Trang chủ > Phật Học > Thiền

Tay mắt khắp thân

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Xem: 6658 . Đăng: 20/01/2018In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

TAY MẮT KHẮP THÂN.

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

Thiền sư Đạo Ngô Tông Trí, từ nhỏ đã y chỉ với Hòa Thượng Bách Trượng Niết Bàn (trong sử sách Thiền Tông có ghi, Hòa Thượng Bách Trượng Niết Bàn tức là Thiền sư Bách Trượng Duy Chính, vì ngài thường tụng kinh Niết Bàn nên gọi như vậy) xuất gia thọ giáo. Khi lớn được thọ giới cụ túc xong, Hòa Thượng Niết Bàn bảo ông đến Dược Sơn Lễ Châu (nay là thôn Đường Hoa, thành phố Thường Đức tỉnh Hồ Nam) tham yết Thiền sư Duy Nghiễm. Ông không đồng ý, thưa, thiền Giang Tây (dòng chính của Mã Tổ Đạo Nhất) là tiệm vàng, thiền Hồ Nam (dòng chính của Thạch Đầu Hi Thiên) là tiệm tạp hóa. Hòa Thượng Niết Bàn đánh ông một gậy, bảo: “Thằng nhỏ miệng vàng như ngươi, chỉ nhìn thấy sự náo nhiệt của tòng lâm Giang Tây, mà không lãnh ngộ được sự cao ngất của thiền Hồ Nam. Ngươi nên biết, hơn mười vị Sư bá sư thúc của ngươi, tuy trải qua sự đào tạo rèn luyện trong lò lớn của Mã Tổ mà vẫn là một miếng thép cứng, nhưng Tổ sư Thạch Đầu chỉ một câu nửa lời lại gợi ý được cho họ đại triệt đại ngộ. Sư huynh Dược Sơn Duy Nghiễm lại là đại thiện tri thức được Tổ sư Thạch Đầu và Mã Tổ cùng đào tạo ra, tập trung thiền yếu của hai vị trong một thân ngài, Thiền sư khắp trong thiên hạ có lẽ chỉ có Bách Trượng Hoài Hải mới có thể cùng bàn luận với ngài thôi.”

Tông Trí nghe Hòa Thượng Niết Bàn nói như vậy, trong lòng lập tức tràn đầy sự qui kính vô hạn đối với Dược Sơn. Thiền Tăng vân du thiên hạ, đầu đội chiếc nón rộng vành, thì có thể ngăn gió che mưa; tay cầm một gậy trúc thì có thể ngày đêm lên đường. Ông đi thẳng xuống phía Tây, vượt qua sông Tương, lội qua sông Tư, từ bên bờ sông Cán đến bến sông Nguyên. Dãy núi Dược Sơn cao chọc trời, thiền chỉ Dược Sơn vi diệu không thể bàn kể.

Một hôm, Tông Trí theo hầu Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm đi dạo núi. Tông Trí thấy trong thắt lưng Sư Phụ có đeo dao giới, liền kiếm cớ hỏi chuyện, thực ra là để hỏi thiền: “Thưa Sư Phụ thứ đeo sau lưng Ngài là gì vậy?”

Dược Sơn im lặng, rút dao giới ra. Bỗng nhiên chém trên miệng Tông Trí…

Như vậy, ngươi phải biết là cái gì rồi chứ?

Một hôm khác, Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm viết chữ trong phương trượng. Tông Trí đứng hầu một bên để đưa bút mực, Đại sư Dược Sơn nhắm mắt định thần. Sau đó, chấm đầy mực đậm, viết trên giấy một bộ Nhân ở một bên. Tông Trí đoán: Phật là do người làm nên, cho nên viết chữ Phật trước tiên phải viết chữ Nhân, có lẽ Sư phụ muốn viết một chữ “Phật” thật lớn. Quả nhiên, ngòi bút của Dược Sơn lượn như rồng rắn, một chữ “Phật” già dặn cứng cáp giống như khắc chạm, đúc tạc nổi trên giấy. Dược Sơn quay đầu lại hỏi Tông Trí : “Đây là chữ gì?”

Tông Trí thốt ra một tiếng: “Phật.”

Dược Sơn Duy Nghiễm ném bút xuống, mắng: “Ông sư lắm chuyện!”

Cũng giống như lần bị sư phụ dùng dao chặt miệng vậy, một lần nữa Tông Trí cảm nhận được thiền cơ cuồn cuộn đến, ông vội vàng chắp tay thi lễ, thưa rằng: “đệ tử chưa rõ việc lớn, khẩn cầu Hòa thượng chỉ thị tâm yếu.”

