Trang chủ > Phật Học > Thiền

Diệu lý của Chư Phật và tự tâm tự độ

Tác giả: Tuệ Liên và Hải Liên dịch.  
Xem: 16154 . Đăng: 26/01/2015In ấn

TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ

 

DIỆU LÝ CỦA CHƯ PHẬT VÀ TỰ TÂM TỰ ĐỘ

 

Tác giả : Ân Sơn

Người dịch : Tuệ Liên – Hải Liên

 

 

Đại sư Huệ Năng là Tổ thứ sáu của thiền tông vốn là một Tiều phu nơi vùng đất hoang dã tại Lĩnh Nam. Một hôm, lúc Ngài đang bán củi trong chợ, ngẫu nhiên nghe một vị cư sĩ trì tụng “kinh Kim Cang”, không ngờ, người cực khổ một chữ cũng không biết như Ngài khi nghe được câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Nên phát khởi tâm không dính mắc vào đâu cả) mà lại hoát nhiên khai ngộ! Thế là, dưới sự chỉ điểm, khen ngợi giúp đỡ của vị cư sĩ thiện tâm này, Ngài từ biệt quê nhà, đi lên Hồ Bắc cầu pháp với Ngài Hoàng Mai.

“Bồ đề bổn vô thọ,

Minh cảnh diệc phi đài,

Bổn lai vô nhất vật,

Hà xử nhá trần ai”

(Bồ đề vốn không cây,

Gương sáng cũng không đài,

Xưa nay không có vật,

Cớ sao vướng bụi trần)

Tại chùa Đông Sơn núi Song Phụng ở Hoàng Mai Hồ Bắc (nay là chùa Ngũ Tổ), Ngài Huệ Năng nhờ bài kệ này mà lọt vào được đôi mắt sáng suốt của Đại sư Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Ngũ tổ đã đem y bát của thiền tông truyền cho Ngài. Y bát mà ngài Huệ Năng nhận được không đơn thuần chỉ là chiếc áo ca sa do Tổ sư Đạt Ma mang từ Ấn Độ đến mà là cả một toà giang sơn và là một trái phá! Tuy chiếc ca sa này các Tổ sư đời đời truyền lại cho nhau chỉ là một tín vật, cũng không phải là bản thân của Phật pháp, nhưng có nó mới có thể chứng minh bạn và Tổ sư các đời dùng tâm ấn tâm, và cùng thở một hơi thở với đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bạn chính là Tổ, bạn chính là Phật! Nhưng rất nhiều đồ đệ vì danh lợi không hiểu rõ đạo lý lấy tâm truyền tâm, tâm có sự sắc sảo của nó, mà cho rằng có được ca sa là trở thành Tổ sư, nên luôn nghĩ mưu tính kế để cướp đoạt. Vì thế y bát tương truyền xưa nay như nghìn cân treo sợi tóc! Huống hồ ngài Huệ Năng là một tiều phu xuất thân từ Nam man, một chữ cũng không biết, ngay cả điều tối thiểu là xuống tóc thì Ngài cũng chưa xuống – chưa xuất gia, lại đạt được y bát của thiền tông, người trong thiên hạ có ai mà không phục được?!”

Ngũ tổ Hoằng Nhẫn nói: “Ngay trong đêm nay ngươi nên đi nhanh đi, sợ e có kẻ sẽ hại ngươi!”

Đại sư Hoằng Nhẫn lo lắng đồ đệ không quen đường đi, đích thân đưa Ngài xuống núi. Trong đêm tối tịch mịch, hai thầy trò họ đi như bay, đi mãi cho đến bên bờ sông Trường Giang.

Sao rơi trên đồng rộng, trăng lên trên dòng sông.

Ánh trăng mờ bao trùm xuống dòng Trường Giang, càng làm cho dòng sông thêm rộng lớn, mạch nước ngầm sôi động, sóng nước cuộn trào, tất cả là một vùng thần bí, mênh mang. Đại sư Ngũ Tổ dẫn Huệ Năng đến bờ sông. Bến đò này ban ngày náo nhiệt, người qua lại rộn ràng nhộn nhịp, bây giờ vắng lạnh đón tiếp hai Thầy trò họ, chỉ có tiếng sóng vỗ vào bờ đê.

Tiếng sóng lớn ì ầm vỗ vào đêm thâu làm cho cảnh vật thêm yên tĩnh, sông vắng không người tự chèo thuyền qua sông. Hai Thầy trò vội vàng nhảy lên một chiếc thuyền con. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn vừa đến cầm cây chèo thuyền, Huệ Năng liền nói: “Sư phụ! Xin Ngài ngồi yên, để con chèo thuyền.”

