Trang chủ > Văn Học > Văn

Ngũ giới trong đạo Phật

Tác giả: Liên Khang.  
Xem: 12133 . Đăng: 15/09/2014In ấn

NGŨ GIỚI TRONG ĐẠO PHẬT

 Liên Khang

Sự vận hành theo quy luật hoặc chung hoặc riêng khác nhau của hiện tượng đời sống đều được diễn ra theo một quy tắc, luật lệ nhất định, trong ấy có những luật pháp tối sơ cho đời sống con người. Con người sống trên đời là sống với mọi người, với tha nhân, nên phải có luật pháp để ngăn cấm mọi hành động, việc làm gieo tai hoạ cho kẻ khác. Ở một góc độ nào đó thì luật pháp là cơ sở để tạo công bằng, hợp lý cho ai nấy trong cộng đồng nhân loại. Có sự công bằng đúng mức với hành động thiện hoặc ác thì xã hội mới có cơ hội tiến lên.

Nhu cầu thiết yếu của luật pháp trần gian là thế. Đối với công việc chuyển hoá tâm hồn, làm mới lại đời sống, hướng đến chân trời an lạc, giải thoát, thì cũng phải có những luật tắc nhất định, gọi là giới luật. Đó là những hạn chế cấm, ngăn không cho người hành động theo hướng làm tổn hại tự thân và tha nhân. Giới luật này có tính chất khắt khe như luật giao thông, nên nếu ai vi phạm thì chắc chắn gây ra thảm khốc cho bao người và cho chính mình. Người tu tập cũng vậy, sau khi nhận lãnh tam quy thì đương nhiên phải tuân thủ ngũ giới làm nền tảng cho đời sống mới. Ngũ giới là bộ luật đơn giản nhất, nhưng là bộ luật căn bản sâu sắc nhất, mở đầu cho con đường lên thánh hạnh ngay đây.

Đức Phật Thích Ca đã có lời di chúc khẩn thiết trước khi ngài nhập Niết Bàn, rằng sau khi ta diệt độ, các ngươi phải tu hành, phải tôn kính giới luật làm thầy”.

Ngũ giới là năm điều ngăn cấm có tính chất hướng dẫn mọi hoạt động đời sống của người tin theo đạo Phật. Nó là rào cản ngăn không cho ta lọt xuống sông mê muội đau xót. Chữ giới có một nghĩa rất rộng là ngăn cấm, đừng làm, nhằm tự bó buộc lấy mình, phòng bị như đắp đê ngăn lụt, xây bờ đê cho chắc để giữ nước lại. Đó là những hình ảnh cụ thể để hiểu chữ giới. Khi ta đi qua cầu cao ngệu bắt ngang sông rộng, nước chảy xiết thao thao. Nếu chiếc cầu ấy không có lan can, rào cản hai bên thì chúng ta chóng mặt, không cất bước được vì hồi hộp lo âu. Trái lại, nếu có lan can, rào cản thì hai bên vững chắc, ta qua cầu rất bình yên. Giới luật cũng có giá trị và ý nghĩa như vậy.

Trong kinh Di Giáo có nói giới luật là chỗ an ổn số một cho tâm hồn, hành động của người tu tập giải thoát. Nghĩa là giới luật giúp ta phương tiện tối yếu để tu tập chấm dứt tái sanh từ vô số đời sống, chịu lầm than khổ luỵ đời đời. Trong Đạo Phật có hai phương diện giải thoát lớn nhất, đó là giới luật giải thoát và trí tuệ giải thoát, nghĩa là ta ra ra khỏi mọi mê muội trói buộc khổ đau bằng hai biện pháp là giữ giới và nhận thức với ánh sáng của hiểu biết bậc thánh. Tu tập mà không đắp đê giới luật thì nguồn nước tu tuệ bị thắm lọt qua khe hở chảy đi hết. Cho nên, trong kinh nói từ buổi rạng đông của chánh pháp được lưu truyền là nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ, nghĩa là từ chỗ giữ chắc giới luật mà tâm hồn được yên tịnh lắng sâu. Từ chỗ thiền định lắng sâu mà trí sáng phát sanh lên. Từ đó nó củng cố, soi rọi thêm cho việc hành trì giới. Cứ thế, trong thế liên chuyển tác động lẫn nhau để hỗ trợ đạt tới cõi giải thoát thảnh thơi, năm giới là nền tảng chung nhất, lớn nhất, là mẫu số cho toàn bộ giới luật tại gia hay xuất gia. Năm điều răn ấy là:

