Trang chủ > Phật Học > Thiền

Quy Tông Chém Rắn

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Xem: 15034 . Đăng: 01/12/2016In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

QUY TÔNG CHÉM RẮN

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Thiền sư Quy Tông Trí Thường, thường kết bạn với Nam Tuyền Phổ Nguyện hành cước. Hai vị này là đồng môn, học vấn lại tương đương, khí chất tương đồng, thấy biết giống nhau, ngay hình dáng cũng có mấy phần tương tợ, lại thêm hai vị đều là người có thần thái kỳ dị riêng có của người đã khai ngộ, cho nên mọi người thường lẫn lộn hai vị này với nhau. Trong mắt trí Thường có vảy cá, lúc Ngài đang dùng thuốc xoa bóp trị liệu, do chưa nắm bắt được lượng thuốc cho phù hợp, nên hai mắt đều đỏ lên. Cũng tốt, lần này người ta phân biệt rõ giữa Ngài và Nam Tuyền – vì thế, người đời gọi Ngài là ‘Quy Tông Mắt Đỏ’.

Vào một năm nọ, lúc hai vị đang trên đường vân du đến Lô Sơn, Trí Thường yêu thích phong cảnh đẹp đẽ nơi đây, bèn ‘lạc thảo’ tại đó – hoàn toàn không phải lạc thảo là làm cướp. Thiền sư làm ‘Lạc thảo’ là vì họ vốn đã liễu sanh thoát tử, hoàn toàn có thể an trú trong niềm vui thiền định thanh tịnh, thoải mái nhàn hạ. Nhưng, để phổ độ chúng sanh họ không tiếc hạ thấp thân phận của mình, ở trong hiện thực phiền não, ô trược để giáo hoá chỉ dạy cho người sau, nên gọi là ‘lạc thảo’.

Bồ tát Địa Tạng Vương bảo: “Ta không xuống địa ngục, ai xuống địa ngục?”, chính là bản thâộtàn tâm toàn ý làm lạc thảo.

Thiền sư Trí Thường trú trong chùa Quy Tông rất nổi tiếng. Chùa Quy Tông là chùa xưa nhất ở Lô Sơn, nằm gần suối Ngọc Liêm dưới chân núi Kim Luân phía Nam Lô Sơn. Nó vốn là biệt thự của Vương Hữu Quân – Vương Hy Chi nhà thư pháp vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc. Năm thứ sáu niên hiệu Hàm Khang đời Đông Tấn (340 Tây lịch). Vương Hy Chi, một tín đồ thuần thành của Phật giáo, mở rộng xây dựng thành một ngôi chùa. Cung thỉnh Ngài Phật Đà Da Xá là một nhà phiên dịch kinh điển Phật giáo rất nổi tiếng một Cao tăng Ấn Độ, vào trú trì. Trong thời nhà Tống, em của Tô Đông Pha – Tô Triệt – cũng tôn sùng Thiền tông như Tô Đông Pha, từng có bài thi phú:

Đến nghe Quy Tông chuông sớm hôm,

Vất vả buồn lo đến tiêu phong,

Hồ xanh đá rải trong khe suối

Bạch tháp vi phân trên núi tùng.

Cửa Phật vút cao cùng mây núi,

Bếp tăng ngồi đợi thập phương cúng.

Muốn dạo núi bắc chùa đông tây,

Hang đá nối nhau đến mấy tầng.

(Lai thính Qui Tông tảo vãn chung,

Bì lao lại thượng tử tiêu phong.

Mặc trì mạn luỹ khê trung thạch,

Bạch tháp vi phân lĩnh thượng tùng.

Phật vũ tranh hùng nhất sơn giáp,

Tăng trù toạ đãi thập phương cúng.

Dục du sơn bắc đông tây tự,

Nham cốc tương liên cánh chỉ trùng.)

Bạch tháp được ông nhắc đến trong bài thơ là một ngôi phù đồ (tháp Phật) rất tinh xảo, đẹp mắt ở đỉnh núi phía sau. Truyền thuyết cho rằng chính là tháp xá lợi của Phật Đà Da Xá.

Những ngôi chùa lớn nhỏ ở Khuông Lô tính đến mấy chục ngôi. Sở dĩ Chùa Quy Tông sau này đứng vào bậc nhất ở Lô Sơn, chủ yếu không phải do ở sự quy mô của nó mà nhờ đạo phong tu hành. Giữa niên hiệu Hiến Tông Nguyên Hoà đời nhà Đường (806 – 820 Tây lịch), Thiền sư Trí Thường lại mở rộng chùa chiền, nêu cao ngọn cờ đốn ngộ Thiền phong được truyền thừa thành một ngôi chùa lớn nhất ở Lô Sơn. Tên “Quy Tông” của nó cũng chính nhờ vậy mà có.

