Trang chủ > Văn Hoá > Vu Lan

Mùa Vu Lan báo hiếu với ý pháp tứ trọng ân

Tác giả: Hòa thượng Giác Toàn.  
Xem: 10984 . Đăng: 29/08/2014In ấn

Mùa Vu Lan báo hiếu với ý pháp tứ trọng ân

HT. Giác Toàn

Đạo Phật du nhập vào Việt Nam đến nay đã trên dưới hai ngàn năm, và ngày rằm tháng bảy đã trở thành ngày truyền thống hiếu hạnh của người con Phật Việt Nam. Ngày rằm tháng bảy không còn là ngày lễ riêng của đạo Phật mà nó đã trở thành ngày hội lễ trung nguyên, lễ Vu Lan báo hiếu của cả dân tộc. Trong lòng mọi người dù là Phật tử hay không phải Phật tử đều biết rằng đi chùa rằm tháng bảy là để báo hiếu; hoặc thể hiện một tính cách, một tấm lòng nghĩ tưởng và hướng đến ông bà cha mẹ. Cho nên, nếu vì một lý do nào đó, không được đi chùa trong ngày rằm tháng bảy thì trong lòng rất bâng khuâng lo lắng, dường như mình thiếu sót gì đó đối với ông bà cha mẹ.

Trong kinh Vu Lan Bồn, đức Phật dạy:

Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ,

Mười phương Tăng đều dự lễ này

Ngươi toan sắm sửa chớ chầy

Đồ ăn trăm món, trái cây năm màu

Lại phải sắm sàng phu ngọa cụ

Cùng quán bồn đỉnh chút nhang dầu

Món ăn tinh sạch báu mầu

Đựng trong bình bát vọng cầu kính dâng
Chư Đại đức mười phương thọ thực
Thì bảy đời sẽ được siêu thăng
Lại thêm cha mẹ hiện tiền
Đặng nhiều phước lạc tiêu khiên ách nàn.

 Như vậy, truyền thống đi chùa rằm tháng bảy đã làm nên một nếp quen, đã tạo nên những đức tánh, những tâm hồn đạo đức, hiếu hạnh – biết ơn, nhớ ơn, biết cầu nguyện cha mẹ, ông bà, Cửu Huyền Thất Tổ quá vãng nhiều đời mà đồng thời cũng biết ơn, nhớ ơn, biết tự đánh thức, biết hướng tâm về ông bà cha mẹ hiện tiền – dâng tấm lòng thành kính cầu nguyện ông bà cha mẹ hiện tại chẳng những được “tiêu khiên ách nàn”, mà còn được “tăng long phước thọ”.

Do vậy, ngày Đại lễ Tự Tứ Tăng và Vu Lan Bồn, PL. 2552 năm nay, chúng tôi xin phép được dâng đến chư tôn đức, chư liệt vị ý pháp “Tứ trọng ân” thành kính cúng dường mười phương Tam Bảo.

Tứ trọng ân chính là bốn ân lớn mà đức Phật chúng ta đã chỉ dạy những người con Phật xuất gia và tại gia thực hiện để đền ơn, báo ơn một cách trọn vẹn, chu toàn.

1. Thứ nhất: Ân cha mẹ
Trong kinh đức Phật có dạy: làm người có 4 điều khó, mà đứng đầu là “thân người khó được”. Nay, tất cả chúng ta, dù Tăng Ni hay nam nữ Phật tử đều có được thân người, chẳng những thân người bình thường mà chúng ta còn được thân người, với vô lượng thiện duyên, nhờ vậy chúng ta mới có đủ điều kiện, phước đức nhân duyên quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới, trở thành Phật tử tại gia hay Tăng Ni xuất gia. Nhưng làm thế nào để chúng ta có được những thành tựu kỳ diệu này? Tất cả chúng ta nên biết đó là nhờ ân đức của Tứ trọng ân mà đứng đầu là ân cha và mẹ.

Ông bà tổ tiên chúng ta từng khẳng định:

“Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni của chúng ta đã chứng ngộ, thành tựu vô lượng phạm hạnh, tất cả trời người đều ca ngợi đức Ngài với 10 danh hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Thế mà suốt 80 năm tại thế, gần 50 năm du hành hóa độ chúng sanh, Ngài luôn luôn xem hiếu hạnh là chân lý bất di bất dịch:

“Tâm hiếu là tâm Phật

Hạnh hiếu là hạnh Phật”
Đồng thời, Ngài cũng khẳng định vô vàn tôn trọng và quý kính “Cha mẹ hiện tiền như Phật tại thế”, tức là cha mẹ được quý kính ngang hàng một vị Phật.

Chính điều này mà trong nhân gian ông bà ta đã cảm nhận được lời Phật chỉ dạy, un đúc thành lời ca dao thân thiết mà lại hết sức gần gũi thân thương:

“Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu.”

Lời ca dao này chứa đựng ý tứ thâm thúy, tế nhị và lý tưởng rất tích cực. Bởi nó không nhằm bài bác việc tu hành của mọi người mà nhằm nhắn nhủ tất cả mọi người dù đã tu hay chưa tu, dù tại gia hay xuất gia đều nên biết và nhớ “kính thờ cha mẹ”. Vì thế nếu đã là Phật tử tại gia hay Tăng Ni xuất gia mà chúng ta không làm tròn bổn phận hiếu đạo đối với cha mẹ thì quả thật là điều đáng hổ thẹn. Chính đức Phật đã từng chỉ dạy và nhấn mạnh rất tường tận vấn đề này:

Dù một bên vai cõng cha, một bên vai cõng mẹ đi khắp thế gian này trong suốt một trăm năm, đem của bảy báu mà phụng dưỡng cha mẹ và dù cha mẹ có đại tiểu tiện trên vai, cũng hết lòng chăm sóc, không hề một chút than phiền cực nhọc, nhưng cũng chưa đền ơn, trả ơn đủ cho cha và mẹ. Làm người con chí hiếu phải biết đem hết lòng phụng dưỡng, chăm sóc cho cha và mẹ như đã nêu trên rồi, việc thứ hai cần phải biết tìm mọi phương tiện để chuyển hóa tâm thức bất thiện của cha mẹ trở thành tâm thức thiện, dứt hết mọi oan trái khổ lụy trần gian tu tập tăng trưởng đạo nghiệp cho đến ngày công viên quả mãn. Như vậy, mới được gọi là biết báo hiếu và tận hiếu.

Trong bài kinh “Ba mươi tám pháp hạnh phúc”, có một thiên nhân đến bạch đức Phật làm thế nào để được vận may tối thượng, hạnh phúc miên viễn? Đức Phật đã đáp lời bằng một giáo huấn:

“Phụng dưỡng cha và mẹ 
Là vận may tối thượng”.

Lời dạy này của đức Phật đã giúp cho chúng ta một bài học vô cùng quý báu. Nếu chúng ta được cha mẹ sanh thân, nuôi dưỡng cho được trưởng thành làm người mà chúng ta không biết nhớ ơn, đền ơn, báo ơn bằng cách “phụng dưỡng cha và mẹ” về cả hai mặt vật chất và tinh thần thì quả là điều “bất thiện, bất hiếu và vô cùng rủi ro tai hại”.

Mong rằng tất cả những người con Phật tại gia mãi mãi là những đóa hoa hiếu hạnh trong chánh Pháp, luôn luôn biết “phụng dưỡng cha và mẹ” và nhờ vậy được thọ hưởng mọi vận may tối thượng trong cuộc sống.

1.1. Thứ hai: Ân Tam Bảo Sư Trưởng
Tam Bảo là ba ngôi báu: Phật Pháp Tăng. Phật Pháp Tăng, sư trưởng là những vị thầy có công giáo dưỡng, dạy dỗ khai mở kiến thức, trí tuệ mình từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành.

Trong đạo, ân Tam Bảo là nhờ ân đức của Phật, Pháp, Tăng mà mình được thọ nhận Giới, Định, Tuệ để được tu tập, tăng trưởng trí tuệ, vượt khỏi bến bờ tăm tối của tình tiền danh lợi, tìm đến cảnh giới an vui, nhàn tịnh.

Ở đời, ân Sư trưởng tức thầy cô giáo dạy dỗ chữ nghĩa, văn hóa, nghề nghiệp để tạo nên sự sống ở đời. Vì thế hai ân này rất nặng.

Trong 4 cái khó ở đời, sau thân người khó được, đến thứ hai là khó gặp duyên lành, ba là khó được nghe Phật Pháp, bốn là khó sanh vào nước Phật. Do được duyên lành quy ngưỡng Tam Bảo tu học, lần lượt chúng ta có thể phá vỡ thành trì của các điều khó còn lại.

Quy y Phật chẳng đọa vào đường địa ngục (tức chẳng bị trói buộc khổ sở).

Quy y Pháp chẳng đọa vào đường ngạ quỷ (tức chẳng bị đói khổ).

Quy y Tăng chẳng đọa vào đường súc sanh (tức chẳng bị đọa làm thú vật).

Nhờ quy y Phật mà chúng ta được quay về nương tựa đức độ từ bi, lòng thanh cao quảng đại, đức hỷ xả vô biên của chư Phật.

Nhờ quy y Pháp mà chúng ta được quay về theo học nương tựa những lời Pháp bảo cao quý, thiện lành trong sạch và từ đây có thể soi sáng phá vỡ được những bất thiện, ác quấy ẩn náu nhiều đời nơi thân nghiệp và tâm tánh mình.

Nhờ quy y Tăng mà chúng ta có được nơi quay về nương tựa uy đức các bậc thánh Tăng, công hạnh tu tập gần gũi thân thiện của các vị Chơn tăng và Hiền tăng trong hiện đời để có thể theo học và tìm hiểu Phật Pháp, sửa đổi tâm tánh, tăng trưởng đạo hạnh.

Nhờ gần gũi và được các thầy cô giáo dưỡng dạy dỗ mở mang trí hóa về các mặt liên hệ nghề nghiệp trong cuộc sống, để khi đến tuổi trưởng thành mình có thể tự giữ gìn và tạo dựng cuộc sống một cách chơn chánh, đầy đủ ý nghĩa làm cho phong phú cuộc sống.

Cho nên ân đức Tam Bảo, Sư trưởng và thầy cô là đạo nghĩa thiêng liêng mà người con Phật xuất gia và tại gia chúng ta không thể nào quên.

1.1.1. Thứ ba: Ân quốc vương thủy thổ
Ân quốc vương thủy thổ ngày xưa chính là ân vua chúa và đất nước. Ngày nay, chúng ta có thể cụ thể ra là ân những nhà lãnh đạo, những người có trách nhiệm giữ gìn đất nước và xã hội chúng ta đang sống, chẳng những có bổn phận tìm mọi phương cách để làm cho đất nước, xã hội ngày càng phồn vinh mà còn phải thực sự đưa đồng bào dân tộc, đất nước ngày càng thêm được ấm no, hạnh phúc, thanh bình và thịnh trị.

Ngày xưa vua Thuận Trị (1649 – 1662) một nhà vua Phật tử đời Thanh của Trung Hoa, có lần trong một bài thơ khen ngợi hạnh xuất gia của chư Tăng, đã tự thán nỗi niềm tâm sự của mình:

“Trẫm là chủ của giang san

Vì dân vì nước lo toan đêm ngày

Thế mà người chẳng chịu hay

Đem phiền muộn đổi khổ thay nỗi đời.

Trăm năm thế sự đầy vơi

Sáu ngàn ba vạn nhựt thời phù du

Làm sao sánh được nhà sư
Nửa ngày nhàn tịnh ẩn cư nhiệm mầu.”

                             (Trần Quê Hương dịch)

Ở đời được làm vua, làm lãnh đạo có trách nhiệm ngày đêm cực nhọc, lo dân, lo nước, thế mà có khi, dân không hiểu còn có điều phiền trách, không vừa lòng đối với nhà vua hoặc các nhà lãnh đạo.

Những lúc cực nhọc quá có khi vua hoặc các nhà lãnh đạo chỉ mong có được một ngày, nửa ngày thanh nhàn của một nhà sư chơn tu tịnh cốc núi rừng. Đọc những dòng này, thử nghĩ công sức của những người có trách nhiệm gìn giữ cho xã hội luôn được thạnh trị bình yên là biết chừng nào. Và như chúng ta những Tăng Ni, Phật tử, những người có tín ngưỡng tôn giáo, những ngày hội lễ chúng ta được sinh hoạt một cách thoải mái như mong muốn mà chúng ta không làm tròn bổn phận thiêng liêng của mình và không nhớ ơn những người có công gìn giữ, giúp đỡ chúng ta, thì quả là điều thiếu sót và vô cùng tàm quý.

1.1.1.1. THỨ TƯ: ÂN ĐỒNG BÀO CHÚNG SINH VẠN LOẠI

Trong cuộc sống này cha mẹ sinh thân; Tam Bảo Thầy Tổ giáo dưỡng un đúc giới thân huệ mạng; thầy cô ở trường đời dạy dỗ mở mang kiến thức, trí hóa; quốc vương thủy thổ chở che làm mặt bằng chịu đựng gánh vác bao dung sự sống; đồng bào vạn loại chúng sanh là chỗ nương tựa, tương thân tương trợ, là môi trường sinh hoạt trong cộng đồng xã hội. Như vậy cuộc sống này cho chúng ta thấy rằng Tứ trọng ân: ân nào cũng sâu nặng và không thể thiếu trong cuộc sống đời thường của con người.

Đồng bào là những người cùng dân tộc, cùng chung sống trong cùng một quốc gia, một quốc độ có cùng một màu da, sắc tóc, ngôn ngữ.

Chúng sanh vạn loại là những người cùng chủng loại nhưng khác màu da, sắc tóc, khác ngôn ngữ hoặc có những loại chúng sanh tuy khác chủng loại nhưng lại cùng chung sống trong một quốc độ hay một thế giới, một trái đất.

Trong một thế giới, một trái đất luôn bị chi phối bởi vô thường, khổ não, vô ngã và bất tịnh này thì rõ ràng ân tình đạo nghĩa, sự chia sẻ những ngọt bùi, những ấm lạnh, những biến dịch của dòng thời gian và không gian, dù vô hình trung, mới thoạt nhìn, thoạt nghĩ tưởng chừng như không có gì liên hệ huyết thống, hay chủng tộc, nhưng quả thật chẳng những nó không thể thiếu mà còn là một môi trường sinh thái rất cần thiết, vô cùng trọng yếu đối với cuộc sống.

Chúng ta cứ thử nghĩ, trên cuộc sống này sẽ vô vị và đơn điệu như thế nào, nếu trên trái đất này chỉ có chúng ta, và riêng họ hàng hay những người thân chúng ta chung sống mà không có đồng bào, vạn vật, cây cỏ thiên nhiên cùng hiện hữu.

Ôi ! con chim, con cò, con cá …

Ôi ! dòng sông, phiến đá, trời mây.

Ôi ! vườn cỏ, ôi rừng cây,

Ôi ! thiên nhiên ôi hữu tình hư ảnh.

Trong thực tế, chẳng những trong cuộc sống chúng ta có đồng bào chúng sanh vạn loại nơi thế giới hữu hình này mà chúng ta còn có cả đồng bào chúng sanh vạn loại nơi thế giới vô hình nữa. Nhân dịp rằm tháng bảy, bên cạnh bài kinh Vu Lan Bồn, thiết nghĩ chúng ta cũng nên nghe thêm một vài đoạn thơ trong bài chiêu hồn của thi hào Nguyễn Du:

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt

Toát hơi may lạnh buốt xương khô

Não người thay, buổi chiều thu

Ngàn lau nhuộm bạc, lá ngô rụng vàng.

