Trang chủ > Đức Tổ Sư > Bài Viết
Những bước chân du hóa
Xem: 11078 . Đăng: 18/03/2015In ấn
NHỮNG BƯỚC CHÂN DU HOÁ
Huỳnh Như Phương
Trên con đường của văn hoá và lịch sử, có những bước chân rầm rập rung chuyển đất trời; lại có những bước chân thầm lặng, nhẹ nhàng mà chuyển hoá lòng người; có những bước chân làm tung bụi mù trên mặt đường; lại có những bước chân bám bụi đường vào da thịt; có những bước chân đến đích rồi thì dừng lại; lại có những bước chân còn đi mãi trên đường khi sứ mạng trên đời chưa hoàn tất.
Bước chân của những người Khất sĩ thuộc trường hợp thứ hai. Khởi đầu, “Khất sĩ là học trò khó đi xin ăn để tu học” (Minh Đăng Quang, Chơn lý, thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành, tr. 164). Họ có mặt trên những nẻo đường ở Ấn Độ, Lào, Việt Nam… Có thể gọi đó là những bước chân du hoá: đi để hoằng hoá, đi để mà chuyển hoá, chuyển hoá bằng bước đi, đi để góp phần thay đổi thế giới và thay đổi lòng người.
Những người Khất sĩ không cần nói ra lời xin, chỉ thanh thản trên mỗi bước đi. Tưởng như cầu xin thực phẩm trần gian, nhưng thực ra chỉ cầu xin lẽ thật và lòng tốt của con người. Tưởng như thu về chút của cải vật chất; nhưng thực ra cho đi của cải tinh thần và gieo trồng những hạt giống của điều thiện khắp bốn phương trời. Tổ sư Minh Đăng Quang nói: “Khất là xin, sĩ là học; sống là xin, ai ai cũng là đang sống xin, để cho được cái học cái biết, xin sống là để cho nên cái biết, biết ấy là học, cho biết lẽ thật…” (Minh Đăng Quang, Chơn lý, Sđd, tr. 865).
Bước chân của người Khất sĩ là biểu tượng của đạo hạnh. Đi là đến với cuộc đời, là gặp gỡ lòng người, là gieo rắc niềm vui và sự khoan dung, an lạc. Trên con đường xe cộ tấp nập, ồn ào ngoài kia, chỉ có người tu sĩ đầu đội trời chân đạp đất, lặng lẽ đi, âm thầm, không vướng bận, không âu lo, không dè chừng, không nghi ngại, không đòi hỏi, xem cuộc đời như bào ảnh trôi qua trước mắt, chỉ có một tâm nguyện hoà giải với thiên nhiên, hoà hợp với lòng người.
Những người tín hữu đang chờ bên đường từ sáng sớm để dâng lễ vật cho những sứ giả của Đức Phật đâu phải là những người bố thí, ban phát; chính họ đang chờ nhận những hạt giống lành, như nhận nước Cam lồ tưới mát tâm hồn có khi đang khô héo vì tham sân si, nhận hoa trái tinh thần tô điểm cho cuộc đời lắm khi bất hạnh và rủi ro của họ. Chúng ta hãy đọc một đoạn văn trong Bài học cư sĩ:
Bạch chư Đại Đức,
Chúng tôi xin dâng các lễ vật này, gọi là lễ cúng dường VẬT THỰC (y, bát, cốc, thuốc uống).
Những món ăn cơm, bánh trái, được hạp theo lẽ đạo.
Có cũng được hợp theo luật đạo, để dâng cúng đến Phật Pháp Tăng.
Xin tam bảo chứng minh!
Ngưỡng cầu cho các bậc ân nhân,
Nhứt là cha mẹ chúng tôi, tất cả chúng sanh, và chúng tôi đều được sự tiến hoá, sự ích lợi, và sự bình an lâu dài.
(Minh Đăng Quang, Chơn lý, Sđd, tr. 239)
Những người Khất sĩ Việt Nam đã bước đi âm thầm suốt 70 năm trên con đường của bốn phép an trú trong quán niệm như Đức Thế Tôn đã dạy: “quán niệm thân thể nơi thân thể”, “quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ”, “quán niệm tâm thức nơi tâm thức”, “quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức” trong tâm thế “tinh cần, sáng suốt và tỉnh thức, bỏ ra ngoài mọi tham dục và chán bỏ đối với cuộc đời” (Nhất Hạnh, Con đường chuyển hoá, NXB Tôn giáo, 2006, tr. 5-6).