Trồng Ngô Đồng cốt để mời chim Phượng, ao sâu thả tơ để câu rồng dữ.

Tên tuổi Quy Tông Mắt Đỏ đã sớm vang khắp Thiền lâm, tin tức Ngài giảng pháp tiếp chúng ở Lô Sơn cứ mãi truyền ra. Tăng nạp trong thiên hạ đua nhau hội họp về. Mấy trăm Thiền tăng tề tập về pháp đường chuẩn bị rửa tai cung kính lắng nghe những lời khai thị thiền yếu tinh diệu. Ai ngờ, Quy Tông lại nói: “Các vị chớ dụng sai tâm, ở đây không có chỗ cho các vị dụng tâm. Các vị tìm gì ở đây? Đừng bao giờ tìm kiếm kiến giải trên thân thể người khác, bất kỳ người nào cũng không thể giác ngộ và giải thoát thay cho các vị. Tâm tánh các ngươi không thông, ánh sáng không chiếu, chính vì do tâm còn chướng ngại, trước mắt còn có vật vướng”.

Có một vị Thiền tăng rất dũng cảm, nghe những lời biện luận hùng hồn này vẫn dám đứng lên thưa hỏi: “Thưa Đại Hoà thượng, ý chỉ huyền diệu của Thiền là gì?”

Ngài Quy Tông mỉm cười, bảo: “Đã là Thiền chỉ huyền diệu thì không ai lãnh hội được”.

Đạo lớn vô môn, vô môn tức pháp môn; thiền chỉ huyền diệu, không có ai lãnh hội được; Đó chính là lãnh hội nơi chỗ không thể lãnh hội! thế mà Thiền tăng lại bỏ qua thiền cơ nhạy bén của Thiền sư Quy Tông ngay lúc đó, vẫn cứ xem Thiền là thứ thực có, nên không hiểu, thưa tiếp: “Vậy thì, có người cứ nghĩ đến ý chỉ của Thiền, thì nên làm như thế nào?”

Thiền sư Quy Tông nhẫn nại giải thích: “Cứ nghĩ đến chính là chấp trước, là trái với tông chỉ của Thiền”.

Đã không thể hướng đến, thế thì đừng hướng đến nữa. Tâm trí của Thiền tăng rơi vào trong nhị nguyên đối lập, nên cho rằng chẳng phải cái này tức là cái kia, chẳng phải cái kia tức là cái này, không ngừng so sánh, phân biệt, lựa chọn, cho nên ông lại hỏi tiếp: “Lúc không nghĩ về nó thì như thế nào?”

“Không nghĩ về, thì ai tìm cầu ý của Thiền tông vậy?” Thiền sư Quy Tông hỏi lại.

Bởi vì Thiền tăng trong lòng mờ mịt, cho nên bị hỏi lại càng mù tịt hơn. Bây giờ càng mù tịt, không còn thấy gì nữa. Thiền sư Quy Tông lắc lắc đầu, thở dài nói: “Đi di, ở đây không có chỗ cho ngươi dụng tâm”.

Nhưng, thói quen khó sửa. Thiền tăng lại dụng tâm ‘nơi đây’, hỏi theo một cách khác: “Thiền, lẽ nào lại không có cửa phương tiện, để cho những chúng sanh bị khổ nạn như chúng ta có thể khế nhập?”.

Gọi là phương tiện tức là thiện xảo, chỉ cho trí phương tiện và trí tuệ Bát nhã. Thiền sư đã khai ngộ , tâm hành tịch diệt, chứng đạt được thật lý, tức là trí tuệ Bát Nhã, họ có thể quán sát căn cơ của chúng sanh, thông hiểu trí tuỳ cơ ứng biến (quyền mưu) gọi là trí phương tiện. Quả nhiên, Thiền sư Quy Tông mở cửa phương tiện nói rằng: “Trí lực diệu kỳ của Quán Âm có thể cứu độ khổ ách của thế gian”.

Thiền tăng lại hăng hái: “Trí lực diệu kỳ của Quán Âm là gì?”

Thiền sư Quy Tông thuận tay cầm tích trượng gõ xuống nắp đỉnh ba cái, hỏi: “Nghe thấy không?”

“Nghe thấy rồi, nghe thấy rồi!”

Nhưng Thiền sư Quy Tông lại nói: “Sao ta lại không nghe thấy?”

Vị tăng kia cứng lưỡi không đáp được,Thiền sư Quy Tông quơ quơ thiền trượng, đuổi ông ta ra khỏi pháp đường.

Để đánh tan tâm lý ỷ lại của các đệ tử, đã lâu lắm Thiền sư Quy Tông không thăng toà thuyết pháp, mà có lên pháp đường thì Ngài cũng chỉ ngồi im lặng chẳng nói lời nào. Một hôm, Ngài ở trong pháp đường luôn miệng nói: “Hôm nay ta muốn giảng Thiền, các vị muốn nghe thì bước lên phía trước gần hơn một tí”.

Các đệ tử vội vàng quây quần lại, Thiền sư Quy Tông nói: “Ngươi nghe hạnh Quán Âm, khéo ứng hiện các nơi”.

Một đệ tử hỏi: “hạnh Quán Âm là như thế nào?”

Thiền sư Quy Tông duỗi tay ra, búng ngón tay, hỏi: “Các vị, các vị có thể nghe thấy không?”

Các đệ tử đồng thanh trả lời: “Có thể nghe thấy”.

Thế mà Thiền sư Quy Tông lại buột miệng chửi lớn: “Các người là một lũ ngu ngốc, đến đây tìm kiếm gì vậy?”

Vừa chửi, Ngài vừa múa thiền trượng, đuổi các đệ tử ra khỏi pháp đường, sau đó một mình cười lớn trở về phương trượng.

Thiền sư Quy Tông có một bài kệ, có lẽ có thể có ít nhiều bày tỏ được thiền cơ trong đó:

“Da trâu bịt đầu cột,

Đầu cột kêu hu hu,

Tai phàm không nghe thấy,

Chư thánh cười ha ha”.

( Ngưu bì vãn lộ trụ,

Lộ trụ thu thu khiếu,

Phàm nhĩ thính bất văn,

Chư Thánh kha kha tiếu.)

Một vị Thiền tăng muốn đi ra ngoài hành cước, lúc anh ta đến phương trượng cáo biệt, Thiền sư Quy Tông quan tâm hỏi xem anh ta đi đến nơi nào. Vị Tăng này đáp không đúng câu hỏi, thưa rằng: “Con đến các tòng lâm ở phía Nam Bắc Đại Giang, học tập năm vị thiền”.

Thiền sư Quy Tông nói: “Ở những nơi khác có năm vị thiền, ở chỗ ta chỉ có một vị thiền”.

Vị Tăng này xem ra cũng nhạy bén lập tức hỏi dồn: “Một vị Thiền là gì?”.

Thiền sư Quy Tông cũng không nói, đưa Thiền trượng lên rồi đánh Thiền trượng xuống. Gậy rơi xuống đầu, tư duy tính toán tự nhiên bị cắt đứt. Đó chính là một vị Thiền! Trong tâm Thiền tăng trống rỗng linh hoạt, nên vội vàng hét lên: “Sư phụ, đừng đánh, đừng đánh, con biết rồi!”.

“Nói, mau đi!”.

Vị Tăng này vừa muốn mở miệng, Thiền trượng của Quy Tông lại đánh xuống…

Thiền, mở miệng là sai, động niệm là quấy. Đợi bạn mở miệng, lại đánh cho thôi. Vị Tăng này rỗng rang tỉnh ngộ. Sau đó, anh ta vân du đến núi Hoàng Bá, tham bái Thiền sư Hy Vân. Thiền sư Hy Vân hỏi anh ta: “Sư thúc Quy Tông có dạy thiền gì không?”

Thiền tăng đem câu chuyện này kể với Ngài. Thiền sư Hoàng Bá Hy Vân tự cho mình rất cao tay. Ngoài Sư phụ Bách Trượng Hoài Hải của mình ra, ngay cả Nam Tuyền Sư Thúc cũng không chịu thua, nay lại chắp cả hai tay, tán thán rằng: “Mã Tổ truyền ra 80 vị đệ tử, nếu bị thiện tri thức hỏi, thì ai nấy đều như trẻ con, trong đũng quần ướt đẫm. Chỉ có Sư Thúc Quy Tông còn được như thế”.