1. Tránh xa sát sanh,

2. Tránh xa sự trộm cắp,

3. Tránh xa sự tà dâm,

4. Tránh xa sự nói dối,

5. Tránh xa sự dể duôi, uống rượu và các chất say.

Năm giới luật này, căn cứ trên tâm từ bi, bình đẳng, trên phương diện dứt trừ tội lỗi cá nhân và đem lại trật tự, an vui hạnh phúc cho xã hội.

1. Không được sát sanh:

Không được sát sanh, giết hại mạng sống, sự sống cụ thể là đời sống con người, đời sống của động vật. Chủ yếu quan trọng là đời sống con người, vì con người là linh thức cao hơn mọi động vật khác. Con người là động vật có khả năng cao nhất để hoàn thành giác ngộ, con người còn cao hơn chư thiên vì đời sống của chư thiên hiếm lắm mới có người tu giác ngộ vì họ mãi lo hưởng vui, mai một ý chí. Trần thế khổ nhiều hơn vui, con người mới là có ý chí, ý chí quyết định thành Phật. Thế nên, sự sát hại mạng người là tội nặng nhất, trong các sinh vật ở đời này. Kế tiếp là cố tránh đi sự sát hại mạng sống của các loài động vật vì sự sống của chúng như gia cầm, gia súc, dã thú, cho đến những loài vật nhỏ nhất khác đều là sự sống mang tính chất tiến hoá hơn các loài thực vật. Thế nên cắt đứt thân mạng của loài này để tô bồi thân mạng của loài kia là một hành động ác, không hợp với lẽ đạo. Hơn nữa, chúng ta ai cũng xem sinh mạng mình là quý, là một báu vật tuyệt vời. Nếu bị hại thì ai cũng chống trả quyết liệt để bảo vệ sinh mạng. Bản thân ta biết trân quý mạng sống mình như vậy, thì suy rộng ra các loài vật cũng biết quý trọng thân mạng của chúng. Vì vậy, Phật giáo cấm sát sanh để tôn trọng sự công bằng. Đức Phật không đồng ý cho đệ tử của ngài sát hại, đoạt mạng, bởi vì đem tâm sát hại sinh mạng là lòng độc ác lên đỉnh điểm, khiến tâm từ bi bị bóp chết, là tự giết lòng từ bi của mình. Thế nên Phật giáo cấm sát sanh để nuôi dưỡng lòng từ bi. Khi ta giết đoạt một thân mạng, thì sự oán giận không dập tắt được, rồi thì ôm lòng oán hận sát thủ. Cho nên, Phật giáo cấm sát sanh để tránh nhân quả báo ứng.

2. Không được trộm cắp

Con người sống trên đời này có hai sinh mạng là mạng sống tự bản thân với hô hấp đều đặn này và ngoại mạng là của cải vật chất tiền bạc, ruộng vườn, tài sản đủ thứ. Lấy những vật không thuộc quyền sở hữu của mình mà không có sự ưng thuận, hay cưỡng ép người khác ưng thuận bằng quyền hành là phạm giới. Những vật to lớn, quý giá như nhà cửa, tiền bạc, ruộng vườn… cho đến những vật hèn mọn như trái ớt, lá rau… người khác không cho phép mà mình chiếm đoạt đều là phạm trộm cướp. Lấy trộm của người khác là sát hại ngoại mạng của họ, làm cho họ điêu đứng khổ não. Chúng ta không muốn ai lấy của mình, thì đối với người khác cũng vậy. Nếu lấy của người khác một cách trái đạo thì là trái lẽ công bằng, không thể tồn tại được... Ta thường nói “tiền tài như huyết mạch”. Vì thế, đã là đệ tử của Phật, nên cố gắng nuôi dưỡng lòng từ bi. Kẻ ăn trộm, kẻ ăn cướp thì không phải là con người có giá trị tối thiểu, họ sống đời sống bấp bênh, lo sợ. Đó là một tội lỗi nhơ nhuốc đối với xã hội văn minh. Người Phật tử giữ giới không ăn trộm, ăn cướp là tự tạo niềm tin an ổn cho mình và cho xã hội. Chúng ta giữ giới không trộm cướp để tránh khỏi nghiệp báo oán thù. Trong xã hội có tổ chức, tôn trọng lẽ công bằng thì tội trộm cướp bao giờ cũng bị trừng trị. Vậy nên để tạo sự công bằng, bình đẳng, nuôi dưỡng tâm từ bi và tránh quả báo thù hằn về sau, Đức Phật khuyên ta không nên trộm cướp.

