Trang chủ > Văn Học > Thơ
Võ trụ quan
Xem: 4498 . Đăng: 12/09/2021In ấn
Võ trụ quan

VÕ TRỤ QUAN
Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang
NT TUYẾT LIÊN chuyển thơ 2021
I. THỂ CỦA VÕ TRỤ
Võ trụ thể bao la
Dung chứa bao tinh hà
Được ví như trái lựu
Chứa hạt lựu hà sa.
Muôn loài trong thể ấy
Làm sao biết tận cùng
Hình dáng và dung lượng
Của võ trụ mênh mông.
Tuệ của bậc xuất trần
Nhìn các pháp suốt thông
Thấy trong ngoài võ trụ
Vạn vật thảy dung thông.
Lẽ tròn là không khổ
Là đạo quả viên thông
Dầu là người dốt học
Biết giữ phận chánh chơn
Biết làm tròn bổn phận
Chắc chắn sẽ thành công.
II. NHƠN DUYÊN CỦA MỖI QUẢ ĐỊA CẦU
Bốn chất tạo nên hình vạn vật
Bởi tự nhiên, vốn sẵn như nhiên
Không thêm, không bớt, không phiền,
Như thường, như vậy, không thiên, không dời.
Không là sắc, nơi nơi sẵn có
Sắc là không, lý nọ không hai
Không phân tích nói dông dài
Muôn loài vạn vật không ngoài chơn không.
Nhơn duyên hợp, từ không sanh có
Duyên rã tan, có nọ hoàn không
Bao la võ trụ đại đồng
Con sâu, cái kiến cũng không khác gì.
Sai biệt ở thời kỳ hiện hữu,
Quả địa cầu khác với nhân sanh,
Mạng người quả thật mong manh,
Sát na sanh tử, tử sanh một lần.
Trong võ trụ tinh cầu vận chuyển
Được tính bằng thế giới kiếp thiên
Thời gian quả thật vô biên
Nhưng so võ trụ ngắn hơn vạn lần.
Thời gian chẳng tính bằng toán số,
Không gian càng không chỗ đo lường,
Tuệ bậc đạt đạo phi thường,
Vượt ngoài tam giới tỏ tường ngoài trong.
III. HÌNH THỂ CỦA QUẢ ĐỊA CẦU
Lẽ tròn quả thật là duyên
Địa cầu theo lẽ tự nhiên hình tròn
Khi mới nổi tròn như bí rợ
Theo thời duyên hơi lửa mạnh dần
Khí dồn, hơi đất phồng căng
Định hình quả đất xoay lăn hình tròn.
Sau rốt lửa càng ăn khuyết xuống
Chân nở đầu tóp như trứng gà
Quả địa cầu cấu tạo
Như đứa bé trong thai
Trung tim là nồi lửa
Khoảng trống tối là bụng
Đất cát như mở thịt
Sắt đá như xương gân
Nước lưu thông như máu
Cây cỏ ví như da
Thú người như rận chí
Hơi luân lưu như khí
Mặt nước sáng là mắt
Lỏm đất trống là tai
Hương của cỏ là mũi
Vị của cây là lưỡi
Thú là chân tay
Người là cái ý
Trời là cái trí
Phật là cái giác
Sự rung động là nói
Sự thay đổi là làm
Núi lửa là lổ tiêu
Chất ôn nham là phẩn
Sông suối như mồ hôi
Biển to như nước tiểu
Núi cao như đầu
Rừng thẳm như mình
Ruộng bải như chân
Cỏ cây như lông tóc (đoạn này giữ y nguyên văn)
IV. ÁNH SÁNG CỦA QUẢ ĐỊA CẦU
Mỗi địa cầu có vầng nhật nguyệt
Chung quanh là vô số tinh quang
Mặt trăng hơi mát tạo thành
Mặt trời hơi nóng gom thành bốc xa
Người, thú vật, cỏ cây, đất đá,
Có lửa thì sẽ có hào quang,
Nếu người tâm định vững vàng,
Hào quang gom tụ gần trên đỉnh đầu.
Khi xao động không sao nhận thấy,
Quy luật chung lửa ấy hào quang,
Định là có, vọng là tan,
Hoặc khi thân chết tinh quang mất liền.