Một mùa xuân nọ hoa rừng lãng mạn nở đầy, một vị Tăng vân du đạp lên hương hoa mà đến. Ngài chính là một đệ tử quan trọng nhất của Thiền sư Quy Tông – Phù Dung Linh Huấn. Dưới sự tôi luyện của Sư phụ, tuy Linh Huấn ngộ nhập được Thiền lý nhưng chưa thông suốt, chưa thấu triệt, trong tâm vẫn con ngưng trệ, một ít mây mờ che phủ. Ngài khắc khổ tham thiền tu học nhiều năm, Ngài toạ thiện tụng kinh, học tập giáo nghĩa,… Dường như Ngài đã nếm qua tất cả các phương pháp tu hành nhưng vẫn chưa có tiến bộ gì, cuối cùng vẫn chưa đạp phá được cửa tù sau chót. Ngài khổ não, tiều tuỵ, nhưng cũng chẳng còn cách nào. Trong một mùa gió bấc thổi mạnh, hoa tuyết bay bay, Linh Huấn nản lòng thoái chí đến từ biệt Sư phụ. Thiền sư Quy Tông hỏi Ngài đi đến đâu? Linh Huấn trả lời rất thương cảm: “Đệ tử ngu muội phải trở về quê hương Lĩnh Trung (Phúc Kiến), làm một ông Tăng lo bếp núc cho qua ngày thôi”.

Ngài Quy Tông trịnh trọng nói: “Con ở chỗ Ta đã nhiều năm, sửa soạn hành lý xong, quay lại đây một tí, Sư phụ sẽ nói thêm Phật pháp cho con một lần nữa”.

Linh Huấn rất cảm động, cho rằng chắc là Sư phụ muốn nói với mình Phật pháp tinh diệu bí mật gì dây. Ngài vội vàng thu dọn hành trang rồi đi đến pháp đường. Thiền sư Quy Tông vẫy vẫy Ngài lại, nói: “con đến gần một tí, ta có lời nói với con”.

Linh Huấn bước lên phía trước, Thiền sư Quy Tông sửa sửa áo lại cho Ngài rồi nói: “Con nên nhớ, thời tiết lạnh lẽo, trên đường đi nhớ bảo trọng!”.

Đột nhiên, những tri giải, giáo nghĩa trong lòng Linh Huấn liền quên sạch! Ngài đã đại triệt, đại ngộ.

Đạo không phải hư ảo kỳ bí, Thiền không có gì lạ lùng, càng bình thường càng dễ tiếp cận với chân đế của Thiền đạo.

Chùa Quy Tông dựa lưng vào Lô Sơn, phong cảnh thanh tú đẹp đẽ, hướng về thành Giang Châu (nay là Cửu Giang, cũng gọi là Tầm Dương) nổi tiếng trong lịch sử.

“Sông Tầm Dương đêm đêm tiễn khách

Lá Phong rơi hoa thu xào xạc

Ở trong đó ai người khóc ngất

Giang Châu Tư Mã áo dầm châu.

(Tầm Dương Giang đầu dạ tống khách

Phong diệp hoạch hoa thu sắt sắt

Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa

Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp).

Đây là bài thơ Tỳ Bà Hành lưu truyền thiên cổ của Bạch Cư Dị, cũng chính trong thời kỳ này, ông viết trong thời kỳ nhậm chức quan Tư Mã ở Giang Châu. Bạch Cư Dị hiệu là Cư Sĩ Hương Hải, là đệ tử đắc pháp của sư đệ của Ngài Quy Tông –Phật Quang Như Mãn. Khi ông nhậm chức tại triều đình ở kinh thành, vẫn được một vị Đệ tử khác của Mã Tổ là Hưng Thiện Duy Khoan (xem Tùng Thư ‘Thiền Nam Thiền Bắc, Kim Tiên Nhân Mục’) hướng dẫn. Theo vai vế, ông là sư cháu của Thiền sư Quy Tông, cho nên trong thời gian ông đang nhậm chức Tư Mã ở Giang Châu, ông là khách thường xuyên của Thiền sư Quy Tông, thường đến chùa ngồi thiền.

Chỉnh đốn áo khăn quét tịnh sàng,

Một bình nước mát một lư nhang.

Phiền não gì gì đều bỏ hết,

Thẳng đến Bồ đề cũng muốn quên.

Tham yết lâu dần cất gươm đai,

Yến tiệc tạm thôi bình chén bỏ.

Thế gian vô dụng già nua đến,

Chỉ cần tiêu dao ngồi đạo tràng.”

(Chỉnh đốn y cân phất tịnh sàng

Nhất bình thu thuỷ như lư hương

Bất luận phiền não tiên tu khứ

Trực đáo Bồ đề diệc nghỉ vong.

Triêu yết cửu đình thu kiếm bội

Yến du tiệm bãi phế hồ thương

 Thế gian vô dụng tàn niên xứ

Chỉ hợp tiêu dao toạ đạo tràng).

