Trang chủ > Giáo Pháp KS

Vài suy nghĩ về Đạo Phật Khất Sĩ

Tác giả: Định Ngọc.  
Xem: 9979 . Đăng: 31/10/2014In ấn

Vài suy nghĩ về Đạo Phật Khất Sĩ

Định Ngọc

Đuốc Sen: Định Ngọc sinh ra trong một gia đình Phật tử thuần thành, đặc biệt gắn bó với Hệ phái Khất sĩ. Bài viết là kết quả của quá trình tìm hiểu, nhận xét, đánh giá và quan điểm khách quan của tác giả về Đạo Phật Khất Sĩ. Tuy chưa hoàn chỉnh về mặt nghiên cứu nhưng ở góc độ nào đó, bài viết đã giới thiệu sơ lược về Đạo Phật Khất Sĩ, cũng như trình bày những tâm tư, tình cảm và sự hiểu biết của hàng Phật tử cư sĩ đối với Hệ phái. Từ đó phản ánh tính phổ quát về mặt thông tin của Hệ phái hiện nay cũng như cho thấy tâm tư, nguyện vọng của hàng Phật tử tại gia đối với lĩnh vực này.

 I. Bối cảnh lịch sử, xã hội miền Nam Việt Nam

Vào những năm giữa thế kỷ 20, khi miền Nam Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, đời sống của nhân dân vô cùng cơ cực. Bằng chính sách chia để trị, chúng vơ vét tài nguyên, sức người, sức của để cung ứng cho chi phí tham chiến ở châu Âu. Nhiều nơi, bọn cường hào ác bá “bán nước cầu vinh” đã tiếp tay với thực dân để hà hiếp, bóc lột dân lành. Nhân dân ta một cổ hai tròng, vô cùng thống khổ, giống như lời ta thán của HT. Giác Huệ đương thời:              

    “Sương trắng đừng thêm sương trắng phếu,

    Đầu đen ai nỡ giết đầu đen,

   Dù sao máu cũng cùng chung đỏ

   Ruột cắt, ruột đau thật quá hèn,

   Ai tưới oán thù bằng máu lệ,

   Ai xây đế bá với xương người”

                                                                              (Giác Huệ thi tập II)

Đa số người miền Nam có gốc từ miền Bắc và miền Trung. Vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị đói khổ, bị tù đày, nên họ bỏ xứ vào miền Nam làm phu đồn điền, khai phá đất hoang làm ruộng… Với sự cần cù, nhẫn nại, họ đã biến nơi đây thành vựa lúa của cả nước, nhưng cuộc sống của họ vẫn vô cùng cơ cực. Bởi đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật không có thuốc chữa, sưu cao thuế nặng,... Tàn nhẫn nhất là thuế thân, ai không đóng đủ thì bị bắt đi làm xâu (gọi là tù bố), ai chống đối thì bị đốt nhà, giết chết.

Một cảnh ở miền Nam đầu thế kỷ XX

Quá cơ cực, nông dân và sĩ phu miền Nam đã nổi dậy, tiêu biểu có Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành, Thiên Hộ Dương. Tuy các phong trào khởi nghĩa đều thất bại và bị đàn áp dã man, nhưng ý chí căm thù quật khởi vẫn luôn nung nấu trong lòng mỗi người dân miền Nam.

Đem cắm cờ kia trên đất tôi,

Người ta tuyên bố “chiếm đây rồi!”

Làm chi ai hỡi trò con trẻ,

Chiếm đất đừng mong chiếm được người!”[1]

II. Đạo Phật Khất Sĩ

Đạo Phật Khất Sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng năm 1946, xuất hiện ở miền Nam nước Việt, với tông chỉ “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp” như ngọn đuốc thiêng soi sáng con đường tâm linh của nhân dân miền Nam.