3. Không được tà dâm:

Tà dâm ý muốn nói về sự dâm dục, phi lễ, phi pháp: luật dạy người xuất gia phải dứt hẳn sự dâm dục, còn người tại gia thì không được tà dâm.

Khi vợ chồng cưới nhau đủ lễ gọi là chánh, ngoài ra sự lén lút, lang chạ làm việc phi pháp gọi là tà dâm. Khi đã có đôi bạn rồi, tuyệt đối không phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác. Bởi vì đây là vấn đề làm con người phạm biết bao nhiêu tội ác, gieo bao thảm hoạ cho bản thân, gia đình mình và gia đình người. Vì thế giới bất tà dâm là nhằm bảo vệ nhân cách, bảo vệ sự yên ấm trong gia đình. Sự tuân giữ giới này vững mạnh, tạo nên đời sống an ổn về tinh thần rất lớn cho cá nhân, không hoang phí tuổi đời ngắn ngủi vào mọi đam mê nguy hại, vì những kẻ ưa tánh lang chạ, thì họ làm nẩy sinh bao rắc rối, không có được sự tinh khiết của tâm hồn, không có sự lương thiện phẩm giá tôn kính. Đức Phật dạy chúng ta giữ giới không tà hạnh để tránh oán thù và quả báo xấu xa.

4. Không được nói dối

Không được nói láo, nói hai lưỡi, nói độc ác, nói thêu dệt. Lời nói là sản phẩm đặc biệt của loài người, lời nói có mục đích là trao đổi, cảm thông. Lời nói cũng là một vũ khí lợi hại cũng không kém bất cứ vũ khí vật chất nào. Có khi bỏ mạng, tan nhà mất nước cũng vì một lời nói, có khi an ổn lâu dài vì một lời nói. Nói láo là nhằm chiếm đoạt quyền lợi vật chất, là nhằm đè nén kẻ khác để tâng bốc mình lên, là nhằm che đậy bản ngã, cũng như mọi ý đồ đen tối khác. Kẻ nói láo thường lo sợ không yên, không được ai tin cẩn. Nói láo quen thói càng đi sâu vào đường ma lối quỷ, trắc trở, bất chánh… Nói láo cũng gieo tai hoạ không lường nổi, tác hại đến nhiều đời nhiều kiếp.

Nói hai lưỡi: là lời nói đâm thọc có mục đích phá tan sự thật,việc không có tự dựng lên và ngược lại. Trước mặt khen sau lưng chê, vu khống đặt điều, bày mưu gian xảo. Cũng là một tội trộm cướp bằng ngôn ngữ, gieo thảm hoạ đau khổ cho người.

Lời nói độc ác: người ta thường sáng tạo kho chất nổ ngôn ngữ để mắng chửi thật phong phú, có cả trăm lối chửi rủa ông bà, cha mẹ, mồ mả dòng họ tổ tiên. Khi quyền lợi bị va chạm nặng là kho thuốc ngôn ngữ nổ hết công suất để hả giận, để trả thù. Xã hội lại sáng tạo ra kẻ đi chửi mướn, chửi suốt ngày không mệt, chửi cho đến khi kẻ thù không chịu nổi mới thôi. Lời ăn tiếng nó lúc này phát triển đến ghê hồn, bằng vạn lời đay nghiến, dơ dáy, hèn hạ…cuộc chiến bằng binh khí miệng lưỡi này thật ác liệt, khủng khiếp.

