Thích thấy vua Đảnh Sanh bèn vui mừng bước xuống ngai vàng đón tiếp:
- Nghe danh Ngài đã lâu, rất muốn gặp mặt Ngài nhưng không có dịp. Nay Ngài đến đây thật là hân hạnh.
Nói xong liền nắm tay vua Đảnh Sanh dắt lên ngai vàng nhường cho một nửa toà ngồi.
Vua Đảnh Sanh ngồi xong mới quan sát xung quanh thấy cung điện của vua trời Đế Thích toàn dùng vàng ròng, bạc trắng, thuỷ tinh, lưu ly, hổ phách, xa cừ, san hô, trân châu, toàn là những vật báu xây dựng nên, so với tất cả cung điện của mình không biết đẹp hơn bao nhiêu lần, trong tâm vô cùng hâm mộ.
Vua nghĩ: “Ta đã có bốn phương thiên hạ, vàng ngọc châu báu không biết bao nhiêu mà kể, sự giàu có sang trọng đã thật là hiếm có. Nhưng cung trời Đế Thích quá huy hoàng, lộng lẫy. Nếu có thể khiến cho vua trời Đế Thích chết đi cho ta kế thừa ngai vàng thì mới thật khiến cho ta vui sướng nhất”. Ác niệm vừa sanh thì lập tức bị vua trời Đế Thích đưa trả về trong cung điện của mình. Sau đó lại bị bệnh nặng, các vị danh y giỏi nhất nước cũng đành thúc thủ. Các quan đại thần đến thăm viếng, thưa hỏi:
- Tâu đại vương! Bệnh của Ngài đã vô cùng nguy hiểm. Nếu có gì bất trắc, xin thưa Ngài có di chúc gì chăng?
Vua Đảnh Sanh lúc này đã tỉnh ngộ, trả lời rằng:
- Nếu sau này có ai hỏi vua Đảnh Sanh làm sao mà chết, các ngươi trả lời rằng vì bệnh chứng bệnh “Tham lam” bất trị mà mất mạng. Hãy ghi lại lời giáo huấn của ta để nhắc nhở cho con cháu “Tham lam là lửa đốt thiêu thân, vậy cẩn thận quyết không được tham lam”.
(Kinh Đảnh Sanh Thánh vương)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Vua Đảnh Sanh có chí hướng nắm trọn cả thiên hạ, nhưng khi đắc ý rồi thì sanh lòng tham, cuối cùng phải bệnh mà chết. Bậc vua chúa làm gương cho thiên hạ thì cần phải có tấm lòng khoan dung rộng lớn và có khí phách đứng ngồi không loạn, nếu muốn sống một cách an lạc thì phải làm cho được điều này: trong những món tham dục, chúng ta không tham không dục, trong những người tham dục, chúng ta trụ ở không tham không dục.
Nước La Sát
Thủa xưa, Diêm Phù Đề là một đất nước quốc thái dân an, thương mại phát triển. Những người thương nhân ở đây không thoả mãn với việc buôn bán trong nước nên thường đi biển buôn bán. Có một lần, ra khơi không lâu, họ gặp sóng to gió lớn, không cách nào điều khiển con thuyền, chỉ đành trôi theo dòng nước. Chiếc thuyền trôi đến nước La Sát, ở nước này toàn là nữ nên gọi là la sát nữ. Đây là những phụ nữ có phép thuật ăn thịt người. Sư Tử là người trẻ nhất trong đám thương nhân, anh trở thành chồng của một la sát nữ, và có 2 đứa con trai với người này.
Một ngày nọ, Sư Tử đi đến phía nam nhìn thấy một ngôi tử thành không có cửa. Trong thành sắt giam những người nam nhân đáng thương. Họ cũng như anh, là những thương nhân ở Diêm Phù Đề, ra biển buôn bán và gặp cảnh ngộ như chàng. Họ cũng làm chồng những cô gái này, họ cũng sanh con trai con gái. Nhưng sau đó phát hiện các cô là La sát nữ ăn thịt người. Lúc mới đến, họ có 500 người, nhưng khi bị giam vào thành sắt chỉ còn 250 người. Những người khác đều bị ăn thịt, còn những đứa con mà La sát nữ sinh ra cũng bị ăn thịt không còn một đứa. Sư Tử biết đoàn thương nhân đã lọt vào tay ma quỷ. Làm sao thoát khỏi hòn đảo trơ trọi ở giữa biển cả mênh mông này?