Lằn mặt trăng xoay vòng trái đất,
Gọi là đường bạch đạo phía trên,
Mặt trời xoay chuyển xuống lên,
Gọi đường xích đạo chung quanh địa cầu.
V. MIẾNG ĐẤT ĐẦU TIÊN TRÊN QUẢ ĐỊA CẦU.
Phía tây bắc lửa lên không tới,
Nước lạnh hàn nước phải đóng băng,
Đông nam nồi lửa ở gần,
Khí nhiệt nung đốt nên thành hỏa sơn.
Trung tim quả địa cầu xứ Ấn,
Hy Mã sơn là rún địa cầu,
Có trung ương, có năm châu,
Tạm phân Nam Bắc nhịp cầu gần xa.
Khi mới nổi địa cầu (như) bóng nước,
Bao phủ ngoài đất đá bên trong,
Lửa nung đất đá cao dần,
Có đất, có nước lần sanh thú người.
Xưa cổ nhân là loài vượn khỉ,
Theo thời gian tiến hóa làm người,
Nhân duyên kết tụ nhiều đời,
Thuận dòng tăng trưởng làm trời, thánh nhân.
Đến khi đủ duyên lành gom kết,
Đến toàn chân sinh diệt dứt rồi,
Phật là toàn giác cao ngôi,
Bậc Chánh Đẳng Giác dứt rồi tử sanh.
VI. SỰ TIẾN HÓA CỦA NHÂN LOẠI TRÊN QUẢ ĐỊA CẦU
Trong tự nhiên SANH lần cái có,
Có địa cầu, địa thủy hỏa phong,
Nhân duyên kết hợp ngoài trong,
Từ thời vô thỉ, xuôi dòng thuận duyên.
Thời kỳ nhất, đa phần cây cỏ.
Thời kỳ hai, sanh hóa thú người
Thời ba, cao cả Phật trời.
HÓA sanh muôn loại cảnh đời trước sau.
Trong sanh hóa muôn màu muôn vẽ,
Biến hiện nhiều sanh loại khác nhau,
Từ ác thấp, đến thiện cao,
Buông bỏ vật chất, sống theo tinh thần
Ấy là lúc suy TÀN vật chất,
Thời gian sau quả đất diệt TIÊU,
Từ không rồi lại thuận chiều,
Đến lần cái có, do nhiều duyên nhân.
Theo duyên lửa lại dần ấm lại,
Gió vận hành, nước đất tái sanh,
Sự sống muôn vật hình thành,
Để rồi tiếp nối, sự sanh bao đời.
Người thì có SANH GIÀ BỆNH CHẾT,
Địa cầu thì SANH HÓA TÀN TIÊU,
Theo duyên tan hợp ít nhiều,
Có rồi có mãi, để rồi hoàn không.
Không rồi có xoay vần vẫn thế,
Vốn tự nhiên không thể luận bàn,
Nhân duyên tan hợp, hợp tan,
Hữu tình, vô thức cũng hoàn thiện chân.
Nếu người biết tinh cần hướng thiện,
Trí tịnh thanh, tiến triển đường lành,
Từ bỏ xấu quấy đua tranh,
Mở ra đường thiện, trọn lành cao trên.
Phật là bậc người lành sáng suốt,
Học hành xong, dạy dổ cũng rồi,
Là bậc rốt ráo nghĩ ngơi,
Thành công cao quý, trên đời yên vui.
Là bậc đã xong rồi phận sự
Với cõi đời không khứ, duyên lai.
Là người tiến hóa cao tài
Bậc siêu nhân loại ai ai tôn thờ.
Được tiếng NGƯỜI là nhờ nhân đức
LÒNG NHÂN từ bủa đức hóa sinh
Căn bản người biết sống lành
Giữ tròn bổn phận gia đình thiện lương.
TRỜI là bậc TRÍ LÀNH rộng khắp,
Cùng sống chung bồi đắp tình thương.
PHẬT là bậc chuyển luân vương
TÂM LÀNH bủa khắp, tình thương vạn loài.
NGƯỜI, TRỜI, PHẬT đây là tên chữ
Lấy theo danh, phận sự đặt tên
Để mà phân biệt dưới trên,
Kẻ mới tiến hóa, người duyên bao đời.
Người còn phải luân hồi trở lại,
Trời cũng còn chuyển kiếp tái sanh
Bậc Phật tâm cả chúng sanh
Giống như hạt giống, cất dành chơn như.