Nói thêu dệt: chuyện ít mà phóng đại ra, con ếch nói bằng con voi. Thêm mắm, thêm muối, nói càng, nói bậy, vu oan giá hoạ. Khi Cao Bá Nhạ bị Triều Tự Đức bắt được (ông Cao Bá Quát khởi nghĩa bị thất bại) trong khi bị giam, ông có làm bài tuần tuần trình dài, trong đó có câu than rằng:

“Ghê cho kẻ mọc lông trong bụng,

Đặt nên điều nói bóng ngoài môi”.

Kẻ mọc lông trong bụng tức là cầm thú nham hiểm.

Như thế đại loại, dùng chúng trong bốn lối: vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu và ỷ ngữ. Người tu nói thật tránh được các nghiệp về miệng, trái lại, nói lời nhu hoà từ ái, xây dựng hợp chiều tiến lên chỗ sáng của tâm hồn. Là một người Phật tử chúng ta nên ăn nói có mẫu mực, thấy biết thế nào, nói thế ấy không điêu xảo dối trá. Trừ trường hợp vì lợi người, lợi vật, không nỡ nói đúng thật để người bị hại hoặc bị khổ đau. Đó là do lòng nhân, vì lòng từ bi cứu người cứu vật thì dẫu có nói sai sự thật cũng không phạm. Không nói dối là giữ được lòng tin của mọi người xung quanh, thể hiện được tâm từ bi, hơn thế nữa là tránh được nghiệp báo xấu hại về sau.

5. Không uống rượu:

Từ xưa tới giờ rượu là chất kích thích làm mù tối tâm trí, ngấm vào máu, làm trí tuệ u tối, khờ khạo. Hiện nay, sự ăn nhậu đã trở thành một thảm trạng của xã hội. Tử vong vì rượu, bệnh tật nguy hiểm vì rượu nói khôn xiết. Người say sưa tự làm mất nhân cách con người cao quý. Tai hại của rượu đối với bản thân, gia đình thật là cụ thể, đắng cay. Vì khi say rượu tội lỗi nào họ cũng làm được, xấu xa gì họ cũng không sợ, mất hết lương tri. Đạo Phật chủ trương giác ngộ, muốn được giác ngộ, trước phải điềm đạm tĩnh sáng, Phật tử vì giác ngộ, vì lợi ích cho mình, cho người quyết hẳn không uống rượu. Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dùng rượu hoà với thuốc mới lành thì có thể dùng rượu như vị thuốc. Phật tử được uống rượu thuốc đến khi lành bệnh thì chấm dứt, cần phải trình cho chư Tăng biết trước khi uống.

Người tu tập, Phật tử thực hành năm giới cấm là tạo dựng cho mình và xung quanh một đời sống có ý nghĩa. Người biết giữ gìn năm giới đã tạo thành căn bản đạo đức an lành cho bản thân. Không sát sanh, bản thân ta không bị giết, hoặc bị tù tội, cũng không có thù hận về nợ máu với nhau. Thế là chúng ta không sống trong kinh hoàng, sợ hãi do thù hằn gây nên. Không trộm cắp bản thân ta không mắc tù tội về trộm cướp. Thong thả đi bất cứ đâu cũng không lo bị người nghi ngờ theo dõi. Không tà dâm bản thân ta không phải lao thân khổ sở bàn tán mọi điều, mọi người đều tín nhiệm và tin cậy ta. Tự mình an ổn, gia đình cũng an ổn. Không nói dối ta không phải hối hận, lời nói tạo được niềm tin với mọi người. Người hay nói dối sẽ bị xã hội đánh giá thấp, hành động hay lời nói không được ai tán trợ. Không uống rượu, chính bản thân ta không sợ điên cuồng mất trí, một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay trong một thân hình hiện tại, chứ rượu uống vào mất trí tuệ và phải sống đi chết lại vô số kiếp. Không uống rượu còn tránh được cơ thể bệnh hoạn, suy yếu. Bản thân ta được bình tĩnh, sáng suốt, đối với mọi người đều được quý kính. Đó là lợi ích bản thân trong hiện tại. Nếu về mai sau, không sát sanh sẽ được thân mạnh khoẻ sống lâu. Không trộm cướp được tài sản sung túc, không ta dâm thân thể đẹp đẽ trang nghiêm. Không nói dối sẽ được lợi khẩu về ăn nói khôn ngoan mọi người yêu chuộng. Không uống rượu thì được trí tuệ sáng suốt.

