Trang chủ > NT Huỳnh Liên > Các Bài Viết Tưởng Niệm

Pháp ngữ của Ni trưởng qua Quy Sơn cảnh sách

Tác giả: Huyền Minh.  
Xem: 11356 . Đăng: 12/05/2015In ấn

Pháp ngữ của Ni trưởng qua Quy Sơn cảnh sách

 

Huyền Minh

 

Với chiều dài lịch sử hơn 2500 năm của Phật giáo kể từ ngày đức Thế Tôn cho ra đời một bản tuyên ngôn làm chấn động xã hội thời bấy giờ tại Ấn Độ với tên gọi Tứ Thánh Đế. Và theo suốt chiều dài 45 năm hoằng pháp độ sanh Ngài đã không ngừng làm sáng tỏ chân lý về pháp thế gian và pháp xuất thế gian để đưa hàng đệ tử bước đến quả vị an lạc của cảnh giới giải thoát ngay trong hiện tại. Cuối cùng những gì mà Ngài để lại cho hàng đệ tử trong suốt 45 năm hoằng hóa là Tam tạng giáo điển; đó như là một tấm bản đồ dẫn đường cho đàn hậu học tìm đến kho báu pháp bảo của Như lai; như là một la bàn cho đàn hậu học đang lạc mất phương hướng trên biển cả bao la của kiếp người tràn đầy tham vọng; và như một thanh gươm sắc bén để chém đứt triệt để sự trói buộc của ngũ dục lục trần, phá tan tham sân si phiền não, để rồi thênh thang rảo bước trên con đường xưa cũ. Đó là con đường mà chư Phật đã đi, chư Tổ đã đi, chư đức Thầy đã đi và hiện tại là hàng xuất gia cũng đang đi trên con đường này vậy.

Trong quá trình tìm cầu chân lý tôi vô tình bắt gặp được lời khuyên từ Ni trưởng Huỳnh Liên, vị Ni trưởng đầu tiên trong Ni giới Hệ phái Khất sĩ. Lời khuyên ấy bao hàm tinh hoa của Phật giáo, mà đức Phật trước khi nhập diệt đã khuyên, chư tổ đã khuyên và gần đây nhất là Ni trưởng đã khuyên. Đó là lời khuyên, lời khích lệ thiết thực nhất cho hàng xuất gia y cứ theo đó mà nổ lực tinh tấn bước đến quả vị giải thoát; vì trên con đường bước đến giải thoát hàng xuất gia không thể thiếu ba pháp bảo này, đó là ba pháp học Giới Định Tuệ mà tôi đã bắt gặp trong lời thơ như một lời cảnh sách của Ni trưởng:

 

Ngày đã cận, cần tu gấp rút,

Giới giữ sao trong sạch như xưa.

Định Huệ không thiếu, không thừa,

Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng.

 

Mỗi câu thơ là một lời khuyên bảo rất thiết thực mà Ni trưởng đã thấu hiểu và trích dẫn từ những lời tâm huyết của Phật, của Tổ đã khuyên răn tăng đoàn nổ lực tinh tấn tu hành mà lồng ghép vào thơ ca.

Ni trưởng đã nhận thấy được cõi trần tạm bợ, sớm còn tối mất; và thấy được có thân người là khó, gặp được Phật pháp và xuất gia tu học lại càng khó hơn. Nên Ni trưởng đã trân quý thời giờ, mượn xác thân tạm bợ mà vượt bến mơ quay về bề giác, nên khuyên răn đàn hậu học rằng “Ngày đã tận cần tu gấp rút”. Có thể không chỉ khuyên răn đàn hậu học mà Ni trưởng cũng lấy đó làm phương châm tinh tấn tu học đến trọn cuộc đời. Lời khuyên này đã khế hợp với những gì mà tổ Quy Sơn đã răn dạy tăng chúng trong Quy Sơn Cảnh Sách như: “Vô thường sát quỉ, niệm niệm bất đình, mạng bất khả diên, thời bất khả đãi”. Nghĩa là: “quỉ vô thường giết người trong mỗi niệm mỗi niệm không dừng, mạng sống không thể kéo dài hơn, và thời gian không thể chờ đợi được”. Vì thế nên Ni trưởng đã khuyên răn rằng “Ngày đã tận cần tu gấp rút”, gần như thúc dục đàn hậu học chúng ta rằng phải chạy đua với thời gian, với mạng sống để tu hành; vì sống chết chỉ trong nháy mắt là qua đời khác, không thể chờ đợi được, không thể kéo dài thêm, cho nên phải gấp rút lợi dụng xác thân này mà tinh tấn tu hành, chớ nên giải đãi. Bên cạnh đó cũng nhắc nhở đàn hậu học rằng, xuất gia tu học được là khó; cho nên không thể buông lung, không nên phóng dật mà phải dành hết thời gian cho việc tu hành. Nếu không tu gấp rút thì đến lúc bóng ngã chiều tà có hối hận cũng không kịp. Tổ Quy Sơn dạy: “Nhất triêu ngọa tật tại sàng, chúng khổ oanh triền bức bách, hiểu tịch tư thổn, tâm lý hồi hoàng. Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng. Tùng tư thỉ tri hối quá, lâm khát quật tỉnh hề vi?” Đây là kết quả của những người phóng dật, không tinh tấn tu hành cho nên “Một mai bệnh nằm trên giường, mọi thứ đau khổ cứ quây quanh bức bách không ngừng, vì thế nên sớm tối bồn chồn lo nghĩ, trong lòng lo sợ bồi hồi không yên. Đường trước mịt mờ chưa biết về đâu. Đến lúc này mới hối hận ăn năn như đợi đến lúc khát mới đào giếng thì sao cho kịp?” vì thế nên Tổ mới khuyên tiếp rằng: “Thời quang diệc bất hư khí, tất tu dĩ thử phò trì” nghĩa là: “thời gian không nên luống bỏ, phải dùng giáo pháp để phò trì”; hoặc là “Vô thường lão bệnh, bất dữ nhơn kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị thế” nghĩa là “sanh già bệnh chết chẳng hẹn cùng ai, sớm còn tối mất, chỉ trong khoảng sát na thì đã qua đời khác”.v.v. Đây là những lời tâm huyết nhằm cảnh sách cho đàn hậu học tinh tấn tu hành của Tổ mà Ni trưởng đã đưa vào lời thơ đầu tiên hàm trọn cả ý nghĩa ấy với câu “Ngày đã tận cần tu gấp rút”.

Hai câu tiếp theo Ni trưởng đã nhấn mạnh pháp học căn bản nhất, cao cả nhất không thể thiếu của người Khất sĩ với ba món đó là Giới Định Huệ. Từ sự thẩm thấu ý nghĩa lời dạy của Phật của Tổ như là “Giới còn đạo phật còn, giới mất đạo phật mất; lấy giáo pháp để làm thầy; lấy trí tuệ làm ngọn đuốc sáng soi trong đêm tối......” từ đó Ni trưởng đã đưa vào lời thơ của mình với hai câu “Giới giữ sao trong sạch như xưa, định huệ không thiếu không thừa”. Trong hai câu này đã bao hàm cả pháp học của người Khất sĩ và quan trọng nhất là Giới học nên Ni trưởng đã nhấn mạnh rằng “Giới giữ sao trong sạch như xưa”, nghĩa là bao hàm cả giới tánh và giới tướng, phải giữ trọn vẹn trong sạch. Chữ “như xưa” hiểu một cách đơn giản nhất là lúc phát tâm thọ giới, vì lúc này tâm ý mãnh liệt, phát tâm trong sạch thọ trì giới pháp, và từ khi thọ lãnh giới xong phải trì giới trong sạch đến trọn đời, không phạm một giới nào, cho nên Ni trưởng mới khuyên rằng “giữ sao cho trong sạch như xưa”. Hoặc hiểu một cách sâu hơn là: bản chất của Giới vốn thanh tịnh, trong sạch; cho nên “giữ sao trong sạch như xưa” cũng có nghĩa rằng giữ được bản chất trong sạch, thanh tịnh của giới pháp.

Pháp học của người Khất sĩ là nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Mặc dù Giới rất quan trọng, nhưng chỉ giới không thì không đủ mà phải có Định, có Huệ. Giới là nền tảng để có định, và định là phương pháp để phát sanh trí huệ. Cho nên định huệ phải viên dung mà Ni trưởng dạy rằng “định huệ không thiếu không thừa”.

Vì sao vậy? Vì có những người chỉ dừng lại ở Định, nghĩa là chỉ chuyên về “thiền chỉ” mà không bước qua “thiền quán” cho nên không thể phát sanh trí huệ. Cho nên “định huệ không thiếu không thừa” cũng có nghĩa rằng sau khi dừng được các tạp niệm sanh khởi trong tâm, tức thiền chỉ đã thuần thục phải bước sang thiền quán để phát sanh trí huệ, bước đến Định Huệ viên dung.

Tại đây đàn hậu học chúng ta cũng nên nhận rõ rằng Huệ trong Phật giáo không phải chỉ cho các lớp học của thế tục bên ngoài, như học đến thạc sĩ, tiến sĩ gọi là người có trí huệ, đây là suy nghĩ sai lầm. Mà Huệ phải phát sanh từ thiền định, hay nói cách khác là phải thấu triệt Tứ diệu đế... mới gọi là có trí huệ; còn thạc sĩ, tiến sĩ chỉ là bằng cấp học thuật đại diện cho tầng lớp tri thức mà thôi. Nó chỉ nằm trên bề mặt lý thuyết suông, vì vẫn còn chịu sự trói buộc bởi tham sân si, tham đắm ngũ dục lục trần, cho nên không thể gọi là trí tuệ.

Lời dạy của Ni trưởng rất thích hợp với phần đông tăng ni trẻ ngày nay, vì đa số họ chưa nhận thấy rõ được ý nghĩa cao cả của người xuất gia, mới xuất gia đã mong được thọ giới để được cung phụng, xá bái; học đòi theo xã hội bên ngoài; yêu bản ngã tự tạo mặc dù chẳng có gì ngoài hai bàn tay trắng và đầu óc trống rỗng; chạy đua theo các lớp học chỉ mong có được bằng cấp mà quên đi pháp học căn bản của người xuất gia là giới định huệ, là tam tạng giáo điển. Vì thế phần chất lượng đã dần hao mòn, mà số lượng phóng dật theo lối sống hưởng thụ, quên đi đức tính của người xuất gia, lại càng tăng cao tạo nên sự hỗn độn trong tăng đoàn, và phát sanh nhiều trường hợp cười ra nước mắt cho số phận Phật giáo đang lùi xa với chân lý giải thoát.

Để ngăn ngừa và thức tỉnh đàn hậu học chớ giẫm lên vết nhơ này, tổ Quy Sơn đã cảnh tỉnh rằng: “Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị tỳ kheo. Đàn việt sở tu, khiết dụng thường tụ, bất giải thổn tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hiệp cúng. Khiết liễu tụ đầu huyên huyên, đãn thuyết nhân gian tạp thoại...... tích tụ tư đa, bảo trì huyễn chất”, ý của Tổ dạy rằng “sao mới vừa lên ngôi giới phẩm liền xưng ta là tỳ kheo, tự cho là tha hồ ăn dùng đồ của tín thí, thường trụ mà không biết xét nghĩ của này từ đâu đem đến, lại nói càng rằng: lẽ đương nhiên là phải hiến cúng. Ăn rồi dụm đầu huyên náo, chỉ nói toàn chuyện tạp của thế gian... chất chứa của cải cho nhiều, chỉ để giữ gìn thân huyễn”, những hạng người này theo lối sống hưởng thụ, phóng dật mà không tinh tấn tu hành, hành trì giới pháp. Những hạng người này khi tuổi lớn thì “cập chí niên cao lạp trưởng, không phúc cao tâm, bất khẳng thân phụ lương bằng duy tri cứ ngạo, vị am pháp luật, tập liễm toàn vô, hoặc đại ngữ cao thanh xuất ngôn vô độ, bất kính thượng trung hạ tọa, bà la môn hội tu vô thù...” nghĩa là đã theo lối sống ấy nên “đến lúc tuổi đời đã cao, tuổi hạ cũng lớn mà bụng rỗng không, tâm cao ngạo, chẳng chịu nương gần bạn lành chỉ biết một bề kiêu ngạo, chưa thông kinh luật, sự thúc liễm cũng không, hoặc lớn tiếng to lời, nói năng vô độ, bất kính các bậc thượng trung hạ, khi tụ họp thì giống như bà la môn chẳng khác...” những hạng người này tổ gọi là “lạm xí tăng luân, ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí”. Vì sao vậy? Vì những hạng người này không tinh tấn tu học, hành trì giới pháp, theo các lối sống buông lung vô độ, bụng thì rỗng không mà tâm thì cao ngạo, giảng nói cũng không khế hợp với giáo pháp, nếu bị chê cười thì sanh lòng oán giận, sân si trách rằng hậu sanh vô lễ, lớn tiếng nạt người mà không biết phản quang tự kỷ. Chính vì ý nghĩa này mà Ni trưởng đã khuyên răn đàn hậu học chúng ta phải biết pháp học của người Khất sĩ là giới định tuệ, thiếu một cũng không được, cả ba món viên dung, kèm thêm tinh tấn tu hành, hành trì giáo pháp mới không “lạm xí tăng luân và hư triêm tín thí” mà tổ Quy Sơn đã khuyên răn.

