Trang chủ > Phật Học > Phật Pháp
Lòng tin của người Phật tử
Xem: 6006 . Đăng: 19/07/2014In ấn
LÒNG TIN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
Thịch Đạt Ma Phổ Giác
Phật tử ờ đây là những người tu theo Phật bao gồm người xuất gia và cư sĩ tại gia. Vậy lòng tin của người Phật tử là gì? Là tin Tam bảo, là ba ngôi quý báu hiếm thấy khó gặp ở đời vì sự nhiệm mầu của nó tức tin Phật, tin Pháp và tin Tăng.
Phật là một con người giống như tất cả mọi người chúng ta nhờ tu tập chuyển hoá buông xả nên đã giác ngộ hoàn toàn không còn phiền não tham, sân, si chi phối tức tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.
Pháp là những lời dạy vàng ngọc của Phật do Ngài tu chứng mà nói ra được kiết tập trong tam tạng kinh điển hướng dẫn mọi người biết được điều hay lẽ phải, điều tốt lẽ xấu trong cuộc đời.
Tăng là những người đi theo con đường của Phật vừa học, vừa tu vừa hướng dẫn cho tất cả mọi người cùng tu theo để chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ, chớ không phải tìm kiếm bên ngoài và cầu cạnh nơi phương trời xa xôi nào đó.
Lòng tin ấy đối với tất cả mọi người dễ tin hay là khó tin? Dễ tin đối với người đã có nhận thức hiểu biết chân chính, khó tin đối với người quá tham lam, si mê và ích kỹ. Lòng tin, theo Phật giáo phải là chánh tín, tức niềm tin sau khi đã được cân nhắc, nghiệm xét, quán chiếu hành trì chuyển hoá nhờ phát sinh trí tuệ. Niềm tin mà thiếu sự hiểu biết chân chính tức tin mù, tin quáng, tin suông mà không có sự kiểm chứng, thể nghiệm về nó, như vậy chính là niềm tin mê tín. Vì thế, khi đã tin thì phải hiểu rõ về bản chất sự thật của nó và hiểu để củng cố, tăng trưởng thêm niềm tin là điều không thể thiếu đối với người Phật tử chân chính.
Trong bất kỳ sự nỗ lực nào của con người thì niềm tin đều đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, người thiếu niềm tin chân chính sẽ sống một cuộc đời vô vị không có ý nghĩa và giá trị thiết thực để đóng góp lợi ích cho gia đình và xã hội.
Niềm tin chân chánh đối với người Phật tử rất quan trọng và cần thiết, cho nên chúng ta cần phải suy nghĩ và thực tập cho được kết quả tốt đẹp.
Niềm tin là gì? Từ khi loài người có mặt trong thế gian này sống giữa trời đất bao la với hiểu biết và việc làm còn giới hạn nên thường hay lo lắng và sợ hãi. Bởi những suy nghĩ cạn hẹp khi họ tưởng tượng ra có một đấng tối cao toàn quyền ban phước giáng hoạ. Nhìn đồi núi chập chùng cao vót, họ tưởng ra vị thần núi, nhìn biển rộng bao la mênh mông, họ nghĩ có vị thần biển đang cai trị ở đó và vô số vị thần có nhiệm vụ cai quản muôn loài vật ở thế gian này.
Đó là niềm tin của con người ở thời kỳ sơ khai, tin vào thế giới thần linh một cách tuyệt đối và chấp nhận giao phó số phận của mình uỷ thác cho thần linh sắp đặt, định đoạt.
Nhưng loài người chúng ta thật là diễm phúc có được nhân duyên tốt đẹp nên mới gặp được Tam bảo tức ba ngôi báu Phật, pháp, Tăng trên cõi đời này.
Đức Phật dạy rằng niềm tin là mẹ sinh ra tất cả công đức lành, người không có niềm tin chân chính không tạo được công đức lâu dài. Do đó chúng ta tin như thế nào là niềm tin chân chánh để không rơi vào si mê, cuồng tín. Ngài cũng tiếp thu những truyền thuyết đương thời, trên nền tảng có suy xét, chọn lọc bằng sự tu tập của chính mình để khám phá ra thế giới thần linh đúng như thật.
Niềm tin chân chánh được phát sinh sau khi có tu tập chuyển hoá nên khác với niềm tin mê muội, tà dại. Ngày xưa, người ta sợ trời đánh nên nghe tiếng sấm sét ta cho rằng có thần sấm sét. Người xưa vì phương tiện để răn dạy những đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch không nghe lời cha mẹ nên nói rằng trời sẽ đánh kẽ bất hiếu mục đích để cho con người sống tốt hơn biết được đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẽ trồng cây. Ngày nay khoa học đã phát minh ra được nguyên nhân của nó nên đã làm cột thu lôi, ngăn chặn sét đánh, rõ ràng là chẳng có ông thần sấm sét nào cả hiện thân trên cõi đời này.
Đức Phật dạy rằng niềm tin chân chánh là niềm tin có trí tuệ cân nhắc, soi sáng. Vì thế, đức Phật khuyên chúng ta đừng nghe những gì người khác nói, dù đó là truyền thuyết có từ nhiều đời. Nghe điều gì, chúng ta nên suy nghĩ, tìm tòi xem sự việc đó có thiết thực lợi ích hay không, vì khi ta muốn tin điều gì mà không có trí tuệ suy xét, không chứng minh được nguồn gốc của nó thì dễ rơi vào mê tín, dị đoan. Đức Phật cũng dạy chúng ta rằng đừng vội tin những gì được nhiều người tin theo. Nếu họ là nhà trí thức có đời sống đạo đức, nhân cách cao thượng được nhiều người quý mến kính trọng ta cũng phải suy xét cho kỹ càng giá trị lợi ích của họ. Niềm tin của chúng ta căn cứ trên những tiêu chuẩn như vậy là niềm tin chân chánh.
Như chúng ta đã biết, niềm tin là mẹ sinh ra các công đức lành được trải nghiệm qua đời sống hiện thực, nếu không chúng ta sẽ phạm phải sai lầm đáng tiếc vì niềm tin mù quáng và từ đó chúng ta cũng sẽ bị người lợi dụng niềm tin để làm các việc xấu ác. Khi niềm tin của chúng ta bị lợi dụng, chúng ta trở thành người cuồng tín si mê dại dột, nên mặc tình giết người vì nghĩ rằng sẽ được lên thiên đường hưởng phước báo tối cao. Phước đâu chẳng thấy, chỉ thấy mang tội giết người và bị tù tội hoặc tử hình cho nên tạo ra mối nguy hiểm cho xã hội.
Trong mối quan hệ giao tế giữa con người với con người, lòng tin tạo nên sự gắn bó thân thiết trong sự liên quan các mối giao dịch làm ăn và củng cố uy tín cho chính mình đối với cộng đồng xã hội. Trong suốt quá trình xây dựng lòng tin đối với mọi người, chính chúng ta cần phải có sự kiên nhẫn và thành thật. Trong sinh hoạt gia đình, sự thương yêu, đùm bọc sẻ chia cho nhau đều bắt đầu từ lòng tin giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, người thân và láng giềng. Lòng tin như một chất keo, luôn gắn bó con người với con người và là một chất liệu kết nối yêu thương để cho chúng ta thêm gắn bó và cảm thông với nhau trong lâu dài.
Ðức Phật dạy: Tin là căn bản của sự thành công và là nguồn gốc để phát sinh muôn hạnh lành. Nhưng lòng tin của người Phật Tử không phải là một lòng tin cuồng nhiệt, sôi nổi, bốc đồng mà không có suy xét kiểm chứng qua sự thực hành. Ðức Phật đã từng nói rằng ta chỉ là vị thầy dẫn đường giúp cho mọi người đi đến con đường bình yên hạnh phúc, ta không phải là một vị thần linh hay một đấng tối cao có quyền ban phước giáng hoạ.
Người Phật tử tin Ngài là một con người giác ngộ và chúng ta cũng là một con người, ai quyết tâm và kiên trì, bền bỉ sẽ biết cách chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc, do đó sự thành công của chúng ta không phải là một thứ mê tín. Một tín ngưỡng mù quáng không xây dựng trên lý trí xét đoán là một nguy hại lớn cho đời sống của mỗi con người, có thể làm cho chúng ta ỷ lại, lười biếng mà dang tay chờ đợi những giáo điều ngu ngơ huyền hoặc.
Một đức tin hổn tạp, thiếu căn cứ, đều phát xuất từ lòng tham lam của con người thường tin tưởng nương nhờ vào một thế lực không có căn cứ rõ ràng. Ðạo Phật truyền vào Việt Nam đã trên 2.000 năm, có những thời rực rở huy hoàng, chói sáng nhờ vào sự sáng suốt của các nhà vua như thời Lý, Trần và cũng có những lúc lu mờ, tối tăm bởi những ông vua đam mê hưởng thụ quá mức chỉ biết cho riêng mình. Con người sống tốt và có ý thức hay suy thoái đạo đức là do niềm tin không chân chính làm xáo trộn bởi sự hiểu biết sai lầm.
Một lòng tin chân chính phải đi theo với sự tìm tòi bằng sự quán chiếu xem xét. Hiểu rồi mới tin, thì cái tin ấy mới là chánh tin. Ðối với những ai tu theo đạo Phật, tin mà không hiểu rõ ràng thì sẽ dễ lầm đường lạc lối tạo sự mất tin tưởng cho người khác. Ðức Phật một người dẫn đường trong đám người lạc hướng, đã tốn rất nhiều công sức mới khám phá ra chân lý cuộc đời. Chúng ta ngày nay được thừa hưởng lời Phật dạy mà khỏi phải mất công tìm tòi cực nhọc, vất vả vì đã có sẵn trên tay tấm bản đồ. Ví dụ như sáu người cùng đi rừng đều khác nước, một người chỉ bỏ công ra tìm nước khi uống thì sáu người đều hết khát. Nhưng người đi tìm nước phải chịu vất vả cực khổ. Chúng ta bây giờ cũng vậy khỏi phải tốn công mất sức, tốn thời gian chỉ cần đi theo tấm bản đồ đã hướng dẫn sẵn thì sẽ đến đích được. Như người có bệnh vị lương y cho thuốc uống, nhưng sợ đắng ta không uống, bệnh không lành, đó là lỗi ở người bệnh, chứ không phải lỗi do thầy thuốc. Nếu Phật Tử không hiểu lời dạy của Phật, không thực hành theo những lời dạy của Ngài, thì Ðức Phật và tam tạng giáo điển của Ngài đối với chúng ta không còn ý nghĩa gì nữa hết.
Đạo Phật là đạo của con người vì sự giác ngộ của chính mình và giúp cho nhân loại cùng giác ngộ, giải thoát. Mọi sự mê tín dị đoan, thần quyền không có trong đạo Phật. Nhưng tại sao rải rác trong các bản kinh lại có nêu ra các vị Thần, như Thiên Thần, lâm Thần, thọ Thần, Quỷ, Thần điều này có ý nghĩa và mục đích gì? Kinh điển Phật giáo, tiêu biểu như Kinh Địa Tạng trong đó, Phật nêu ra có rất nhiều loại Quỷ, Thần, để nói lên nghiệp cảm sai biệt của mỗi chúng sanh trong thế giới lục đạo luân hồi. Đạo Phật không chấp nhận có quỷ thần ban phước giáng hoạ, điều khiển sai khiến mọi người bằng một quyền năng vô hình như các truyền thuyết khác. Thế gian này với thiên hình vạn trạng vô số chúng sinh đủ loại màu sắc hình dạng, sự sai biệt đó là do tạo nghiệp bất đồng mà thọ nhận quả báo tốt hay xấu.
Như các loài sống ở dưới nước, tôm, cá, lươn, cua. Có loài sống ở trên không, như chư Thiên. Có loài sống trên đất liền, như loài người và các loài động vật, thực vật khác. Như thế, Quỷ, Thần cũng là một loại chúng sanh như vô số chúng sanh khác trong bầu vũ trụ bao la này.
Kinh Phật còn cho chúng ta biết thêm về thế giới quan, có chúng sanh hữu tình, chúng sanh vô tình, có loài hữu hình hữu tướng, có loài vô hình vô tướng. Tất cả đều tùy theo căn thức và nghiệp cảm mà có ra vô số sự sai khác. Như thế, thì không có một chúng sanh nào cai quản chúng sanh nào, mà tuỳ theo nhân tốt xấu để cho ra kết quả tương xứng trong hiện tại.
Chính vì vậy, Đức Phật không bao giờ khuyên dạy bất cứ ai cầu khẩn van xin nơi Quỷ, Thần, vì Quỷ, Thần cũng chỉ là một chúng sanh và đang chịu sự chi phối vận hành của quy luật nhân quả.