Đại sư Dược Sư Duy Nghiễm im lặng rất lâu, thời gian, tựa hồ như đã ngưng lại; không gian, cũng ngưng kết lại thành một khối băng trong suốt…

Trời sáng đã lâu lắm rồi, Dược Sơn mới từ từ nói: “Hôm nay ta nói cho ngươi một câu cũng không khó gì, chỉ là nếu ngươi có thể lập tức lãnh hội thì xem như không nhiều lắm. Nếu ngươi vì đó mà rơi vào trong suy nghĩ dài lâu, thế là lỗi của ta rồi. Vì vậy, chẳng bằng bớt một ít chuyện, ta, ngươi và mọi người ai nấy đều tự ngậm miệng lại, khỏi phải liên lụy lẫn nhau!”

 Tông Trí có cả một bụng nghi vấn, rõ ràng bị Sư Phụ làm cho tắc nghẽn lại, tâm ông không thể không thu lại vào trong. Thế nhưng, chính trong thời gian ngắn ngủi đó huệ tâm ông thúc liễm vào trong, hồi quang phản chiếu, đột nhiên khế nhập tâm ấn của thiền Dược Sơn.

Tông Trí sau khi khai ngộ, lời nói việc làm đều khác. Một vị thiền tăng hỏi: “Vạn dặm không có mây không phải là bầu trời xưa nay, Xin hỏi, bầu trời xưa nay là gì?”

Thiền sư Tông Trí ngẩng đầu nhìn bầu trời, nói: “Hôm nay vừa vặn để sàng lúa tốt.”

Dược Sơn Duy Nghiễm khai thị tại pháp đường rằng: “Có một câu nói, trước nay chưa hề nói với ai.”

Thiền sư Tông Trí cười, từ trong đại chúng đứng lên nói: “Cùng nhau đến thôi.”

Cao xa vời vợi, không dễ suy lường. Cảnh giới tuyệt đối của thiền, không có cách nào có thể bàn luận. Cho nên, bất cứ là ai, cũng chưa từng nói cho ai cả. Thế mà, không thể nói rõ, lại không thể ngầm chỉ. Lời nói của Dược Sơn, vốn dĩ chính là phương tiện mà chỉ thị, cho nên, Tông Trí có tâm sắc sảo nói “Cùng nhau đến”. Nhưng mà lời nói của họ như tiên nhạc vi diệu của ống tiêu trời vậy, có người nghe được rõ ràng, có người lại mơ hồ. Thế là, có một vị Tăng hỏi: “Câu mà Dược Sơn không nói cho ai đó, nó như thế nào?”

Đại sư Dược Sơn từ bi, mở lời nói: “Không thể nói.”

Tông Trí không khách khí, hét thẳng vào Sư phụ: “Đã sớm nói ra rồi!”

Một hôm, trời sắp tối, Tông Trí mang toàn thân sắc núi, toàn thân ráng chiều trở về chùa, đi đến phương trượng. Đại sư Dược Sơn hỏi ông: “ông đi đâu về thế?” Thiền sư Tông Trí thưa: “Con đi dạo núi về.”

Dược Sơn Duy Nghiễm bỗng đất bằng nổi gò núi, không gió nổi phong ba, hét lên hỏi: “Không rời nhà này, nói mau, nói mau!”

Tông Trí mỉm cười, thưa: “Quạ trên núi đầu như tuyết, cá lội dưới khe bận rộn không ngừng.”

Trời ạ, đây là cảnh giới gì vậy? Quạ vốn dĩ toàn thân đen sì, Tông Trí lại nói đầu của nó trắng như tuyết. Khe núi u tĩnh, cá lội tiêu dao, ông lại cho rằng chúng đang qua lại như thoi, bận rộn không ngừng! Nhưng mà, từ trong câu nói trái ngược với lý thông thường chúng ta lại cảm nhận được sự linh hoạt và siêu thoát của Thiền.

Pháp hiệu của Thiền sư Tông Trí là “Đạo Ngô”, bởi vì sau này ngài mở pháp tịch, hoằng dương thiền đạo ở núi Đạo Ngô - Đàm Châu. Các đệ tử mà ngài bồi dưỡng như Thạch Sương Khánh Gia, Tiệm Nguyên Trọng Hân đều trở thành hóa chủ một phương. Thế nhưng, có một người làm xúc động lòng người nhất đó là một vị thiền giả vĩ đại không hề nghĩ đến lợi ích của mình mà chuyên làm lợi ích cho người, đó là Đạo Ngô Tông Trí.

Ông trút hết 20 năm tâm huyết tìm kiếm một người tài làm rường cột mà ngàn năm khó gặp - Hiệp Sơn Thiện Hội, thế mà ngài lại bảo Hiệp Sơn Thiện Hội đi bái yết sư đệ của mình là Thuyền Tử Đức Thành, từ đó giúp cho pháp mạch về sau này của Thuyền Tử Đức Thành đã có người nối tiếp (xem “Thiền Sơn Thiền Thủy. Sanh Mạng Đích Thăng Hoa”) làm cho phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng của ông vượt xa người kế thừa của ông. Nên biết, phải chăng tên tuổi một người có thể được lưu truyền sử xanh, phần lớn là do pháp mạch truyền thừa của đời sau quyết định. Có biết bao nhân vật vĩ đại khai tông lập phái đều do vì thiếu người kế tục mà giữa đường phải rơi rụng, vùi lấp trong dòng lịch sử dài lâu, không còn dấu vết….