Những người trong thành sắt bảo với anh ta, mỗi năm ngày 15 tháng 4, khi mà nhật nguyệt và các tinh tú hội họp, thì sẽ có một con ngựa thần rất cao lớn xuất hiện. Ngựa thần ngừng ở chỗ nào thì nơi đó sẽ có gạo thơm phưng phức, thần ngựa ăn gạo thơm xong, chạy đến bên bờ lộ ra nửa thân mình, bắt đầu quay mặt ra biển nói 3 lần: ai muốn vượt qua biển ải này, ta có thể đưa các ngươi đến bờ kia một cách an toàn. Nếu trèo kịp lên lưng ngựa thần thì có thể an toàn trở về nước Diêm Phù Đề, đây là con đường duy nhất .
Sư Tử vào ngày 15 tháng 4 bèn nói cho đoàn thương nhân biết điều bí mật mà anh đã giấu trong tâm đã lâu. Đoàn thương nhân quả nhiên thấy một con ngựa thần, chắp tay làm lễ hy vọng ngựa thần đem mình vượt qua biển cả đến bờ bên kia trở về nước Diêm Phù Đề. Ai nấy tranh nhau trèo lên lưng ngựa, ôm chặt cổ, nắm chặt đuôi vì sợ rớt xuống.
Vào lúc này, các cô la sát phát hiện chồng mình không thấy, lập tức nghĩ đến ngựa thần, ôm con chạy ra bờ biển. Ngựa thần hí lên một tiếng dài, chuẩn bị bay lên. La sát nữ khóc kêu họ trở lại. Nhiều thương nhân tâm mềm yếu lập tức nhảy xuống, ôm lấy vợ con. Chỉ còn có Sư Tử, anh không nhúc nhích, ôm chặt ngựa thần, bay lên không trung. Vợ Sư Tử quyết tâm không tha, nàng ôm 2 đứa con, theo ngựa thần vượt biển lớn đuổi theo Sư Tử. Đến nước Diêm Phù Đề, La sát nữ tìm đến quốc vương kể rõ sự tình. Nhìn thấy sắc đẹp của nàng, quốc vương đã say đắm bèn đem La sát nữ rước vào hậu cung. Chỉ trong một đêm quốc vương, hoàng hậu, thứ phi, cung nữ cả hoàng cung đều bị ăn sạch. Các quan đại thần nói với Sư Tử:
- Ngươi đã dẫn về La sát nữ ăn thịt quốc vương, đất nước lại chưa lập thái tử, vậy từ đây ngươi lên làm quốc vương của chúng tôi.
Như thế, Sư Tử làm quốc vương của nước Diêm Phù Đề. Sau khi lên ngôi vua, việc đầu tiên chàng làm là tổ chức một đội quân hùng mạnh vượt biển tiêu diệt đám la sát nữ cứu thoát đoàn thương nhân đem về. Nước La Sát 4 bề biển cả bao quanh, đất đai phì nhiêu, khí hậu trong lành thích hợp sinh sống, là một nơi vô cùng tốt đẹp. Sau khi tiêu diệt đám la sát nữ, Sư Tử hướng dẫn người đến nơi đây, họ siêng năng trồng trọt, xây dựng một đất nước hùng mạnh, người ta gọi nước này là nước Sư Tử.
(Nước Tăng Già La – Đại Đường Tây Vực ký quyển 11)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Con người rất dễ bị thanh sắc mê hoặc, vì thế rất dễ đoạ vào ác đạo, sanh ra niệm tham niệm ác. Muốn trừ bỏ những niệm tham ác cần phải có năng lực quan sát tinh tế, bỏ đi những lòng tham. Sư Tử vì có khả năng xem rõ những cạm bẫy sau lưng những cô gái đẹp, những hiện thực tàn khốc sau lưng những lời ngon ngọt, mới có thể không động tâm nên được bảo toàn tánh mạng.
Chủng Đức
Một lần Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến thành Chiêm Bà, có một vị Bà la môn tên là Chủng Đức đến tham bái. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thần thông quảng đại, vừa nhìn là đã thấu suốt tâm niệm của người, Ngài nhìn thấy rõ Chủng Đức tự cho rằng mình huyết thống chính thức, học thức phong phú, tâm đầy lòng ngạo mạn nên cố ý hỏi rằng:
- Một người nên có những điều kiện nào mới có thể trở thành một Bà la môn chân chánh?