Với Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, người mở ra con đường đi tới chánh đạo là Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Huờn, sinh năm 1923 tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Tại Gành Mũi Nai (Hà Tiên) là nơi Tổ sư an trú, thiền định và đắc đạo. Sau đó Tổ Sư về Phú Mỹ, Mỹ Tho tu trì ở chùa Linh Bửu rồi đến năm 1946 lập đạo tràng Minh Đăng Quang, bắt đầu dẫn đoàn Du Tăng đi hành đạo, nên xem đây là nơi Tổ sư chuyển pháp luân. Sau một cung đường truyền đạo, Đức Tổ sư trở về Vĩnh Long, nơi sinh trưởng cũng là nơi chứng kiến ngày Đức Tổ sư vắng bóng.
Những bước chân của các giáo đoàn Du Tăng và Ni giới tiếp tục xuất phát từ Tổ đình Mỹ Tho mái tranh vách đất do Tổ sư định lập, từ đó toả ra khắp miền Tây, miền Đông Nam bộ và lên đất Sài Gòn – Gia Định. Tháng 4 năm 1965, Tịnh xá Trung tâm ở số 7 Nguyễn Trung Trực (nay là 21 Nguyễn Trung Trực) (Gia Định) được khởi công xây dựng trong một khuôn viên rộng 5490 m2. Ban đầu, tịnh xá bao gồm toà chánh điện, nhà thờ Cửu Huyền Thất Tổ, hai dãy nhà Tăng và các cốc của chư Tăng. Nơi đây trở thành trụ sở của Trung ương Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1980. Sau ngày hoà bình, từ tháng 11 năm 1980, Thượng toạ Giác Toàn (trụ trì) và Thượng toạ Giác Phúc (Giáo phẩm hệ phái) tổ chức trùng tu Tịnh xá Trung tâm.
Trước năm 1975, trên toàn miền Nam, Giáo hội Tăng-già Khất sĩ có khoảng 300 tịnh xá mà văn phòng trung ương là Tịnh xá Trung Tâm. Hội đồng lãnh đạo Giáo hội do Ngài Trưởng lão Giác Chánh làm Tăng chủ và Thượng toạ Giác Nhiên làm Tổng Trị sự trưởng tức Viện trưởng Viện hành đạo. Theo gương của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, các đệ tử của Ngài đã thành lập nhiều đoàn Du Tăng Khất sĩ, gồm 6 giáo đoàn chư Tăng và 3 giáo đoàn Ni giới. Với bộ y vàng, không nón mũ, giày dép, tay bưng bát đất, các nhà sư Khất sĩ đã dấn bước trên khắp các làng mạc và thành phố miền Nam, đi đến đâu Quý Sư cũng tổ chức thuyết pháp, xây cất tịnh xá, tích cực tham gia quyên góp cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh và thiên tai.
Ngay từ năm 1968, những người kế tục sự nghiệp của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã tạo lập một thửa đất 6,2 héc ta bên xa lộ Sài Gòn để xây dựng Pháp viện, chuẩn bị mở mang đạo tràng. Pháp viện do Hoà thượng Giác Nhiên, nguyên Trưởng Giáo đoàn IV Hệ phái Khất sĩ, chủ trì xây dựng, với sự đóng góp công đức của Hoà thượng Giác Phúc (viện chủ) và Hoà thượng Giác Lai (trụ trì). Pháp viện đã được trùng tu qua các đời trụ trì: Hoà thượng Giác Phúc, Thượng toạ Giác Khoa, Trưởng lão Giác Huyền. Lúc bấy giờ Pháp viện chỉ gồm chánh điện, nhà thờ Cửu Huyền Thất Tổ và am cốc của chư Tăng được xây cất bằng vật liệu nhẹ.