Đại sư Hoằng Nhẫn nói một lời mà nhắm đến hai việc: “Ta là Thầy, nên phải do Ta chèo thuyền đưa con đến bờ kia!”

Huệ Năng hiểu ý, cười nói: “Lúc đệ tử còn mê, phải nhờ Thầy độ, nay con đã ngộ rồi phải tự độ mình thôi”.

Đại sư Hoằng Nhẫn gật đầu lia lịa: “Tuyệt lắm! Tuyệt lắm! Phiền não của mình tự mình đoạn trừ, sanh tử của mình tự mình giải thoát. Tham thiền tu đạo, bất cứ ai cũng không thể thay thế được. Sư phụ chỉ có thể là người chỉ rõ phương hướng ở phía trước. Phải chăng có thể đạt đến sự không còn sanh diệt của bờ bên kia, chỉ có thể dựa vào sự tự độ của mỗi cá nhân. Sau này, Thiền tông phát triển rực rỡ là nhờ vào con.”

 Sóng lớn cuồn cuộn như mây trời, vầng trăng sáng trong veo như chiếc thuyền, chiếc thuyền nhỏ lao vun vút như tên bắn sang bờ bên kia – Giang Châu (nay là Cửu Giang)…

Sau khi Huệ Năng đắc pháp với Sư phụ là Ngũ Tổ, Sư phụ dặn Ngài không nên gấp gáp công khai thuyết pháp. Đợi thời cơ chín muồi rồi mới hoằng pháp. Vì thế, Ngài Huệ Năng từ Hoàng Mai trở về thôn Tào Hầu ở Thiền Châu mai danh ẩn tích. Ở đó có một vị Nho sĩ Lưu Chí Lược đối đãi với Ngài Huệ Năng rất nồng hậu. Tuy Lưu Chí Lược theo nghiệp Nho, nhưng gia đình của ông lại có duyên với nhà Phật.

Cô của ông xuất gia là một Ni sư sống ở chùa Sơn Giản gần thôn Tào Hầu, pháp hiệu là “Vô Tận Tạng”. Ni sư Vô Tận Tạng lấy việc trì tụng kinh “Niết Bàn” làm khoá tu hằng ngày, cho nên lúc Ngài Huệ Năng và Lưu Chí Lược đến thăm viếng, Ni sư đang tụng kinh Niết Bàn, tự nhiên cũng nói đến kinh Niết Bàn. Ni sư Vô Tận Tạng cười rạng rỡ, khiêm cung thưa với Ngài Huệ Năng: “Nghe cháu tôi nói, đối với Phật pháp Ngài nghiên cứu rất sâu. Kinh Niết Bàn này Bần ni tuy đã trì tụng nhiều năm nhưng vẫn còn có nhiều chỗ chưa hiểu rõ lắm, xin Ngài chỉ điểm chỗ mê mờ”.

Vừa nói, Ni sư vừa lấy cuốn kinh dày đưa cho Ngài Huệ Năng. Ngài Huệ Năng xua tay nói: “Hổ thẹn, hổ thẹn! Từ trước đến nay tôi chưa từng đi học, cho nên không biết chữ, càng không thể đọc kinh. Nhưng, nếu Ni sư đọc lời kinh ra, có lẽ tôi có thể giải đáp ý nghĩa trong đó cho Ni sư”.

Nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt Ni sư Vô Tận Tạng trong nháy mắt đã biến mất và chuyển thành mây đen u ám. Ni sư thu lại tầm mắt, với giọng điệu hơi trách móc, nói: “Phật cấm nói láo, cho nên người học Phật thành thật là điều đầu tiên. Ông ngay chữ cũng không biết, làm sao có thể giải thích đạo lý thâm sâu ở trong kinh văn được?”

“Chân lý của Phật pháp và văn tự không liên quan gì với nhau!”

Ngài Huệ Năng đúng là người chưa nói cho người ta kinh sợ thì chưa thôi! Lưu Chí Lược và Ni sư Vô Tận Tạng đều bị câu nói này của Ngài làm cho kinh hoàng: Cái gì? Phật pháp thần kỳ, huyền diệu và văn tự không có liên quan gì? Vậy thì, còn cần thiên kinh vạn quyển này làm gì nữa? Người xưa thập tử nhất sinh đến Tây Thiên thỉnh kinh, chẳng phải để mang về những quyển kinh sách hay sao? Hai người họ đang nhìn Ngài Huệ Năng chăm chăm giống như đang nhìn thấy quái vật. Ngài Huệ Năng lại không hiểu gì cả hít hít lỗ mũi, vừa tìm kiếm khắp nơi, vừa hỏi rằng: “Hương hoa từ đâu đến vậy?”