VII. SAU KHI QUẢ ĐỊA CẦU TAN HOẠI
Từ cái không bắt đầu sự sống
Lửa, gió cùng đất, nước, cỏ, cây,
Thú, người, trời, Phật nối dài,
Đều là sự sống trong bầu càn khôn.
Từ khởi đầu, cái không trước nhất,
Đến Phật là cái sống sau cùng,
Theo duyên phát triển dần dần,
Lộ trình tiến hóa luật chung vạn loài.
Rồi khi quả địa cầu tan hoại,
Cỏ, cây, người, thú thảy diệt tiêu,
Trời, Phật cảnh giới cao siêu,
Vẫn còn tồn tại, muôn điều cao thanh.
Trời cao trổi hơn hàng nhơn loại,
Trí thiện lành, lân mẫn chúng sanh,
Nhưng trời cũng vẫn lai sanh,
Bậc Phật toàn giác, tri hành khứ lai.
Cũng ví như thân cây chết ngả,
Trái chín khô cất để đời đời,
Trái già ươm giống cấp thời,
Kỳ dư non, nhỏ theo thời hoại hư.
Cái thức sống của người cũng thế
Biết hoàn toàn tròn trịa, toàn năng,
Biết già là sự thiện lành,
Biết non, nhỏ hẹp phải đành bỏ đi.
Biết hư thúi ấy là ác trược,
Biết bị sâu là ác, gian tà
Khi cây ngả, trái chín già,
Hột khô cất để thật là ít oi.
Còn non, nhỏ, thúi, sâu, hư hoại,
Lượng rất nhiều, là trái bỏ đi.
Cái thức, cái sống diệu kỳ,
Cái biết sáng, mới thật vì (vị) chủ nhân.
Tăng giá trị thiện lành gom kết,
Để dưỡng nuôi trái hột chín già,
Trau dồi thân, khẩu, ý (của) ta,
Nuôi cây dưỡng hột, cái ta sống đời.
Trời và Phật là người đi trước,
Bậc tiên sanh kinh nghiệm rất nhiều,
Sống nơi thanh tịnh tịch liêu
Tránh nơi tham ác, tránh điều sân si,
Cảnh giới của cỏ, cây, người, thú.
Bậc chân nhân an ngự núi rừng,
Đủ duyên thị hiện hóa thân,
Ra vào cảnh thế, dắt lần người mê,
Lòng từ bi khỏe thì dạy dỗ,
Lúc mệt thì yên nghĩ lui về,
Cõi không, cảnh tịnh yên bề,
Tâm chư bồ tát, hướng về chúng sanh.
Đường biết sống đặt tên là đạo,
Đạo bền dài, mãi mãi vui yên,
Ngàn năm cho đến vạn thiên,
Thật là quý báu, trường miên đạo lành.
VIII. CHÚNG SANH TRONG VÕ TRỤ
Tiếng chúng sanh là người chung sống,
Giữa muôn loài chung sống với nhau,
Luân hồi sanh tử đổi trao,
Sanh đi, sanh lại, ra vào bến mê.
Chỉ một tiếng chúng sanh gồm đủ,
Ngũ đại tạo nên cả muôn loài,
Tử sanh lên xuống đổi thay,
Danh từ phân biệt, thiên sai vạn hình.
Các loại đã và đang sinh sản,
Mạng sống thì dài ngắn khác nhau,
Có loài sống chỉ phút giây,
Có loại tuổi thọ đến vài nghìn năm.
Có loại thân sinh ra trong nước,
Có loại sinh trong đất, trên không,
Mỗi loài cảnh giới tương đồng,
Tùy theo nhân nghiệp, tương thông quả đền.
Thường thì cái kia sinh cái nọ,
Cái sau ăn cái trước lớn dần,
Phần nhiều vô trí gây nhân,
Tạo nên ác quả, lãnh phần về sau.
Người hiền sáng, biết thương, biết thiện,
Bậc đại hiền thương cả chúng sanh,
Là bậc diệt độ thường hành,
Nói luận cho đúng “chúng sanh” miên trường.
IX. CÁI TA TRONG VÕ TRỤ
Kể từ thuở địa cầu mới nổi,
Có âm dương sáng tối dung hòa,
Muôn loài từ đó sanh ra,
Tạo nên cái biết, cái ta trong đời.