Càng khiến cho người cảm động hơn là tình cảm Ngài đối với Sư huynh đồng môn Vân Nham Đàm Thành.

Vân Nham Đàm Thành là bạn của Đạo Ngô Tông Trí từ lúc còn nhỏ ở trên núi Bách Trượng - Năm đó, khi ông theo Hòa thượng Bách Trượng Niết Bàn xuất gia, Vân Nham Đàm Thành đã là thị giả của Bách Trượng Hoài Hải. Hai người họ, thuở còn bé chơi với nhau vô tư hồn nhiên, cùng lên núi hái quả dại, cùng xuống sông bắt cá nhỏ, kết bạn trèo cây leo tường, cùng bướng bỉnh càn quấy, thậm chí, ngay chịu đòn của Sư phụ cũng cùng ngã cả hai mông… Mỗi tảng đá, mỗi suối trên núi Bách Trượng đều mang niềm vui tuổi niên thiếu của họ. Mặc dù ông lớn tuổi hơn Vân Nham, khai ngộ sớm hơn Vân Nham và là đệ tử lớn của Thiền sư Dược Sơn, nhưng vì Vân Nham tăng lạp lớn hơn ông, cho nên, ông luôn gọi Vân Nham là sư huynh.

Năm Đạo Ngô Tông Trí tròn hai mươi tuổi, sau khi thọ giới, rời núi Bách Trượng. Dưới sự khuyến khích của đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm đã đại triệt ngộ. Nhưng Vân Nham Đàm Thành tuy làm thị giả cho Bách Trượng Hoài Hải 20 năm mà mãi đến lúc Đại sư Bách Trượng viên tịch, trong lòng ông vẫn là một khoảng mờ mịt, giống như bị nhốt trong thùng dầu hắc vậy.

Đạo Ngô Tông Trí viết cho ông một bức thư, nói: “Thạch Đầu là tiệm vàng ròng, Giang Tây là tiệm tạp hóa. Sư huynh còn do dự ở đó làm gì? Nhanh đến, nhanh đến, nhất định, nhất định!”

Vân Nham thật là từ Giang Tây thiền phong mạnh mẽ, đi đến Hồ Nam tương đối im ắng. Tại Dược Sơn, Vân Nham đã mấy lần đối cơ với đại sư Duy Nghiễm, trước sau vẫn không cách gì lãnh hội được diệu chỉ của thiền Dược Sơn, nên thất vọng mà cáo từ. Thiền sư Đạo Ngô lập tức thu dọn hành trang, đi theo.

Đại Ngô đi cùng ông từ Hồ Nam đến Hồ Bắc rồi An Huy, suốt đường treo đèo lội suối đi đến Trì Dương - đạo tràng của Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện. Vân Nham cho rằng, đại sư Nam Tuyền là sư đệ của tiên sư Bách Trượng Hoài Hải, thiền phong gần gũi, dễ dàng khế nhập. Ai ngờ, sau khi nhập môn, Đạo Ngô lại rất ăn ý với Nam Tuyền, sắc sảo đối đáp, hài hòa giống như cùng được trời đất tạo nên vậy. Mà Vân Nham, lại giống như kẻ điếc xem kịch, chỉ thấy họ múa máy mà không biết những điều họ nói. Đây thật đúng là, chưa thể vào được cửa, bốn phía đều gặp tường, mướp đắng trộn hoàng liên, thanh mai thêm giấm. Mãi đến lúc này, Đạo Ngô thấy đúng khế cơ, nói: “Sư huynh, xem ra cơ duyên của huynh cũng không phải ở đây rồi!”

Thế là, Đạo Ngô vừa dỗ vừa khuyên, lại dẫn Vân Nham trở về Dược Sơn. Vân Nham đã cùng đường, đành quyết một lòng làm môn đệ tại Dược Sơn, toàn tâm toàn ý tu tập thiền Dược Sơn. Tâm ông như con khỉ hướng ngoại tìm cầu, nay đã an định trở lại, dưới sự gợi ý của đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm. Ông đã dễ dàng ngộ nhập thiền đạo.

