Trang chủ > Phật Học > Thiền
Trăng tròn rồi khuyết
Xem: 11366 . Đăng: 20/01/2018In ấn
TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ
TRĂNG TRÒN RỒI KHUYẾT.
Tác giả : Ân Sơn
Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

Thiền sư Thạch Thất Thiện Đạo vốn là một cô nhi lang thang khắp nơi chẳng có ai quan tâm, cậu không thương, bà cũng ghét, năm ông mười tuổi, Thiền sư Trường Tư Khoáng gặp ông trên phố, dẫn ông về chùa. Thế là, ông xuất gia làm một tiểu sa di đuổi quạ. Năm tháng qua mau, thời gian tám năm để một “sa di đuổi quạ” bé nhỏ tôi luyện trở thành một “ứng pháp sa di” – không lâu nữa tức có thể chính thức tham dự những sinh hoạt trong cuộc sống của người xuất gia. Một hôm, Thiện Đạo nói với Sư phụ: “Đệ tử muốn đi thọ giới”.
Trường Tư Khoáng nói: “con thọ giới để làm gì?”
Thiện Đạo thưa: “sau khi thọ giới đệ tử có thể hành cước vân du. Đệ tử từ lâu đã muốn đi đến mây nước khắp tòng lâm, Nam Bắc sông lớn tham học, rèn luyện thiền đạo. Nhưng không có giới điệp, không dám ra đi”.
Tăng nhân sau khi thọ 250 điều giới cụ túc, mới có thể xem là một tỳ kheo chính thức. Cho nên, tăng nhân xếp hàng đều lấy giới lạp (thời hạn thọ giới) làm thứ tự.
Thiền sư Khoáng bảo: “Thọ giới phải đủ 20 tuổi mới được còn con thì sao?”.
Thiện Đạo không có lời gì để đáp đành im lặng đi ra. Một chân ông vừa bước qua ngưỡng cửa , Thiền sư Khoáng bỗng nhiên gọi ông quay lại. Thiền Đạo thưa: “sư phụ có việc gì không?”. Thiền sư Khoáng nói: “Ta không có việc mà ngươi thì có việc đấy”.
Thiện Đạo cảm thấy kỳ lạ: rõ ràng là Sư phụ gọi ta, làm sao lại là ta có việc được chứ?
“Con muốn thọ giới không phải là có việc sao!” Thiền sư Khoáng lại nói: “việc tâm chưa sạch, tích tụ thành núi. Con đã xuất gia nhiều năm trong chùa, lại đủ mười tám ròi, có thể tùy nghi một tí, cho phép con đi thọ giới thôi”.
Trong lòng Thiện Đạo vui mừng reo thành tiếng, lập tức chạy về liêu phòng của mình chuẩn bị hành lý. Sáng sớm ngày hôm sau, ông liền đến Sư phụ từ biệt ra đi. Thiền sư Khoáng dặn đi dặn lại rằng: “lúc con thọ giới trở về, nhất định phải đến Nam Nhạc Hằng Sơn để lễ bái Sư phụ của ta – lão Hòa thượng Thạch Đầu Hy Thiên. Ơ đó tự sẽ có điều tốt cho con”.
Thiện Đạo thọ giới xong, nghe lời sư phụ dặn dò, đến tham yết Tổ sư Đại sư Thạch Đầu. Đại sư Thạch Đầu Hy Thiên rất hoan hỉ với đồ tôn này, bèn giữ ông ở lại bên cạnh, dẫn dắt thường xuyên.
Một hôm, lúc Thiện Đạo theo hầu Thạch Đầu Hy Thiên vân du trên núi, Đại sư Thạch Đầu bỗng nhiên chỉ cây trước mặt hỏi: “Con đến chặt ngã cây trước mặt cho ta, để nó khỏi cản đường ta.”
Tổ sư Thiền Tông xưa, nói im động tĩnh, không gì là không phải thiền; trong một hôm mượn việc chỉ vật, tùy lúc khai thị, thiền yếu. Đại sư Thạch Đầu bảo Thiện Đạo chặt cây, chính là gợi ý việc trước mắt. Thiện Đạo ngẩng đầu đưa mắt, nhìn cây nhỏ trước mặt, nói: “Con không đem giới đao đi theo”.