Với nền tảng giáo lý hướng thiện, tin sâu nhân quả, khuyên người ăn chay, làm lành lánh dữ của nhiều giáo phái bản địa đã chủ trương và đã tạo được lòng tin từ nhân dân trước đó, nên khi Đạo Phật Khất Sĩ ra đời với tông chỉ " Nối truyền Thích Ca chánh pháp", xác lập lại con đường cứu khổ và giải thoát mọi khổ đau mà đức Phật đã vạch ra, nâng cao hơn về mặt hành trì, tu tập đưa đến giác ngộ, giải thoát và kết hợp khéo léo tinh hoa của 2 truyền thống Phật giáo Nam, Bắc truyền đã có rất nhiều người tìm hiểu, học hỏi từ giáo phái mới mang nhiều nét đặt thù này.

Những điểm đặc thù của đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

1. Đời sống du phương – khất thực

Tổ sư đã làm sống lại hình ảnh đức Phật và Tăng đoàn qua hình ảnh đoàn Du Tăng Khất Sĩ thanh bần. Đây là nét đặc thù của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, nó thích hợp với hoàn cảnh lịch sử xã hội đương thời khi nhân dân miền Nam sống rất cơ cực, nghèo đói, thiếu thốn. Người tu sĩ phải hòa mình vào nhịp sống xã hội, đem thân tướng trang nghiêm, đạo hạnh, nếp sống đơn giản, thanh bần của mình giáo hóa chúng sanh, kết duyên với tín đồ. Đời sống du phương, khất thực hóa duyên là cách nuôi mạng thanh tịnh theo chánh pháp của một vị xuất gia tu hạnh xả ly, giải thoát. Du phương, khất thực không chỉ lợi ích đối với người xuất gia mà còn lợi ích cho mọi người. Việc làm này, tạo cơ duyên cho chúng sinh biết cúng dường, bố thí, bớt tham đắm của cải, vật chất và tập sống đời sống đơn giản, thanh bần của người xuất gia. Hay đơn giản hơn, đời sống du phương, khất thực gây nên một sự quan tâm, thắc mắc cho mọi người, thông qua đó, vị Khất Sĩ có cơ hội giới thiệu, giải thích và chia sẻ giáo pháp, hướng dẫn cách sống hướng thiện cho nhân dân.

Vì điều kiện, chính trị, xã hội hiện nay, đời sống du phương khất thực gặp nhiều hạn chế, không còn phổ biến phát triển rộng khắp như xưa nhưng vẫn luôn được duy trì với trọn vẹn ý nghĩa.

2. Nghi lễ

Tổ sư Minh Đăng Quang dâng hương lễ Phật - Tự tứ 1953 tại Tịnh xá Ngọc Viên

Sau gần 2.500 năm và ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa, cũng như tập tục địa phương, nghi lễ Phật giáo thời bấy giờ nói chung và miền Nam nước ta nói riêng không còn chất liệu thuần khiết của Phật giáo thuở ban đầu. Đối với vấn đề này Tổ sư Minh Đăng Quang cho rằng: “Người trong đạo Phật ít ai nghĩ rằng: Tăng Sư là người không còn có ham mộ nghi lễ cúng kiến nữa. Chính Phật Tăng xưa kia không có thờ cúng lễ bái thần quyền, tham vọng. Mà đúng chơn lý thì tất cả chúng sanh hay Phật là bình đẳng như nhau, há có ai lại bắt buộc thờ cúng lễ bái hay sao? Hoặc may ra những kẻ sanh sau tội lỗi nên tự họ lễ bái kính trọng bậc Phật Thánh để noi gương, cũng tự họ cung dưỡng ông thầy là để giữ cất sự học dạy, tự ý nơi kẻ đi sau, chứ nào phải ai ép buộc”[2]. Vì thế cho nên, trong lễ hội của hệ phái Khất Sĩ, việc tụng đọc kinh điển không mang nhiều tính nghi lễ, không lễ nhạc như tán xướng, không có pháp khí hỗ trợ như khánh, linh, đẩu, mộc bản, các loại tiêu sáo, đờn kèn v.v… Lễ phục trong khi hành lễ cũng chỉ có tam y thường nhật chứ không thêm bất cứ lễ phục nào khác. Bên cạnh đó, Tổ sư không cho phép Tăng Sư đi làm đám, tụng kinh cầu an, cầu siêu như một phương tiện mưu sinh, mà xem đó như là phương tiện hoằng pháp, độ sanh thông qua lời kinh tiếng kệ nên âm đọc phải rõ ràng, kinh đọc phải Việt hoá để người nghe có thể lãnh hội được lời Phật dạy.