Ngài Huệ Năng này không chỉ là một người “có mắt như mù” mà còn giống người mù thật, ngay cả loài hoa rừng Thấu Lan Mạn Ni sư Vô Tận Tạng cúng trên bàn thờ Phật cũng nhìn mà không thấy. Ni sư Vô Tận Tạng đưa tay chỉ chỉ bình hoa cúng trên bàn thờ, nói: “Ồ! Bần ni mỗi sáng sớm đều hái hoa dại cúng Phật. Hương hoa thoang thoảng trong phòng chính là mùi hương chúng toả ra”.

Huệ Năng lại nghiêng tai, lắng nghe gì đó: “Có người đang đánh đàn ở đâu đó?”

Lưu Chí Lược nói: “Ngôi chùa này sở dĩ được gọi là chùa Sơn Giản, chính vì bên trái có một khe suối, nước suối róc rách giống như tiếng đàn. Xem kìa, chính là bên kia”. Lưu Chí Lược chỉ tay ra phía ngoài chùa.

Ánh mắt của Ngài Huệ Năng không nhìn theo hướng tay anh ta chỉ, mà chăm chú đếm đầu ngón tay của anh ta. Lưu Chí Lược vừa giận vừa buồn cười, nói: “Huệ Năng! Ông vốn là người rất sắc sảo thông minh. Hôm nay bị làm sao vậy? Ông nhìn ngón tay tôi làm gì? Ngón tay không phải là nước suối, cũng không phát ra âm thanh!”

Lúc này, Huệ Năng mới cười lớn, nói: “Các ngươi thấy không, chân đế của Phật pháp cũng giống như hương hoa đẹp đẽ thơm tho, cũng giống như tiếng động của nước chảy. Nhưng văn tự, chỉ giống như ngón tay của các ngươi chỉ cho ta xem. Ngón tay có thể chỉ ra chỗ hương hoa và nước chảy đang có mặt, nhưng bản thân ngón tay của các ngươi hoàn toàn không phải là mùi hương của hoa dại, cũng không phải là tiếng nước chảy. Vì thế, nhìn một đoá hoa đẹp, nghe tiếng nước suối chảy hoàn toàn không nhất định phải thông qua ngón tay chỉ”.

Cuối cùng, Huệ Năng tổng kết lại rằng: “Diệu lý của chư Phật, không liên quan đến văn tự, cho nên không thể chấp trước đối với kinh văn”.

Từ đó, Ni sư Vô Tận Tạng rất kính phục Ngài Huệ Năng và đã lễ bái sát đất. Ni sư khen ngợi Ngài Huệ Năng với dân chúng trong thôn rằng: “Ngài thiên cơ tự ngộ, không có Thầy mà tự thông hiểu, người thường không thể theo kịp, là bậc Đại bồ tát tái thế”.

Vì thế, dân chúng trong thôn Tào Hầu dưới sự lãnh đạo của bậc đại thiện Tào Thúc Lương, lễ thỉnh Ngài Huệ Năng vào trú trong chùa cổ Bảo Lâm rất nổi tiếng ở vùng đó.

Liên quan đến thiền cơ: Phiền Não Của Mình Tự Mình Dứt Hết

Thư sinh trẻ tuổi tánh tình thoải mái, phong lưu hào phóng, thường ngày hay rủ rê bạn bè, đứng trước gió mà uống rượu. Đám công tử bọn chúng suốt ngày ăn uống, xem ca múa, du sơn ngoạn thuỷ, há không vui sao? Việc học của chúng đương nhiên cũng dần dần lơ là. Thầy giáo của thư sinh là một Tiên sinh đạo học cứng nhắc, ân cần nhắc nhở anh ta: Rượu ngon, thức ăn ngon qua ruột là xong, âm thanh, sắc tướng ca múa càng như khói mây bay qua tầm mắt, chỉ có Thánh giáo của Khổng Phu Tử mới lưu lại ở trong tâm. Chỉ cần con có thể thể hội một cách sâu sắc những câu này thì có thể suốt đời hưởng không hết”.

Học trò gật đầu lia lịa, cúi người xuống thưa với tiên sinh: “Thưa Thầy! Thầy dạy đúng lắm, con sẽ nhớ kỹ câu nói này của Thánh Khổng!”