Tóm lại, theo giáo lý nhà Phật, có nói đến các loại Quỷ, Thần, như là một chúng sanh bị nghiệp cảm thọ báo mang hình hài nghiệp thức trong loài đó. Phật giáo không chấp nhận có một đấng quyền năng ban phước giáng hoạ dù là nhất Thần, hay đa Thần giáo.
Ðôi khi, người Phật tử chỉ biết đặt niềm tin nơi đấng thiêng liêng nào đó, để cầu nguyện, van xin, khấn vái cho được tai qua nạn khỏi, cho được bình yên hạnh phúc, mà không chịu tìm hiểu rõ nguyên nhân thật giả, không chịu tìm hiểu cho chánh đáng, không chịu học hỏi bằng tâm chân chính, cho nên một số người biết lợi dụng chỗ yếu kém đó từ sự mê tín dị đoan, tin mà không hiểu nên dễ gạt gẫm, dễ lợi dụng, dễ sai khiến, hậu quả khó mà lường trước được.
Thế gian này là một chuỗi dài phiền muộn khổ đau, nhiều hơn là bình yên hạnh phúc. Cho nên, nhận định cuộc đời "khổ nhiều vui ít", đó là một sự thực rõ ràng, nhưng chúng ta ít ai dám mạnh dạn nhìn nhận. Con người do bộn bề công việc vì mải mê đấu tranh, vật lộn với cuộc sống hằng ngày, nên không có thời giờ để suy tư, tìm hiểu, nghiệm xét. Khi gặp hoàn cảnh khổ đau hay những điều bất như ý, con người chỉ biết oán trời trách đất, đổ thừa xã hội bất công hoặc trách cứ ông bà cha mẹ, ăn ở bất nhơn thất đức, cho nên cháu con bây giờ mới ra nông nổi này!
Lòng tin của chúng ta phải có cơ sở, mà cơ sở đó được trải nghiệm qua sự quán chiếu tìm tòi. Chính sự quán chiếu đó làm cho ta tăng trưởng thêm sự nhận thức đúng đắn nhờ vậy trong đời sống ta bớt âu lo, căng thẳng hay phiền muộn khổ đau. Chúng ta tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong những phút giây làm việc để phục cho tha nhân và không phải bận tâm lo lắng nhiều đến kết quả của nó. Lòng tin khi phát sinh trí tuệ đã giúp cho chúng ta giải thoát được cái tôi dính mắc cố chấp vào sự hiện hữu của nó.
Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng đều phải hiểu rằng, không phải lúc nào mọi việc cũng đều thuận lợi như ta mong muốn bởi vì sự thay đổi bất thường trong cuộc sống. Để củng cố lòng tin chúng ta cần phải sống có ý chí, kiên trì bền bỉ và thành thật, khi gặp những chỉ trích phê phán ngược lại lòng tin của mình, ta vẫn bình thản an nhiên mà không bị họ làm lung lạc.
Như thời đức Phật còn tại thế, Ngài rất thận trọng khi nói đến lòng tin. Trong kinh Nền Tảng Đức Tin, khi dân chúng Kalama hỏi đức Phật việc phải tin theo ai, trong số các bậc đạo sư thường đến giảng dạy tại làng họ, Ngài đã chỉ cho họ cách nào để bảo vệ và phát triển lòng tin:
“Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán. Nếu sống và thực hiện các lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.”
Chính chúng ta trải nghiệm, kinh qua để thấy được lòng tin của mình được củng cố ra sao! Vì giá trị vô giá của lòng tin bạn không thể nào xem nhẹ những trải nghiệm tự thân cần thiết này. Chúng đích thực là chất liệu, là năng lực giúp mọi người duy trì để sống đời bình yên và hạnh phúc.
Chúng ta hãy tìm hiểu lại cuộc đời của đức Phật trước và sau khi Ngài thành đạo, bằng đôi mắt thiền quán của chính mình để chúng ta có thể thấy được giá trị của lời dạy chân chính ấy. Là Phật tử, tất cả chúng ta đều biết rằng, trước khi Phật thành đạo Ngài có làm gì đâu, Ngài chỉ ngồi lặng yên nơi cội Bồ đề, để chuyển hoá những tâm tư vọng động, hư dối thế mà thiên ma vẫn tìm đủ mọi cách để quấy phá sự thành đạo của đức Phật. Ngài đã thành tựu dưới cội Bồ đề nhờ biết cách buông xả cho đến khi Ngài thành đạo rồi chưa có ý định đi giáo hoá thì Thiên ma lại yêu cầu Ngài nhập Niết Bàn.
Trong suốt 49 năm hoằng hoá độ sinh, Thiên ma luôn luôn đi theo đức Phật và tìm đủ mọi cách để khiến đức Phật sớm nhập Niết Bàn. Và cuối cùng khi Ngài đến xứ Câu Thi La, đức Phật nói với Tôn giả A Nan là Ngài dự định ba tháng nữa, sẽ nhập Niết Bàn tại đây. Sau khi đức Thế Tôn tuyên bố buông bỏ thọ mạng. Đến lúc đó, ngài A Nan mới nhận ra và vội vã đến thỉnh Phật tiếp tục trụ thế, nhưng đức Phật dạy: ”Như Lai đã nói là làm, Như Lai đã tuyên bố buông bỏ thọ mạng. Bây giờ đã có đủ bốn chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, có giới luật rồi, có pháp của Như Lai rồi, đã đến lúc Như Lai nhập Niết Bàn!”
KHI TA CÓ NIỀM TIN
Nếu chúng ta không biết tu thì có thể mình sẽ đụng chạm nhiều tới mọi người, bởi vì thế gian này luôn tranh giành sát phạt lẫn nhau. Nhưng khi chúng ta có tu, quý vị dám bảo đảm là mình sẽ không đụng chạm gì đến thế nhân hay không?
Khi mình tin Phật thì sẽ làm cho các loài ma rất lấy làm khó chịu, bởi vì nó mất đi một bạn đồng minh và làm cho những người theo ma cũng đều ghét lây. Chúng ta thấy rõ ràng giữa đời này ma nhiều vô số kể, cho nên, chúng ta chỉ tin Phật thôi là đã đụng chạm đến nhiều người lắm rồi! Nhưng ma ở đây là gì? Ma là những gì làm hại cho người và vật.
Mình tin pháp Phật là những lời dạy chân chính thì sẽ đụng đến các tà thuyết bất chính làm mê hoặc lòng người. Vì thế, mình nói đúng chánh pháp và thực hành đúng chánh pháp là đã đụng đến các người tuyên truyền tà thuyết và mê tín dị đoan để làm mờ mắt thiên hạ.
Còn nếu chúng ta tin Tăng thì sẽ đụng chạm tới những người nào? Tới các thầy tà bạn ác. Ta nếu thật sự chỉ biết đi chùa tụng kinh, lễ Phật, làm công quả ngồi thiền và buông xả các tạp niệm xấu ác, thì ta đâu có thời gian để đi nói xấu người này người kia, ấy thế mà vẫn đụng chạm tới họ!
Chúng ta tin giới pháp của Phật và áp dụng tu hành là đã đụng chạm tới những sinh hoạt phi đạo đức, gây ra các tệ nạn xã hội làm khổ đau cho nhân loại! Cho nên, việc mình thực hiện niềm tin đối với Tam bảo thôi là mình đã đụng tới tất cả những người không có niềm tin đối với Tam bảo rồi.
Người đời vì không hiểu nên thích giết hại sinh vật để ăn, tranh giành nhau để sống, tàn hại huỷ hoại người khác để mưu cầu lợi ích cho riêng mình, còn chúng ta, khi đã tin Phật rồi thì lại không thích tàn hại bất cứ một ai, hay dẫm đạp lên bất cứ loài vật nào để tồn sinh vì đó là nhân dẫn đến ân oán hận thù và làm khổ đau cho nhau. Đa số đều cho rằng giết vật để bảo tồn sự sống là do thượng đế tạo ra để phục vụ cho con người nên họ công khai giết và còn khuyến khích nhiều người khác giết. Chúng ta không giết mà còn lại khuyên nhũ mọi người phóng sinh thế là đụng chạm lớn đến họ rồi. Thế thì cuộc sống này bắt buộc phải có đụng chạm, chúng ta có thích đụng chạm đâu vậy mà vẫn cứ đụng chạm hoài.
Chúng ta ưa tôn trọng công bằng lẽ phải muốn sự sống này đều được bình đẳng để ta cùng san sẻ cho nhau nhưng đâu có được, vì những người khác lợi dụng quyền cao chức trọng để bóc lột. Chúng ta hãy nên nhớ cái gì làm được giúp ích cho mọi người thì cứ làm, còn điều gì có hại thì thôi. Trong nhà Phật có nói mong muốn mà không được như ý là khổ, bởi vì sao? Vì chúng ta thấy cái đó được lợi ích mà người khác lại không thích, nên giới không gian tham trộm cướp. Tiền bạc tài sản do công sức mình làm ra phải tiết kiệm lắm mới dư chút đỉnh, giờ lại bị kẽ khác lấy đi hỏi ai chẳng buồn khổ, vậy mà vẫn có một số người vì lười biếng ham hưởng thụ nhiều hoặc kẽ có chức quyền phải bớt sén của người khác, thế là cuộc sống này phải chịu đụng chạm cọ xát lung tung mà thôi. Người khôn ngoan sáng suốt biết tạo nhân lành thì ít bị tai hoạ còn số đông phải chịu nhiều đau khổ do không có hiểu biết chân chính.
Phật hay khuyên nhũ chúng ta hãy nên sống tiết hạnh thuỷ chung một vợ một chồng, nhưng những người có thói quen đuổi bướm bắt hoa thì lại thích mua bán dâm, chỉ đơn giản vậy thôi, thì những người kinh doanh về mặt này trong xã hội đã ghét mình lắm rồi.
Người đệ tử Phật chỉ thích nói lời chân thật, nói đúng chân lý không nói dối để lừa gạt người khác. Nhưng, hễ nói lời ngay thẳng thì sẽ đụng kẻ điêu ngoa xão trá, hễ nói sự thật thì sẽ đụng chạm đến người nói dốc láo. Là người Phật tử chân chính ai lại đi nói dối để lừa gạt người khác phải không quý vị, chỉ cần mình nói thiệt thôi, là đã đụng đến người ta rồi, thà mích lòng trước đặng lòng sao còn hơn là sống trên sự giả dối lừa đảo lẫn nhau.
Rượu thuốc xì ke ma tuý tác hại đến chừng nào nhưng thế gian lại tiêm nhiễm nặng những thứ ấy, gây bệnh hoạn làm mất an ninh trật tự, bạo lực gia đình rồi dẫn đến hiếp dâm trộm cướp lừa đảo làm gia đình chia ly, tan nhà nát cửa và cuối cùng là tù tội. Chúng ta đâu có muốn như vậy mà vẫn bị nhiều người phê phán chỉ trích kẽ đó ngu không biết hưởng thụ gì hết. Mình đâu có giành bia ôm, rượu thịt của họ mà ăn đâu, vậy mà vẫn cứ bị đụng hoài!
Cho nên, quý vị thấy, mình thật tu thì cũng bị đụng chạm tới những người không chịu tu vậy hỏi làm sao để cho thế gian này thật sự được hoà hợp hài hoà. Không thể có chuyện đó được, ai biết khôn thì nhờ ai ngu thì phải chịu khổ đau đời đời kiếp thôi. Bởi vậy mà thiên ma ba tuần đã tìm mọi cách để làm cho Phật đừng thành Phật cho nên nó tìm cách quấy nhiễu đủ thứ nhưng không làm được gì Phật. Tại sao? Vì Phật dùng cây cung thiền định và cây kiếm trí tuệ để quét sạch chúng ma! Đến khi thành Phật rồi, thiên ma lại muốn Ngài nhập Niết Bàn cho sớm để họ được tự tung tự tác giữa cuộc đời làm nhiễu loạn mọi người, để tất cả đều phải là ma hết.
Bởi vậy, người tu theo Phật là đụng chạm tới cái sự tham lam của ma mị. Mình muốn cùng dìu dắt họ đi lên, để chuyển hoá cõi ma thành cõi Phật, nhưng chúng có chịu đâu, họ cứ níu kéo lẫn nhau bày đủ mọi trò để kích thích lòng tham lam của con người.
Cho nên, sống giữa cuộc đời, người biết gìn giữ giới đức để không bị rơi vào hố sâu của tội lỗi rất là khó, chúng ta phải can đảm, mạnh dạn quyết tâm lắm mới có thể vượt qua nổi vì chúng ma đông vô số. Không tu thì đụng đâu chửi đó, đánh đấm mạ luỵ lẫn nhau đụng liên miên không có ngày thôi dứt. Người có tu thì khéo sắp xếp hơn nên tuy có đụng chạm cũng không đáng kể, nhờ đâu mà được như vậy vì mình có sự kham nhẫn, sức chịu đựng trong suốt quá trình tu học để chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc.