3. Kiến trúc

Là một tông phái Phật giáo xuất hiện khá muộn nhưng về mặt kiến trúc hệ thống tịnh xá Khất Sĩ không những có đặc điểm riêng biệt đối với hệ thống các tự viện Bắc tông, Nam tông mà còn có tính biểu tượng, triết lý rất cao.

Nhìn từ ngoài vào, ngôi chánh điện tịnh xá Khất Sĩ có hình bát giác tượng trưng cho Bát Chánh đạo, gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Nóc dưới ngôi của ngôi tịnh xá có 8 mái, nóc trên 4 mái, phía trên đặt búp sen, trên cùng là ngọn Đèn Chơn lý với ý nghĩa “Đuốc tuệ rạng ngời soi vạn nẻo/ Sen từ thơm ngát tỏa muôn phương”.

Tổ sư Minh Đăng quang (giữa), Trưởng lão Giác Thọ (trái), Tri sự Giác Như (phải)

tại tịnh xá Ngọc Liên - Bạc Liêu năm 1952

Bên trong chánh điện, có 4 trụ chống đỡ tượng trưng cho tứ chúng là Tỳ-kheo, Tỳ-khoe-ni (chúng xuất gia); Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di (chúng tại gia) với ý nghĩa 4 chúng đồng tu mới nâng đỡ ngôi nhà Phật pháp.

Chính giữa chánh điện bố trí tượng đức Bổn sư trên bảo tháp 3 cấp mang ý nghĩ giải thích lộ trình giác ngộ của đức Từ phụ. Bên ngoài có khung gỗ cùng hình tháp 13 tầng bao kính xung quanh tượng trưng cho 13 bước tiến hóa của chúng sanh từ: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích chi, Bồ-tát, Như lai. Có thể nói rằng mô hình kiến trúc của hệ phái Khất Sĩ thể hiện sự lý viên dung của đạo Phật. Muốn tiến hóa trên con đường tự giác, giác tha đến giác hạnh viên mãn, 4 chúng đệ tử Phật giáo cần phải tấn tu tam vô lậu học (giới, định, tuệ) thông qua bát chánh đạo để đạt đến mục tiêu tối hậu là giác ngộ, giải thoát tự thân và chúng sanh.

4. Hoằng pháp theo văn hoá bản địa

Với bản chất của người Nam bộ, mang trong mình tinh thần hào khí, tiết tháo mà bình dị của vùng sông nước trữ tình, Tổ sư cùng các đại đệ tử đã vận dụng khéo léo thơ ca, hò vè như là một phương pháp truyền giáo hữu hiệu. Nghi thức tụng niệm được soạn bằng thể thơ lục bát, song thất lục bát mang âm hưởng dân gian Nam bộ rất hàm súc, dễ hiểu. Những thời pháp thông qua hình thức kể chuyện dân gian để truyền tải giáo lý Phật-đà cao siêu, nhiệm mầu; vận dụng ca dao tục ngữ để minh họa, chứng minh cho thời pháp được dễ hiểu, phổ cập đến mọi tầng lớp. HT. Giác Nhiên, HT. Giác Huệ mỗi lần thuyết pháp là xuất khẩu thành thơ. HT. Giác Tường sử dụng ca dao tục ngữ để minh hoạ cho những triết lý uyên áo của đạo Phật; HT. Giác Toàn, Cố NT. Huỳnh Liên nổi tiếng với tài làm thơ khoán thủ, đóng góp rất lớn cho nền thi ca Phật giáo nước nhà.