Sau khi khai ngộ, Vân Nham lập tức cáo từ Sư phụ, Thiền sư Dược Sơn hỏi ông đi đâu? Ông nói đi đến gặp Sư huynh Qui Sơn Linh Hựu. Thiền sư Dược Sơn hỏi đến gặp để làm gì? Vân Nham thưa: “lúc con và Qui Sơn Linh Hựu cùng ở chỗ tiên sư Bách Trượng, con làm thị giả, Sư huynh Linh Hựu làm điển tòa (người quản lý nhà ăn), hai chúng con tâm đầu ý hợp, không xa rời nhau, cùng giúp đỡ cho Bách Trượng. Sau này, Sư Huynh Linh Hựu tâm khai được ngộ, phụng mệnh đi khai sáng ở núi Đại Qui. Lúc sắp chia tay, con có một nguyện vọng, nếu con cũng có thể ngộ triệt bản lai diện mục, nhất định phải nói rõ với Sư huynh việc này.”

Dược Sơn Duy Nghiễm im lặng, Vân Nham từ biệt xuống núi.

Trời sắp tối, Đạo Ngô Tông Trí đi đến phương trượng, Sư Phụ và ông nói về chuyện Vân Nham xuống núi. Ông nhạy bén nhận ra đuôi mày Sư phụ rướn lên trên, nên vội hỏi: “Thưa Sư Phụ, Sư huynh Vân Nham đã khai ngộ rồi, còn có gì chưa thỏa đáng sao?”

Dược Sơn nói: “Mắt của nó tuy đã sáng, nhưng thiếu mài dũa, cho nên những tập khí hình thành từ ngày xưa vẫn còn, không thể phân biệt rõ ràng để đào thải, trừ bỏ sai trái giữ lại chân thật.”

Đạo Ngô Tông Trí nghe lời này, xuất phát ngay trong đêm, ngày hôm sau, cuối cùng cũng đã đuổi kịp Vân Nham ngay trên ruộng vườn của chùa. Họ cùng đi đến núi Đại Qui. Qui Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham: “Bồ Đề lấy gì làm tòa?”

Bồ Đề tức là đại trí tuệ giác ngộ, Qui Sơn dường như là đang hỏi trí tuệ lấy gì làm cơ sở, cho nên suy nghĩ rồi trả lời rằng: “Đương nhiên lấy” vô vi” làm tòa.”

Thiền sư Qui Sơn Linh Hựu không cho là như vậy, mỉm cười. Vân Nham hỏi ngược lại Thiền sư Qui Sơn, Qui Sơn trả lời: “Ta thấy, Bồ Đề nên lấy các pháp không làm tòa.” Thiền sư Qui Sơn nói xong, lại hỏi Đạo Ngô: “Đại Thiền sư, ông nhận thức như thế nào?” Thiền sư Đạo Ngô nói: “Ngồi cũng nghe theo ông ngồi, nằm cũng theo ông nằm, có một người không ngồi cũng không nằm, nói mau! Nói mau!”

Thiền sư Qui Sơn chắp tay làm lễ mà lui ra. Vân Nham rõ ràng cảm giác được khoảng cách của mình. Lúc đó, Đạo Ngô nói với Vân Nham những điều sư phụ chưa yên tâm. Vân Nham nhanh chóng tỉnh ngộ, vội cùng Đạo Ngô trở về Dược Sơn, mãi đến lúc Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm viên tịch, ông vẫn luôn ở bên cạnh sư phụ.

Từ đó về sau, Đạo Ngô và Vân Nham luôn luôn khuyến khích rèn luyện lẫn nhau, thường đối đáp trao đổi thiền cơ, đem thiền ý hoạt bát dung hòa vào trong cuộc sống, tung rải trên Dược Sơn.

Một hôm, Đạo Ngô cầm nón từ trong liêu phong đi ra, Vân Nham chỉ cái nón hỏi: “Dùng cái này làm gì vậy?”

Đạo Ngô trả lời, đương nhiên có chỗ dùng. Vân Nham đột nhiên nổi gió làm sóng, hỏi: “Bỗng nhiên gặp lúc mưa to gió lớn sắp nổi lên thì sao?”

Thiền sư Đạo Ngô bình tĩnh trả lời: “Che đậy lên.”

Vân Nham lại đất bằng dậy sóng, đem sự nhạy bén của Thiền đẩy lên một trình độ cao hơn mới mẽ hơn: “Ông, còn phải che đậy sao?”

Ông, cái tự nhiên ông chỉ là tự tánh, bản lai diện mục. Tự tánh vô hình vô tướng, làm sao mà che đậy? Thiền sư Đạo Ngô hăng hái, cười lớn, nói rằng: “Tuy là như vậy, mà không thấm ướt.”