Giới đao là một trong 8 vật tùy thân Tỳ Kheo mang theo để dùng vá áo là dao nhỏ hình bán nguyệt, để dùng vá áo, cắt tóc, bổ dưa. Vì đức Phật không cho phép chặt tất cả các cây cỏ, cho nên dao Tỳ kheo mang theo gọi là “Dao giới”. Đồng thời, dao giới rất bén, có thể chém đứt tất cả phiền não vì thế nó ngoài giá trị thực dụng ra, cũng có ý nghĩa trên tinh thần. Đã là đức Phật cấm chỉ vô cớ phát chặt cây cỏ, Đại sư Thạch Đầu bảo Thiện Đạo đi chặt cây trước mặt chắc có ý vị khác, mà dao giới đã là vật tùy thân của Tỳ Kheo, Thiền Đạo vừa mới thọ giới, lại nói mình không mang theo, cũng có một ý thú khác.
Đại sư Thạch Đầu rút dao giới của mình ra, nhưng lại đưa cho Thiện Đạo – bảo ông đón lấy lưỡi dao! Thiện Đạo vô cùng thông minh lanh lợi. Vừa nhìn đã biết Tổ sư đang chỉ thị thiền yếu, tâm ông cũng theo đó mà linh động, nhạy bén hỏi rằng: “vì sao không đưa đầu kia?”
“Đầu kia”, trên biểu hiện giống như đang nói cán dao, trên thực tế lại như “cái này, cái kia, bên này bên kia” mà Thiền sư thường nói, những thứ này đều đại biểu cho tự tánh, Phật tánh … không thể nói, không hình không tướng. Cho nên, Thiện Đạo cũng đang thỉnh Tổ sư Thạch Đầu chỉ thị tự tánh.
Thạch Đầu Hy Thiên lại nói: “con dùng đầu kia làm gì?”.
Đầu này, đầu kia đều là tác dụng của tự tánh, hà tất phải thêm phân biệt sai quấy? Mà tự tánh, chính ngay trong những sự việc hằng ngày như “rút dao, chặt cây” thể hiện ra tác dụng của nó; tự tánh chính ngay trong tác dụng, không thể đem nó chặt thành hai được!
Thiện Đạo ngay lập tức đại triệt đại ngộ!
Cuối cùng ông hiểu rõ Sư phụ - Thiền sư Trường Tư Khoáng đã suy nghĩ rất nhiều khi bảo ông đến Hằng Sơn.
Thiện Đạo bái biệt Sư tổ Thạch Đầu, thẳng đường lên phía Bắc, trở về Trường Tư – Đàm Châu. Thiền sư Khoáng hỏi ông: “phải chăng con đã ghé qua Nam Nhac? Gặp lão Hòa thượng Thạch Đầu chưa?”
Thiện Đạo thưa: “đến thì đã đến rồi, chỉ là chưa từng thong báo danh hiệu”.
Thiền sư Khoáng vừa nghe câu này lập tức hiểu rõ đồ đệ đã khai ngộ nhưng Ngài vẫn phải khảo nghiệm một phen xem Thiện Đạo đã thật sự đạp lên thật địa chưa: “con thọ giới với ai?”.
Thiện Đạo thưa: “không theo ông ta”.
Đúng vậy, tự tánh vốn đầy đủ, pháp thiền không cần đạt được từ người khác. Người khai ngộ rồi khế nhập đại đạo của nhân sinh vũ trụ, chân lý ở trong tay, đương nhiên vẻ hiên ngang như vua chúa, thực sự có khí khái đội trời đạp đất. Thiền sư Trường Tư Khoáng tiếp tục khảo nghiệm Thiện Đạo: “ở đó con đã được như vậy, lại còn đến chỗ ta làm gì?”.
Thiện Đạo chắp tay thi lễ, cung kính thưa: “con làm sao dám chống trái Ngài chứ!”