Chủng Đức lập tức trả lời:
- Cần đủ 5 điều kiện, thứ nhất, phải có huyết thống chính thức, thứ 2 phải có tri thức phong phú, thứ 3 phải có ngũ quan đoan chánh, thứ 4 phải nghiêm trì giới luật đã thọ, thứ 5 phải có trí tuệ thông suốt.
Đức Phật nghe xong cười:
- Cho là ngươi nói đúng. Nhưng nếu bỏ đi một điều trong những điều kiện đó thì có thể gọi là Bà la môn chân chánh không?
Chủng Đức suy nghĩ một hồi rồi trả lời:
- Nếu cần bớt đi một điều thì đó là điều thứ nhất, 4 điều còn lại cũng có thể khiến người trở thành Bà la môn chân chánh.
Đức Phật lại hỏi:
- Lại có thể bỏ thêm một điều chăng?
Chủng Đức suy nghĩ một hồi rồi nói:
- Nếu một người có ngũ quan đoan chánh, trí tuệ thông đạt, trì giới đầy đủ, cũng có thể gọi là Bà la môn chân chánh, như thế điều thứ 2 cũng có thể bỏ được .
Đức Phật cười hỏi:
- Có thể bỏ thêm một điều được chăng?
Lần này Chủng Đức suy nghĩ thật lâu, cuối cùng nói:
- Nếu một người giữ gìn giới luật, trí tuệ thông đạt thì cũng có thể là một Bà la môn chân chánh.
Những người Bà la môn bên cạnh nghe xong đều lên tiếng nghị luận, họ cho rằng như thế không thể trở thành Bà la môn chân chánh được. Chủng Đức bèn đưa ra ví dụ người cháu của mình tên là Ma Nạp, người này hình dung tuấn tú, học thức phong phú, đúng dòng huyết thống, phù hợp 3 điều kiện trên. Nhưng nó sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói láo. Chủng Đức để cho mọi người bình luận, người như thế có thể được gọi là Bà la môn chân chánh không? Xung quanh ai cũng lắc đầu. Chủng Đức nói:
- Chính vì như thế, 3 điều trước có thể bỏ đi.
Đức Phật lại hỏi:
- Hai điều sau cùng có thể bỏ thêm một điều chăng?
Chủng Đức vội vàng lắc đầu nói:
- Không được, không được. Kiên trì giữ gìn giới luật và trí huệ tương quan mật thiết với nhau, phải đủ cả 2 không thể khuyết một.
Đức Phật nói:
- Lành thay! Lành thay! Chỉ có kiên trì giữ gìn giới luật mới tăng trưởng trí huệ, có trí huệ mới có thể nghiêm trì giới luật, nên Bà la môn cần đủ 2 điều kiện nghiêm trì giới luật và trí huệ.
(Kinh Chủng Đức – Kinh Trường A Hàm)
Lời Phật dạy đạo lý làm người:
Nho gia cũng có câu: “Giữ gìn lý trời, bỏ đi lòng dục”. Trì giới nên bỏ bớt đi lòng dục, tăng trưởng trí tuệ. Lý và dục không cùng một con đường, dục vọng nhiều thì không thể làm sáng lý trí, nên sanh ra chướng ngại của thức; lý trời sáng thì lòng dục của người tự tiêu diệt. Khổng Tử nói người thượng trí không bị lòng dục làm cho mê hoặc, “bốn mươi không bị mê hoặc” tức là đạo lý này vậy.
BÀI LIÊN QUAN
Suy ngẫm về thành công & danh vọng ( Thiện Ý , 4744 xem)
Sứ giả Như Lai - Sứ giả Hoằng pháp với truyền thống & tinh thần hộ quốc an dân ( Hòa thượng Giác Toàn , 6564 xem)
Niêm hoa vi tiếu ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 10502 xem)
Thông điệp Hộ pháp từ một bàn tay ( Thích Đức Trí , 5221 xem)
Thực ảo Cực Lạc từ đôi mắt bé ( Ngô Khắc Tài , 5515 xem)
Giữ mãi tình người ( Hòa thượng Giác Toàn , 5280 xem)
Tại sao chúng ta có những cảm xúc vui buồn? ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 14159 xem)
Trong thương yêu có hạnh phúc và đau khổ ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5689 xem)
Bản thể chân như qua hình ảnh Nhất Chi Mai của Thiền sư Mãn Giác ( Thích Đạo Phong , 17057 xem)
Vai trò của thầy, bạn trong tu học ( Diệu Thể , 9922 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