Vân Nham thể hội được một loạt ý cảnh hoàn toàn mới mẽ từ trong câu nói thiền đó . Ngăn chặn triệt để không cho thấm qua là gia phong nhất quán của Sư phụ Dược Sơn Duy Nghiễm của họ; nay, Thiền sư Đạo Ngô lại đem nó đập vỡ ra thành ý mới. Sau đó, đệ tử dưới trướng của Vân Nham là Động Sơn Lương Giá sáng lập ra Tông Tào Động, còn có thêm ba thuyết “thẩm lậu” (lọt qua) nữa. Từ trên một ý nghĩa nào đó, yếu chỉ của Thiền Tào Động, chính là ở chỗ ngăn chặn tuyệt đối không cho thấm qua. Sở dĩ Tông Tào Động có thể cùng tồn tại song song với Tông Lâm tế, ruỗi rong thiền đạo, lưu truyền mãi cho đến ngày hôm nay, chính là nhờ vào công phu độc đáo về việc ngăn chặn triệt để không cho lọt qua.

Thân thể Vân Nham không được khỏe, đưa vào ở trong nhà Niết Bàn (phòng cho bệnh nhân bệnh nặng), lúc Đạo Ngô đến chăm sóc ông, đã không dùng lời an ủi, cũng không thương cảm rơi lệ, mà hỏi: “Lìa xác thô lậu này ( thân thể), đến đâu để gặp nhau?”

Vân Nham nói: “Gặp nhau nơi không sanh không diệt”.

Thiền sư Đạo Ngô mắng: “Vì sao không nói: nơi chẳng không sanh không diệt, cũng không mong gặp nhau?” Vân Nham nghe lời này, bịnh tình tự nhiên thuyên giảm - không mong không cầu , rỗng rang trong sáng, tâm thiền linh động, thì có bịnh gì?

Một hôm, Vân Nham ngồi dưới hành lang, xỏ kim xâu chỉ vá đôi giày cũ. Đạo Ngô hỏi: “Làm gì?” - đã biết rõ mà cố hỏi, há không phải là phí lời sao? Nhưng nếu thật sự phí lời, thì ông đã biết rõ mà còn cố hỏi sao? Thế là, Vân Nham trả lời một cách rất ý vị: “Lấy rách nát, vá rách nát.”

Thiền sư Đạo Ngô thay đổi cách nói mới mẽ hơn, nên nói: “Vì sao Sư huynh không nói là rát nát lại chẳng phải là rách nát?”

Là rách nát lại chẳng phải rách nát, dẹp bỏ phân biệt chấp trước, chính là sự siêu thoát của thiền.

Đạo Ngô vì muốn khảo nghiệm, rèn luyện cho Vân Nham nên khó tránh khỏi việc kéo bùn xách nước, toàn thân ê chề. Có một lần, ông cố ý hỏi Vân Nham: “Bồ Tát đại từ đại bi có ngàn tay ngàn mắt, mắt nào là mắt thật?”

Vân Nham trả lời: “Điều này cũng giống như đang nửa đêm đưa tay ra sau rờ gối.”

Mỗi người chúng ta đều đã từng trải qua những việc như thế; lúc nửa đêm, không có đèn đuốc, không chút ánh sáng. Lúc bạn lấy tay rờ gối, có cần mắt không? Mắt lại đang nhìn nơi nào?

Đạo Ngô nói mình hiểu rồi. Vân Nham hỏi ông, lãnh hội như thế nào? Đạo Ngô nói: “toàn thân đều tay mắt.”

Đạo Ngô cố ý lưu lại thiền cơ vi diệu nhất trong lời nói này, xem phải chăng Vân Nham đã hiểu rõ. Quả nhiên, Vân Nham nói: “Ngươi nói đúng lắm, nhưng chỉ là nói ra tám thành.”

Đạo Ngô giả bộ ngơ ngác, hỏi lại: “ý của Sư huynh là gì?”

Vân Nham nói: “thông thân là tay mắt.”

Khắp thân là tay mắt và thông thân là tay mắt, cái nào đúng? Cái nào sai? Không đựơc cắn câu nuốt chữ, không được tư duy tính toán, không được hư vọng nghĩ cuồng, cũng chính là nói đoạn tuyệt suy nghĩ tình trần, dùng chân tâm thanh tịnh rỗng rang để thể hội, tự có thiền cơ kỳ diệu, hoát nhiên khai ngộ!

Liên quan đến thiền cơ: Tâm Tình Thiền sư

Tăng nhân bỏ nhà xa lìa người thân, từ biệt bạn bè, không chút băn khoăn rời bỏ trần thế, dường như rất tuyệt tình. Họ không nói cười tùy tiện, mặt luôn nghiêm túc, thân như cây đã khô héo, tâm như tro nguội lạnh từ lâu, dường như rất vô tình. Nhưng mà, đây chẳng qua chỉ là những phán đoán của người thế tục, không hiểu được thế giới nội tâm của Tăng nhân, thật ra đằng sau dáng vẻ lạnh như băng của họ là thế giới tinh thần vô cùng phong phú. Tình nghĩa giữa những Tăng nhân chân chánh đồng chí đồng đạo làm cho người ta cảm động sâu sắc, khiến người rơi lệ.

Cuối đời nhà Minh, giữa những năm niên hiệu Vạn Lịch, ngoài thành Kim Lăng, bên bờ Trường Giang, một vị Tăng ngoài 50 tuổi tinh thần tiều tụy ngẩng mặt lên trời xanh, phát thệ với vũ trụ bao la: “Hám Sơn không trở về đó là trách nhiệm xuất thế lớn lao của ta; đánh thuế quặng mỏ không ngừng đó là trách nhiệm cứu thế lớn lao của ta; Truyền đăng chưa dứt là trách nhiệm huệ mạng lớn lao của ta!”

Lập tức, ông đạp cát vàng mênh mông, dọc theo con đường lớn mênh mang đi hướng về phía Bắc xa xôi mờ mịt…

Ngài chính là Tử Bá Chân Khả một trong bốn vị Đại Cao Tăng cuối đời nhà Minh. Sở dĩ ngày đêm đi không nghỉ, không quản đường xá xa xôi ngàn dặm đi đến Bắc Kinh, một là vì chịu oan khuất của bạn thân là Hám Sơn Đức Thanh Chiêu Tuyết, hai là vì trừ bỏ đánh thuế khoáng sản bá tánh một cách bịp bợm của triều đình. Hơn nữa ngài rõ ràng biết được, lần đi này không chỉ vào dầu sôi lửa bỏng mà còn rất có thể vì đó mà mất luôn cả tính mạng, nhưng ngài mang chí nguyện của Bồ Tát Địa Tạng “Ta không vào địa ngục, ai vào địa ngục”, hay là gặp việc bất bình chẳng tha.

Sở dĩ Hám Sơn Đức Thanh thân bị vào ngục oan, là vật hy sinh của cuộc đấu tranh cung đình giữa hoàng đế và hoàng thái hậu, là án thép của Minh Thần Tông khâm định làm sao dễ dàng lật đổ! Nhưng vùi lấp dân chúng trong sự thuế má về nước lửa là tên hoàng đế tham của nhất trong lịch sử Trung Quốc - “kiệt tác” của Tống Thần Tông, há có thể dung tha cho vị Hòa Thượng hoa tay múa chân này sao! Việc làm này của Tử Bá Chân Khả chỉ là con thiêu thân lao mình vào lửa lấy trứng chọi đá mà thôi! Tử Bá Chân Khả không quản những điều đó, ngài lợi dụng sức ảnh hưởng rộng lớn của mình trong dân chúng, quan viên kêu gọi khắp trong kinh thành để cứu Đức Thanh, để trừ bỏ thuế má. Hành động của Ngài thật là khiến cho Hoàng đế không vui, những đặc vụ đông xưởng cho đến những người mưu lợi khác cũng hận Ngài đến tận xương.

Mưa núi sắp đến gió đầy nhà, các đệ tử nghe tiếng gió, khóc lóc quì trước mặt Chân Khả xin ngài từ bỏ. Chân Khả nói: “Năm nọ khi ta xuống tóc, tức là đã cắt mất đầu, hôm nay làm gì có đầu để chặt! Một ngày Hám Sơn chưa từ lưu đày trở về thì ta một ngày chưa rời Bắc Kinh!”

Cuối cùng, hoàng đế bị ngài làm cho tức giận quá, đích thân hạ lệnh bắt ngài vào đại lao Cẩm Vệ, đặt ngài vào chỗ chết! Tử Bá Chân Khả cười nhạt, hai chân xếp bằng, nhẹ nhàng ra đi…

Khen rằng:

Xương kia cứng như thép

Khí kia như cầu vồng

Bạn thiền thật chân tình

Ân nghĩa đầy hư không.

Thiền sư Thâm và Thiền sư Trí Minh đều là đệ tử dưới trướng của Đại sư Vân Môn Văn Yển, hai người họ tham thiền gần nhau, giúp nhau trong lao tác, vân du cùng nhau, kết thành đôi bạn thiền thâm sâu. Thiền sư Thâm dưới sự hướng dẫn của Đại sư Vân Môn đã sớm tâm khai đạt ngộ , thoát phàm thành Thánh; mà Trí minh lại giống như một cái trứng đá, bất luận là Sư Phụ chuyển hóa thế nào, vẫn không động tĩnh gì. Thiền sư Thâm lại không vì thế mà bỏ người bạn “ngu ngốc” này, ngược lại luôn luôn gợi ý cho ông, với ý muốn giúp ông khế nhập thiền cơ huyền diệu.

Một hôm, Thiền sư Trí Minh đến thỉnh giáo Thiền sư Thâm về vấn đề liên quan đến người khai sáng tông Pháp Nhãn - một đoạn công án của Đại sư Văn Ích.

Phàm có vị Tăng hỏi: như thế nào là sắc ? Đại sư Pháp Nhãn Văn Ích hoặc là chống phất trần, hoặc là trả lời “Mào gà”, hoặc là nói: “áo lót dính thịt”. Đây là “ba loại câu mang sắc thái của Pháp Nhãn” rất nổi tiếng.

Thiền sư Trí Minh nghi ngờ không hiểu: “Phật Pháp nên chỉ có một vị. Vì sao cùng một câu hỏi mà lại có ba đáp án? Nếu nói sắc là vạn sự vạn vật, vì sao lại chỉ có ba đáp án?”

Thiền sư Thâm mỉm cười, không trả lời. Bởi vì ông biết, thiền ngữ của Tổ sư đều là ứng cơ mà nói, thoát ly ra khỏi hoàn cảnh riêng kia, chỉ mò mẫm trên ngôn ngữ văn tự, giống như khắc thuyền tìm kiếm. Lấy đó là ngộ Thiền, khác nào trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Thiền sư Thâm vì muốn giúp cho sư đệ cùng tham thiền của mình cảm nhận thiền cơ của công án này một cách thiết thực đã không quản trăm ngàn lao khổ, không ngại trăm sông ngàn núi, dẫn sư đệ từ Quảng Đông trèo non lội suối vượt qua mấy ngàn dặm đi đến chùa Thanh Lương ở Kim Lăng- Giang Tô, bái yết Pháp Nhãn Văn Ích.

Hôm đó, gặp lúc Đại sư Pháp Nhãn Văn Ích thượng đường, Thiền sư Thâm từ trong đại chúng bước ra, thưa: “Nghe nói, Đại Hòa Thượng có ba loại sắc ngữ, phải không?”

Đại sư Pháp Nhãn Văn Ích gật gật đầu, nói: “Phải.”

“Diều hâu qua Tân La!” Thiền sư Thâm giống như nói ra một câu ngờ nghệch, càng làm cho không ngờ được nữa là ông không đợi Đại sư Pháp Nhãn có bất cứ biểu hiện gì, liền tự động trở về chỗ cũ.

Thiền sư Trí Minh xem màn kịch thoạt ẩn thoạt hiện này, trong mắt, trong tâm tự hồ có tỉnh ngộ: Diều hâu, bay rất nhanh; nước Tân La (nay là Bán Đảo Triều Tiên), xa xôi ở biển Đông; Diều hâu qua Tân La, thí dụ cho sự sắc sảo nhạy bén của Thiền, giữa lúc Thiền Tăng đang còn qua lại ràng buộc trên ngôn ngữ thì nó đã đi xa rồi.

Ngày hôm đó, vừa gặp lúc Nam Đường Hoàng Đế Lý Cảnh đang ở tại pháp đường, ông ta hoàn toàn không chấp nhận câu trả lời của Thiền sư Thâm, nên nói với Thiền sư Pháp Nhãn: “ngày mai Quả Nhân làm một bữa tiệc trà, mời hai vị Thiền Tăng từ Vân Nam mới đến này trả lời lại.”

Ngày hôm sau, tiệc trà tan, Lý Hoàng Đế đem một hòm bảo bối màu sắc rực rỡ và một cây kiếm quí sắc bén dị thường để trước mặt mọi người, sau đó nói với Thiền sư Thâm: “Nếu Thượng tọa đáp được thì thưởng một hòm trân bảo; nếu đáp không được, ở đây có một cây kiến bén, ngươi xem đó mà làm!”

Nhìn cây kiếm bén sắc lạnh kia, Thiền sư Trí Minh không khỏi giật mình, toàn thân run lẫy bẫy. Ông lặng lẽ kéo kéo tay áo sư huynh, ngầm bảo sư huynh nhất định đừng trả lời. Thế nhưng, để kích thích sự khế ngộ thiền cơ của sư đệ, Thiền sư Thâm không tiếc dấn thân vào nguy hiểm, không chút do dự đứng dậy đi ra, hỏi: “Hôm nay, phụng lệnh vua trả lời, đại Hòa thượng cho phép không?” Đại sư Pháp Nhãn nói: “Cho phép.”

“Diều hâu qua Tân La” Thiền sư Thâm giữ nguyên câu trả lời không thay đổi, sau khi nói xong tự quay lại ôm hòm trân bảo làm bằng điềm may này nghênh ngang mà đi.

Lúc đó, Thiền sư Pháp Đăng nổi tiếng là một Duy Na ở đây, ngài thỉnh chuông triệu tập đại chúng tề tập trước Tăng Đường, muốn khảo nghiệm hai huynh đệ Thiền sư Thâm. Sau khi mọi người đến đủ, Thiền sư Pháp Đăng hỏi: “Nghe nói hai vị đã lâu tham thiền dưới trướng Đại sư Vân Môn, có nhân duyên đặc biệt gì, xin đưa ra một tắc để bàn xem.” Thiền sư Thâm nói: “Cổ nhân dạy : “Cò trắng xuống đồng ngàn điểm tuyết, oanh vàng trên cây một đóa hoa.” Duy Na nói đạo lý gì?”

Thiền sư Pháp Đăng vừa muốn mở lời phát biểu nghị luận, Thiền sư Thâm liền xách tọa cụ lên, bỗng nhiên đánh vào miệng Ngài…

Từ hai lần đấu pháp kịch liệt này của sư huynh, Thiền sư Trí Minh cảm nhận sâu sắc sự thần kỳ của thiền không thể nghĩ bàn: Sự sắc sảo của thiền vi diệu đẹp đẽ. Cũng từ đó ông kiên trì quyết tâm ngộ đạo.

Để giúp ông sớm khai ngộ, Thiền sư Thâm lại dẫn Trí Minh vân du lên phía Bắc. Họ vượt qua Trường Giang cuồn cuộn, chẳng phải ngày một ngày hai mà họ đến được bên bờ sông Hoài. Lúc mặt trời xuống núi, một người đánh cá chèo một chiếc xuồng con đang kéo lưới, nắng chiều rải xuống trên những gợn sóng lăn tăn, toàn mặt sông là một màu hồng trong vắt, dường như trên mặt nước đang bùng cháy vậy. Những con cá mắc lưới đang nhảy nhót vùng vẫy, những giọt nước trên đuôi cá lấp lánh như những chuỗi trân châu, dưới ánh tà dương những vẩy cá lóe lên những phản quang màu sắc rực rỡ.

Lúc đó, một con cá chép lớn bỗng nhiên nhảy lên cao, giống như một mũi tên bạc, vạch ra một đường tuyệt đẹp trên không trung, vượt qua tấm lưới lao vào nước sông xa xa. Thiền sư Thâm để mắt đến, tự nhiên thốt ra lời khen: “Giỏi quá! Sư huynh! Nó thật thông minh, hoàn toàn giống một Thiền Tăng.”

Trí Minh nhìn làn sóng còn lăn tăn kia, dường như suy nghĩ nói: “Tuy như vậy, nhưng vẫn không bằng đầu tiên đừng lọt vào trong lưới thì tốt hơn.”

Câu trả lời của Trí Minh, nhìn trên góc độ thế tục dường như rất có lý, nhưng mà nói theo quan điểm thiền thì vào lưới và ra lưới, trong lưới và ngoài lưới, chẳng có gì khác nhau cả. Thiền sư Trí Minh, vẫn còn có sự phân biệt này. Vì thế, Thiền sư Thâm cười ha hả, nói: “Minh huynh ơi là Minh huynh, huynh vẫn còn chưa sáng, nếu như sư huynh đã sáng, thì trong ngoài đều như nhau.”

Thiền sư Trí Minh tuy nhìn thấy người đánh bắt cá, bản thân chưa hề ăn cá, nhưng trong cổ họng của ông lại mắc phải một cái xương cá - lời nói của Thiền sư Thâm như xương cá trong cổ họng, nuốt không vào mà nhổ không ra, cào xé đến nỗi ông nằm ngồi không yên, nửa đêm gà gáy vẫn còn bồi hồi suy nghĩ bên bờ sông.

Nước sông chảy lặng lẽ, sóng nước gợn lăn tăn, trăng sáng đang chiếu tỏ, tràn ngập ánh trăng trong. Nước sông giữa đêm trăng và nước sông dưới chiều tà có nhiều điều khác lạ. Thế nhưng, nước trong sông này, trên bản chất có gì khác nhau đâu? Cũng như thế, con cá kia chui vào lưới đánh cá và không vào lưới, cũng chỉ là sự khác biệt bên ngoài, tự tánh của nó không mảy may theo đó mà thay đổi!

Trí Minh vui đến nỗi nhảy ùm xuống sông, giống như con cá chép nhảy tung tăng, tự do tự tại đùa giỡn trong nước, trên mặt nước nở rộ những đóa sen trắng toát.

BÀI LIÊN QUAN

Trăng tròn rồi khuyết  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 11368 xem)

Hạt huyết trong lò lửa  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 9664 xem)

Rồng rắn lẫn lộn, Phàm Thánh ở chung  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 8800 xem)

Lợi ích của Thiền hành  ( Bình Anson dịch , 5555 xem)

Con Trâu Đất - Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung  ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 12328 xem)

Văn Hỷ và Văn Thù  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 13272 xem)

Người Trong Giếng  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 7728 xem)

Khi ngày tận thế đến gần  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 6155 xem)

Nói một trượng không bằng làm một thước  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 10760 xem)

Ẩn cư trong núi sâu nơi càng sâu hơn  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 24076 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