Đây chính là thiền giả đích thực, sức nuốt núi sông như hổ, lễ khiêm nhường cũng như đất. Ta là Pháp vương, trên trời dưới đất chỉ có ta là trên hết; thế mà, trời đất và ta cùng một gốc, vạn vật và ta cùng một loại, ta và sâu kiến bình đẳng. Ta dọc ngang trong trời đất, ta hơn Phật vượt Tổ, trước mặt ta chưa từng có thần tiên thượng đế gì cả; đồng thời, ta thuận theo tất cả quy luật của tự nhiên, ta tuân thủ lễ nghi thường tình của thế gian, ta chỉ là một người bình thường tự nhiên như vậy thôi…
Thiền sư Thiện Đạo sanh không nhằm thời, lúc ông vừa đủ lông đủ cánh, sắp muốn bay vút tận trời xanh, gặp ngay cuộc vận động tiêu diệt Phật giáo của Đưòng Vũ Tông. Chùa chiền trong cả nước mười phần phá hết chín, hai mươi sáu vạn Tăng Ni bị cưỡng bức hoàn tục. Thiền sư Thiện Đạo cũng không thể may mắn thoát khỏi, trên đầu trọc nay lại phải để tóc. Một năm sau, Đường Vũ Tông diễn xong trò điên cuồng cuối cùng, vì uống thuốc độc trong đơn dược của các đạo sĩ nên qua đời. Đường Tuyên Tông người đã từng làm Sa di trong tòng lâm Thiền tông lên ngôi, mở ra một giai đoạn thái bình thịnh thế của triều đại nhà Đường cuối cùng. Sống sót sau tai nạn lớn, hàng loạt Thiền sư khai ngộ từ trong rừng sâu núi thẳm đi ra, gánh vác sứ mạng chấn hưng Phật giáo, nhiều Tăng ni cũng đã trở về chùa. Thế nhưng Thiền sư Thiện Đạo lại không xuống tóc trở lại, ở núi Thạch Thất huyện Đàm Châu Du nơi từng ẩn cư làm một hành giả – người lao khổ nhất, thấp hèn nhất trong tự viện. Ong cũng như Lục Tổ năm nọ vậy, mỗi ngày đều đạp chày giã gạo cúng dường Tăng chúng cả chùa.
Tuy ông ở chung với những hành giả không nhập lưu, nhưng các cao tăng đại đức mến danh từ trước mà đến tham vấn vẫn lũ lượt không dứt. Mỗi khi có vị tăng đến, ông liền chống thiền trượng nói: “ba đời chư Phật, đều từ đây mà đến.” Người ứng đối rất ít khi có thể đạt đến sự khế nhập, đạt được sự chấp nhận của ông.
Đệ tử của Nam Tuyền là Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm tiếng tăm hiển hách, sau khi nghe được công án này, nói rằng: “nếu ta thấy ông ta chống thiền trượng tức bảo ông bỏ xuống, chớ hiểu tin tức này”.
Đương thời, đệ tử của Đại sư Lâm Tế - Tam Thánh Huệ Nhiên đang vân du đhương Nam bèn dùng câu nói thiền này đối đáp với Thiện Đạo, Thiện Đạo cười ha hả, nói: “Lời đọc bại hoại của người là câu nói của Trường Sa”.
Thiền sư Hạnh Sơm Giám Hồng nghe Tam Thánh Huệ Nhiên thất cơ bèn chạy đến mấy ngàn dặm, từ phương Bắc xa xôi –Trác Châu – Hà Bắc tự đến Thạch Thất. Thiền sư Thiện Đạo nghe nói Hạnh Sơn không quản ngàn dặm xa xôi mà đến, bèn xuống núi đón ông ta. Rất nhiều tăng chúng cũng theo Ngài đi ra ngoài cửa núi. Thiền sư Hạnh Sơn Giám Hồng từ xa thấy như vậy, bèn lặng lẽ đi đường vòng, lén vào gian nhà mà Thiện Đạo thường giã gạo, đạp cối gạo “thùng thùng”.
Chúng ta thấy, Thiền sư ngày xưa chính là sắc sảo và hoạt bát như thế.
Thiện Đạo nghe tiếng mà đến, Hạnh Sơn nói: “Thiền sư lao động lấy nghi thức to lớn như thế này mà tiếp đãi, bần Tăng khó mà chấp nhận.”
Thiền sư Thiện Đạo trả lời: “Bát mở tâm bưng lên, đĩa không nắp lấy đi” nói xem có gì là chấp nhận hay không chấp nhận.”
Thiền giả tâm không bị ngăn ngại, tự tại tùy duyên, bóng trúc quét bụi trần không đọng, ánh trăng chiếu xuống nước hồ không để lại dấu vết. Mặc cho bạn sóng gió khởi lên, tâm ta vẫn an nhiên tự tại.”
