Trang chủ > Phật Học > Phật Pháp

Phát huy trí tuệ, thích nghi với hoàn cảnh để hành đạo tốt đẹp

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quảng.  
Xem: 10869 . Đăng: 27/09/2014In ấn

Phát huy trí tuệ, thích nghi với hoàn cảnh để hành đạo tốt đẹp

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

     Hôm nay sắp mãn hạ, tôi tranh thủ đến thăm các trường hạ tỉnh Đồng Nai và cơ sở mới của Giáo hội tỉnh nhà. Tôi chúc mừng Hòa thượng Trưởng ban đã xây dựng được cơ sở mới phù hợp với sinh hoạt của tỉnh nhà. Điều này gợi cho chúng ta suy nghĩ về sinh hoạt đổi mới để thích hợp với thời đại. 
     Phật giáo tồn tại và phát triển được cũng nhờ những sự đổi mới thích nghi với xã hội, những thời kỳ mà chúng ta không thích nghi với xã hội đang sống, nói cách khác, khi người dân không tin tưởng Phật giáo thì Phật giáo bị mai một. Vì vậy mà Phật giáo có lúc thạnh lúc suy trong dòng lịch sử hơn hai ngàn năm. 
     Tổ đình Long Thiền đã có hàng mấy trăm năm khi Phật giáo miền Trung cùng di dân theo chúa Nguyễn Phúc Chu và trung tâm này phát triển lần về phương Nam. Xưa kia chùa Long Thiền là trung tâm, nhưng ngày nay, với sự phát triển của xã hội, chùa trở thành chật hẹp, cho nên phải có cơ sở mới để thích hợp với sinh hoạt hiện tại.
     Sinh hoạt của con người là chính, không phải thờ cúng là chính. Ngày xưa, ông cha chúng ta thờ cúng nhiều, cho nên vô chùa, chúng ta thấy chỗ thờ cúng nhiều, trong chánh điện, chỗ hành lễ còn nhỏ, dĩ nhiên chỗ sinh hoạt không có. Nhưng đến thời kỳ Phật giáo chấn hưng thì sinh hoạt của con người trở thành chính, việc thờ cúng trở thành phụ; đó là thời kỳ của Tổ Khánh Hòa ra đời. Ngài vận động phong trào chấn hưng Phật giáo vào năm 1930. Ngài thấy được thực tế là nếu chỉ thờ cúng thần linh, chắc chắn Phật giáo không tồn tại. Ngài nhận thấy Phật giáo Trung Hoa có Thái Hư đại sư và Nhật Bản có Thiền sư Suzuki, cả hai đều đưa ra những sự đổi mới làm cho Phật giáo phát triển theo kịp nhịp đi lên của xã hội. Thí dụ Phật giáo Nhật đi đầu trong việc đào tạo tu sĩ Phật giáo ở bậc đại học và trên đại học và họ đã xây dựng hệ thống đại học Phật giáo hoàn chỉnh đào tạo tu sĩ thấp nhất phải tốt nghiệp cử nhân cho đến thạc sĩ, tiến sĩ, vì tu sĩ lãnh đạo quần chúng đương nhiên phải có trình độ kiến thức hơn người.
     Hòa thượng Khánh Hòa đã theo mô hình Phật giáo Nhật, nhưng ngài không xây dựng đại học ở thời đó được. Ngài mở Trường Lưỡng Xuyên Phật học để đào tạo Tăng tài là chính. Ngài đã bán chùa Tiên Linh để thỉnh bộ Đại chánh tân tu của Nhật làm tư liệu giảng dạy chư Tăng. Thành thật mà nói việc làm này của Hòa thượng vào thời đó ít ai chấp nhận. Và ngài thỉnh các Hòa thượng có khả năng làm giáo thọ giảng dạy, chính yếu là Hòa thượng Khánh Anh là một nhà Nho nổi tiếng, thêm nữa là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Những nhà Nho nổi tiếng thời đó đã trở thành tu sĩ Phật giáo, hay cư sĩ Phật tử. Ở Vũng Tàu có Hòa thượng Huệ Đăng là nhà cách mạng yêu nước đã trở thành tu sĩ. Những người này đã khơi dậy việc học và hiểu giáo lý Phật để tìm ra hướng đi phù hợp với xã hội đánh dấu thời kỳ Phật học đường ra đời.
     Trường Lưỡng Xuyên Phật học đào tạo được các bậc cao đức như Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa. Ở Thiên Thai, Tổ Huệ Đăng đã đào tạo Hòa thượng Minh Nguyệt, Hòa thượng Pháp Linh, Hòa thượng Thiện Hào và sau này, những vị xuất thân từ đây hầu hết tham gia cách mạng.
      Về sau, Hòa thượng Thiện Hòa mở Phật học đường Nam Việt, tôi theo học trường này. Khi tôi tốt nghiệp xong, Hòa thượng Thiện Hoa nói với tôi rằng thầy còn trẻ có điều kiện học thì nên sang Nhật nghiên cứu cách tổ chức, cách quản lý và cách đào tạo nhân tài để trở về xây dựng Phật giáo Việt Nam. Vì vậy, tôi đã để tâm đến ba việc này theo lời dạy của Hòa thượng Thiện Hoa để giúp cho sinh hoạt Phật giáo nước nhà phù hợp với xã hội đi lên.
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng mô hình Phật giáo Việt Nam phải khác với mô hình Phật giáo Nhật Bản và sinh hoạt của một trăm năm trước tất nhiên phải khác với bây giờ. Vì vậy, sinh hoạt của Phật giáo chúng ta đương nhiên phải phù hợp với thực tại, những gì tốt đẹp của quá khứ cũng chỉ là quá khứ. Anh em nên nhớ điều đó để duy trì Giáo hội phát triển.
     Cách đào tạo của Phật giáo Nhật là áp dụng phương thức đào tạo của Tây phương ứng dụng vào Đông phương. Trước kia chúng ta giảng dạy kinh theo y bản gọi là học kinh bộ và nghe giảng nghĩa của các bộ kinh, nhưng cách học theo nghiên cứu mới thì khác.
     Phật giáo Nhật tổng hợp các Đại tạng kinh từ thời nhà Tống, nhà Thanh, nhà Minh cho đến Đại tạng kinh của Tây Tạng và của Pali. Họ tổng hợp tất cả các Đại tạng kinh này để nghiên cứu, giám định lại thành Đại chánh tân tu Đại tạng kinh. Khi bộ kinh Đại chánh tân tu này ra đời, các học giả đều căn cứ vào đó vì nó tổng hợp được tất cả các bộ Đại tạng có trước. Và công tác giảng dạy của Phật giáo Nhật theo kiểu Tây phương, không theo kiểu cũ, tức không giảng dạy kinh bộ; nhưng họ cho học về tác giả và tác phẩm, đó là cách giáo dục của Tây phương. Thí dụ học lịch sử Phật giáo Ấn Độ là học bối cảnh lịch sử của Ấn Độ thời Phật tại thế, vì bối cảnh lịch sử mới sanh ra con người, hay nói đúng hơn, con người tạo nên lịch sử và lịch sử hình thành nên con người.
     Đức Phật sanh ở Ấn Độ thì ta nghiên cứu bối cảnh lịch sử Ấn Độ thời đó thấy rằng tư tưởng Ấn Độ phát xuất từ kinh Vệ Đà tiêu biểu cho nền văn minh của Ấn Độ. Chúng ta không nghĩ đơn giản là Phật giảng dạy giáo lý và ta theo Phật thôi, nhưng chúng ta có suy nghĩ về con người ở thời đó và ứng dụng vào cuộc sống chúng ta. Đức Phật ra đời vào thời kỳ cổ đại của Ấn Độ, lúc đó xã hội Ấn Độ có bốn giai cấp và chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn, Bà-la-môn thời trước Phật và Bà-la-môn thời Phật tại thế.
     Chúng ta thấy rộng là thấy văn minh của nhân loại thời Phật tại thế chính là văn minh Ấn Độ đã trải qua quá trình phát xuất từ kinh điển cổ Vệ Đà cho đến Áo Nghĩa Thơ và phân chia thành lục phái triết học. Ngày nay, chúng ta chia văn minh nhân loại gồm có văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Hoa, văn minh Ai Cập và văn minh Hy Lạp, La Mã. Tôi học tổng hợp bốn nền văn minh này, không học phiến diện Phật giáo. Tôi có cái nhìn xuyên suốt từ văn minh cổ đại Ai Cập vào năm ngàn năm trước cho đến văn minh Hy Lạp, La Mã tiêu biểu cho nền văn minh của Trung Đông. Qua Ấn Độ thì có văn minh cổ Vệ Đà cho đến sáu phái triết học. Văn minh Trung Hoa thì có đạo Khổng, đạo Lão.
     Tu sĩ chúng ta có cái nhìn tổng quát về văn minh cổ đại dẫn đến văn minh hiện đại là văn minh Âu Mỹ. Văn minh Âu Mỹ khai thác vật chất là chính, trong khi văn minh cổ đại đi sâu về tâm linh. Như vậy, một bên phát triển vật chất, một bên phát triển tâm linh. Nhưng theo hướng vật chất thì phát triển thành văn minh khoa học ngày nay chúng ta có. Còn văn minh tinh thần không tồn tại được vì việc truyền đạt từ người này sang người khác rất khó thực hiện, hay nói cách khác, khó thành Phật, thành Tổ, nên chỉ còn phần hình thức và bị mai một.
     Thật vậy, Tổ Đạt Ma đi tìm khắp Ấn Độ không có người nào có khả năng để ngài truyền pháp, truyền sự hiểu biết. Ngài phải sang Trung Hoa ngồi chín năm ở Thiếu Lâm, may mà gặp được Huệ Khả là người duy nhất lãnh hội được yếu chỉ của Thiền tông. Văn minh tâm linh khó là vậy. Và từ Huệ Khả truyền xuống chỉ có một thầy một trò, cho nên nói rằng một vị Thánh La-hán chỉ độ được một người đệ tử, tức đào tạo được một người là may rồi; vì tư tưởng lớn rất quan trọng, nhưng không lãnh hội được thì phải bị mai một.
     Từ ngài Huệ Khả truyền xuống Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và may còn có ngài Huệ Năng ở phương Nam làm nghề đốn củi. Điều này cũng lạ. Tại sao có nhiều người học thức, nhưng không ngộ, trong khi người tiều phu lại lãnh được yếu chỉ. Tôi nói ý này để anh em thấy cái khó của sự tỏ ngộ yếu chỉ.
     Phật giáo truyền bá bằng tâm linh rất cao siêu, nhưng khó lãnh hội thì chúng ta chỉ còn hình thức gọi là cái xác không hồn. Thực tế cho thấy khi các tổ đình được hình thành là biết có cao tăng, Thánh tăng ra đời, nhưng vị này tịch rồi, người kế tiếp chỉ giữ được hình thức chùa, tâm linh không có, mà điều quan trọng trong đạo Phật là tâm linh mới cảm hóa người được. Vì vậy, có chùa hay không không quan trọng, nhưng quan trọng là đắc đạo. Quyết tâm tu của chúng ta là phải đắc đạo, nắm cho được yếu chỉ, vì yếu chỉ hay sở ngộ có sức thu phục con người một cách kỳ diệu, đó là giá trị cao nhất của Phật giáo.
      Chúng ta cất chùa cũng tốt, nhưng tu cho đắc đạo tốt hơn. Không có chùa, nhưng đắc đạo thì chùa tự động mọc lên. Điển hình là Phật đắc đạo, vua Tần Bà Sa La dâng cúng thượng uyển cho Ngài. Và lúc đó, nhóm ba anh em Ca Diếp đã bỏ ngoại đạo, theo Phật. Trong số một ngàn hai trăm năm mươi đệ tử đầu tiên của Phật, chỉ có năm mươi người là các thanh niên theo Phật trước tiên, còn một ngàn hai trăm người là ngoại đạo. Vì vậy, nếu chúng ta nhìn dưới nhãn quan này sẽ không phân biệt ngoại đạo, nhưng chỉ quan niệm đúng hay sai mà thôi.
      Nếu ban đầu chia ngoại đạo và Phật đạo riêng biệt và trong Phật đạo lại phân chia thành hệ phái tông môn, như vậy là đã rơi vô chấp ngã, chấp pháp. Trong khi Phật dạy rằng nếu biết thì ngoại đạo trở thành Phật đạo, điển hình như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên là ngoại đạo thần lửa trở thành đệ tử trung thành của Phật. Thể hiện yếu lý này, ngài Nhật Liên phán giáo đặc biệt với cái nhìn rất thoáng, rất khoa học. Ngài căn cứ theo kinh Duy ma mà phán giáo, nói rằng muốn tìm Phật đạo phải tìm trong dị kiến ngoại đạo. Nghe như vậy thấy lạ, vì học Phật mà không học ở chùa, nhưng học ở ngoại đạo. Ngài nói rằng trước khi thành Phật, Đức Phật đã thông suốt bốn bộ kinh Vệ Đà. Vua Tịnh Phạn đã rước người dạy thái tử học kinh này. Và khi làm Sa-môn, thái tử đã tham vấn các tu sĩ ngoại đạo, nổi tiếng thời đó là Uất Đầu Lam Phất và Kamala. Học lịch sử, chúng ta thấy Phật học với các nhà trí thức đương thời và ngoại đạo.
     Tìm Phật đạo trong dị kiến ngoại đạo mới thấy cái đúng cái sai. Vì vậy, nói rằng đạo Phật là đạo của trí tuệ, không phải đạo mê tín, không phải đạo chấp trước. Trí tuệ của Phật phán đoán tất cả dị kiến ngoại đạo, nên Ngài biết rõ 94 thứ ngoại đạo và Ngài mới đưa ra Phật đạo. Trước tiên, Phật dạy rằng muốn biết chân lý hay sự thật, phải khắc phục tất cả phiền não, nghiệp chướng, trần lao. Mọi người trên cuộc đời đều bị ba thứ này đeo bám. Dù có nói gì, hay theo hình thức nào, nhưng vẫn kẹt phiền não, nghiệp chướng, trần lao thì cũng bỏ đi.
     Anh em tu hành nên suy nghĩ cái gì là nghiệp chướng của mình, là phiền não của mình, là trần lao của mình. Cái nào nên bỏ trước thì dứt khoát diệt trừ. Ngày nay, phát triển trí tuệ là nhìn vào xã hội đang sống, thấy được cái thực và nên làm gì. Đối với tu sĩ Phật giáo, trí tuệ là mạng sống của đời mình; vì không có trí tuệ sẽ phạm sai lầm này đến sai lầm khác và bị khổ đau vô cùng. Có thể khẳng định rằng phát triển được một phần trí tuệ thì đoạn trừ được một phần phiền não. Năm mươi năm trước, tôi ngộ lý này, nên sẵn sàng từ bỏ tất cả, trừ trí tuệ thì không nhường, tức cố gắng học và tu để nâng trí tuệ lên bậc cao nhất, còn quyền lợi vật chất thì bỏ.
     Phải nói tôi vào Phật học đường Nam Việt lúc đó trường này nghèo khổ, không có ăn, nhưng học được. Trong khi anh em ở ngoài đi cầu an cầu siêu được tiền xài một tháng hết rồi tiếp tục đi đám nữa. Hồi xưa tôi cũng xuất thân từ Lục hòa Tăng ứng phú đạo tràng là chính, nhưng tôi đã từ bỏ việc này để vào Phật học đường Nam Việt, chấp nhận cuộc sống nghèo khổ, miễn là học được. Tôi muốn chia sẻ với Tăng Ni trẻ điều này, vì có trí tuệ là có tất cả. Không có trí tuệ, phạm sai lầm dù chỉ một lần cũng phải trả giá đắt. Bạn tôi bị sai lầm này đến sai phạm khác do vô minh khởi dậy, do phiền não, nghiệp chướng, trần lao tác hại.
     Chúng ta tu hành cần khắc phục ba thứ tác hại này, đặc biệt là trong mùa hạ có đủ điều kiện thuận lợi để khắc phục. Khắc phục bằng cách lấy giáo lý Phật hóa giải phiền não, trần lao, nghiệp chướng của mình, khổ nhục, buồn phiền, bất mãn, chấp giáo lý phải xóa bỏ. Vì vậy, bất cứ phiền não nào nổi dậy, chúng ta trừ nó trước. Thực tế Phật dạy A Nan, trong kinh Nguyên thủy ghi rằng khi Phật du hóa đến chỗ mà dân làng bỏ đói, khi dể, A Nan cảm thấy khó chịu, thưa với Phật rằng vua Tần Bà Sa La còn phải nghe Phật thuyết pháp, dân làng này là gì mà dám xem thường Phật. Phật dạy A Nan rằng phiền não nổi dậy ở chỗ nào thì diệt ngay chỗ đó. Tôi tâm đắc yếu chỉ này của Phật dạy. Đám người vô minh nói gì thì mặc kệ họ, mắc chi mà mình buồn phiền, tức giận thì thật là vô lý.
      Tăng Ni làm đạo gặp tình huống này, nên suy nghĩ lời Phật, phiền não khởi trong tâm mình, vì tâm mình buồn phiền, tự ái, bất mãn là ba thứ độc hại này tự hành hạ mình. Các thầy giải quyết cách nào. Đơn giản chỉ quay mặt bỏ đi là hết. Tôi thường nói đường còn dài, việc còn nhiều, phải bỏ qua tất cả những việc gây khó khăn cho ta trên đường đạo và tôi nói hãy đợi đó, tránh được thì qua rồi, mọi việc tự êm xuôi. Ý nghĩa xuất gia là tránh tất cả đụng chạm, tức tránh phiền não, tránh thế tục. Còn người tại gia khó tránh. Thật vậy, người xuất gia dễ tránh đụng chạm, tự mình muốn đụng thì đụng, không muốn đụng thì ở chùa tụng kinh. Mình xuất gia không dính líu cuộc đời, cuộc đời không có khả năng hại mình. Lý này được Tổ Quy Sơn dạy rằng: "Đản tình bất phụ vật, vật khởi ngại nhân”. Tâm mình không kẹt nó thì nó làm gì được. Quyết tâm tu, việc đời bỏ một bên, chắc chắn không ai có khả năng chi phối, làm hại mình; trừ khi mình tham gia vào mới có chuyện.
    Tháng trước, Chủ tịch nước mời tôi tham gia phái đoàn sang Mỹ. Ở chùa không có chuyện gì, đi là công việc bắt đầu sanh, phải vận dụng sự tu hành và trí tuệ của mình. Tôi nhắc anh em nếu trí tuệ chưa sanh, tu chưa đạt kết quả thì nên tránh. Thật vậy, khi Phật đến Lộc Uyển, Ngài bảo năm anh em Kiều Trần Như ở yên một chỗ lo tu, dẹp phiền não để trí tuệ sanh, Ngài đi khất thực nuôi họ. Và khi năm người này đắc La-hán, tức có trí tuệ rồi thì Phật dạy mỗi thầy đi du hóa một phương. Hai câu này cần kết hợp lại để sống. Nếu chấp câu sau là mỗi người đi một phương nhưng giáo hóa không thành công, làm như vậy là oan cho Phật ba đời. Thực tế cho thấy mỗi thầy đi một phương bị Ma Đăng Già bắt, hoặc bị ngoại đạo giết chết, từ đó Phật mới bổ sung thêm rằng phải đi hai người để có việc gì xảy ra thì hỗ trợ cho nhau. Nhưng cũng có trường hợp hai người đi rồi mất tích, nên Phật bảo phải về trước khi trời tối, không nhìn thấy chỉ tay. Vì vậy, chúng ta hiểu rằng phương tiện của Phật có vô số, chấp vào một điều nào cũng sai. Bảo đi giáo hóa thì phải có trí tuệ để thấy biết đi đâu, gặp ai và làm gì mới đi.
     Chủ tịch nước mời tôi tham gia phái đoàn đi Mỹ và nói rằng sang Mỹ trước nhất đến gặp Tổng thống Mỹ, rồi đến Bộ Ngoại giao, đến Thượng, Hạ viện, đến các tổ chức nghiên cứu toàn cầu và gặp các Việt kiều, tất cả đi trong ba ngày. Trong đầu tôi suy nghĩ ngay rằng gặp Tổng thống Mỹ, gặp Bộ Ngoại giao, v.v… để làm gì, phải giải mã được việc này mới đi. Lúc đó tôi nghĩ mình đã 76 tuổi mà ngồi máy bay đến 20 tiếng, không biết sức khỏe có cho phép không. Ông Thứ trưởng Bộ Nội vụ nói thầy yên tâm, có bác sĩ phục vụ trên chuyến bay, không sao, thầy ráng đi. Qua Mỹ, tiếp xúc với các đoàn thể vừa nói và kiều bào thì sự hiện hữu của tu sĩ Phật giáo chúng tôi đã giúp cho mọi người hiểu biết đúng đắn về sinh hoạt của Phật giáo ở nước ta và sự tôn trọng tự do tín ngưỡng của Nhà nước. Tôi tu từ thuở nhỏ cho đến nay trên sáu mươi năm, điều này ai cũng biết. Có người nghĩ lệch lạc rằng tu sĩ Việt Nam là tu sĩ giả. Vì vậy, tôi nhắc Tăng Ni nhớ thúc liễm thân tâm, đừng để phạm sai trái khiến họ nói mình tu giả. Mặc dù hiện nay sinh hoạt Phật giáo ở nước ta thạnh hành, Tăng Ni trên bốn vạn có trình độ học vấn tương đối đàng hoàng. Nhưng người ngoài nước có thể không biết việc tu hành trong nước của chúng ta. Tôi đã xác định rằng Phật giáo Việt Nam có trên bốn vạn Tăng Ni, hai ngàn ngôi chùa, bốn trường đại học Phật giáo. Riêng đại học Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh do tôi lãnh đạo đã đào tạo được hàng ngàn tu sĩ tốt nghiệp cử nhân, chứng minh cho họ thấy Phật giáo Việt Nam đang phát triển. Và tiếp xúc với Việt kiều, tôi gặp ba hạng người: Việt kiều bỏ nước ra đi vì thù hận, nhưng cũng có Việt kiều quên quá khứ, muốn trở về quê hương và Việt kiều gắn bó với cách mạng cũng có, vì thời trước, họ từng tham gia trong phong trào sinh viên, đã từng trèo lên tượng Nữ thần Tự do để treo cờ giải phóng, tôi đã gặp bà Mỹ này. Một số Việt kiều di tản Mỹ hỏi tôi về tình trạng sinh hoạt và tu hành ở Việt Nam thế nào. Tôi nói dễ chịu hơn thời trước. Họ ngạc nhiên. Thời ông Diệm, Phật giáo bị đàn áp, tôi tranh đấu vào thời đó. Thời ông Thiệu, Phật giáo cũng bị hạn chế vì là thời chiến tranh nên có mặt này mặt khác. Nhưng ngày nay Việt Nam ở vào thời hòa bình hơn bốn mươi năm, nên có thay đổi lớn, đi lại tự do, hành đạo không trở ngại, chỉ tôn trọng Hiến pháp và luật pháp thì ở đâu cũng vậy.
      Hòa thượng Kim Triệu nói ở Mỹ cũng vậy, đăng ký ở chùa tám người. Nếu ở hơn tám người thì cảnh sát Mỹ giải tán. Trong buổi lễ ở chùa mời bao nhiêu người tham gia phải báo trước, nếu quá số lượng khai báo thì bị phạt. Ông cho biết ở làng này có quỹ xã hội, nếu ở dư thì bệnh hoạn, ai lo. Thêm một người ở là không khí để thở bị bớt đi, tức là thêm ô nhiễm, rất nguy hiểm. Tôi nghĩ trong tương lai, đất nước ta cũng sẽ quy định như vậy. Nước văn minh đã quy định việc cất nhà gắt gao, một người cần bao nhiêu mét vuông để đủ không khí hít thở và họ thải ra bao nhiêu độc hại như thế nào. Tôi nói ở Việt Nam có phần dễ dãi hơn, chỉ báo cho chính quyền biết có tổ chức lễ, không cần báo số người tham dự, vì không thể biết rõ con số này.
     Thiết nghĩ ở hai quốc gia có hoàn cảnh khác nhau. Ở Việt Nam có tự do của Việt Nam, ở Mỹ có tự do theo cách của họ. Nếu có trí tuệ thì ở nước nào sinh hoạt theo đúng luật pháp nơi đó, chắc chắn không phiền não. Và thực tế tôi ở Việt Nam không phiền não, nhưng anh ở Mỹ thì vì cớ gì mà tự ức lòng, tự nói, tự hành động và tự khổ. Theo Phật, người tu phải thích nghi với từng hoàn cảnh. Ở quê thì sống kiểu quê, ở thành phố thì sống theo thành phố, ở Khất sĩ hay Bắc tông cũng có sinh hoạt mà mình cần thích nghi. Nếu ở Bắc tông mà không thích Bắc tông, muốn như Nam tông là tự chuốc khổ vào mình và cuối cùng cũng phải dọn đi.
     Chúng ta phát huy trí tuệ, đến đâu nên làm gì thích hợp. Ngày xưa, các Tổ sư đắc đạo đi theo các đoàn di dân từ Bắc vào Trung, vào Nam, tùy theo hoàn cảnh mà các ngài sống thích nghi để tồn tại làm đạo và từ đó chùa được xây dựng. Chúng ta có trí tuệ biết sống như vậy cũng thành công. Riêng tỉnh Đồng Nai đất rộng và hệ phái tu hành rất nhiều. Chúng ta tùy theo dân cư từng địa phương có phong tục tập quán riêng biệt mà theo đó sống thích nghi được thì phiền não không sanh. Ngược lại, đòi hỏi, chắc chắn người không chấp nhận, phiền não sẽ nổi dậy.
     Phải thích nghi với hoàn cảnh là khắc phục được phiền não phần nào thì trí tuệ sanh ra, mới chuyển hóa được hoàn cảnh sống, tức cắt bỏ được trần lao. Có trường hợp khó khăn nghèo khổ, nhưng không phiền não, không trần lao. Còn ở chỗ đầy đủ nhưng vẫn phiền não. Vì vậy, phải ý thức rằng có trí tuệ là có tất cả, không có trí tuệ sẽ bị phiền não quấn chặt. Đừng để phiền não ràng mình gọi là thập triền thập sử tạo thành quả hữu lậu không tốt. Dẹp bỏ tất cả phiền não, trần lao, nghiệp chướng để ứng xử tốt đẹp trong mọi tình huống.
     Mong quý vị suy nghĩ, áp dụng lời Phật dạy, tu hành thích nghi với hoàn cảnh của tỉnh nhà để giúp sinh hoạt Phật giáo tỉnh Đồng Nai phát triển. Cầu Phật gia hộ cho tất cả quý vị luôn được an lạc.

Nguồn: Đạo Tràng Pháp Hoa

BÀI LIÊN QUAN

Quan hệ thầy trò trong kinh, luật Phật giáo  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 5971 xem)

Đại tạng kinh Phật giáo: Kho tàng văn hóa - tri thức của nhân loại  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 5577 xem)

Quan điểm Dĩ Nho giải Phật trong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh  ( Thích Hạnh Tuệ , 9024 xem)

Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm "Khóa hư lục"  ( Thượng toạ Thích Phước Đạt , 11340 xem)

Đức Phật dạy La-hầu-la như thế nào?  ( Chơn Thường , 12754 xem)

Có tiền mua tiên cũng được?  ( Thiện Ý , 11567 xem)

Kính lễ giáo pháp  ( Quảng Tánh , 8322 xem)

Những vấn đề liên quan đến Đại Tạng Kinh  ( Đào Nguyên , 10017 xem)

Những vấn đề liên quan đến Đại Tạng Kinh  ( Nguyễn Minh Tiến , 10736 xem)

Lại bàn về chữ Hư nơi tác phẩm Khóa hư lục của Trần Thái Tông  ( Đào Nguyên , 10912 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