Từ trong bài thơ, chúng ta có thể thấy được rằng cảnh giới tu hành của Bạch Cư Dị rất cao siêu. Ông không những tự mình đến lễ Phật tham thiền mà còn kéo cả cấp trên của mình – Lúc nhậm chức Thái thú ở Giang Châu có một vị đại nho Lý Bột được gọi là ‘Lý Vạn Quyển’ - đến dưới toà của sư thúc Quy Tông tu tập, có thể nói cũng trải qua một phen ‘Mài dũa tu luyện’ (xem Tùng thư ‘Thiền Nam Thiền Bắc, Giới Tử Nạp Tu Di’).

Một hôm, tranh thủ giờ rảnh rỗi, Bạch Cư Dị cởi bỏ áo quan cải trang thành một thư sinh, tung tăng đến chùa Quy Tông. Vừa vặn gặp phải Thiền sư Quy Tông toàn thân lấm bùn đang quét tường. Ngài quay đầu lại thấy Bạch Cư Dị cải trang thành Nho sinh. Cười cười rồi hỏi: “Quân tử nho hay tiểu nhân nho?”.

“Đương nhiên là Quân tử nho”.

Thiền sư Quy Tông dùng cái bay trét bùn ở trên tay phải vỗ vỗ lên khay đựng bên tay trái, cũng pháủa thiền cơ cuồn cuộn. Bạch Cư Dị tâm tỉnh thần hội, lấy cái dĩa sắt xúc một ít bùn kịp thời đưa đến trước mặt Quy Tông, cũng chính là trình lên kiến giải của mình. Quy Tông đón lấy bùn, dường như là khen rằng: “Chẳng lẽ Bạch Thị lang tuấn cơ lanh lẹ?”

Là một thiền giả, Bạch Cư Dị là một người khéo bề xoay xở, mới không tiếp nhận lời khen ‘không mang ý tốt’ này! Ông cố làm ra vẻ khiêm tốn nói: “Không dám, không dám!”.

Lúc này Ngài Quy Tông mới gật gật đầu nói: “Chỉ có bổn phận đưa bùn thôi!”.

Tạo nên cảnh lao động trét tường, động tác đưa bùn kịp thời, chuẩn xác như vậy cũng chính là sự lý giải đối với thiền chính xác nhất và cũng nói lên rằng Bạch Cư Dị đã khế nhập nhất hành tam muội trong sinh hoạt hằng ngày, chứng đạt sâu sắc tinh tuý của Phật pháp.

Dưới chân núi phía Tây Bắc Lô Sơn còn có một ngôi chùa rất hiển hách, nổi tiếng – chùa Đông Lâm. Chùa này do một vị cao tăng trứ danh của Trung Quốc là Đại sư Trí Viễn xây dựng vào năm thứ sáu niên hiệu Thái Nguyên đời Đông Tấn (381 Tây lịch). Tại đây, Đại sư Trí Viễn đã sáng lập ra Liên Xã (Bạch Liên Xã), tuyên dương chỉ dạy pháp môn Di Đà Tịnh Độ, làm cho chùa trở thành một trong tám tông phái lớn của Phật giáo Trung Quốc – là nơi phát nguồn của tông Tịnh Độ. Cũng chính ở đây, danh sĩ Đào Uyên Minh và Đại sư Huệ Viễn đã kết thành bạn bè thâm hậu và để lại một điển cố “Hổ Khê Tam Tiếu” rất nổi tiếng, dí dỏm, hứng thú, cao nhã, truyền tụng cho đến ngày nay.

Lúc Thiền sư Trí Thường trú trì chùa Quy Tông, chùa Đông Lâm là một chùa giảng kinh - lấy việc tuyên dương diễn giảng kinh luận làm tông chỉ. Vị toạ chủ chùa này đã từng bị Thiền sư Quy Tông dùng thiền cơ sắc bén mạnh mẽ chèn ép đến nỗi chán chường thê thảm. Ngày hôm đó, lại có một vị Pháp sư rất có trình độ về kinh giáo đến tìm, thị giả nói: “Sư phụ con không có trong chùa, Ngài đang cuốc đất ngoài đồng”.

Thiền sư Quy Tông mắt tuệ thông thiên nên sớm nhìn thấy tim gan phèo phổi của ông ta. Ngài vẫn chăm chỉ cuốc đất, không để sót một gốc cỏ dại nào. Lưỡi cuốc đưa lên đưa xuống rất có tiết tấu làm kinh động một con rắn nấp trong đám cỏ rậm, Pháp sư bên cạnh vì phản ứng bản năng la lên một tiếng: “A !”