Đường bạch dương bóng chiều man mác

Dịp đường lê lác đác sương sa

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong từng đêm tối tăm trời đất

Có khôn thiêng phảng phất u minh

Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Và như chúng ta đã biết, trước nỗi thương cảm của chư linh, thi hào cũng đã mời Đức Phật giáng lâm:

“Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh Độ

Phóng hào quang cứu khổ độ u

Ráp hòa tứ hải quần chu

Não phiền dứt sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

Chuyển pháp luân tam giới thập phương

Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

Tinh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ pháp Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào

Gái, trai, già, trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình như ảnh

Có chữ rằng vạn cảnh giai không.

Ai ơi lấy Phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Lễ Tự Tứ Tăng là lễ dành riêng cho chư Tăng Ni xuất gia thực hiện đối trước đại chúng để hoàn thiện các căn, tăng trưởng đạo nghiệp và hạ lạp sau một năm tu học. Còn lễ Vu Lan Bồn báo hiếu là dành riêng cho những người con hiếu đạo, bất luận là xuất gia hay tại gia thực hiện cúng dâng Y bát, tứ vật dụng đến mười phương Tăng chúng để cầu nguyện kẻ còn người mất đều được ân triêm lợi lạc, tức là đền trả chu toàn ý pháp Tứ trọng ân trong cuộc luân hồi dài này. Tứ trọng ân vô cùng sâu nặng, ân cha mẹ cũng vô cùng sâu nặng; chẳng những cha mẹ một đời mà còn ân cha mẹ nhiều đời. Để chu toàn một cách viên mãn, chúng ta hãy thực hiện lời Phật dạy qua Bồ Tát Giới Kinh:

“Này Phật tử ! Hãy coi người nam như cha ta, người nữ như mẹ ta, muôn đời ta từ đó sanh ra”.

Làm được điều này chẳng những chúng ta báo hiếu cha mẹ một đời mà còn báo hiếu cha mẹ nhiều đời. Chẳng những chúng ta đi dự lễ Vu Lan, dâng y rằm tháng bảy mà chúng ta còn dự lễ Vu Lan báo hiếu suốt trọn quanh năm. Nhờ vậy, dù ở đâu đi đâu, lúc nào chúng ta cũng đều là những người con hiếu Hạnh trong chánh pháp, biết gìn giữ thân khẩu ý hiền lành, hiếu thảo của người con chí hiếu mà cư xử một cách tốt đẹp nhất với tất cả những ông cha bà mẹ nhiều đời nhiều kiếp trong khắp mười phương trên quả đất này. Ôi! Cuộc đời sẽ vô vàn hạnh phúc.

“Hăm lăm thế kỷ còn dư

Năm mươi hai năm (lẻ) pháp thư huy hoàng

Trăng mùa đạo sử Vu Lan

Mục Liên Đại hiếu hào quang rực trời
Tỏa mười phương truyền khắp nơi
Ân cha nghĩa mẹ ai ơi đáp đền!”

NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT.

---oOo---

Nguồn: Đạo Phật Khất Sĩ

BÀI LIÊN QUAN

Báo đáp ơn nghĩa sinh thành  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 6471 xem)

Tình yêu thương đầu đời  ( Ngọc Chơn , 5849 xem)

Gương sáng muôn đời  ( Hạnh Chiếu , 5576 xem)

Hoa hồng đỏ mùa Vu Lan  ( Tường Vân , 5977 xem)

Cảm niệm bông hồng cài áo  (Tỳ kheo Giác Hành , 25538 xem)

Cảm Xúc Vu Lan  ( Bảo Minh Trang , 9730 xem)

Niệm Về Ba  ( Ngọc Chơn , 6027 xem)

Mở Trang Hiếu Hạnh (Tuyển tập Hai - 10 bài)  ( Mặc Giang , 6064 xem)

Tâm Ca Vu Lan III  ( Ngọc Chơn , 5473 xem)

Biết ơn và Đền ơn  ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5996 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