Chúng ta hay nghĩ rằng, mình tu rồi thì ai cũng thương, ai cũng kính, ai cũng mến và ai cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mình hết. Không có chuyện đó đâu quý vị, chúng ta đừng có ảo tưởng mộng mơ như vậy. Càng tu càng bị nhiều người khảo hạch chống đối, ví như muốn biết mình không còn nóng giận nữa thì bị người mắng đánh chửi coi ta có động tâm hay không! Hiểu được như vậy, chúng ta mới cố gắng kiên trì bền bỉ trong từng phút giây để ta có cơ hội sống được trọn vẹn với niềm tin của mình, trên bước đường tu tập chuyển hoá. Thật ra cuộc đời này rất đẹp và trong sáng biết bao, chỉ có tâm ma con người tạo ra quẩn khúc của cuộc đời.
Ta không hiểu cứ hay đổ thừa cho cuộc đời, tại sao mình không oán trách mình nhiều hơn, mình tạo ra thì mình phải gánh chịu đâu có ai ban phước giáng hoạ cho ta.
Thường thì thế gian hướng về Phật pháp rất ít, vì họ bị bề bộn công việc cơm áo gạo tiền nên không có thời gian tìm hiểu tạo dựng niềm tin sống cho chính mình, cho nên đa số rơi vào lầm lạc khổ đau. Phật thấy rõ sự tác hại của nó nên vì lòng từ bi mà khuyên nhũ mọi người hãy sống có ý thức và trách nhiệm, thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau vì tình người trong cuộc sống.
Ngày xưa, khi con người chưa văn minh tiến bộ, nên thấy dường như có đấng quyền năng sắp đặt định đoạt số phận muôn loài vật, nhiều người thiếu hiểu biết do không suy xét, trải nghiệm chính vì vậy mà rơi vào tình trạng si mê cuồng tín. Ngày nay, loại cuồng tín này cũng có phần suy giảm do sự tiến bộ của con người, nhưng mê tín dị đoan thì còn quá nhiều.
Chúng ta có niềm tin chân chính sau khi có sự thẩm xét bằng trí tuệ của mình nhờ vậy, niềm tin chân chánh không phải nhắm mắt tin càn ai bảo gì làm đó mà không có sự kiểm tra cân nhắc. Và chúng ta thấy lòng thương người của Đức Phật khi chưa tu đã thể hiện rõ trong cuộc sống của Ngài. Khi thấy Đề Bà Ðạt Ða bắn chim bị thương, đức Phật đã cảm nhận niềm đau của nó như là nỗi đau của chính mình. Nên ngài vội vàng cứu chữa cho con chim lành mạnh và trả nó về thế giới tự do bao la. Người có tình thương vô điều kiện như vậy, chúng ta đáng tin cậy dù chưa là Phật. Ngài không đòi hỏi gì ở ta, không buộc ta làm gì cho Ngài, mà chỉ sẵn sàng giúp ta, cho chúng ta sự bình an để sống, để vượt qua nỗi khổ niềm đau.
Niềm tin như một lý tưởng sống thì ta mới có quyết tâm theo đuổi mục tiêu này hay mục tiêu khác mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Trái lại, người không có đủ niềm tin chân chính thì không có hướng đi và tương lai tốt đẹp trong cuộc đời.
Niềm tin càng vững chắc thì bước đi càng rộng mở không có gì ngăn cản nỗi và ý chí nỗ lực càng lớn mạnh. Vì vậy mà con người cần phải nuôi dưỡng và xây dựng niềm tin về con người tâm linh, là tin chính mình có khả năng làm được tất cả mọi điều thiện lành tốt đẹp. Trong cuộc sống, Đức Phật luôn nhấn mạnh về lòng tin sau khi có trí tuệ, xem đó là động lực thúc đẩy mọi sự tiến bộ của con người trong suốt quá trình tu tập và chuyển hoá hướng đến mục tiêu giác ngộ, giải thoát cùng lợi ích cho nhân loại.
Như vậy, theo sự chỉ dạy của Đức Phật thì niềm tin là điều tối cần thiết cho việc phát huy các phẩm chất đạo đức, nhờ chúng ta có tâm thanh tịnh sáng suốt đang tiềm ẩn nơi mỗi con người. Vậy niềm tin của người Phật tử là gì? Nói chung niềm tin chân chính rất quan trọng và tối cần thiết trong đời sống con người, nếu niềm tin không đúng chân lý sẽ dẫn chúng ta rơi vào mê tín dị đoan hoặc tin sau khi chết là hết làm cho nhân loại dễ dàng rơi vào hố sâu của tội lỗi. Cho nên, trước khi tin bất cứ điều gì, ta phải cần xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng coi lời dạy của học thuyết đó có gì lợi ích cho nhân loại không, hay chỉ là mục đích nhằm phục vụ cho riêng mình.
Chính vì vậy người Phật tử chân chính phải tìm hiểu kỹ càng khi tin một điều gì và nhận ra tính chất của nó là thiện hay ác của đối tượng ấy. Chỉ khi nào ta đã biết chắc đó là lợi ích cho nhân loại thì ta mới quyết định nên tin hay không. Đây là cách thức xây dựng niềm tin của người Phật tử chân chính.
Như bài kinh người Kalmala đến tìm Phật và hỏi Ngài: Bạch đức Thế Tôn, có rất nhiều vị đạo sư đã đến thăm chúng tôi, người nào cũng tuyên truyền rằng đạo của họ là chân lý. Kính bạch Ngài, chúng con không biết lời chỉ dạy của ai là đúng để tin theo và áp dụng hành trì.
Phật không trả lời ngay câu hỏi mà hỏi lại họ : sát sinh hại vật có từ bi hay không? Dạ thưa không, gian tham trộm cướp lường gạt của người có từ bi hay không ? Dạ thưa không, uống rượu say sưa làm não hại thân tâm có từ bi hay không? Dạ thưa không, đức Phật của chúng ta rất khéo léo dẫn dụ, buộc mọi người phải cân nhắc suy nghĩ bởi vì Ngài đang khuyên mọi người không nên làm thế.
Một lòng tin chân chính phải đi theo với một lý trí xét đoán. Hiểu rồi mới tin, thì cái tin ấy mới là chánh tín. Ðối với đạo Phật, tin ta mà không hiểu ta tức là phỉ báng ta như thế dễ dàng rơi vào đường tà. Đạo Phật chủ trương cá nhân có quyền thẩm sát tất cả, và tin hay không là tùy ở nhận xét của chính mình.
Ðừng vội tin tưởng những cái gì mà người ta thường lập đi lập lại luôn. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó là một tập tục cổ truyền đã trải qua nhiều thời đại. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó là điều người ta hay đồn và hay nói đến luôn. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó là do bút tích thánh nhân xưa để lại. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó là một luật lệ đặt ra từ lâu và được xem như là chánh đáng. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó là do quyền năng của một bậc thầy hoặc do quyền lực của một nhà truyền giáo. Và bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu niềm tin trong kinh Kamala.
NIỀM TIN TRONG KINH KAMALA
Đạo Phật là đạo của giác ngộ, giải thoát nên lúc nào cũng phát khởi tấm lòng vô ngã vị tha với tinh thần từ bi và trí huệ. Trong suốt 49 năm hoằng dương chánh pháp đức Phật đem hết sự thấy biết của mình qua sự tu chứng trải nghiệm thực tế, nhằm thức tỉnh và giác ngộ giúp cho mọi người có hiểu biết chân chánh bằng niềm tin nơi chính mình và tin sâu nhân quả.
Kinh Kamala được Phật nói trong hoàn cảnh khi Ngài cùng các đệ tử đi đến thị trấn Kê-sa-pu-ta của sắc dân Ka-la-ma thuộc nước Kô-sa-la. Người dân trong thị trấn này rất muốn tu tập để chuyển hoá những nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc. Nhưng họ không biết ai là đạo sư chân chính vì có quá nhiều thầy đến đây để tuyên truyền thuyết phục, ai cũng cho giáo pháp của mình là đúng chân lý. Chính vì có quá nhiều đạo sư, làm dân chúng trong thị trấn này cảm thấy phân vân, cảm thấy lo lắng vì không biết ai là đạo sư chân chính để quy hướng và ứng dụng hành trì.
Đức Phật do nhân duyên này, thay vì trả lời trực tiếp sự thắc mắc của người dân, bằng sự thông minh và trí tuệ của chính mình Ngài hỏi các người dân ấy như sau:
Này các người dân KAMALA giết hại có từ bi hay không? Trộm cướp có từ bi hay không? Uống rượu say sưa có từ bi hay không? Tất cả người dân đều trả lời: Dạ thưa không kính bạch đức thế tôn. Đức Phật dạy, việc phân vân nghi ngờ khi chưa hiểu rõ là điều tất yếu, hợp lý khi nghe nhiều lời tuyên truyền thuyết giảng. Và trong trường hợp đó, mọi người không nên vội tin quan điểm nào, và cũng không bác bỏ quan điểm nào, khi mà mọi người chưa tìm hiểu đạo ấy một cách thấu đáo và triệt để.
Đây là lời dạy chân chính và thiết thực làm cho người dân KAMALA phải suy nghĩ, nghiệm xét một cách rõ ràng tường tận. Vì có những Phật tử, chỉ đọc các câu “chớ vội tin” của Kinh Kamala, mà đã quy kết, đã khởi kiến chấp trong đầu, cho là quan điểm của mình đúng, quay lại bác bỏ, phỉ báng các học thuyết khác. Đây là một điều rất tai hại có thể dẫn đến nhiều sai lầm đáng tiếc.
Ở đây chúng ta thấy đức Phật rất đổi từ bi và rộng lượng, không bắt buộc một ai tin theo mình mà chỉ khuyên nhũ mọi người không nên vội tin và cũng không nên bác bỏ? Chỉ khi nào những lời dạy đó ta đem áp dụng vào trong đời sống hằng ngày, mà cảm nhận được lợi lạc thật sự cho chính mình thì ta mới hoàn toàn tin theo.
Đức Phật dạy: khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: “Lời dạy này thiện lành tốt đẹp, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán. Nếu sống và thực hiện các lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại và về lâu, về dài thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo”.
Nếu khi học, khi đọc, khi nghe một học thuyết nào đó, điều quan trọng bậc nhất là chúng ta cần phải áp dụng thực hành. Khi chính mình thực hành và trải nghiệm theo giáo pháp đó, mình cảm thấy bình yên, hạnh phúc ngay trong hiện tại và về lâu về dài. Thì đó đúng là những lời dạy chân chính, chúng ta hãy nên có lòng tin tuyệt đối vào giáo pháp đó.
Trong thời gian gần đây, có một số người học Phật khởi lên tâm niệm chấp trước, thấy mình hay mình giỏi hơn người, ai theo tông chỉ Thiền thì phỉ báng Tịnh Độ, người theo Tịnh Độ thì chê bai Thiền, hoặc có nhiều luận thuyết bác bỏ lẫn nhau. Các quan điểm này đều sai lầm và cần phải loại trừ trong ngôi nhà Phật pháp.
Thật ra trong đạo Phật từ pháp phương tiện cho đến pháp cứu cánh, tất cả đều phải thiền và thiền có hai loại là thiền chỉ và thiền quán. Pháp nào chỉ dạy nương vào một chỗ gọi là thiền chỉ như niệm Phật, niệm hơi thở chẳng hạn. Còn dùng nhận thức để quán chiếu thân thọ tâm pháp cho đến ngoại cảnh bên ngoài đều gọi chung là thiền quán. Hai pháp này hổ tương cho nhau nhờ chỉ nên được định, do đó phải dùng quán để phát sinh trí tuệ mà buông xả phiền não tham sân si. Khi hai phương pháp này đã thuần thục rồi thì mỗi hành giả phải trở về trung đạo không dùng chỉ quán nữa mà thể nhập Phật tính ngay nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý. Phương tiện của mỗi pháp tu có khác, ai thích hợp với pháp nào thì pháp đó là số một.
Ví dụ như có người cảm thấy niệm Phật giúp cho họ an lạc, thì đó là chánh pháp đối với họ, ta không được chê bai, chỉ trích. Nhưng trì danh niệm Phật là phương tiện ban đầu muốn được nhất tâm bất loạn như trong kinh A di Đà nói thì chúng ta phải nhớ Phật tức phải buông xả câu niệm Phật để thể nhập tâm hằng biết của mình. Có người nhận thấy tu thiền giúp họ yên vui, hạnh phúc ta không nên phỉ báng họ, vì đó là gốc của đạo Phật. Thiền là nền tảng căn bản cho mỗi hành giả tu theo đạo Phật, không có thiền tức không phải đạo Phật quý Phật tử phải nên nhớ như vậy.