Con rắn bị kinh động đó định bỏ chạy, Ngài Quy Tông đưa cuốc lên cuốc xuống một nhát, con rắn đang sống bị chặt làm đôi!.

“Ái chà!” sự kinh ngạc của Pháp sư biến thành tiếng kêu kinh hoảng , nhưng không phải do sợ mà là cảm thấy rất kinh ngạc, vì thế Pháp sư vội nói: “Trời ạ! Đây là sát sanh. Từ lâu ta đã hướng đến Đại sư Quy Tông , không ngờ chỉ là một Sa môn thô tháo (Hoà thượng thô lỗ).

Pháp sư vẫn còn một câu chưa kịp nói ra: “Tạo nghiệp sát sanh, tất nhiên phải chịu nhân quả báo ứng, đoạ xuống mười tám tầng địa ngục!”

Nhưng Thiền sư Quy Tông Trí Thường lại hỏi: “Ông thô hay tôi thô?”

Pháp sư cảm thấy trong lời nói của Quy Tông ẩn chứa huyền cơ, bèn hỏi ngược lại: “Như thế nào là thô?”

Đại sư Quy Tông dựng cuốc lên.

Pháp sư lại hỏi: “Như thế nào là tế?”

Thiền sư Quy Tông làm lại lần nữa động tác chặt rắn vừa rồi.

Pháp sư nhìn con rắn đã chết trên mặt đất, dường như có chút lãnh hội. Ông chau mày suy nghĩ, rồi nói: “Nói như vậy thì cứ theo vậy mà làm thôi”.

Thế mà, Thiền sư Quy Tông lại không chấp nhận, Ngài trợn mắt, quở mắng: “Theo đó mà làm tạm thời đặt qua một bên đi, ông thấy tôi chém rắn ở chỗ nào?”

Pháp sư không thể đối đáp được.

Từ bi của Phật giáo là tấm lòng, sát sanh là một giới cấm lớn của nhà Phật, Thiền sư Quy Tông là một cao tăng đắc đạo, tại sao lại phải làm trái giới luật, chém chết con rắn kia? Càng kỳ lạ hơn, rõ ràng Ngài chém rắn thành hai đoạn ngay trước mặt người ta mà còn lại hỏi ‘ngươi thấy ta chém rắn ở chỗ nào?’ Trong đây tự có sẵn thiền cơ vô hạn, nếu có thể thông suốt được thì sự nghiệp tham học của bạn mới có thể đạt đến trí tuệ Bát Nhã bao gồm cả trí phương tiện.

Liên quan đến thiền cơ: Hai Công An Giống Nhau

Quy Tông chém rắn, từ xưa đến nay đã bàn luận rất nhiều.

Trong công án này, trước khi Pháp sư đến tham học vẫn là người học pháp ở trong giáo nghĩa - Vị tăng chuyên nghiên cứu kinh luận – Ông luôn luôn học tập kinh điển, văn nghĩa, giáo lý, nên không khỏi dần dần bị rơi vào trong sự trói buộc của các thói quen tìm tòi lý luận, theo văn mà hiểu nghĩa…. Và đối với loại trói buộc này ông lại không hay không biết. Chính vì thế, ông mới dùng những kiến giải, phân biệt, đối lập giữa thô và tế, đúng và sai,… để cật vấn Quy Tông Trí Thường.

Quy Tông Trí Thường là Thiền sư, biết ông ta không thể dùng lý làm thí dụ, cho nên mượn việc chém rắn, chống cuốc, làm tư thế chém rắn cho đến phủ nhận lời nói hành động của mình trước đó: “Ông thấy ta chém rắn ở đâu?...” từ đó mà biểu hiện ra sự thực hành trong đạo Phật vẫn là cảnh giơi tuyệt đối, siêu việt những kiến giải tương đối như đúng sai, thiện ác, thô tế,…

Gần như đồng thời với việc chém rắn của Ngài Quy Tông, Nam Tuyền Phổ Nguyện cũng làm kinh thiên động địa bằng cách diễn thị công án ‘chém mèo’. Tăng chúng Đông đường và Tây đường vì việc nuôi dưỡng một con mèo mà phát sanh tranh chấp. Nam Tuyền Phổ Nguyện đem con mèo ra, muốn khảo nghiệm xem trong học tăng có người nào có thể chứng đắc triệt ngộ hay không, nên nói rằng: “nếu đắc đạo thì thả con mèo đi, nếu không đắc đạo thì chém?”

Chúng tăng không ai có thể đáp, thế là Nam Tuyền vung dao chém chết con mèo.