Câu cuối là lời kết thúc, cũng như tóm gọn lại kết quả của sự tinh tấn tu hành, hoằng dương giáo pháp đó là đem lại lợi ích cho nhân sinh, đem lại lợi ích cho số đông, nhưng không ngoài lý trung đạo, đó là “Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”. Ba câu đầu Ni trưởng dành trọn lời khuyên răn đàn hậu học phải tinh tấn tu hành, thực hành pháp học giới định huệ, nghĩa là chuyên về tự độ; câu cuối là đem lại lợi ích cho nhân sanh, nghĩa là độ tha. Nhưng sự độ tha này nằm trong ranh giới của trung đạo, nghĩa là phải đúng vừa khả năng của bản thân, không rơi vào hai trạng thái của thái quá và bất cập. Lời Ni trưởng như dạy cho đàn hậu học chúng ta rằng: phải biết mình là ai, đang đứng ở vị trí nào, có thể làm được những việc như thế nào, và tiến thêm một bước nữa là dạy chúng ta phải biết khiêm tốn; có như vậy mới đem lại lợi ích cho số đông mà không rơi vào thái quá hoặc bất cập. Có thể Ni trưởng lo sợ đàn hậu học sau này do tâm cao mạn tăng, thiếu sự khiêm tốn, thiếu suy nghĩ và chánh kiến, hoặc đua chen danh quyền địa vị, nên dễ dàng lao vào làm những việc vượt quá sức, quá tầm kiểm soát, quá trình độ… tạo ra những bất cập không cần thiết phải có, nên Ni trưởng đã dạy “lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”, nghĩa là không nên vì sĩ diện, mặt mũi mà làm những việc ngoài “tầm tay” của bản thân. Phải biết mình là ai, đang đứng ở đâu và làm được những việc như thế nào.

Bốn câu thơ của Ni trưởng như đã gom hết lời Phật dạy, Tổ dạy để tạo nên ý thơ giản dị nhưng mang đậm màu sắc giáo lý, lời tâm huyết, lời cảnh sách mà chư Phật đã khuyên, chư tổ đã chỉ bày. Ni trưởng đã lấy pháp học căn bản nhất của hàng xuất gia là Giới Định Huệ làm đề tài để đưa vào lời thơ mang đậm màu sắc cảnh tỉnh và nhiệt huyết đang chảy trong nội tâm của Ni trưởng. Lời cảnh sách này như một dòng sông chân lý bắt nguồn từ Ấn độ hơn 2500 năm về trước và chảy mãi cho tới ngày hôm nay, đàn hậu học cứ theo dòng sông chân lý này mà tinh tấn tu hành, y Giới Định Huệ mà hành trì thì sẽ bước đến quả vị giải thoát. Vì đây là con đường xưa cũ mà chư Phật đã đi, chư tổ đã đi, cho nên ngày nay hàng xuất gia cũng phải y theo đó mà đi thì mới mong được bước đến giải thoát vậy.

BÀI LIÊN QUAN

Đạo pháp vào đời  ( Lãng Duyên , 6611 xem)

Quán Âm thị hiện  ( Ngọc Tấn , 6288 xem)

Kính dâng Ni trưởng Huỳnh Liên  ( Ngọc Phạm , 6300 xem)

NHẪN – Phương Thuốc Nhiệm Mầu  ( Ngọc Nhẫn , 6392 xem)

Khuyến nhẫn  ( Ngọc Linh , 7184 xem)

Đọc thơ Ni trưởng  ( Ngọc Linh , 10813 xem)

Tưởng niệm Ni trưởng Đệ nhất  ( Ngọc Hưng , 6044 xem)

Quán Âm cứu khổ  ( Ngọc Huệ , 16640 xem)

Hoa Ưu Đàm  ( Ngọc Điều , 6356 xem)

Thân này chưa biết ra chi  ( Ngọc Điều , 14014 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