Năm giới là nguyên tắc sống của mọi người có lương tri. Nếu xã hội con người biết giữ gìn năm giới ấy dù phân nửa thôi thì xã hội có đời sống tin cậy, an lạc hơn. Năm giới này mang giá trị nhân bản là không ai có thể phủ nhận được khi thẩm định được đâu là giá trị cao khiết của con người. Không xã hội nào, không người nào chối bỏ năm giới ấy mà tạo dựng xã hội tốt đẹp đáng sống được.

Người không sát sanh thì có lòng nhân từ, không lừa gạt, không nói dối, không ăn trộm, không tà hạnh lang chạ và không uống rượu say sưa hư đời. Trái lại một người chuyên lừa đảo gian dối thì liền phát sinh nói đủ thứ để dối gạt. Say sưa rượu chè, cờ bạc thì chuyên lang chạ này nọ phát sanh. Thiếu túng tiền thì đưa đến lừa gạt, gian dối để kiếm tiền chỉ vào cơn nghiện rượu cờ bạc. Người tu Phật muốn thanh tịnh hoá thân tâm thì phải có ý chí, trí sáng gỡ mình ra khỏi sự nguy hại, hư đốn của năm phạm vi ấy là nhờ biết được sự nguy hại và luôn thắp sáng ngọn đèn giữ giới trước chư Phật, Pháp, Tăng.

Ta thấy năm giới quả là nền tảng cho mọi thứ bậc tu tập. Bài học làm người có tư cách phát sinh từ năm giới, ta phải làm mãi, giữ mãi suốt đời. Năm giới trong đạo Phật được thực hiện song song với ba đức Bi, Trí, Dũng để tự mình và kẻ khác đều có an lạc, lợi ích. Giới luật dẫn dắt tâm mình theo đời sống thánh hạnh mà năm giới là nền tảng cốt yếu. Kinh Pháp Cú có ghi rằng:

“Thế gian ai phạm đạo người,

            Sát sanh, trộm cắp, nói cười điêu ngoa.

Tửu sắc say đắm la cà,

             Hành vi như thế đúng là tự gây.

Ngay trong hiện tại đời này,

            Thiện căn tự bỏ, tạo vay khổ sầu”.

Thật đúng như vậy, người hành theo giới luật phải đặt giới trên nền tảng thực hành kiên quyết mới phát lộ được tư cách chói sáng chất thật của người trên danh nghĩa là Phật tử. Để từ đó, đại diện cho người tiêu biểu của nền văn minh thanh khiết tinh thần của đạo Phật. Thánh nhân quay về thực hiện và hành trì ngũ giới với chính bản thân mình mới là điều quan trọng và thiết yếu hơn cả.

 

BÀI LIÊN QUAN

Để bớt than phiền trong cuộc sống  ( Chơn Thường , 10512 xem)

Như Sen Mùa Hạ  ( Hương Liên , 7738 xem)

Những Lợi Ích Thiết Thực Khi Học Qua Lịch Sử Đức Phật  ( Liên Ngọc , 11307 xem)

Một Chút Tình Đời  ( Liên Nguyên , 6543 xem)

Tư Duy Tích Cực  ( Liên Khiêm , 5663 xem)

Sự Hy Sinh Của Cha Mẹ  ( Liên Nguyên , 11679 xem)

Tưởng Ấm Ma  ( Liên Tâm , 10826 xem)

Con Đường Học Phật  ( Liên Hảo , 10281 xem)

Hạ Về  ( Liên Bảo , 5902 xem)

Hoài Niệm thầy  ( Liên Hương , 20384 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