Mèo và rắn tuy không giống nhau nhưng Quy Tông chém rắn và Nam Tuyền chém mèo thì cùng một việc.

Quy Tông ở Giang Tây, Nam Tuyền ở An Huy, hai nơi cách nhau ngàn dặm, tại sao hai vị Đại tông sư dường như đồng thời diễn xuất một màn kịch dường gần như hoàn toàn tương đồng? - Họ đều vì muốn cắt đứt vọng tưởng phân biệt của Tăng chúng, nên mượn hành động không bình thường như chém rắn, giết mèo để đoạn trừ những chấp trước tương đối giữa có và không của Tăng chúng. Đồng thời hai người họ đều dùng thủ đoạn kịch liệt này để hiển bày: khí phách trượng phu, vĩ đại; lòng dạ thẳng thắn vô tư, trí tuệ rộng lớn, mở đóng đúng lúc, có thể chết, có thể sống của các Thiền sư đã khai ngộ. Vào thời nhà Tống, Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển, một cao tăng tông Vân môn, từng khen công án Nam Tuyền giết mèo:

Lưỡng đường câu thị đỗ thiền hòa,

Bạt động yên trần bất nại hà;

Lại đắc Nam Tuyền năng cử linh,

Nhất đao lưỡng đoạn nhậm thiên ba.

Nhưng mà giết mèo và chém rắn rốt cuộc là sát sanh, mà Phật giáo lại cấm sát sanh! Ở đây, phải đề cập đến sự lý giải của Đại thừa Phật giáo đối với giới luật.

Theo sự ghi chép trong kinh Phật, có một đời khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tu hạnh Bồ tát, Ngài đi thuyền trên biển, cùng đi với Ngài có bốn mươi vị thương nhân buôn bán châu báu. Trên đường đi, họ bất ngờ biết được Thuyền trưởng và các Thuyền viên đã có âm mưu bí mật, muốn giết hết toàn bộ những người thương nhân kia, ném thi thể của họ xuống biển, để cướp bóc chiếm đoạt những châu báu mà họ mang theo. Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, Bồ tát không do dự ra sức chém chết thuyền trưởng, lấy đó để uy hiếp những thuyền viên tham dự âm mưu kia, bảo toàn tính mạng cho bốn mươi người vô tội kia.

Cũng chính trên tinh thần cơ bản này, năm đầu của thời đại Nam Tống, quân nhà Kim đem quân xâm lược Nam Tống. Đứng trước nguy cơ tồn vong của đất nước, sanh linh lầm than, người trực tiếp chống giặc ở tiền phương là quân Nhạc Gia, mà trong số những nhân vật nổi tiếng trong xã hội dám công khai đưa tay chủ chiến, kêu gọi lớn nhất lại vẫn là một vị Hoà thượng - Đại Huệ Tông Cảo. Ngay cả khi ngày lên pháp đường giảng thuyết Phật pháp vẫn luôn mang đầy nhiệt huyết yêu nước và khí phách hào hùng đấu tranh chống cường địch:

“Cung thần tí hễ bắn,

Xuyên qua nghìn tầng giáp,

….Cung thần tí hễ bắn,

Cửa nghìn trùng liền mở;

Kiếm xuy mao vừa hươi,

Vạn kiếp nghi tình dứt”.

‘Cung thần tí’ là một loại vũ khí có sức sát thương lớn nhất của quân Tống đương thời, đã lập nhiều kỳ công trong chiến trường đánh quân Kim. Đại Huệ Tông Cảo đã nghị luận việc chính sự của triều đình một cách táo tợn như thế, đại gian thần Tần Cối làm sao mà không hận thấu xương cho được! Ông ta đã lưu đày Ngài lần nọ đến lần kia, lưu đày đến tận nơi Mai Châu xa xôi hoang dã - nếu không vì Ngài là một người xuất gia, e rằng đã sớm bị chém đầu giống như Nhạc Phi vậy.

Điển hình nhất là cư sĩ Thái Bảo Lưu Bỉnh Trung một trọng thần thuộc Nguyên Triều Khai Quốc.

Lưu Bỉnh Trung (1216 – 1274 Tây lịch) là người ở Hình Châu (nay là Hình Đài tỉnh Hà Bắc) tự là Trọng Hối, nguyên tên là Lưu Khản. Năm ông mười bảy tuổi, làm Tiết độ Sứ phủ lệnh sử Hình Đài, lấy tiền lương phụng dưỡng cha mẹ. Sau đó, ông ném bút từ chức mà đi, ông theo Thiền sư Thiên Ninh Chiếu xuất gia làm Tăng, pháp hiệu là Tử Thông. Nhờ có nhiều huệ căn từ kiếp trước, Tử Thông nhanh chóng khám phá ra bản lai diện mục, hiển bày đại trí huệ vốn có, làm một Hoà thượng Ký thất (thư ký).