Từ năm 1968 cho đến năm 1975, quanh Pháp viện là một bãi rác khổng lồ, có lúc cả vạn người mưu sinh trên mặt bằng hơn 6 vạn mét vuông, ngập đầy đồ phế thải: hàng nhựa, bao ni-lông, xích líp, vỏ xe, đồ hộp quá hạn… Sau 1975, thời cuộc đổi thay, Hệ phái Khất sĩ chưa thể tái thiết Pháp viện trên khu đất do mình tạo lập. Nhưng dự án đại trùng tu Pháp viện Minh Đăng Quang vẫn không thôi nung nấu tâm can Hoà thượng Giác Tường, Hoà thượng Giác Phúc, Hoà thượng Giác Toàn và những tu sĩ kế nghiệp Tổ sư Minh Đăng Quang. Hệ phái đã hiến 2 héc ta cho sự nghiệp công ích của quận Thủ Đức, hiến thêm 0,5 héc ta để mở rộng đại lộ. Vào ngày 28-2-2009, Pháp viện được chính thức khởi công xây dựng trên mặt bằng 37.490 m2 tại địa chỉ 505 xa lộ Hà Nội, phường An Phú, Quận 2, TP Hồ Chí Minh. Sau 5 năm khẩn trương thi công, Pháp viện được Chư Tôn Đức chọn làm nơi tổ chức Đại lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng suốt một tuần từ ngày 26 tháng Giêng đến ngày mùng 2 tháng 2 năm Giáp Ngọ 2014. Vậy là hoa sen đã nở trên bãi bùn, bãi rác năm xưa.
Với chánh điện, thiền đường, giảng đường tạo thành một cấu trúc hài hoà, Tăng phòng gắn với công trình nhưng vẫn có tính chất độc lập, bốn ngôi tháp được đặt ở bốn góc của chánh điện, Pháp viện là đỉnh cao thể hiện tinh thần “Trung đạo”, quan điểm thờ phụng và phương pháp tu tập của Hệ phái Khất sĩ. Điều đó cho thấy sự kế thừa truyền thống hoằng pháp, hệ thống tịnh xá và kiến trúc mỹ thuật của Hệ phái Khất sĩ thời trụ xứ.
Thành tựu ngày hôm nay luôn nhắc nhở những bước chân du hoá của ngày hôm qua và nói lên rằng đó là kết quả của một quá trình hoằng hoá và chuyển hoá kéo dài bảy thập niên. Hạt giống đã gieo từ 70 năm trước, nay đã thành cây cho trái chín. Như Tổ sư Minh Đăng Quang viết “sự lựa giống tức là lựa giáo pháp, để tu học gieo trồng, đặng có kết quả tốt đẹp cho đời, là điều mà ai cũng mong muốn như vậy” (Minh Đăng Quang, Chơn lý, Sđd, tr. 479). Ngài còn nói “tất cả chúng sanh là đoàn Du Tăng Khất Sĩ. Đúng lý như vậy, ai ai khá hay giác ngộ tự mình đi lấy, chớ nên ỷ lại và nô lệ” (Minh Đăng Quang, Chơn lý, Sđd, tr. 866).
“Tự mình đi lấy, chớ nên ỷ lại và nô lệ”, lời khuyên đó của Tổ sư Minh Đăng Quang vẫn còn ý nghĩa thời sự, không chỉ trong tu tập, mà cả trong sinh hoạt văn hoá và ứng xử hằng ngày của con người.
BÀI LIÊN QUAN
Lời cảm tưởng ( Phật tử Tịnh xá Ngọc Long , 11168 xem)
Tưởng Niệm Đức Tổ Sư ( Ngọc Châu , 8572 xem)
Tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy trong bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang ( Hòa thượng. Giác Giới giảng, Ngọc Trang phiên tả , 14932 xem)
Ánh Minh Quang ( Bảo Minh Trang , 11706 xem)
Xem sách nhớ thầy ( Ni trưởng Thành Liên , 7596 xem)
Tưởng Niệm Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang ( Ni trưởng Mỹ Liên , 11332 xem)
Tưởng niệm công ân ( Ngọc Hân , 5304 xem)
Trăng Từ Sáng Chiếu ( Ngọc Hiếu , 9432 xem)
Kính Dâng Tổ sư ( Thiện Trường , 10068 xem)
Kính dâng Đức Tổ Sư ( Ngọc Hương , 5280 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 43 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Trường (tỉnh Vĩnh Long)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 43 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Trường (tỉnh Vĩnh Long)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 42 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Khánh (Long Khánh, tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 42 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Khánh (Long Khánh, tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội













