Trang chủ > Phật Học > Phật Pháp

Phật Dạy Chăn Trâu

Tác giả: Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.  
Xem: 5665 . Đăng: 05/07/2014In ấn

 Phật Dạy Chăn Trâu

Thích Tuệ Sỹ
 

Không hung hăng tàn bạo, bản tánh vốn thuần hậu dễ sai khiến, siêng năng và nhiều nhẫn nại; nhưng lại hay làm bậy do sự si ngốc. Đó là đặc tính của trâu, mà cũng là đặc tính của chúng sinh. Phật không nhất thiết coi chúng sinh như trâu bò. Kinh Phật mà nói đến trâu, là nói đến bản tính si ngốc, vô trí nơi mỗi loài chúng sinh. Hiệu của Phật là Điều ngự sư, nên ngài là một người chăn, hay một người đánh xe khéo léo, đưa chúng sinh đến thành trì an lạc của giải thoát.

    Sự si ngốc của chúng sinh không chỉ có một. Nó si ngốc tùy theo loại, nên cũng có cấp bực, có mỗi cách điều phục riêng biệt. Từ các hàng phàm phu, cho đến các hàng Thanh văn, Bồ tát, và cả đến các thiền sư, ngoại hạng, mỗi hành động và mỗi nỗ lực cho hành động, đều được ví với các cách chăn trâu.

    TRÂU CỦA PHÀM PHU :

    Kinh pháp cú, bài kệ I, phẩm Song yếu, nói :

    “ Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu ai nói năng hay hành động với tâm bất thiện, khổ não sẽ đi theo như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe.”

    Trong bài kệ này, nghiệp được ví như con vật kéo xe, mà nguyên ngữ Pàli là vahato, không nhất thiết phải là trâu. Nhưng cũng có thể nói đó là trâu.

    Nghiệp được ví là trâu, vì tất cả nghiệp tạo tác đều được điều động bởi vô minh, cũng như con trâu được điều động kéo xe vì sự si ngốc của nó.

    Kinh pháp cú, bài kệ 135, phẩm Đao trượng, nói :

    “Như người chăn trâu cầm gậy lùa đàn trâu ra đồng cỏ. Cũng vậy, tuổi già và sự chết xua đuổi mạng sống ra đi.”

    Mạng sống, hay tuổi thọ của mỗi chúng sinh, được ví như một con trâu, tuổi già là cây gậy, đồng cỏ là sự chết, và thằng chăn là nghiệp lực. Đời sống của chúng sinh bị nghiệp lực xua đuổi đi tới sự chết bằng tuổi già, như con trâu bị thằng chăn xua đuổi ra đồng cỏ bằng cây gậy. Con trâu nhắm tới đồng cỏ, sự sống nhắm tới sự chết. Chúng sinh không tự chủ trong hành động, cũng như trâu không tự chủ trong sở thích của nó.

    TRÂU CỦA THANH VĂN:

    Tần-bà-ta-la, quốc vương xứ Ma-kiệt-đà, thỉnh Phật và năm trăm đệ tử Phật cúng dường trong ba tháng. Vương dọn sữa tươi cúng Phật và chúng Tỳ kheo tăng, nên cho gọi những người chăn trâu ngày ngày mang sữa tươi đến. Sau ba tháng, quốc vương thương cảm những người này, muốn cho họ đến hầu Phật. Họ đến hầu Phật, sung sướng được chiêm ngưỡng dung nhan của Phật. Nhưng không biết gì để thưa hỏi. Vì họ là những người chăn, nên chỉ biết việc chăn mà thôi. Họ đem việc đó hỏi Phật, chăn thế nào cho có hiệu quả thiết thực. Phật dạy :

    Nếu biết giữ mười một điều thì người chăn có thể làm cho bầy trâu mạnh khoẻ và nhiều thêm.

    Nhân đó, Phật cũng dạy các thầy Tỳ kheo phải biết mười một pháp, để cho thiện pháp được tăng trưởng.

    Đây là mười một điều tâm niệm của người chăn, tương xứng với mười một điều tâm niệm của thầy Tỳ kheo :

    1)  Biết sắc. Biết các sắc của trâu: sắc đen, sắc trắng, sắc tạp.

    Tỳ kheo cũng thế. Biết hết thảy sắc pháp đều là tứ đại và tứ đại sở tạo.

    2)      Biết tướng. Biết trâu có tướng tốt hay không có tướng tốt. Do so với các bầy trâu khác mà biết. Tỳ kheo cũng vậy. Thấy tướng thiện nghiệp thì biết là người trí, thấy tướng ác nghiệp thì biết là người ngu.

    3)      Biết mổ xẻ. Khi trâu bị các trùng độc hút máu, các vết thương lở ra. Biết mổ xẻ thì trừ được các điều có hại. Tỳ kheo cũng vậy. Thấy cái đó là ác, thì biết là loài trùng độc hút máu thiện căn làm vết thương của tâm lở thêm ra. Biết trừ đi thì được an ổn.

    4)      Biết che vết thương. Hoặc lấy vải, hoặc lấy lá cây, che các vết thương, không để cho ruồi muỗi châm chích. Tỳ kheo cũng vậy. Niệm pháp chánh quán để che vết thương lục tình, không để cho các trùng độc phiền não tham dục, sân nhuế, ngu si châm chích gây ra vết thương.

    5)      Biết nhóm khói. Nhóm khói là để trừ các loài ruồi muỗi. Trâu nhìn xa thì nhằm chỗ đó mà về nhà. Tỳ kheo cũng vậy. Đúng như điều được nghe mà thuyết để trừ các loài ruồi muỗi kết sử, lấy ngọn khói chánh pháp để dẫn chúng sinh về trong nhà vô ngã, thật tướng, tánh không.

    6)      Biết đường tốt. Biết con đường đi về của trâu tốt hay xấu. Tỳ kheo cũng vậy. Biết con đường bát thánh có thể đi đến Niết-bàn, lìa con đường xấu chấp đoạn chấp thường.

    7)      Biết chỗ trâu thích hợp. Biết nơi nào thích hợp cho trâu sinh sôi nảy nở, ít bịnh. Tỳ kheo cũng vậy. Khi giảng thuyết Phật pháp thì được pháp hỉ thanh tịnh, các thiện căn thêm lên.

    8)      Biết đưa qua sông. Biết chỗ dễ lội xuống, dễ đi qua, không có sóng dữ, không có trùng độc. Tỳ kheo cũng vậy. Thường đến chỗ của những Tỳ kheo đa văn mà hỏi pháp, tâm sáng hay tối, phiền não nặng hay nhẹ, khiến cho được vào bến tốt, an lành mà được độ thoát.

    9)      Biết an ổn. Biết chỗ ở có hay không có cọp beo, sư tử, ác trùng, độc thú. Tỳ kheo cũng vậy. Biết bốn niệm xứ là chỗ an ổn, không có ác ma, độc thú, phiền não. Tỳ kheo vào ở chỗ đó sẽ được an ổn, không lo ngại.

    10)  Biết giữ sữa. Trâu mẹ thương yêu trâu nghé nên lén cho sữa. Nếu biết giữ sữa còn lại cho trâu mẹ hoan hỉ, trâu con không bị khát sữa. Như vậy, chủ trâu và người chăn trâu ngày ngày có thêm điều ích lợi. Tỳ kheo cũng vậy. Bạch y cư sĩ cung cấp các thứ y phục, ẩm thực, nên biết tiết lượng, không để khánh kiệt; đàn việt sẽ hoan hỉ, tín tâm do đó không dứt. Mà người thọ nhận sẽ không bị thiếu hụt.

    11)  Biết nuôi trâu đầu đàn. Con trâu nào lớn nhất, có thể giữ được cả đàn trâu, nên phải giữ gìn không để tiều tụy. Uống thì cho dầu lạc, trang sức thì cho vòng hoa, tiêu biểu thì lấy sừng sắt cọ mài, vuốt ve khen ngợi… Tỳ kheo cũng thế. Trong chúng tăng có bậc đại nhân có uy đức, hộ trì chánh pháp, hàng phục ngoại đạo, có thể khiến cho tâm chúng được gieo các thiện căn, nên tùy sở nghi mà cung kính cúng dường…

    Những người chăn trâu sau khi nghe Phật giảng các cách chăn trâu cặn kẽ như vậy, rất lấy làm thán phục. Họ kinh ngạc, không tưởng được một hoàng tử suốt đời chưa từng chăn trâu, mà lại biết rành rẽ về các cách chăn trâu như vậy. Họ nói với nhau rằng, trong nghề của mình, biết nhiều lắm ba hoặc bốn chuyện. Dù đến bậc thầy chăn trâu cũng chỉ biết năm hay sáu chuyện là cùng. Phật lại biết cả mười một cách, quả ngài là bậc Nhất thiết trí. Theo họ, Nhất thiết trí, một danh hiệu thường được dùng tôn xưng đức Phật, có nghĩa là cái gì cũng biết, cả đến việc chăn trâu cũng phải biết.

    TRÂU CỦA BỔ TÁT:

    Trước đây, trong quyển tranh chăn trâu, do An tiêm xuất bản, tôi có cho in các bài văn ngắn của các cao tăng Trung hoa thời xưa, và trích dịch 30 bài thơ, vừa xướng vừa họa, cũng của các cao tăng Trung hoa, về tranh chăn trâu. Nay nhân dịp này, tôi dịch ra đây mười bài thơ khác, trích trong quyển Tịnh độ chứng tâm tập, của Vạn Liên, đời Thanh, trước thuật.

    Đại thừa lấy việc chăn trâu dụ cho việc luyện tâm. Cái tâm đó, nguyên lai thuần hậu, nhưng đã bị đánh lạc mất, để nó chạy rông, buông lung theo sở thích không biết gì đến những hiểm nguy rình rập, cho nên phải tìm lại, và chế ngự cho thuần tánh. Từ khi tìm trâu để chăn cho đến khi việc chăn thành tựu, trải qua mười giai đoạn,

    1) TÌM TRÂU :

    Giá điều tuấn lĩnh thảo ly ly
    Hoa lạc lâm gian bát nhãn mi
    Đáo thử dĩ tương trân thế cách
    Na biên ưng bả tục tình di
    Trùng trùng hàng thọ hàm thù thắng
    Yết yết dư hà đĩnh tú ti
    Mịch biến khê sơn vô tích thú
    Hồn nhiên đại khởi nhất đoàn nghi.

     

    Núi cao cây cỏ mịt mùng
    Vén mày tìm lối hoa rừng mà qua
    Chợ đời một cõi cách xa
    Tình đời thôi hãy gác ra cõi ngoài
    Chập chùng biết mấy hàng cây
    Ráng chiều vời vợi vẻ ngày lên cao
    Nầy non kìa suối tìm đâu
    Lòng ôm một nỗi mấy bầu hoài nghi

    2) THẤY DẤU :

    Thanh phong xuy phá bích vân yên
    Trực thượng cao phong tuyệt đảnh biên
    Khê lộ điều điều lai nhãn để
    Đề ngân ẩn ẩn đáo ngân tiền
    Tương phùng tợ suyển tùng sao nguyệt
    Tạc hiến như khuy tỉnh lý thiên
    Truy hướng Qui sơn cừ diện mục
    Giá hồi y cựu bất năng xuyên

     

    Gió lành thổi dạt mây mờ
    Trèo lên tuyệt đỉnh trơ vô tuyệt vời
    Liếc chừng con suối chảy xuôi
    Dấu chân thấp thoáng đây rồi phải chăng
    Tuồng chi thông réo vờn trăng
    Vẻ chi đáy giếng mà trong bóng trời
    Non Qui chắc có mặt mầy
    Rồi ra chẳng biết đường dây mối nào

    3) THẤY TRÂU

    Ngưu nhi nhất kiến tự vong ưu
    Đầu giốc tranh vanh tượng ngoại du
    Bất hưởng cốc trung hô bất trụ
    Vô âm dương xứ hoán vô hưu
    Chân hình lộ địa tiền sinh ngo
    Thật trí huy thiên xuất thế lưu
    Không bả tị thằng nan hạ thủ
    Ngưng mâu trực thị cánh thâm u

     

    Thấy trâu lọ phải ưu sầu
    Sừng chông chênh chếch ra màu xa khơi
    Kêu vang hốc núi dội lời
    Mà đâu thanh khí cho hoài công lao
    Duyên đời rồi sẽ gặp nhau
    Trí lay trời rộng cõi nào sánh ngang
    Làm sao xỏ mũi tay thừng
    Tròn xoe con mắt trông chừng xa xa

    4) ĐƯỢC TRÂU

    Đốn triệt thiên nhiên thân ngoại thân
    Dã hồ tinh mị cảm đồng luân
    Ngang đầu cố thị hòa thân chuyển
    Ồn bộ du hành thoát tục trần
    Đạp khước hoá thành tam bách chủng
    Canh lai pháp địa thập phấn xuân
    Đoan đoan tị khổng thâm thâm quán
    Bảo thọ âm trung hảo dưỡng thần

     

    Rõ ràng vóc dạng rồi nha !
    Chồn kia cáo nọ không là giống chi
    Ngẩn đầu quay lại bước đi
    Thong dong dạo bước mơ gì trần ai
    Ba trăm quán trọ qua ngay
    Về nơi đất pháp công cày nên xuân
    Sít sao mũi buộc dây thừng
    Cây sao bóng rủ kề lưng giấc hòe

    5) CHĂN TRÂU

    Địa khoát thiên cao nhiệm mục đồng
    Khê nam khê bắc dữ khê đông
    Nhân ca nhất khúc tri không hữu
    Tinh khán thiên kinh dẫn dị đồng
    Hàm trạch phong gia mao ốc cổ
    Triệu châu chỉ thú mính hoa dung
    Quát kim huấn luyện thù tiêu tức
    Biến lịch u lâm khí tượng hùng

     

    Mục đồng đất chở trời che

    Này nam, này bắc, này khe mấy dòng
    Nghêu ngao mấy khúc Có Không
    Độc kinh mấy quyển Dị Đồng dửng dưng
    Nhà tranh mái cũ quen chừng
    Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn
    Dạy trâu nào phải nhọc nhằn
    Quyền uy đậy cả một vùng cỏ cây

    6) CƯỠI TRÂU

    Nhị thập dư niên trụ thử san
    Xuất san hung thứ thủy an nhàn
    Cao phao thoa liệp tùy phong vũ
    Hảo điệu tiều ca dật hứng ban

     

    Hoa vũ phi lai do phá xuyết
    Vân lâm qui khứ thiểu đồng ban
    Bát khai phách tử thành tiêu sái
    Ồn tọa bồ đoàn triển tiếu nhan

     

    Hai mươi năm lẻ non này
    Mới yên tất dạ từ đây giã từ
    Tung nón lá, gió đong đưa
    Cao lời thấp giọng chi thua lão tiều
    Mưa hoa cánh áo dập diều
    Rừng mâu trên đó ngược chiều dưới ni
    Dang tay phách nhịp đi đi
    Ngồi chơi nệm cỏ mặt hi cười cười

    7) QUÊN TRÂU

    Đắc thủ công huân diệc thị vô
    Vong tình tuyệt lự nhất thân cô
    Du du độc toạ văn đề điểu
    Tịch tịch không hoài quyển trú đồ
    Tự tích dĩ phùng chân tục thú
    Nhi kim bất cổ súc thì đồ
    Hồn dung cư chỉ thùy vi chủ
    Tất cánh tiêu dao một thử mô

     

    Xong rồi công khó thành chơi
    Quên tình quên nghĩa cho người lẻ loi
    Ngồi nghe chim hót chơi vơi
    Tranh chiều rủ xuống đất trời lạnh tăm
    Ngày xưa Chân , Tục xăm xăm
    Bây giờ một dứt mấy tầm cũng thôi
    Nếp nhà bỏ đó mặc ai
    Tiêu dao một chuyến cho đầy ước mong.

    8) VẮNG HẾT

    Tịch diệt trân hoài khởi chánh tràng
    Đốn dung minh ám thú phi thường
    An nhiên thoát sái thành du viễn
    Trực hạ trừng ngưng tuyệt ẩn tàng
    Ngọc lậu điêu tàn thiên địa hiểu
    Kim thương ninh tĩnh quốc dân khang
    Ưu du vẫn khế đoan hô xuất
    Nhất vị tiêu dung giác tánh vong 

     

    Từ nay cõi Đạo nức lòng
    Lẽ thường sáng tối ôm tròn, lạ thay !
    Nhởn nhơ tách bước cõi ngoài
    Màu trong tiếng lặng tuyệt vời chìm xa
    Canh tàn trời đất sáng ra
    Quăng thương liệng giáo quốc gia thái bình
    Rong chơi theo tiếng tâm tình
    Vẻ chi giác tánh mà mình đeo mang

    9) VỀ NGUỔN

    Thượng hạ giao huy thấu triệt thanh
    Qui phàm phong chánh lải chu hành
    Nguyên tuyên cổn cổn tri hà hứa
    Trí hải thâm thâm thùy cảm bình
    Đổng triệt thiên tâm thuyên biểu lý
    Đoan tư chí thú ức tung hoành
    Đoàn loan bản trí nan đồng thưởng
    Chiếu khí xung hòa vạn hủy sanh

     

    Một màu trên dưới trong xanh
    Cánh buồm thuận gió con thuyền lênh đênh
    Suối nguồn như thác đổ ghềnh
    Sâu xa biển Trí ai bình cho xuôi
    Tỏ bày cao vút lòng trời
    Dọc ngang chi đó thú này trong tay
    Tròn xoe gốc cội khôn hay
    Hơi xông ngui ngút phủ đầy cỏ hoa.

    10) VÀO CHỢ

    Đại triển gia phong độc lộ ki
    Thanh sơn khước chỉ dã vân phi
    Giang hà thủy mãn triền thành khoát
    Tỉnh lý xuân thâm nguyệt sắc vi
    Tọa đối lục dương tiêu tức hảo
    Hành khan bạch cổ tự tri qui
    Sư nhi tận sổ phiên cân đẩu
    Bất xuất lão tăng kim lũy ...(?)

     

    Rõ ràng một bóng thói nhà
    Núi xanh chỉ thấy la đà từng mây
    Phố thị rộng, nước sông đầy
    Màu trăng mờ nhạt xuân dày ruộng nương
    Ngồi xem vẻ biếc cành dương
    Con tâu trăng trắng thuộc đường vãng lai
    Mấy lần sư tử ra oai
    Làm sao hơn nổi áo thầy mà mong.

    TRÂU CỦA THIỀN SƯ: 

    Thiền sư không biết tụng kinh, chỉ biết gánh nước, đốn củi, vo gạo nấu cơm. Chăn trâu có nhiều phép tắc, sư làm sao nổi? Việc của mình thiền sư không thông, nhưng lại thông việc của người khác. Bây giờ thử coi các thiền sư có trâu hay không, và có, thì chăn bằng cách nào ?

    1) Có thầy tăng hỏi thiền sư Nam Tuyền: “Một trăm năm nữa, hoà thượng đi đâu về?”.

    Sư đáp: “Đi làm một con trâu”.

    Sư Phần Dương Thượng Chiêu làm bài tụng:

    Loại trung nan biện yếu phân minh
    Đới giốc phi mao tốt vị tinh
    Hàm thủ thảo lai phương định động
    Đầu đầu vật vật tự chân linh

     

    Phải biết cùng loài thì khó biết
    Mang lông đội sừng giống nhau hết
    Ngậm cỏ đưa về rồi mới hay
    Trông trước trông sau ra giả thiệt.

    Ý muôn nói, hoà thượng Nam-Tuyền cũng một loại với trâu. Trâu thiệt hay trâu giả, mang cỏ đến nhử nơi mỏm sẽ rõ.

    2) Thiền sư Dược Sơn, trong buổi vãn tham không đốt đèn. Sư nói: “Ta có một câu, đợi cho trâu nghé sinh con rồi sẽ nói cho quý vị biết. Bấy giờ có một thầy tăng bước ra, lên tiếng: “Nghé sinh con rồi. Chỉ có hoà thượng không chịu nói đó thôi”. Sư kêu thị giả mang đèn đến. Thầy tăng đó rút lui vào trong chúng.

    Thiền sư Phật Nhãn Thanh Viễn làm bài tụng :

    Độc ngưu sinh tử phả tương am
    Lưỡng nhãn thông hồng sắc tợ lam
    Bả hỏa chiếu lai vô mịch xứ
    Đại gia phổ thỉnh nhất thời tham.

     

    Trâu nghé đẻ con biết nhau quá
    Hai mắt đỏ kè mặt như chàm
    Mang lửa rọi vào chuồn mất nhá !
    Cả bọn xin giảng một thời tham (cứu).

    3) Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi thiền sư Nam Tuyền : Có biết người nào đi đâu không? Nam Tuyền đáp : “Đi đến nhà thí chủ ở trước núi làm một con trâu. Tòng Thẩm nói : “Cảm ơn sư chỉ cho biết”. Nam Tuyền bảo : “Đêm rồi canh ba trăng rọi cửa” (rọi cửa sổ : ăn trộm chắc!)

    4) Thiền Sư  Qui Sơn Linh Hựu dạy chúng tăng : “Lão tăng, một trăm năm sau, xuống nhà thí chủ dưới núi làm một con trâu. Hông bên trái viết năm chữ (mà tiếng Việt lại thành bảy chữ) : Ông Thầy Chùa Qui Sơn tên Đó. Bấy giờ, nếu gọi nó là ông thầy chùa Qui Sơn, thì lại là con trâu. Mà gọi con trâu, té ra là ông thầy chùa Qui Sơn tên Đó. Phải gọi là thứ gì mới được? Ngưỡng Sơn bước ra lạy rồi bỏ đi”

    Thiền Sư Đạo Ngô-Ngộ chân tụng :

    Thủy hồ Qui Sơn trực triệt ki
    Phân minh nhân loại hiển u kỳ
    Lưỡng biên xuất ngữ phân thân xứ
    Dạ điểu đầu lâm hiểu phục phi.

     

    Con trâu, Qui Sơn, thiệt mù tịt
    Rõ ràng là người mới là kỳ
    Bên này bên kia có chữ hết
    Chim đêm về rừng sớm bay đi.

    5) Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận, một hôm, cùng đi dạo với quan Tướng quốc họ Bùi, thấy bác thợ cày cày ruộng, bùn lún sâu, trâu đi không được. Bác đánh nó, Quan họ Bùi động lòng trắc ẩn, Sư bảo : “Đét cho đau nữa đi!” Họ Bùi nói : “Ông bạn quí, sao lại nói được như thế?” Sư bảo : “Cái thứ hai chân, cày làm sao được.”

    Thiền sư Thuỷ Am tụng :

    Vận sư Bùi tưởng lão bà tâm
    Bất cố nê thâm dữ thuỷ thâm
    Thống bỗng độc chuỳ hành dị loại
    Túng giao bì hạ huyết lâm lâm.

     

    Sư Vận, tướng Bùi, tâm bà nội
    Chẳng kể bùn sâu hay nước sâu
    Gậy đau, chảy độc hành khác loại
    Cái nào cũng máu nhuộm da trâu.

    6) Đầu tử Đồng thiền sư, có thầy tăng hỏi: “Con trâu trắng sờ sờ ra đó, như thế nào?” Sư bảo: “Rào rạo.” Thầy tăng lại hỏi: “Nó uống hút cái gì?” Sư bảo: “Ken két.”

    Thiền sư Huệ Giác tụng:

    Lộ địa bạch ngưu khởi vấn đoan
    Tuỳ cơ chả chả xì nha hàn
    Bất tri ẩm hám thị hà vật
    Nghiết nghiết trực giao thương hải càn.

     

    Trâu trắng sờ sờ bày chuyện kháo
    Cứ tuỳ răng lạnh kêu rào rạo
    Chẳng biết uống hút cái thứ gì
    Ken két làm cho biển khô ráo .

    Source: www.phatviet.com

BÀI LIÊN QUAN

Vô vi cư điện các  ( Hòa thượng Thích Thiện Siêu , 5428 xem)

Tu hạnh con rùa  ( Hòa thượng Siêu Việt , 8479 xem)

Phật Học Khái Luận  ( Hòa thượng Thích Chơn Thiện , 6105 xem)

Bố thí Ba-la-mật  ( Hòa thượng Thích Trí Siêu , 6000 xem)

Ý nghĩa chữ tu  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 9081 xem)

Kết Hợp Giáo Pháp Nguyên Thủy Và Đại Thừa Để Thích Nghi Với Xã Hội Đang Sống  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 3404 xem)

Thập Trụ Bồ Tát  ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 4932 xem)

Người Phật tử với tam quy và ngũ giới  ( Thích Thiện Bảo , 11854 xem)

Không sát sanh, tôn trọng sự sống  ( Hòa thượng Thích Minh Châu , 5616 xem)

Năm giới, nếp sống lành mạnh, an lạc và vị tha  ( Hòa thượng Thích Minh Châu , 5135 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