Có một thiền Tăng hỏi Thiền sư Thạch Thất Thiện Đạo: “Thưa Đại sư, Ngài đã từng đến Ngũ Đài Sơn phải không?”
Thiền sư Thiện Đạo trả lời “Đi rồi”
Vị tăng kia khi không mà tự nhiên nổi sóng, hỏi rằng: Ngũ Đài Sơn là đạo tràng của Bồ tát Văn Thù, vậy thì, phải chăng Ngài đã từng thấy Bồ tát Văn Thù hiển linh.?
Thiền sư Thiện Đạo là người nghề cao gan lớn, gật đầu nói: “Đã thấy rồi”
Thiền Tăng vừa vui mừng, vừa hoài nghi, hỏi vặn thêm: “thật sao, Văn Thù có lẽ từng nói với ông điều gì đó.”
Thạch thất Thiền đạo mắng ông ta: “Bồ tát Văn Thù nói, cha mẹ ruột của ngươi hiện nay đã chôn dưới mồ rồi, trên mộ đầy những bụi cỏ.”
Thiền đâu có đến nhiều hư huyễn như thế? Tâm bình thường là đạo. Sự huyền áo, kỳ ảo, thần diệu không có duyên với thiền:
Tổ sư Qui Sơn Linh Hựu người khai sáng tông Qui Ngưỡng nghe nói Thiền sư Thạch Thất Thiện Đạo công hạnh thâm sâu, thiền cơ sắc bén, kiến thức hơn người, bèn phái đệ tử đắc ý của mình là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đến khảo nghiệm. Ngưỡng sơn hỏi: “Thế nào là Phật?”
Thiện Đạo không đáp, chỉ đưa ra một nắm tay.
Ngưỡng Sơn lại hỏi: “Thế nào là đạo?”
Nắm tay của Thiện Đạo trở thành bàn tay.
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch hỏi lần thứ ba: Phật và Đạo cách nhau bao nhiêu?
“Đạo” được nói đến trong Phật giáo hoàn toàn không phải là đạo gia hay đạo giáo, Thứ nhất, đạo là chân đế của nhân sanh vũ trụ, thứ hai đạo là phép tắt để đạt đến giác ngộ, phương pháp, đường lối, cảnh giới và quá trình tu hành, thứ ba, đạo cũng là Bồ Đề – dịch ý là trí tuệ giác ngộ vô thượng.
Thiền sư Thiện Đạo đưa ra một cánh tay, đầu tiên mở ra thành bàn tay, tiếp tục nắm lại thành nắm tay, sau đó trả lời: “Đạo như duỗi cánh tay, Phật như co thành nắm.”
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch gật đầu. Ông hiểu rõ, Đạo tức là Phật, Phật tức là Đạo, hai thứ vốn là một, chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài mỗi thứ mỗi khác. Nhưng cuối cùng cả hai mỗi thứ đều có một chỗ vi diệu của nó, có sự sai biệt vi tế, hoàn toàn là chỗ dụng công khế nhập. Vì thế, Ngưỡng Sơn hỏi tiếp: “Rốt cuộc như thế nào là thỏa đáng, nên tin tưởng, nên làm theo không?”
Thiền sư Thiện Đạo dùng cánh tay kéo trong không trung 3 cái nói : “Không có việc như thế, căn bản không có gì là đáng tin cậy, hay không tin cậy, theo hay không theo?”
Xưa nay chưa có Chúa cứu thế, Đức Phật cũng chỉ đem sự giác ngộ của bản thân Ngài, chân lý tự nhiên tồn tại mà Ngài phát hiện nói cho chúng ta một con đường giác ngộ chân lý. Đi hay không đi, ngộ hay không ngộ là việc của mỗi người chúng ta.
Một hôm, gặp đúng đêm rằm, một vầng trăng sáng treo trên bầu trời phía Đông, Thiện Đạo và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đến bờ hồ Phóng Sanh ở bên ngoài chùa, ngồi trên bờ hồ ngắm trăng.
Đêm ngắm trăng bờ hồ, thiền thân ngồi bên trăng.
Hư vô có thể bắt, ý sáng trong khó truyền.
Nếu hiểu được không tâm, lớn như bóng trăng tròn.
(Dạ dạ trì thượng quán, thiền thân tọa nguyệt biên
Hư vô sắc khả thư, giảo khiết ý nan truyền
Nhược hướng không tâm liễu, trưởng như ảnh chánh viên.)
(thơ của Kiểu Nhiên- thiền tăng đời nhà Đường)
Tâm thiền như trăng, chiếu mà thường lặng, lặng mà thường chiếu, trăng thanh như thiền, sáng trong linh động, linh động sáng trong. Tâm của thiền giả, tức vật mà chân thật, thế là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch hỏi: “Vầng trăng sáng này lúc trở thành vừa nhọn vừa cong, vậy thì tướng tròn của nó đi đâu rồi? Lúc trăng sáng tròn đầy thì tướng nhọn của móc cong kia lại đi đâu rồi?”
Thiền sư Thiện Đạo nói: “Lúc trăng khuyết tướng tròn vẫn ngầm tồn tại; lúc trăng sáng tròn tướng nhọn vẫn tồn tại”.
Trong khuyết có tròn, trong tròn có khuyết, tướng tròn và khuyết dung hợp trong nhau, không có gì gọi là khuyết, không có gì gọi là tròn.
Một vầng trăng trên trời, cũng là cảnh giới thiền, lúc hiện thì ánh sáng phát sanh, nhưng lúc ẩn cũng chưa từng thiếu.
Liên quan đến thiền cơ: Khiếm Khuyết Và Tròn Đầy
Hai mươi năm trước, ông tốt nghiệp từ một ngôi trường khảo cổ chuyên nghiệp, vừa bước khỏi ngưỡng cửa đại học liền may mắn được đi theo đoàn khảo cổ do sở nghiên cứu tổ chức đi đến một vùng sa mạc lớn. Ở đó, nơi hoang mạc mênh mông này, dưới lớp đất cát mênh mang có một đô thành, huy hoàng tráng lệ. Sự huy hoàng của nó đến nay vẫn còn xán lạn trong các loại sử sách.
Khảo cổ, nghe ra có vẻ lãng mạn, như truyền kỳ, thực tế thì rất khô khan, đặc biệt là đi tìm nền văn minh thất lạc trong sa mạc lớn, chẳng khác gì mò kim đáy biển. Mặc dù họ trăm ngàn lao khổ, mãi đến lúc gần kết thúc hoạt động khảo cổ lần này, vẫn chưa có phát hiện gì lớn lao cả. Vào hoàng hôn ngày nọ, sau khi công việc kết thúc, ông đi dạo một mình quanh trại. Trong lúc bất ngờ, bàn chân đá lên một vật màu vàng chói lọi từ trong cát hoang – Trời ạ! Đây là một cái mũ vua được làm bằng vàng!
Đạp rách giày thép tìm kiếm khắp nơi, được rồi hoàn toàn không phí công vô ích! Anh ta, chàng trai lần đầu tiên ra khỏi căn nhà tranh này trong lúc vô ý tìm được mũ vua đã chấm lên một dấu chấm tròn đầy cho toàn bộ hoạt động của cả đoàn khảo cổ.
Thế nhưng trong sự viên mãn đó cũng có một vài điều đáng tiếc – trên chóp mũ chỗ cần đính ngọc thạch lại trống không. Đó chính là bộ phận quí nhất trên mũ vua kia bị thiếu.
Những năm tháng sau đó, để tìm kiếm viên ngọc quí kia bổ khuyết cho phần thiếu sót ở bộ phận trung tâm trên, ông luôn tranh thủ tất cả mọi cơ hội để đến đó, kiếm tìm, lục lọi cực khổ. Thời gian hai mươi năm nhẹ nhàng qua mau, tuy ông không tìm thấy viên đá quí thất lạc đó, nhưng trong quá trình tìm kiếm nó, trong vô tình hay hữu ý ông đã phát hiện ra nhiều văn vật trân quí và có nhiều manh mối lịch sử có giá trị cao cấp, ông cũng nhờ đó mà trác việt thành gia, trở thành người có quyền uy xây dựng lớn nhất trên phương diện này. Ông đạt được địa vị học thuật cao quí và sự tôn trọng của những người đồng hành.
Trong sự thiếu sót thai nghén sự tròn đầy.
Năm đó, ông lại đến sa mạc lần nữa, viên đá quí thiếu sót kia đã trở thành một dấu chấm mờ nhạt nhưng sở dĩ ông vẫn không ngừng đến đây tìm kiếm, là vì đã hình thành một thói quen. Hôm đó, ở giữa sa mạc, ông gặp một nhà thám hiểm.
Trong hoang mạc, khó mà gặp được người sống, ha người đương nhiên là rất vui mừng, ông không chút tiếc nuối đưa bình nước của mình cho nhà thám hiểm, nhà thám hiểm cũng mở hành lý của mình, đem thức ăn cao cấp chia cho ông cùng hưởng. Ông không nhận thức ăn, đôi mắt nhìn chằm chằm vào hành lý của nhà thám hiểm - bởi vì, ông bất ngờ nhìn thấy một viên đá quí tỏa hào quang từ phía trong hành lý này! Bằng trực giác, ông biết viên đá này chính là viên đá thất lạc trên mũ vua.
Nhà thám hiểm phát hiện ra sự khác thường của ông, khóe miệng nhếch lên nụ cười khinh rẻ. Ông dường như cũng nhận thấy sự tham lam của mình, vội vàng giải thích đây là viên đá quí có liên quan đến mũ vua mà ông đã phát hiện ra hai mươi năm trước, ông kể lại quá trình tìm kiếm cực khổ trong những năm qua. Nhà thám hiểm nghe xong lập tức đem viên đá quí giá trị liên thành này ra đưa cho ông không chút do dự.
Đây thật là vận may trên trời rơi xuống! Ông vô cùng cảm động, tuy miệng liên hồi cám ơn nhà thám hiểm, nhưng mắt thì cứ chăm chú nhìn vào viên đá ngày đêm mong cầu kia. Ông đưa viên đá quí lên líu ríu thổ lộ hết mộng hồn vây khốn trong nhiều năm, cảm thán sự thần kỳ tròn đầy kia…
Đợi đến lúc tâm trạng ông lặng lẽ bình tĩnh đôi chút, lúc ngẩng đầu nhìn lại, mới phát hiện ra nhà thám hiểm tình cờ gặp kia đã không còn thấy tung tích nữa, trên sa mạc mềm xốp chỉ lưu lại hai hàng dấu chân mờ nhạt.
Lúc này, ông mới cảm thấy toàn bộ sự việc có gì đó không thể nghĩ bàn được. Vị thám hiểm kia vì sao dễ dàng tặng viên ngọc vô giá cho ông?
Ông vội vàng men theo dấu chân đuổi theo kịp nhà thám hiểm để hỏi xem: “Là cái gì đã khiến ông đem viên ngọc quí như thế biếu không cho tôi? Thứ đó chắc chắn quí hơn cả ngọc quí!”
Nhà thám hiểm nói mình là một thiền khách hiện đại, đang đi lại con đường của Đường Tăng ngày xưa - con đường Pháp Sư Huyền Tráng đi cầu pháp. Ông lại nói : “Bất cứ vật gì, chỉ có giá trị đối với người cần nó. Ví dụ viên ngọc quí này, đối với ông, nó là ngọc quí vô giá, mà đối với ta một kẻ đi trong sa mạc như thế này thì chỉ là một gánh nặng.”
Lúc sắp chia tay, nhà thám hiểm còn nói thêm: “Nó, viên đá quí kia, ta phát hiện ra bên cạnh một bộ xương trắng âm u trong sa mạc.”
BÀI LIÊN QUAN
Hạt huyết trong lò lửa ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 9664 xem)
Rồng rắn lẫn lộn, Phàm Thánh ở chung ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 8800 xem)
Lợi ích của Thiền hành ( Bình Anson dịch , 5555 xem)
Con Trâu Đất - Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung ( Hòa thượng Thích Đức Thắng , 12328 xem)
Văn Hỷ và Văn Thù ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 13272 xem)
Người Trong Giếng ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 7728 xem)
Khi ngày tận thế đến gần ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 6151 xem)
Nói một trượng không bằng làm một thước ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 10756 xem)
Ẩn cư trong núi sâu nơi càng sâu hơn ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 24072 xem)
Thiền điện thoại ( Làng Mai , 8924 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