5. Việt hoá kinh điển

Mục đích của việc tụng niệm là để hiểu lời Phật dạy và phát triển những ý nguyện cao đẹp của mình, cao xa hơn nữa là giao cảm với các bậc giác ngộ. Do đó, việc tụng niệm kinh điển bằng chữ Việt là một điều tối cần thiết nhằm giúp cho Phật tử hiểu được lời hay, ý đẹp của kinh. Từ đó, nâng cao kết quả việc tu sửa, hành trì vượt ra khỏi tín ngưỡng hình thức thuần túy. Từ những ý nghĩa trên, việc Việt hóa các kinh điển, đặc biệt là kinh nhật tụng là điều rất cần thiết. Thấy được điều tối cần thiết trên, ngay từ thành lập hệ phái Khất Sĩ, Tổ sư đã biên soạn riêng cho mình một nghi thức tụng niệm thuần Việt. Các bản kinh này được dịch từ kinh văn âm Hán – Việt hoặc tự viết theo thể thơ lục bát và song thất lục bát với âm điệu hàm xúc, dễ tụng đọc, dễ đi vào lòng người dân Nam bộ. Ví dụ như bài “Giác linh tống táng”, bà con Nam bộ nghe qua họ không thể cầm được nước mắt bởi các điệp khúc: tình ân…, tình thương…, hồi nào…, bây giờ…để chúng sanh cảm nhận được thân phận phù du cát bụi của mình, để mà sống, mà tu, mà sửa.

Ngoài ra, Tổ sư đã để lại bộ Chơn Lý, thể hiện quan điểm của mình đối với hệ thống tư tưởng triết lý Phật giáo cao thâm, hoặc nhận thức của mình đối với cách ứng dụng hành trì của Phật giáo thời bấy giờ. Bằng chánh kiến, Tổ sư đã thay đổi những quan điểm, đường lối lệch lạc của Phật giáo Nam bộ lúc bấy giờ, lên án những tập quán, hủ tục lạc hậu, mang đậm nét mê tín, dị đoan trong đời sống nhân dân và đưa ra cách giải quyết bằng ngôn từ rất bình dị nhưng cũng hết sức hùng hồn theo chất liệu của người Nam bộ.

6. Y phục dành cho cư sĩ         

Y phục Phật tử cư sĩ Khất sĩ

Khác với chiếc áo tràng màu lam, tay rộng của Phật tử Bắc tông, chiếc áo dài màu trắng, được gọi là “áo giới” là y phục của Phật tử hệ phái Khất Sĩ. Chiếc áo giới trắng mà Tổ sư đã quy định cho hàng Phật tử cư sĩ Khất Sĩ mang ý nghĩ tượng trưng cho tâm hồn trong sạch và đầy đủ niềm tin đối với Tam bảo. Người cư sĩ đã thọ tam quy, ngũ giới mặc áo giới trắng phải thường luôn nghĩ tưởng đến Tam bảo và phải giữ năm giới cho trọn lành. Ngược dòng lịch sử, ta thấy việc Tổ sư Minh Đăng Quang dạy hàng Phật tử cư sĩ mặc áo giới trắng rất hợp với lời dạy của đức Thế Tôn trong Kinh Ưu-bà-tắc số 128 thuộc Trung A-hàm.

Đôi dòng cảm nghĩ

Điểm lại cuộc đời hành đạo của Tổ sư, chúng ta có thể thấy Ngài đã kết hợp giáo lý và hành trì của Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền hết sức sáng tạo, khéo léo để gìn giữ và phát huy được tinh túy giáo lý cao siêu của chư Phật, xác tín lại con đường cứu khổ và giải thoát mọi khổ đau mà đức Phật đã vạch ra. Từ ấy, nhân dân miền Nam như thấy được ngọn đuốc soi đường trong đêm, họ đã lấy lại được niềm tin nơi chánh pháp. Do đó, chỉ vỏn vẹn gần 10 năm, bước chân du hóa của Tổ sư đi đến đâu đều được nhân dân miền Nam ủng hộ và kính ngưỡng như một bậc ân sư.

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, thời gian so với lịch sử của một dân tộc không phải là dài, nhưng cũng đủ để các nhà viết sử có thể có cái nhìn khách quan mà đánh giá trung thực hơn. Riêng bản thân người viết tuy gia đình có truyền thống hộ trì Khất Sĩ khá lâu, nhưng do không phải là thế hệ đầu tiên được trực tiếp gặp Tổ và hộ trì, nên sự hiểu biết về Tổ sư và đường lối của Ngài còn quá sơ sài. Tuy nhiên, với tấm lòng của người con Nam bộ, khi nhắc đến Tổ sư, nhìn chân dung hiền từ của Ngài, chắc không ai không khỏi bùi ngùi, cảm phục đạo lực. Sự “ra đi” của Ngài như một lời cảnh tỉnh cho tín đồ và đệ tử của mình hãy dũng mãnh thêm nữa để cùng hợp sức bảo vệ gia tài chánh pháp mà con dân miền Nam vừa tiếp nhận được, để lưu truyền và quảng bá rộng khắp cả nước như ngày hôm nay.

Mong rằng hàng hậu học, nối tiếp tinh thần “Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam” của Tổ sư sẽ xiển dương Chánh pháp bằng các hành động cụ thể như sau:

- Duy trì hình ảnh “Khất sĩ thanh bần” qua sự rèn luyện phẩm hạnh đạo đức của mình, để làm gương cho chúng sanh tu tập.

- Tích cực nhập thế, dẫn dắt chúng sanh, nhưng “vô nhiễm” trước vòng xoáy cám dỗ vật chất của cơ chế thị trường.

- Hàng cư sĩ áo trắng vừa là người hộ trì, vừa là lực lượng nòng cốt quảng bá chánh pháp sâu rộng cho từng thành viên trong gia đình và cho xã hội.

- Chú ý giáo dục tầng lớp thanh thiếu niên biết quay về cội nguồn dân tộc, thực hành nếp sống giản dị, chân phương, nhân bản trên tinh thần Dân tộc - Đạo pháp, biết cảnh giác và đề kháng lại các xu hướng tôn thờ “chủ nghĩa hưởng thụ vật chất” mà quên đi quá khứ lịch sử của ông cha ta.

Làm được những điều ấy là sự tri ơn và báo ơn sâu sắc nhất đối với Tổ sư. Hy vọng rằng dầu ở cảnh giới nào, Tổ sư cũng hoan hỷ vì thấy ngọn “Đuốc tuệ” của Ngài vẫn rạng ngời tỏa sáng…


[1] Nguyên Hùng, Sư thúc Hòa Hảo, Nxb Tổng Hợp, Hậu Giang, 2000, tr.215.
[2] Chơn lý tập III, bài Đạo Phật, tr. 47 – 48. 

---oOo---

Nguồn: Đạo Phật Khất Sĩ

BÀI LIÊN QUAN

Phật giáo Khất Sĩ ở tỉnh Tây Ninh  ( Phan Kỷ Sửu , 13937 xem)

Sự hấp dẫn của đạo Phật Khất sĩ Việt Nam  ( PGS.TS Nguyễn Công Lý , 39248 xem)

Vài nét về truyền thống truyền thọ giới pháp của Hệ phái Khất Sĩ  ( Hòa thượng Giác Toàn , 4752 xem)

Nguồn gốc Đạo Phật Khất Sĩ  ( Đức Thầy Giác Lý , 28626 xem)

TP.HCM: Hội thảo khoa học về Hệ phái Khất sĩ  ( Quảng Hậu , 8065 xem)

Hệ phái Khất sĩ, thành viên sáng lập GHPGVN  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 9671 xem)

Nét thuần Việt ở một Hệ phái Phật giáo Việt Nam  ( Thượng tọa Thích Đồng Bổn , 9351 xem)

Sự góp phần phát triển Phật giáo Việt Nam  ( Hòa thượng Thích Thiện Nhơn , 12407 xem)

Khất Sĩ - Nhân sự hành động và lý tưởng chủ đạo  (8850 xem)

Quá trình hình thành và phát triển Ni giới hệ phái Khất Sĩ  ( Huyền Phương , 8451 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo ôn thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM khóa XVI

THÔNG BÁO V/v tổ chức ôn thi vào Học viện Khóa XVI

Thông báo Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm Tân Sửu 2021

Khóa tu Truyền thống của Ni giới Hệ phái Khất sĩ năm 2021 sẽ tổ chức tại các Tịnh xá, như sau: KHÓA 35: Tịnh xá Ngọc Lâm - Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu KHÓA 36: Tịnh xá Ngọc Long - Xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

VIDEO HÔM NAY

Video Toạ đàm: HÌNH THÀNH - PHÁT TRIỂN & SỰ ĐÓNG GÓP CỦA NI GIỚI ĐỐI VỚI XH NGÀY NAY - Phật Sự Online

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