Thầy giáo rất lấy làm lạ, hỏi: “Ồ, thật chứ? Câu nói nào đâu?”

Khổng Phu Tử nói: “ăn uống và chuyện trai gái há chẳng phải là thiên tính sao”

Bài tụng viết:

“Đã có diệu lý của chư Phật,

Đâu cần lời lẽ của Khổng Thánh,

Nếu cứ tìm cầu trên văn tự,

Chắc chắn sẽ luống công vô ích”

(Tự hữu chư Phật Diệu Nghĩa

Mặc câu phu tử ngôn cú,

Nhược hướng văn tự tham cầu,

Định nhiên đồ lao vô ích.)

Có một tín đồ rất thành kính, suốt ngày cầu nguyện trước tượng Quán Thế Âm Bồ tát, hy vọng Bồ tát ban cho anh ta sự giàu có và hạnh phúc. Mọi người đều nói: Bồ tát Quán Thế Âm hễ cầu nguyện tất đáp ứng, nhưng đã mấy mươi năm qua đi, anh ta vẫn khốn khó như xưa.

Rồi một hôm, không thể nhẫn nại được nữa, lời cầu nguyện của anh ta đã biến thành lời oán trách: “Quan Thế Âm Bồ tát! Mọi người đều nói Ngài đại từ đại bi, có ba mươi hai ứng thân, tuỳ nơi mà hiện hoá, không có gì là không làm được. Nhưng tại sao Ngài lại cứ bỏ quên con như thế? Đã nhiều năm nay, không có ngày nào con không cầu nguyện với Ngài, thế mà, thần may mắn lại không hề chiếu cố đến con. Ngài xem, hàng xóm của con chẳng có ai thành kính đối với Ngài như con, thường ngày ngay cả thắp hương họ cũng không thắp, nhưng Ngài lại để cho vé số mà họ mua trúng thưởng lớn! Điều này thật sự bất công quá…”

Bồ tát Quán Thế Âm thực sự bị những câu than vãn dây dưa của anh ta làm phiền, bèn mở lời nói: “Những năm nay, ngoài việc không ngừng cầu nguyện ra, còn làm những gì nữa? Ngay cả việc muốn trúng thưởng thôits ra cũng phải mua lấy một tấm vé số chứ?”

Bài tụng viết:

“Người nào ăn cơm người đó no,

Phiền não của mình tự mình đoạn,

Xưa nay đâu có đấng cứu thế,

Dựa tường tường đổ lẽ đương nhiên.”

(Cá nhân ngật phạn cá nhân bảo,

Tự kỷ phiền não tự kỷ liễu,

Tùng lai một hữu cứu thế chủ,

Tổng thị kháo tường tường yếu đảo.)

BÀI LIÊN QUAN

Thiền Ngộ  ( Tuệ Liên và Hải Liên dịch , 8407 xem)

Giác Ngộ  ( Tâm Minh Ngô Tằng Giao , 5122 xem)

Ba mươi ba vị Tổ Ấn Hoa  ( Hòa thượng Thích Thanh Từ , 4824 xem)

Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông  ( Tuệ Liên , 89030 xem)

Thiền tông Trung Quốc qua các giai đoạn phát triển quan trọng  ( Tuệ Liên , 89233 xem)

Thiền là gì?  ( Nhật Huy , 31952 xem)

Bạn và Thiền  ( Viên Đạo , 17390 xem)

Nụ cười thiền  ( Lễ Nguyên , 4676 xem)

Ba bài pháp về Thiền Quán  ( Thiền sư Mahasi Sayadaw , 72609 xem)

Thiền  ( Phúc Trung , 5421 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVII

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVII

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thư mời viết bài hội thảo “NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN: Những đóng góp cho Đạo Pháp - Dân tộc và các giá trị kế thừa”

Thông báo Khóa tu Truyền thống trực tuyến Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 đang diễn ra phức tạp trên cả nước nên Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức trực tuyến. Ban tổ chức kính thông báo đến Chư Tôn đức và quý Phật tử thời khóa tu học như sau.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh Dược Sư, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

Thông báo lớp giáo lý trực tuyến Chùa Thuận Phước

Do tình hình dịch bệnh hiện nay nên không thể tập trung đông người, vì muốn chia sẻ Phật pháp đến quý Phật tử gần xa, nên Ni sư Tuệ Liên - Giảng sư Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Cố vấn Trụ trì chùa Thuận Phước (Long An) và Sư cô Nghiêm Liên - Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam, Trụ trì Chùa Thuận Phước đã tổ chức tụng kinh, thuyết giảng Phật pháp trực tuyến.

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