Khi sự sống bắt đầu sinh nảy,
SẮC hình thành, THỌ CẢM có ra,
Tạm đặt tên gọi cái TA,
TƯỞNG ẤM do thọ dần dà phát sinh.
Có thọ, tưởng trải theo duyên cảnh,
Cỏ, cây, thú, tiến đến thân người,
Chỉ vì cái sống, cái vui,
Tạo nhiều ác nghiệp, đồng loài tổn thương.
Nay nghĩ lại tìm phương chuộc lỗi,
Phải thương tình muôn loại tương thân,
Mình sống, bao kẻ mất thân,
Giật mình tỉnh ngộ, tránh lần nẽo mê.
Mở rộng trí tìm về nẽo thiện,
Phận đàn anh sanh trước đi trên,
Giữ chữ nhân đức làm nền,
Ỷ mạnh hiếp yếu, sao nên chữ người.
Xưa ba nghiệp làm điều tội lỗi,
Nay giật mình cải hối ăn năn,
Chữ nhân người vật cũng đồng,
Thương yêu, bảo bọc, cảm thông muôn loài.
Ta giết hại, (là) chặt dây liên lạc,
Giữa ta cùng vạn vật nhơn sanh,
Lỗi đạo chung sống, chúng sanh,
Trái nhịp tiến hóa, làm anh cách nào?
Hãy học hiểu thông làu chơn lý,
Thấy mình cùng muôn loại tương thông,
Ta cùng muôn vật đại đồng,
Sống hòa võ trụ, tấm lòng vui an.
X .CHƠN LÝ CỦA VÕ TRỤ
Chúng sanh do nhân duyên chuyền níu,
Từ nơi không sanh có nối dài,
Nhỏ đến lớn, có mãi hoài,
Mượn thân tứ đại trả vay bao đời.
Mỗi kiếp sống mượn thời (duyên) tiến hóa,
Cỏ sanh cây, thú lại sanh người,
Đủ duyên người tiến đến Trời,
Đến Phật rốt ráo nghĩ ngơi niết bàn.
Thân tứ đại đổi thay, thay đổi,
Chỉ tinh thần tiến đến chơn như,
Cảnh giới Phật thánh chẳng dư,
Chúng sanh muôn kiếp chẳng trừ thiếu ai.
Quả địa cầu lăn xoay như vậy,
Lý có không, sự mãi thế thôi,
Nếu ai biết lẽ không rồi,
Không còn mờ quáng, nỗi trôi biển trần.
Người giác ngộ tiến gần chơn lý,
Mới biết đường tới cảnh cao siêu,
Con đường tốt đẹp dắt dìu,
Mọi người đến chốn vui yên nhiệm mầu.
Không loạn vọng, không còn sở chấp,
Sống bền lâu, mới thiệt là ta,
Sống đời ích lợi thuần hòa,
Sống có ý nghĩa, có ta yên bình./.
----oo0oo----
Nguồn: daophatkhatsi.vn
BÀI LIÊN QUAN
Trầm tư - Tác giả Ni trưởng Thận Liên ( NT. Thận Liên , 3492 xem)
Công ơn cha mẹ - thơ của Ngọc Trí ( Ngọc Trí , 7484 xem)
Thâm ân phụ mẫu - thơ của Phương Nam ( Phương Nam , 4560 xem)
Ngời sáng Vu lan - thơ của Nguyễn Đình Thắng ( Nguyễn Đình Thắng , 6284 xem)
Vu lan vắng mẹ - thơ của Đặng Thị Bích Hà ( Đặng Thị Bích Hà , 5988 xem)
Chùm Thơ Vu lan của Trường Sơn Nguyễn ( Trường Sơn Nguyễn , 7880 xem)
Công cha mẹ - thơ của Ngoan Võ ( Ngoan Võ , 4928 xem)
Cha mẹ - thơ của Ngọc Chất Giang ( Ngọc Chất Giang , 4140 xem)
Mùa Hiếu Hạnh - thơ của Giác Diệu Hạ ( Giác Diệu Hạ , 3048 xem)
Vu lan bông hồng tặng mẹ - thơ của Hồng Võ ( Hồng Võ , 9452 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