Lúc đó, Tống – Kim giằng co nhau, chiến tranh loạn lạc nhiều năm, máu nhuộm đỏ đất, nước sôi lửa bỏng, dân không thể sống được. Tử Thông, với trí tuệ siêu việt của một thiền giả dự đoán rằng người có thể nhanh chóng kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước chính là Mông Cổ quật cường, mạnh mẽ, không biết sợ ở phương Bắc; Mà trong số nhiều thân vương của Mông Cổ, mà người hùng tài đại lược, có hoài bão lớn lao chính là Hốt Tất Liệt. Thế là, Thiền sư Tử thông cầm gậy mang bát, xuất hiện trong quân trường của Hốt Tất Liệt.

Vài ba câu của Ngài đã làm cho một trong những vị Đế vương vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc, năm vóc sát đất nghe lời theo kế. Từ đó về sau, tất cả những kế hoạch cơ mật của Hốt Tất Liệt, ngay cả đăng lâm ngôi vị, thống nhất thiên hạ, phần lớn đều xuất phát từ sự tính toán mưu lược của vị Thiền sư này.

Sau khi Hốt Tất Liệt (Thế Tổ) lên ngôi, Ngài lập tức thúc giục triều đình lập ra Tuyên phủ ty, chuyên an ủi bá tánh dị tộc trong thiên hạ, cho họ an cư lạc nghiệp. Đại quân Mông Cổ thẳng tiến vào Giang Nam, với sự can dự mạnh mẽ của Ngài, Hốt Tất Liệt đã sửa đổi thói xấu giết dân trong thành sau khi chiếm đóng, lấy việc không giết hại làm công đức. Phàm đánh thành bắt địch, đều giữ lại mạng sống không tính toán nhiều.

Thậm chí, hiện nay người Bắc Kinh đều cảm kích vị Thiền sư này, bởi vì lấy thành Bắc Kinh làm đại đô đầu tiên, cũng nhờ sự quy hoạch và đốc thúc của Ngài mà xây dựng nên. Đến năm thứ tám niên hiệu Nguyên (1271 Tây lịch), Ngài chế định ra triều nghi quan chế hoàn toàn mới mẽ, tấu thỉnh Hốt Tất Liệt chính thức xây dựng quốc hiệu là “Đại Nguyên” - Từ chế độ đến tên gọi là triều đại Nguyên đều do Ngài mà có.

Đến tháng tám năm thứ hai niên hiệu Nguyên, vị đại thần địa vị cao tột này vẫn là một Thiền sư mặc áo Tăng, ăn chay, ở giản dị, đã viết ra bài kệ rằng:

“Ta không phụ đời, đời há phụ Ta,

Ta ở trong đời, như trăng trong nước,

Như hoa trên trời, hoa rụng trăng lặn, là cái gì? Đốt!”

Vị Thiền giả vì muốn dẹp bằng chiến loạn, thống nhất giang san mà không tiếc làm một thảo khấu, lấy giết để ngăn việc giết, lấy chiến tranh để dừng chiến tranh. Sau khi cứu độ được vô số tính mạng, kiến lập công huân bất hũ, xây dựng hoà bình, cuối cùng cũng có thể an trú Niết bàn. Ngài ném bút lông, kiết già phu toạ, an nhiên mà đi.

BÀI LIÊN QUAN

Khế Ngộ Tự Ngã  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 10552 xem)

Vô Thanh Sắc Tướng  ( Lê Huy Trứ , 37740 xem)

Hạt Giống Nảy Mầm-Thiền  ( Nguyễn Trường Giang , 34064 xem)

Tìm hiểu pháp môn niệm thọ  ( Đại Trưởng Lão U Thittila - TK.Pháp Thông dịch , 23722 xem)

Vấn đáp Thiền và Phật pháp  ( Hòa thượng Thích Duy Lực , 8582 xem)

Thiền - Giấc ngủ an lành  ( Trần Quê Hương , 11013 xem)

Duy Chính đấu với Nam Tuyền  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 10996 xem)

Cuộc chiến trong Pháp  ( Thường Huyễn , 9669 xem)

Từ thiền đến Hoa Nghiêm  ( Suzuki - Tuệ Sỹ , 11616 xem)

Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm “Bất ưng trụ sắc sanh tâm”  ( Lê Huy Trứ , 127746 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