Ngày xưa Tôn giả A-nan trên đường đi giáo hoá cùng đức Phật, gặp hai người đệ tử phát tâm theo Ngài học Phật. Một người là thợ rèn Tôn giả chỉ pháp tu quán bất tịnh, một người giữ nghĩa địa, Tôn giả dạy pháp tu quán hơi thở. Hai ông tu hoài nhưng không tiến, vì không buông xả được phiền não nên mới than: Sao thầy dạy con tu không tiến chút nào hết! Nghe vậy Ngài liền hỏi Phật chỉ dạy.
Phật bảo: Tại ông dạy sai vì không phù hợp với căn cơ việc làm của họ chớ không phải tại họ tu sai. Ông phải dạy lại đi, người thợ rèn nên dạy quán hơi thở, vì họ thổi ống bễ phì phịch hoài, quán hơi thở sẽ nhịp nhàng với công việc, tu như thế mau tiến hơn. Người giữ nghĩa địa thường thấy xác chết, nên dạy họ quán bất tịnh thì sẽ có kết quả liền. Ngài nghe lời dạy của Thế Tôn, đem dạy lại hai vị đệ tử của mình. Quả nhiên, chẳng bao lâu cả hai tu đều có kết quả tốt đẹp nên họ càng có niềm tin vững chắc với Phật pháp hơn.
Qua câu chuyện trên, cả hai pháp quán bất tịnh và quán hơi thở đều do Phật dạy. Nhưng đối với người thợ rèn, thì quán bất tịnh không phù hợp với căn cơ việc làm của họ hiện tại, nên dù có cố gắng tu cũng không đem lại an lạc. Đối với người canh nghĩa địa, thường xuyên tiếp xúc với nhiều xác chết nếu chỉ dạy quán hơi thở cũng không thích hợp, vì khi thực hành, người đó bị loạn tâm.
Trở lại Kinh Kamala, đức Phật có nói những dấu hiệu của sự hạnh phúc, đó là khi lòng tham, lòng sân, lòng si, lòng hung hăng… đã được vứt khỏi nội tâm con người, thì con người sẽ được hạnh phúc. Vì khi họ không còn lòng tham, lòng sân, lòng si, lòng hung hăng chi phối, chinh phục, họ sẽ không khởi lên ý nghĩ hay hành động bức hại sinh linh, lấy của không cho, quan hệ tình cảm bất chính, nói láo, uống rượu, cũng như họ không còn khích lệ người khác làm những điều xấu ác trên. Như Lai tuyên bố sự xa rời ấy giúp cho con người sống hạnh phúc và an lạc về lâu về dài.
Như vậy, pháp môn nào hướng bản thân của chính mình đến bình yên hạnh phúc, thì đó là chánh pháp cho mình. Nhưng pháp môn đó chưa hẳn đã là chánh pháp cho người khác. Vì thế việc thận trọng trong quá trình giảng dạy và truyền dạy pháp cần phải được phù hợp với căn cơ của mọi người. Người dạy pháp trước tiên tâm phải định tĩnh, yên vui, và tỉnh thức, rõ biết được tâm lý của người khác thì mới được giảng pháp. Nếu không rõ được điều này, thì việc mình tự tu, mình tự chứng, dùng mình làm trung tâm quán sát sự yên vui, sự hạnh phúc trong nội tâm là điều tối cần thiết. Không nên xem xét lỗi người mà tự làm tổn hại tâm mình.
Tóm lại, khi nghe ai nói hay truyền đạt một điều gì ta phải biết cân nhắc, xem xét, chỉ khi nào quý vị suy tư, chiêm nghiệm và nhận thức xác đáng điều gì là chân chính, lợi ích cho mình và người khác rồi hãy đem lòng tin tưởng và làm theo. Đó là tiêu chuẩn của đức tin chân chánh, chúng ta nên học hỏi và bắt chước làm theo.
Dựa trên nền tảng chung của Kinh Nền Tảng Đức Tin, nay chúng ta cùng tìm hiểu mười niềm tin chơn chánh mà đức Phật chỉ dạy:
1. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
Truyền thuyết là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch sử hoặc hư cấu, được thêm thắt hoặc bớt đi, và được truyền tụng từ người này qua người khác, từ đời này qua đời khác, rồi lại được dân chúng chấp nhận như là những chuyện lịch sử.
Truyền thuyết là những câu chuyện được truyền tụng trong dân gian, nhưng không thể kiểm chứng được, tựa như các chuyện hoang đường, được dân chúng kể đi kể lại nhiều lần trong nhiều đời, hoặc được thêm thắt, thần thánh hóa, để trở thành nhân vật lịch sử có thật. Đó là những người hùng và những danh nhân, danh tướng trong lịch sử.
Truyền thuyết cũng là một bộ phận của văn học dân gian. Truyền thuyết thường được gắn bó với con người nhiều hơn, bởi sự truyền miệng qua nhiều người. Truyền thuyết cũng cung cấp cho chúng ta một vốn kiến thức kha khá về các địa danh lịch sử ở Việt Nam.
Nói tóm lại, truyền thuyết là những câu chuyện nửa thật nửa giả, do người đời thêu dệt và dựng lên. Có thể truyền thuyết dựa trên một sự kiện có thật, hoặc không có thật, và được người đời sau thêm vào để tăng thêm tính hấp dẫn, thần thánh hóa cho câu chuyện trở nên sống động. Đặc biệt ý nghĩa là có truyện kể cho bạn bè, người thân, con cái, những người chưa biết. Có thể nói rằng, mỗi một địa danh, mỗĩ vùng đất ở Việt Nam đều gắn với một truyền thuyết nào đó, bởi vậy có vô số truyền thuyết chúng ta biết và chưa biết.
Ví dụ như truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh, đây là một truyền thuyết hư cấu về hai vị thần núi và thần biển, nói lên sự phấn đấu tích cực của con người đối với thiên nhiên. Mặc dù trong chuyện nói hai vị thần núi và biển cùng nhau cầu hôn công chúa Mỵ Nương của vua Hùng Vương đời thứ 18 làm vợ. Nhưng truyền thuyết này dựa vào những dữ kiện lịch sử. Từ ngàn xưa cho đến nay hằng năm thường xuyên xãy ra thiên tai lũ lụt, làm ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và xã hội. Vua quan và dân chúng phải nỗ lực thực hiện công việc đào kinh đắp đê ngăn đập, nhằm đảm bảo đời sống cho nhân dân.
Như trong truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, cả 2 vị thần đều là hư cấu, nếu ta không hiểu sẽ tin rằng có hai vị thần thiệt và đầy quyền năng thì ta sẽ rơi vào mê tín, vì tin mà ta không biết rõ nguồn gốc của nó.
Thần biển là tượng trưng cho giông gió bão tố lũ lụt làm thiệt hại đến đời sống con người. Thần núi là tượng trưng cho người dân, siêng năng, cần cù, thông minh tìm cách chống lại thiên tai, hoạn nạn. Hình ảnh này nói lên tinh thần chịu khó, chịu khổ của con người để khắc phục tai hoạ do thiên nhiên gây ra.
Đức Phật không bao giờ bác bỏ các truyền thuyết, ngược lại đức Phật còn khuyên chúng ta hãy nên tìm hiểu nó cho kỹ càng thấu đáo, để biết được giá trị thật của nó.
2. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
Truyền thống là những tập tục lâu đời do xã hội hình thành, nó trở thành nếp sống, nếp văn hóa cho mỗi cộng đồng xã hội đặc thù. Như truyền thống tốt đẹp của người Phật tử Việt Nam là uống nước nhớ nguồn. Tinh thần này hợp với đạo thờ cha kính mẹ của dân tộc Việt Nam. Truyền thống tốt đẹp này luôn nhắc nhỡ cho mỗi người chúng ta biết được đạo lý làm người trước tiên là phải biết ơn và đền ơn.
Chim có tổ, người có tông đạo hiếu luôn đi đôi với nhân nghĩa, đạo đức và làm người ai cũng phải biết như thế. Một con người công thành danh toại đều xuất phát từ sự cung kính hiếu thảo với ông bà cha mẹ mà ra. Người bất hiếu đa số rơi vào vòng tệ nạn xã hội vì cha mẹ của mình có công sinh thành dưỡng dục nuôi nấng bảo bọc, che chở mà ta còn không biết ơn thử hỏi sao người khác ta đối đãi tốt cho được.
Truyền thống cúng sao giải hạn, giết vật cúng tế quỹ thần, xin xăm bói quẻ đều là những truyền thống làm cho con người ta thêm hoang mang sợ hãi nên phải cầu khẩn van xin để được tai qua nạn khỏi. Tất cả những thứ này đều là truyền thống, nhưng có những truyền thống giúp cho ta tốt thêm và có những truyền thống làm cho ta mê tín và sợ hãi nhiều hơn.
Đức Phật của chúng ta rất tế nhị hoàn toàn không bác bỏ truyền thống. Do đó đức Phật dạy chúng ta rằng, không nên vội tin một điều gì và cũng không nên bác bỏ một điều gì khi chưa thẩm sát. Như những truyền thống giết heo bò, gà, vịt để cúng tế ngày tết, ngày giỗ, bản thân nó tạo ra nghiệp sát sanh, nghiệp lãng phí cho mỗi gia đình và người thân. Những ai thực hành những truyền thống này thì thân tâm của họ cảm thấy bất an, vì nghiệp sát sinh hại vật và làm lãng phí tiền của, càng ngày thêm tăng trưởng nghiệp tham sân si gây ra ân oán thù hằn không có ngày thôi dứt. Những người tin theo các truyền thống này, thì dần hồi sẽ bị lạc vào chỗ tối tăm mê muội mà không có ngày thôi dứt.
Nhưng bên cạnh đó, có những truyền thống rất tốt đẹp, như truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, hiếu thuận ông bà cha mẹ, cung kính tôn trọng người tu hành chân chính, biết ơn thầy cô giáo, nhớ ơn người giúp đỡ mình. Truyền thống nhớ ơn, biết ơn, đền ơn là một truyền thống tốt đẹp luôn giúp cho mọi người sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết.
Truyền thống hiếu thuận cha mẹ, điển hình là ngày lễ Vu Lan trong mùa an cư kiết hạ của chư Tăng ni. Trong ba tháng mùa an cư kiết hạ của chư Tăng ni lượng mua bán thịt cá ở các chợ giảm gần 50%, rõ ràng đây là một truyền thống tốt đẹp giúp cho mọi người thể hiện được lòng từ bi với các loài vật. Hoặc kỹ niệm ngày của cha, ngày của mẹ bên phương Tây, giúp cho chính bản thân mình cảm thấy nhẹ nhàng, yên vui vì đã góp phần làm tròn bổn phận con đối cha mẹ. Tâm hiếu là tâm Phật, đạo hiếu của một người con đối với mẹ người đã mang nặng đẻ đau sinh thành, cha làm lụng vất vả nhọc nhằn để nuôi dưỡng con khôn lớn trưởng thành. Một người con hiếu thảo biết tôn trọng cung kính ông bà cha mẹ, biết đền ơn đáp nghĩa với thâm ân sâu dày và cao cả, còn thương yêu đùm bọc giúp đỡ mọi người và biết giữ niềm tin chân chính đối với người khác.
Truyền thống tôn sư trọng đạo đối với các bậc sư trưởng, khiến mình biết quý trọng tôn kính những người đã có công dạy dỗ mình nên người, thành tài, sống có nhân cách và phẩm chất đạo đức tốt. Chính nó là động lực thúc đẩy làm cho những lớp trẻ đi sau noi gương mình mà nhờ đó cũng được thành tài, hiền thiện mà làm tròn bổn phận đối với gia đình, xã hội và sống tốt trong hiện tại và mai sau.
Do đó, những truyền thống nào làm cho ta mê tín hay làm tổn hại cho người và vật, thì ta không nên tin, còn truyền thống nào tốt đẹp giúp cho mọi người vui vẻ thuận thảo hoà hợp với nhau thì chúng ta cần phải nên giữ gìn và hướng dẫn cho gia đình người thân cùng được biết và bắt chước làm theo.
3. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.
Tuyên truyền là một hoạt động làm lớn mạnh, làm rộng những hướng dẫn, những lời giảng dạy của người khác. Tuyên truyền có 2 dạng, phục vụ cho lợi ích cá nhân và phục vụ cho lợi ích cộng đồng.
Chúng ta thường nhắc đến hai từ tuyên truyền, muốn cho việc tuyên truyền có kết quả tốt đẹp thì ta phải biết cách vận dụng có nghệ thuật làm xúc động lòng người. Như các cơ quan ban ngành đoàn thể thường tuyên truyền kêu gọi các nhà hảo tâm, những tấm lòng vàng, quý Phật tử gần xa giúp đỡ người bất hạnh già cả bệnh tật, neo đơn, trẻ mồ côi thường được nhiều người ủng hộ làm cho nhân loại ngày càng thêm yêu thương gắn bó với nhau bằng tình người trong cuộc sống.
Đức Phật của chúng ta hoàn toàn không bác bỏ những lời tuyên truyền, vì chính giáo pháp của Ngài nhờ các vị Tổ hoạt động tuyên truyền nên ngày nay mới được thêm lớn mạnh mà nhiều người biết đến để áp dụng tu tập và chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc. Tuy nhiên, đức Phật vẫn cảnh báo chớ vội tin. Vì sao? Nếu việc tuyên truyền phục vụ cho mục đích cá nhân, mang yếu tố và tính chất tiêu cực, làm tổn hại đến nhiều người khác như tuyên truyền tận thế trong thời gian vừa qua làm ảnh hưởng đến một số người, gây mang mang sợ hãi lo lắng để cho một số người lợi dụng làm điều xấu ác.
Trái lại, có những tuyên truyền mang ý nghĩa nhân văn, đem lại lợi ích cho cộng đồng, như tuyên truyền thực hành tiết kiệm, tuyên truyền nâng cao ý thức giao thông, hay tuyên truyền giáo pháp đức Phật giúp cho mọi người cùng học hỏi, tham khảo rồi thực hành để buông xả những tâm niệm tham lam ích kỹ, sân giận, si mê, ganh ghét tật đố làm cho mình và người khổ đau. Những tuyên truyền này luôn giúp cho mọi người tránh được những tai nạn đáng tiếc trong cuộc đời, giúp cho nhân loại biết cách bỏ ác làm lành mà cùng sống yêu thương giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết.
4. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.
Kinh điển, sách vở là những tài liệu ghi chép lại những lời dạy của người xưa, nhằm hướng đến một mục đích nào đó. Ví dụ như sách lịch sử, sách y học… dạy cho con người hiểu được lịch sử truyền thống con người và đất nước Việt Nam phát xuất từ đâu do ai sáng lập nên, sách y học dạy cho con người hiểu được cách ngừa bệnh và trị bệnh cho con người. Các loại kinh của Phật dạy giúp cho con người sống tốt hơn nhờ biết tránh xa điều xấu mà hay làm các việc thiện lành tốt đẹp trên nền tảng của nhân quả.
Do đó, dạy cho con người phát triển lòng từ bi rộng lớn, nên Phật dạy không được sát sinh hại vật, trộm cướp lường gạt của người. Tóm lại, Phật khuyên nhủ mọi người không nên làm điều gì làm tổn hại cho người và vật. Muốn vậy con người cần phải giác ngộ, tỉnh thức và nhận thức đúng đắn về nguyên lý thành trụ hoại không của vạn vật, nguyên lý sinh già bệnh chết của con người. Và điều trước tiên Phật dạy chúng ta muốn sống tốt và đạo đức thì phải biết cung kính hiếu thảo với ông bà cha mẹ, vui vẻ thuận thảo với anh chị em, hoà hợp bà con cô bác láng giềng bằng cách yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong tình cảm sâu sắc của nhân loại.
Tóm lại, kinh điển và sách vở có 2 loại: Kinh sách chân chính và kinh sách không chân chính. Kinh sách chơn chánh là những kinh sách giúp cho con người phát triển tư duy, kiến thức, hiểu biết trí tuệ, nhằm đem lại lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, giúp nhân sinh nhận thức đúng đắn và hiểu biết rõ ràng về nguyên lý nhân duyên quả trong thân tâm mình và thế giới bên ngoài.
Kinh sách không chơn chánh là những tài liệu dạy con người phát triển tham sân si, mê hoặc, khổ não trói buộc nơi tâm trí. Thí dụ như sách viết về quan hệ tình duc, truyện dâm, truyện sét, tiểu thuyết tình ái. Người học theo những sách vở này, chỉ khởi tâm dâm dục và ham muốn hành dâm. Nó làm cho người đó tâm tư không được thanh tịnh và trong sáng nên dễ bị kích động làm chuyện bậy bạ làm ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống xã hội.
Đức Phật luôn khích lệ và ủng hộ những kinh sách chơn chánh và hay khuyên nhũ mọi người cần nên tránh xa những kinh sách làm ảnh hưởng xấu xa và tổn hại đến thân tâm con người.
5. Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.
Lý luận siêu hình là những lý luận bằng suy nghĩ, tư duy nghiệm xét mới có thể lý giải hiểu rõ bản chất của nó do đó mà không thể cảm nhận bằng trực giác, giác quan của chính mình.
Lý luận siêu hình có hai loại: lý luận thực tế và lý luận không thực tế.
Lý luận thực tế là các lý luận giải thích cụ thể, rõ ràng đúng bản chất theo tinh thần khoa học của thế giới tự nhiên muôn loài vật, và thực tế nhất là con người đang sống trong đời sống xã hội hiện nay. Ví dụ, như lý luận về nguyên tử là lý luận siêu hình vượt qua sự thấy nghe và cảm nhận của con người. Nhưng các nhà khoa học đang nghiên cứu hàng loạt các thí nghiệm mới thấy được các dấu hiệu và bản chất sự thật của nó. Đó là lý luận siêu hình trên hình thể vật chất mà mắt con người khó nhìn thấy được.
Lý luận về tâm thức của một con người hay còn gọi là con người tâm linh mà đức Phật thường nói trong các bản kinh là lý luận siêu hình. Muốn biết rõ được bản chất thật sự của nó, chúng ta cần phải thực hành trải nghiệm mới thấu rõ được cội nguồn của nó là trong sạch, tinh khiết lặng lẽ nhưng hay chiếu soi muôn loài vật. Đó là Phật tính sáng suốt của mọi người nhưng ít ai quay nhìn lại để nhận ra chân lý ấy nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.
Lý luận không thực tế là các lý luận không có căn cứ khoa học, không có căn cứ vào bản chất thật sự của con người trong cuộc sống hiện tại. Ví dụ, các lý luận về đấng tối cao sinh ra vũ trụ quyết định sự sống chết và vận mệnh của muôn loài vật, cụ thể nhất là của con người. Không ai thấy rõ hay sẽ thấy về các truyền thuyết này, nó chỉ nằm trong tín ngưỡng dân gian được truyền tụng nhiều đời và cũng không ai thấy được đấng tối cao quyết định vận mệnh của con người và nó hoàn toàn không có căn cứ thực tế cụ thể rõ ràng.
Còn lý luận đạo Phật về con người tâm linh của chính mình được các nhà khoa học kiểm chứng và xác minh rõ ràng bằng con người có thật của các Thiền sư khi ra đi để lại rất nhiều nhục thân trên cả ngàn năm mà không cần các kỹ thuật ướp xác vẫn giữ nguyên hình thể với tư thế ngồi hoa sen không bị mục nát.
Cụ thể nhất là ở miền Bắc nước Việt Nam chúng ta hiện nay có bốn nhục thân đang được thờ tại các chùa Đậu, chùa Phật Tích, chùa Tiêu và có rất nhiều nhục thân khác ở các nước tu theo Phật giáo. Quý vị muốn biết chính xác hãy liên hệ với các ban ngành lãnh đạo Phật giáo thì sẽ biết rõ hơn.
Đức Phật của chúng ta luôn luôn ủng hộ những lý luận giúp cho con người hiểu biết tự nhiên, xã hội, hiểu biết thân tâm thanh tịnh củả tất cả chúng sinh và cụ thể nhất là con người. Ngược lại, Ngài khuyên chúng ta hãy nên tránh xa những lý luận vô căn cứ và luôn làm cho nhiều người mê tín và dấy khởi lên những tâm niệm tham lam ích kỹ, sân hận nóng giận hờn mát và si mê đố kỵ để làm tổn hại cho nhau.
6. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
Lập trường là những quan điểm, hệ thống tư duy của một người hoặc của một nhóm người nào đó về các vấn đề trong cuộc sống. Lập trường được hình thành từ những kiến thức, hiểu biết, được học hỏi qua lại từ các trường lớp hoặc được học hỏi từ các tôn giáo mà người đó đã được giáo dục, học tập trong suốt một quá trình lâu dài.
Có những lập trường phù hợp với đời sống con người và giúp cho con người ngày càng sống tốt hơn về mọi phương diện vật chất lẫn tinh thần.
Có những lập trường không phù hợp với đời sống con người khi làm theo sẽ bị tổn hại về lâu về dài. Tùy thuộc vào thói quen và khả năng nhận thức của mỗi người mà chúng ta có những lập trường và quan điểm khác nhau. Như người mới học lớp 1 có suy nghĩ lập trường về cuộc sống còn rất giới hạn và hoàn toàn khác với một sinh viên đại học chuyên ngành đã ra trường và đang làm việc.
Nếu lập trường nào đó không làm cho con người bị vẫn đục bởi phiền não tham sân si, nghĩa là người đó suy nghĩ, nói năng và hành động luôn làm lợi ích cho nhiều người mà tỉnh thức, thân tâm thư thái, an lạc, nhẹ nhàng, thì đó là lập trường chơn chính. Lập trường này giúp cho người khác sống ngày càng tốt hơn trên nền tảng của nhân quả chúng ta hãy nên khuyên khích người khác tin tưởng và tu học theo.
Lập trường nào dựa vào tranh cãi, bác bỏ, chê bai, chứng tỏ đẳng cấp chính mình, bằng những hiểu biết nhận thức không đúng đắn do đó bị tham ái, giận sân, si mê, chi phối thì đó là những lập trường không có ích cho người nói, người nghe, và làm ảnh hưởng xấu đến quá trình tu học của những người tu theo đạo Phật. Một số người nói kinh điển nguyên thuỷ là giáo lý tiểu thừa, kinh điển đại thừa hư dối là do ngoại đạo nguỵ tạo, ai có những nhận định và lập trường như thế là chưa phải là người học Phật chân chính thì thử hỏi làm sao đủ tư cách hướng dẫn cho mọi người khác học và tu theo.
Người có lập trường vững chắc là người đã xác định rõ ràng mục tiêu mình đang theo đuổi và quyết chí ứng dụng thực hành để đạt được kết quả tốt đẹp trong hiện tại và mai sau. Như lập trường của người Phật tử, sau khi tìm hiểu những lời dạy chân chính của đức Phật thông qua sự quán chiếu soi sáng lại chính mình cho nên ngày càng cảm nhận được bình yên hạnh phúc. Biết được sự tác hại của sát sinh hại vật, trộm cướp lường gạt, nói dốc láo để hại người và dùng rượu xì ke ma tuý và các chất kích thích độc hại khác làm cho mình và người khổ đau. Và mục đích cuối cùng là được giác ngộ, giải thoát, nhưng không tự mình hưởng an nhàn mà phát tâm đi vào đời vì lợi ích chúng sinh với tinh thần vô ngã vị tha.
Nhiều người không biết phê phán, chỉ trích nói sống như vậy là ngu không giúp được gì cho gia đình người thân. Họ tìm cách ngăn cản, đả phá làm cho ta lay động bất an mà không giữ vững lập trường nên một số người vì không quyết chí và tin tưởng con đường của mình đang đi nên đành bỏ cuộc nửa chừng. Người Cách mạng sở dĩ họ thành công là nhờ vào lập trường vững chắc. Còn chúng ta là người Phật tử chân chính, trên cầu thành Phật dưới cứu độ tất cả chúng sinh vừa làm lợi ích cho mình vừa giúp đỡ người khác bằng tình người trong cuộc sống với trái tim yêu thương và hiểu biết. Bởi đây là lý tưởng cao cả của những con người có tấm lòng bao la rộng lớn vì tất cả chúng sinh trên thế gian này.
7. Chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
Những dữ kiện hời hợt là những thông tin không đủ căn cứ chuẩn xác, không đủ tính chơn thực và không có một hệ thống tư duy, nghiên cứu thể nghiệm rõ ràng.
Đức Phật không hoàn toàn bác bỏ các căn cứ dựa trên những dữ kiện hời hợt, nhưng Ngài vẫn khuyên chúng ta khi nghe điều gì phải biết tìm hiểu, chiêm nghiệm nó rồi mới tin khi thấy được lợi ích thật sự.
Những dữ kiện hời hợt đôi khi không phải là sai, mà chẳng qua nó không đủ tính chuẩn xác, tính khoa học, nên có thể làm cho người tiếp nhận những thông tin đó không biết rõ nguyên nhân nguồn gốc của chúng. Chính cái, không rõ, không biết nguồn gốc đó sẽ làm cho nhiều người hoang mang và nghi ngờ nên làm cho họ khởi lên những tâm niệm không tin tưởng. Nên khi viết, và đặt vấn đề chúng ta cần phải chú ý đến các dữ kiện của mình, trích dẫn nguồn gốc cụ thể, thì người viết và người đọc sẽ được lợi ích thật sự.
8. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.
Định kiến là những quan điểm cố định, không thay đổi của một con người về một sự vật, hoặc cụ thể vào một hiện tượng nào đó. Ví dụ như một số người cho rằng chết là hết cát bụi trả về cát bụi, một số người cho rằng tất cả mọi hiện tượng sự vật xãy ra điều là ngẫu nhiên, đương nhiên khi không, một số người cho rằng có một ông trời ban phước giáng hoạ tạo ra tất cả muôn loài vật trong bầu vũ trụ bao la này .v..v..
Có những định kiến có thể diễn tả đúng bản chất của thế giới và con người, có những định kiến do học hỏi và thói quen của con người nó chỉ là những quan điểm phiến diện và sự bảo thủ, cố chấp của con người.
Định kiến thứ nhất cho rằng có một đấng thần linh thượng đế ban phước giáng hoạ, ai sinh ra như thế nào thì trước sau như một không thể thay đổi được như trời chết sinh trời, người chết sinh người, thú vật chết sinh thú vật và còn tuỳ thuộc theo đẳng giàu nghèo, sang hèn. Định kiến này sẽ làm cho con người mất tự chủ, sống phải lệ thuộc vào đấng bề trên mà mình không biết cho nên rơi vào mê tín, tà vạy.
Định kiến thứ hai cho rằng chết là hết không có nhân quả nghiệp báo tội phước nên mặc tình hưởng thụ đến khi phước hết thì chịu hoạ si mê. Hai định kiến này đối lập nhau đều rơi vào hai trạng thái có và không. Có một ông trời ban phước giáng hoạ và không có gì hết sau khi thân này hoại diệt.
Đức Phật không hoàn toàn bác bỏ các định kiến của thế gian. Đối với những định kiến cho rằng có-không, đúng-sai, tốt-xấu và tất cả những định kiến nào dựa trên nền tảng tham sân si, làm tổn hại cho người và vật thì Ngài khuyên chúng ta nên tìm cách xa lìa, vì nó không lợi ích và không tốt cho ta trong suốt quá trình tu tập để chuyển hoá những nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc.
Và các định kiến nào dựa trên nền tảng nhân quả, làm chủ bản thân mọi việc tốt xấu nên hư thành bại trong cuộc đời đều do mình tạo lấy, lại còn hay san sẻ giúp đỡ mọi người trên tinh thần thương yêu bằng trái tim hiểu biết. Định kiến là cái thấy cố định tuỳ theo sự huân tập của mọi người cho nên không ai giống ai, chúng ta là con người phải biết khôn ngoan sáng suốt chọn lựa. Muốn vậy ta cần phải học hỏi, tìm tòi, nghiệm xét, dùng trí tuệ soi sáng để biết được bản chất thực hư của nó. Định kiến nào giúp ta làm chủ bản thân và hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi hành vi tốt xấu của chính mình thì ta hoàn toàn tin theo và áp dụng hành trì để mình và người được an lạc hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.
9. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
Sức mạnh và quyền uy thế lực thường đi đôi với nhau. Người có thế lực luôn dùng uy tín của mình bằng địa vị cao trong xã hội nhân danh một cá nhân hay một tổ chức tập thể nào đó. Họ nhờ có địa vị cao nên được bảo trợ bằng vũ lực để khống chế các đối tượng khác. Hoặc một băng nhóm đảng phái nào dùng sức mạnh để thị uy với thiên hạ.
Như các ông vua thời phong kiến dùng địa vị của mình để bắt buộc các người khác phải tuân theo, vua bảo tôi thần chết là phải chết, không chết là bất trung. Vua muốn phong quan tiến chức cho ai thì phong, muốn giết ai thì giết. Ai sống thuận theo vua và làm lợi ích và bảo vệ cho nhà vua thì được hưởng vinh hoa phú quý suốt đời.
Như nhà nước đảm bảo mọi công dân có quyền đi học và làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình đóng góp lợi ích cho xã hội. Ngược lại, nhà nước nghiêm cấm việc giết người, cướp của trộm cắp lường gạt của người khác…
Đức Phật không bao giờ bác bỏ những loại ủng hộ này vì nhờ có luật pháp và kỹ cương phép nước, con người mới cố gắng sống tốt với nhau. Và thay vào đó, đức Phật hướng dẫn cho tất cả mọi người biết cách lựa chọn những thông tin đúng, hợp pháp phù hợp cho quá trình tu tập và chuyển hoá các phiền muộn khổ đau.
Những sự ủng hộ dựa vào lợi ích cá nhân, trên nền tảng tham lam ích kỹ và sân giận, si mê, thì ta không nên đặt niềm tin để làm tổn hại người và vật. Như quan niệm từ nghìn xưa cho đến nay cái đúng thuộc về kẻ chiến thắng nhờ có sức mạnh và uy quyền. Đây là quan niệm dựa trên nền tảng chấp ngã của cái tôi, là tôi và của tôi nên lúc nào cũng sân hận và si mê, nó nhằm phục vụ cho những người chiến thắng vì thế lực mạnh.
Quan niệm người giàu có quyền vui chơi hưởng thụ, bóc lột người nghèo khổ phải phục vụ cho riêng mình, là dựa trên nền tảng tham lam, ích kỹ, bỏn sẻn phục vụ cho tầng lớp người có nhiều tài sản và quyền lực.
Tuy nhiên, những sự ủng hộ dựa vào lợi ích cộng đồng xã hội, phục vụ vì quyền lợi chung cho nhiều người không bị tham sân si chi phối, thì chúng ta cần được đề cao và duy trì. Chẳng hạn như quyền đi học của tất cả mọi công dân được nhà nước khích lệ và ủng hộ, đây là một dấu hiệu tốt cho xã hội đang trên đà phát triển, giúp con người tiếp thu tri thức hiểu biết. Trên thực tế những lời dạy của đức Phật đã được rất nhiều người trên thế giới này ủng hộ, vì nó giúp cho con người sống yêu thương đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã vị tha nhờ quyền bình đẳng trong cuộc sống.
Con người ngày nay văn minh tiến bộ vượt bực nhờ biết học hỏi và nghiệm xét, nên thấy rõ chỉ có đạo Phật mới là đạo của con người, vì con người sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết và sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ niềm đau. Nhưng vì nó đi ngược lại lòng tham lam, ích kỹ của con người nên số đông khó thâm nhập, bởi tính tự giác bằng sự ý thức của mỗi người.
10. Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.
Như chúng ta đã biết, những lời dạy vàng ngọc của đức Phật là các phương pháp giúp cho mọi người đạt được sự tỉnh thức khi thực hành và làm cho thân tâm mình được vui vẻ lạc quan yêu đời và bình yên hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Các nhà truyền giáo hay đạo sư là những người thuyết pháp, nói chuyện chia sẻ với chúng ta dù là lời Phật dạy, đức Phật vẫn khuyên chúng ta chớ vội tin mà khi nghe thì chúng ta phải biết suy xét, chiêm nghiệm và khi thực hành cảm thấy được an lạc, lợi ích cho chính mình và người khác thì khi đó ta mới tin.
Tin như vậy là người có hiểu biết chân chính bằng sự trải nghiệm trong thực tế không phải tin suông, tin càn, tin bướng. Việc tin tưởng mù quáng, không có căn cứ sẽ làm phát khởi phiền não tham sân si để làm hại mình và người. Do đó, đức Phật dạy chúng ta chớ vội tin một điều gì khi chưa có sự nghiệm xét và kiểm chứng rõ ràng.
Tuy nhiên, đức Phật không bác bỏ các điều được các nhà truyền giáo hay các đạo sư khác tuyên thuyết. Đức Phật chỉ dạy mỗi người nên tiếp nhận chúng bằng sự nhận thức đúng đắn và được soi sáng bằng trí tuệ. Nếu khi tiếp nhận, thực hành theo, thấy tâm mình không dấy khởi tham lam, sân giận và si mê, giúp ta tỉnh thức, thì những lời đó nên tin. Nếu khi tiếp nhận, thực hành theo, thấy mình phiền não, tham sân si dẫy đầy thì chúng ta nên từ bỏ những lời dạy đó vì không thật sự có lợi ích cho mình và người.
Qua đó, chúng ta có thể rút ra kết luận: Mục đích của việc học Phật là không phải dùng kiến thức của mình biết được để tranh đấu hơn thua với nhau, nhằm chứng tỏ khả năng hiểu biết. Mục đích của việc học Phật là điều phục và chuyển hoá tâm mình, làm sao cho nó được định tĩnh, không bị tán loạn bởi các cảnh duyên bên ngoài.
Việc tu học Phật là một quá trình nỗ lực thực hành lâu dài cần phải có sự kiên trì, bền chí, nhẫn nại, không cạnh tranh hơn thua, không dò tìm lỗi người khác, thường xuyên tu sửa chính mình. Chúng ta chỉ chuyên chú học hỏi, chiêm nghiệm tu tập làm sao cho thân tâm, được an ổn nhẹ nhàng biết rõ ràng từ ý nghĩ, cho đến lời nói và mọi hành động của mình một cách chính xác.
NIỀM TIN CHÂN CHÍNH
Người Phật tử phải thiết lập được niềm tịnh tín đối với Tam bảo, bởi chỉ có ánh sáng của Tam bảo mới đủ năng lực xua tan bóng tối vô minh mê mờ từ muôn kiếp, dập tắt tham ái do chấp ngã mà ra và dứt trừ được tất cả phiền muộn khổ đau.
Trong bất kỳ sự nỗ lực nào của con người thì niềm tin đều đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, người thiếu niềm tin sẽ sống một cuộc đời vô vị không có ý nghĩa và giá trị thiết thực.
Niềm tin như một lý tưởng sống thì ta mới có quyết tâm theo đuổi mục tiêu này hay mục tiêu khác mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Trái lại, người không có đủ niềm tin chân chính thì không có hướng đi tốt đẹp trong cuộc đời. Niềm tin càng vững chắc thì bước đi càng rộng mở không có gì ngăn cản nỗi và ý chí nỗ lực càng lớn mạnh. Vì vậy mà con người cần phải nuôi dưỡng và xây dựng niềm tin về con người tâm linh tức tin mình có khả năng giác ngộ và chuyển hoá phiền não tham sân si thành vô lượng trí tuệ và từ bi.
Trong cuộc sống, Đức Phật luôn nhấn mạnh về lòng tin sau khi có trí tuệ, xem đó là động lực thúc đẩy mọi sự tiến bộ của con người trong suốt quá trình tu tập và chuyển hoá hướng đến mục tiêu giác ngộ, giải thoát.
Một đoạn kinh nói rằng kính bạch đức Thế Tôn, chúng con có niềm tin chân thành đối với Ngài bằng sự tôn trọng quý kính, nơi lời dạy vàng ngọc của Ngài và nơi đoàn thể sống an vui của Tăng trên tinh thần lục hoà. Mỗi khi chúng con đem giáo lý của đức Thế Tôn áp dụng vào trong đời sống hằng ngày, con thấy có sự chuyển hóa và thay đổi của nội tâm để dần hồi giảm bớt và dứt trừ các tạp niệm xấu ác. Chúng con thấy rõ ràng năng lực của mình ngày càng thăng tiến nhờ huân tu giới định tuệ giúp cho chúng con vượt thoát khổ đau và các bế tắc trong cuộc đời.
Do đó chúng con những người Phật tử tại gia tu học và hành trì theo lời dạy của Ngài cảm nhận được bình yên hạnh phúc nhờ khéo biết buông xả. Chúng con biết rằng niềm tin của con được xây dựng trên nền tảng nhân quả có sự trải nghiệm trong cuộc sống, từ chính bản thân chúng con chứ không phải trên lý thuyết suông như các giáo điều mê hoặc lòng người. Con biết đức tin nơi con đối với Tam bảo là một năng lượng sáng suốt nhờ có thực hành tu tập chứ không phải là một niềm tin mê tín sai lầm. Càng học hỏi và thực tập theo lời Phật dạy, chúng con ngày càng đủ niềm tin hơn vì dựa trên sự thực tập của chính mình.
Đức Thế Tôn đã từng dạy cho chúng con làm thân con trâu hay bò chuyên cày bừa chở nặng chưa hẳn đã là khổ, ngu si không hiểu biết mà nói càn tin bậy đó mới thật sự là nỗi khổ niềm đau cho người đó. Chúng con đã có niềm tin với Tam bảo rồi nên phải tự mình vạch ra hướng đi thăng tiến đến bờ giác ngộ giải thoát, nhờ vậy con không còn phải lo lắng, sợ hãi nữa vì chúng con đã đủ niềm tin, thật là hạnh phúc lớn lao cho cuộc đời của chúng con. Chúng con thấy thế gian này có rất nhiều người đang khổ đau cùng tột, đang bị các sợi dây oan khiên trói buộc do tham ái, sân hận, si mê, kiêu mạn, nghi ngờ, ganh ghét, tật đố, ác kiến gây ra và tàn phá thân tâm của họ, chỉ vì họ chưa có đủ một niềm tin đối với nhân quả và chính mình.
Đỉnh cao của lòng tịnh tín là tin tâm mình, ta tin tưởng rằng mình có bản tâm thanh tịnh, sáng suốt nhiệm mầu nó đang hằng hữu nơi thân này. Từ đó ta nỗ lực tu tập buông xả phiền não tham sân si làm hiển lộ chơn tâm thanh tịnh, thể nhập tánh biết sáng suốt nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế. Khi ta đã có lòng tin thì người cư sĩ được năm lợi ích lớn.
Đó là: được chư tôn thiền đức Tăng ni thương tưởng, khi nào có dịp sẽ đến nhà thăm viếng, thọ trai, thuyết pháp hướng dẫn cho ta biết được điều hay lẽ phải và phương pháp hành trì đến khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi trời hưởng phước tối cao muốn gì được đó.
Đức tin là mẹ của tất cả công đức lành, là nền tảng để phát sanh mọi thiện pháp trong cuộc đời. Vì vậy, chúng ta nếu chưa có đủ lòng tin đối với Tam bảo, ta hãy nên cố gắng tham khảo học hỏi tu tập chuyển hoá, khi đã phát khởi được lòng tin thanh tịnh rồi thì cố gắng củng cố và quyết tâm trau giồi để niềm tin không bị lui sụt bất cứ trong mọi trường hợp nào.
Chánh tín và tin tuyệt đối vào Tam bảo là một trong những vấn đề quan yếu mà mỗi người con Phật phải thành tựu để làm cơ sở cho việc tu học, nhằm giúp người cứu vật trong hiện tại và mai sau.
Trong cuộc sống nếu chúng ta không đủ niềm tin đối với Tam bảo, ta hay nghi ngờ các giá trị về nhân cách đạo đức, chạy theo nhu cầu vật chất quá đáng như cuộc sống hiện nay thì coi chừng ta đánh mất đi con người tâm linh của chính mình.
Người Phật tử chân chính phải tin sâu lời Phật dạy để sống đời lương thiện, vô ngã vị tha, an vui, tự tại và giải thoát mọi phiền muộn khổ đau. Con người khi không có niềm tin về cuộc sống thì hay bi quan chán nản khi gặp việc khó khăn, bức bách thường oán trời trách đất đổ thừa cho xã hội bất công, nên dễ dàng tìm lấy cái chết một cách oan uổng.
Niềm tin ở đây là tin sâu nhân quả chứ không phải tin vào thần linh thượng đế ban phước giáng hoạ, mà ta phải đủ niềm tin về Tam bảo, niềm tin đối với nhân quả và niềm tin chính mình. Ta phải có niềm tin như thế nào để sống tốt cho tha nhân và chính mình bằng tình người trong cuộc sống.
TIN PHẬT LÀ NGƯỜI GIÁC NGỘ HOÀN TOÀN
Trước hết chúng ta nói về tin Phật. Vậy tin Phật là tin như thế nào? Lâu nay chúng ta cứ ngỡ tin vào đức Phật là tin Ngài có đủ tất cả các năng lực nhiệm mầu, huyền bí có đủ điều kiện ban phước giáng hoạ như bao nhiêu người thường lầm tưởng nên khi đến chùa đa số đều cầu xin chớ không thật sự tu tập để tăng trưởng phước đức nhằm chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc.
Niềm tin đối với Phật không giống như thần linh thượng đế trong thời xa xưa, tin Phật ở đây có khả năng giác ngộ của một con người bằng xương bằng thịt giống như tất cả mọi người chúng ta.
Chúng ta thường tin tưởng ở Ngài là sẽ đem đến an vui hạnh phúc cho chính mình, sẽ gia hộ cho ta bình an, mà khỏi cần phải tu tập. Nhưng sự thật có phải như vậy không? Chúng ta tin Phật vì Ngài là bậc giác ngộ viên mãn từ một con người phàm phu tục tử như chúng ta do quyết chí buông bỏ tu hành mà thành tựu đạo pháp. Ngài là một con người giống như tất cả mọi người chúng ta, ngài tu hành thành Phật, ta cũng có thể thành Phật như Ngài cho nên Phật nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
Chữ Phật nói cho đầy đủ là Phật đà có nghĩa là người giác ngộ hoàn toàn không còn bị các thứ ngũ dục ở thế gian này chi phối. Vì giác ngộ viên mãn cho nên những gì Ngài chỉ dạy cho chúng ta đều là chân lý tối cao đúng với lẽ thật. Phật là danh từ chung chứ không phải của riêng ai là một chúng sinh ai cũng có thể thành Phật. Vậy chúng ta tin Phật là tin người giác ngộ hoàn toàn, một bậc giác ngộ sẽ giúp cho chúng ta thoát khỏi mê lầm từ muôn kiếp để được thanh tịnh sáng suốt, chớ không phải tin Ngài có khả năng ban phước giáng hoạ giúp cho ta được mọi điều như ý muốn.
Phật dạy: “Ta không có quyền ban phước giáng họa cho một ai”. Chúng ta đọc lịch sử đều biết rằng, đêm thứ bốn mươi chín Ngài ngồi thiền định dưới cội Bồ-đề, từ canh một cho tới canh hai Ngài chứng được Túc mạng minh tức là nhớ biết lại vô số kiếp về trước Ngài làm gì ở đâu. Từ canh hai cho tới canh ba Ngài chứng được Thiên nhãn minh thấy rõ chúng sinh theo nghiệp tái sinh trong sáu đường luân hồi, từ canh ba cho tới canh năm Ngài chứng được Lậu tận minh có nghĩa là thoát ly được luân hồi sinh tử hoàn toàn.
Đức Phật sau khi đã chứng được Túc mạng minh, Ngài nhớ lại vô số kiếp về trước cả hàng trăm ngàn kiếp, chớ không phải năm mười kiếp thôi. Trong kinh Phật thường nói: “Ta nhớ lại vô số kiếp về trước như người nhớ việc mới xảy ra chiều hôm qua”. Nhớ rõ ràng như người đang đói khát thèm thức ăn trong từng phút giây. Do đó Ngài biết được mình từ đâu đến và sau khi chết đi về đâu nên chứng tiếp Thiên nhãn minh, Ngài có con mắt thấu rõ thấy suốt từ những vật nhỏ nhiệm nhất cho đến xa tít tận trời cao, mà con mắt phàm phu tục tử của chúng ta không thể nào thấy được.
Ngài thấy rõ tất cả chúng sinh sau khi chết rồi không phải là hết, mà chỉ thay hình đổi dạng theo nghiệp tái sinh trong luân hồi lục đạo. Trong sáu đường luân hồi thăng lên lộn xuống gồm có ba đường lành và ba đường dữ. Ba đường lành là cõi người, a-tu-la và trời; ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỹ và súc sanh.
Nếu chúng ta gieo tạo nghiệp thiện lành tốt đẹp thì khi nhắm mắt lìa đời sẽ đi theo ba đường lành sống đời an vui hạnh phúc. Nếu ai gieo nghiệp xấu ác tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà khi nhắm mắt ra đi sẽ bị rơi vào ba đường dữ chịu khổ đau không có ngày cùng. Do thấy biết đúng như thật từ sự buông xả tất cả mọi vọng niệm dù tốt hay xấu nên đức Phật nói:
“Ta thấy chúng sanh trôi lăn trong sáu đường luân hồi sinh tử như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy kẻ qua, người lại rõ ràng không lầm lẫn”.
Đức Phật thấy rõ dòng luân hồi của tất cả chúng sinh từ đời này sang kiếp nọ không có ngày thôi dứt, nên Ngài mới chỉ dạy cho chúng ta biết cách tu tập để thoát khỏi sinh già bệnh chết của dòng luân hồi vô tận trên thế gian này.
Cho đến canh năm khi sao mai vừa mọc, Ngài đã chứng được Lậu tận minh biết cách thoát khỏi mọi trói buộc do phiền não tham sân si mạn nghi ác kiến gây ra bởi chấp thân tâm này làm thật ngã. Điểm đặc biệt là Phật không bắt chúng ta nhất quyết phải tin theo như các giáo điều khác, mà mình có quyền kiểm chứng, nghiệm xét lại coi có đúng tinh thần nhân quả và có lợi ích thật sự cho mình và người hay không.
Thứ nhất, đức Phật thấy tất cả chúng sinh từ vô số kiếp về trước đã từng sinh sống làm gì ở đâu, trong lục đạo luân hồi. Chúng ta tự kiểm lại, xem mình có mang tính cách gì của quá khứ dẫn đến hiện tại hay không? Có khi hưởng phước báo tối cao ở các cõi trời muốn gì được đó và ngược lại là bị đoạ lạc vào chỗ khốn cùng do gây tạo nghiệp nhân xấu. Rồi cho đến đức phật nhớ lại vô số kiếp về trước làm gì ở đâu.
Cuối cùng là ngài chứng được lậu tận minh là thấu tột được nguyên nhân nào khiến cho chúng sanh trầm luân trong sanh tử và phương pháp nào đưa chúng sanh ra khỏi vòng luân hồi ấy, không còn bị buộc ràng trong lục đạo nữa. Biết rõ nhân biết quả như vậy nên Ngài dạy chúng ta cách tu hành thoát ly sanh tử. Từ chỗ tu chứng ấy, những gì Ngài thấy biết nên nói lại cho chúng ta nghe đều là chân lý, là sự thấu triệt nguồn gốc của con người và muôn loài vật.
Phật dạy rằng sở dĩ chúng ta có mặt ở thế gian này là do tích lũy nghiệp của đời trước. Đời trước ta đã từng làm gì thì đời này sanh ra ảnh hưởng nghiệp nhân của đời trước mà cho ra kết quả trong hiện tại.
Điều này chứng tỏ học thuyết nhân quả của nhà Phật rất phù hợp với chân lý cuộc đời, không có gì bổng dưng khi không mà ra hoặc số phận đã an bài. Đời trước chúng ta đã từng làm việc lành dữ, đời này tuỳ theo duyên mà thọ hưởng quả tốt xấu. Vì vậy mỗi người chúng ta có mặt trong cuộc đời này mang theo những tâm tư, ý niệm, thói quen khác nhau. Bởi thế tuy cùng là cha mẹ sinh ra nhưng anh chị em không ai giống ai, chỉ giống một phần nào do tính di truyền của gien thôi.
Đức Phật thấy biết rõ ràng như vậy, nhưng nói ra để mọi người hiểu hết sự thật của nó quả là điều không đơn giản chút nào, chỉ có những ai đã đủ lòng tin sau khi trải nghiệm. Người Phật tử chân chính nhờ biết nghiệm xét nên thấy rõ ràng đó là một lẽ thật, không nghi ngờ.
Như tất cả người thế gian lớn lên đều nghĩ tới chuyện lập gia đình để gầy dựng giống nòi nhân loại cho nên hể ai có quyền cao chức trọng là tìm cách vơ vét về cho riêng mình, tìm cách bóc lột người khác gây ra ân oán thù hằn không có ngày thôi dứt. Đó là quy luật sống ở thế gian, ai làm khác đi thì bị chỉ trích phê bình, phán xét. Dù biết rằng trong tình yêu lứa đôi ít ai được hạnh phúc trọn vẹn mà đa số chịu khổ nhiều hơn vui.
Tuy nhiên việc đời là như thế, nhưng có những người lớn lên đòi đi tu, thậm chí các chú thiếu niên còn nhỏ tuổi vẫn muốn vào nhà chùa để được xuất gia sống đời đơn giản đạm bạc. Điều này có ai chỉ dạy hay không? Cha mẹ không dạy, thầy cô giáo không xúi bảo vậy cái gì thúc đẩy để các em phát tâm đi tu. Rõ ràng chủng tử tu của những người này trước đã huân tập giờ gặp duyên liền phát sinh không ai xúi giục, không ai bắt buộc mà tự phát nguyện đi tu. Khi chúng ta hiểu rồi biết rằng mọi thứ đều do duyên nghiệp đời trước thúc đẩy thì ta biết những việc này không phải mới có, mà nó đã được tích luỹ trong quá khứ.
Sau khi thấy tột lý nhân quả của Phật dạy rồi, chúng ta phải cố gắng làm sao trong đời này tu tạo những nghiệp thiện lành tốt đẹp, ngăn dừng những việc xấu ác để khi ra đi ta phải khỏi bận lòng lo lắng mà biết chắc rằng ta sẽ tái sanh trong cõi lành. Nhiều người không hiểu, không biết do đó cho rằng chết là hết, nên mặc tình gây tạo tội lỗi để chuốc lấy quả khổ đau. Một số người thế gian không tin mình có con người tâm linh cứ nghĩ rằng chết là hết, nên khi gặp điều gì quá bức bách, không chịu nổi đòi tự tử. Vì họ cứ nghĩ rằng chết là hết tức giải quyết xong tất cả mọi việc. Giết người thì phải đền tội luật pháp thế gian còn như vậy, tự giết mình cũng là một cái tội huỷ diệt mạng sống bởi gì duyên nợ với gia đình và xã hội chưa giải quyết xong mà ta tự bức bách mình. Hạng người như vậy là thuộc hạng người quá sân hận chối bỏ tất cả những gì hiện thực để lại sau lưng nhiều nỗi đau của sự mất mát.
Bản thân chúng tôi đã từng ngu si như vậy, không có tiền cưới vợ, vì sĩ diện bạn bè người thân, gia đình bên vợ và nghĩ rằng chết là hết nên uống thuốc tự tử cho xong kiếp người khốn khổ này. Nhưng nghiệp chưa hết, nợ thế gian trả chưa xong nên được cứu chữa thoát qua cơn hiểm nghèo. Không phải ai cũng có may mắn và phước duyên tốt mới vượt qua những tai ương hoạn nạn trong cuộc đời nếu kiếp trước không có gieo trồng phước đức.
Tôi bây giờ đã xuất gia làm người tu Phật nhưng bệnh hoạn liên miên đủ thứ các chứng bệnh hiểm nghèo, oằn oại đau thương vật vả, mất trí nhớ mệt mỏi đờ đẫn như kẽ mất hồn. Nhờ có Phật pháp, minh sư chân chính thầy lành bạn tốt đã hun đúc cho chúng tôi vượt qua tất cả chướng nạn trong cuộc đời. Hậu quả cũng từ sự giết hại và huỷ hoại thân mình, làm khổ người khác cho nên phải gánh lấy hậu quả như thế, mai nhờ có tu chút chút nên cũng giảm bớt ưu phiền, sầu muộn.
Đức Phật dạy từ con người cho đến muôn loài muôn vật đều do nhân duyên quả mà thành, nên mọi thứ đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Sỡ dĩ Ngài nói ra là do tu chứng mà thấy, chớ không phải suy luận vu vơ huyền hoặc mộng ảo, đó là một lẽ thật. Phật thấy chúng sanh theo nghiệp luân hồi chịu quả báo khổ vui, nên nói những bài kinh dạy về nhân quả nghiệp báo tái sinh để cho chúng ta ý thức mà tu hành. Nếu ai đủ khả năng dứt sạch những nghiệp duyên ràng buộc do tham, sân, si, mạn nghi, ác kiến gây ra thì sẽ thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Người Phật tử chân chính phải biết tin sâu nhân quả và ứng dụng nhân quả vào trong đời sống hằng ngày để làm hành trang tốt đẹp trong hiện tại và mai sau. Chúng ta biết được quả khổ để truy tìm ra nguyên nhân mà tìm cách chuyển hoá chúng thành an vui hạnh phúc trong giờ phút hiện tại. Phá dẹp được nhân gây ra quả khổ thì chúng ta khỏi phải lo lắng và sợ hãi, vì biết chắc ta là người tốt trong hiện tại và mai sau.
Như vậy chúng ta tin Phật là một con người bằng xương bằng thịt, cũng được sinh ra từ cha mẹ nhưng do biết cách tu tập buông xả nên được tự tại, giải thoát không phải mơ hồ huyền hoặc như các học thuyết khác. Đó là ta tin Phật và cố gắng bắt chước làm theo vì ai cũng có tính biết sáng suốt nương nơi thân này.
Nhờ vậy ta phát khởi niềm tin chân chính và hiểu biết sâu rộng mà không dám làm những điều xấu ác, có chăng là do tập khí hại người hại vật còn quá nhiều trong ta. Ta phải tỉnh giác trong từng phút giây mới dần hồi chuyển hoá chúng được, bằng không thì bỏ được niệm này thì đưa niệm kia vào, cứ như thế ta phải chịu trong cái vòng lẫn quẫn của niệm tốt hay xấu.
Niềm tin của người Phật tử là gì? Đó là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin giới và tin chính mình có khả năng thành Phật. Tất cả chúng sinh hay loài có tình thức đều có Phật tính sáng suốt ngay nơi thân này. Đó là lòng tin của người Phật tử chân chính.
Vì tin rằng mình có tâm giác ngộ, có khả năng thành Phật, nên chúng ta cố gắng nuôi dưỡng Bồ đề tâm đó bằng cách thực tập trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Và sự phát khởi Bồ đề tâm đó ở ngay nơi mắt là thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế. Sự vận hành của nó tác động qua thân xúc chạm và ý nhận biết rõ ràng.
Người Phật tử chân chính là người có lòng tin sâu sắc không thối chuyển, tin tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên không khinh khi bất cứ một ai. Người đó tìm cách gần gũi, thân cận mọi người để tạo điều kiện cho họ phát khởi được Bồ đề tâm, nuôi dưỡng được Bồ đề tâm, làm cho Bồ đề tâm đó lớn mạnh. Chính nhờ vậy, con người biết cách hoà hợp cùng san sẻ tình yêu thương bằng trái tim hiểu biết để giúp nhân loại cùng vui sống trong bình yên hạnh phúc. Đạo Phật thâm nhập vào nơi đâu thì nơi đó có chất liệu của sự yêu thương gắn bó với nhau bằng tình người trong cuộc sống.
Như trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Bồ tát Thường Bất Khinh tu hạnh khởi mở Phật tính cho mọi người biết. Dù bị người đời mắng chửi, quyền rũa, đánh đập nhưng Ngài vẫn không than vãn hay oán trách một ai mà còn nói rằng:”Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài sẽ thành Phật” suốt một đời Bồ tát chỉ nói như vậy và không buồn phiền một ai nên tâm tư Ngài trong sáng thanh tịnh nhiệm mầu làm cho nhiều người cảm nhận được niềm an lạc vô biên mỗi khi gặp Ngài.
Niềm tin là chất liệu cần thiết cho sự sống của tất cả mọi người chúng ta. Con người nếu không có niềm tin chân chính thì khó có thể sống đàng hoàng sống thác loạn, điên cuồng, buông thả và bất cần đời cho nên đến khi phước hết thì chịu hoạ vô cùng cực.
Nhưng niềm tin là gì và tin vào cái gì? Đó là vấn đề mà mỗi chúng ta phải tự vấn để thẩm định giá trị niềm tin của mình. Nếu ta tin tưởng vào một điều gì đó mà dẫn đến bế tắc, gây ra khủng bố, bạo động, mất an ninh trong cuộc sống thì đó không phải là niềm tin chân chính mà là cuồng tín. Còn tin mà không hiểu điều mình tin là gì thì đó là mê tín. Chúng ta chắc chắn không phải là những hạng người này, vì chúng ta là Phật tử.
Cho nên tin Phật là một con người bằng xương bằng thịt như chúng ta, cũng sinh ra từ cha mẹ và lớn lên có vợ con sống một đời vương giả mà người đời ai cũng mong muốn, nhưng cái hạnh phúc ấy chỉ tạm bợ và đi đôi với khổ đau. Cho nên Ngài bỏ lại sau lưng hết tất cả để sống đời đơn giản đạm bạc và cuối cùng dứt được kiếp luân hồi sinh tử và không còn phiền não tham sân si chi phối. Chúng ta cũng như Phật nếu quyết tâm tu hành cho đến nơi đến chốn thì cũng sẽ thành Phật trong tương lai vì tất cả chúng đều có tính biết sáng suốt hay chiếu soi muôn sự vật.
TIN LỜI PHẬT DẠY LÀ CHÂN CHÍNH
Thứ hai là tin những lời dạy vàng ngọc của Phật tức là thực hành lý nhân quả, luân hồi, nhân duyên để áp dụng vào trong đời sống hằng ngày. Muốn được quả tốt, chúng ta phải tạo nhân tốt và những duyên phụ thuộc cũng phải tốt mới được. Từ lý nhân quả này, chúng ta xét thấy mọi việc trên thế gian không có gì xảy ra bỗng dưng khi không mà có được.
Chúng ta phải đi từ nhân tới quả bằng sự quán chiếu và nghiệm xét. Nhân mình làm tốt thì quả tốt, nhân mình làm xấu thì quả xấu. Biết được nhân quả phù hợp với đạo lý làm người rồi, chúng ta phải quyết tâm cố gắng ngăn ngừa từ nhân, không cho nhân xấu phát sinh. Ta đã không tạo nhân xấu mà biết tìm cách phát huy tạo nhân tốt, đó là người Phật tử chân chính. Như chúng ta thường thấy gieo nhân thì gặt quả như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.
Người làm nghề nông lựa giống tốt, chuẩn bị cày bừa làm sạch cỏ dại, rồi phân nước đầy đủ chờ đủ thời tiết nhân duyên gieo giống xuống. Bởi giống tốt và siêng năng chăm sóc đúng kỹ thuật nên cây lúa tốt tươi, bông lúa nặng trĩu, nhiều hạt và cuối cùng chúng ta thu hoạch một mùa bội thu.
Như có anh nông dân kia sau thời cuốc ruộng mệt nhọc anh vào ngồi nghỉ dưới gốc cây, vô tình có một con thỏ bị con thú lớn rượt đuổi nên nó hoảng hồn chạy thụt mạng đâm sầm vào gốc cây chết liền tại chỗ. Anh nông dân mừng quá nên nghĩ rằng từ nay về sau khỏi cần làm ruộng cứ mỗi ngày ra đây ngồi chờ con thỏ nộp mạng. Đây là quan niệm của những kẽ lười biếng muốn ăn không ngồi rồi mà hưởng thụ, vì họ nghĩ rằng tất cả đều là ngẫu nhiên khi không nên sinh ra tư tưởng không muốn làm mà muốn có ăn. Như anh chàng nông dân kia thay vì tin sâu nhân quả, muốn trúng mùa lùa bội thu thì trước tiên phải lựa giống tốt, rồi sau đó cuốc ruộng phơi đất vô nước bón phân, chăm sóc theo quy trình kỹ thuật làm ruộng cộng với thời tiết nhân duyên thuận lợi thì chắc chắn sẽ trúng mùa. Nếu chúng ta cứ mỗi ngày ra ngoài bờ ruộng chắp tay nguyện Phật trời cho con mùa này trúng lúa mà không chịu làm gì hết như anh nông dân trên thật là một điều vô lý hết sức. Ta không chịu gieo giống, tạo nhân duyên đầy đủ về mọi phương diện mà đòi có quả trọn vẹn tốt đẹp thì không bao giờ có được. Đó là lẽ thật.
Người thông minh sáng suốt biết siêng năng cần cù trong mọi công việc, biết chọn nhân tốt để gầy dựng tương lai và sự nghiệp cho gia đình mình được kết quả trọn vẹn trong hiện tại và mai sau. Ngược lại, người không biết tu tạo phước đức, thường hay tạo nhân xấu ác, thì quả xấu sẽ đến như người trộm cướp thì sẽ bị bắt và chịu tù tội. Tất cả quý Phật tử khi nghe lời Phật dạy đã hiểu rồi, thì ráng cố gắng chọn lựa nhân tốt để làm, nhân xấu loại ra, bất cứ làm việc gì chúng ta cũng lấy nhân quả làm nền tảng thì lợi ích vô cùng.
Thế gian có nhiều người gây nhân mà không dám chịu quả, như trong nhà có nhiều anh chị em, ta lỡ tay làm bể cái chén kiễu của mẹ. Nhưng không dám nhận lỗi về phần mình, khi cha mẹ tra hỏi ta đổ thừa không biết. Cuối cùng mẹ phải bắt tất cả anh chị em trong nhà ra điều tra, mấy đứa kia đâu có làm bể nên chúng nói không biết. Mẹ giận quá phải đánh đòn hết để điều tra ra sự việc coi ai làm bể. Chúng ta đã lỡ tạo nhân thì phải can đảm chịu quả, nhận lỗi lầm về mình do sơ xót làm bể: Dạ thưa mẹ đây là lỗi của con, con lỡ như vậy, xin mẹ thương mà tha thứ bỏ qua cho con. Biết nhận lỗi như vậy, mẹ nào chẳng thương yêu mà tha thứ, khỏi làm phiền hà các anh chị em bị đòn oan.
Thế cho nên người biết tin sâu nhân quả và dám chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình là người sống có nhân cách và phẩm chất đạo đức tốt. Còn người không tin nhân quả là người yếu đuối, hèn nhát không có hiểu biết và nhận thức đúng đắn nên sống càn, sống dỡ làm tổn hại cho gia đình người thân và xã hội.
Kế đến, là tin con người sau khi chết không phải là hết mà chỉ thay hình đổi dạng tuỳ theo nghiệp nhân gieo tạo xấu của mình mà cho kết quả trong tương lai. Tin có tái sinh luân hồi càng làm cho chúng ta càng dè dặt hơn để trong cuộc đời ta phải sống như thế nào cho phải đạo làm người. Bởi vì ai, cũng muốn đời sau sống bình yên hạnh phúc mà có tất cả tiền tài và danh vọng thì chúng ta phải giữ gìn năm điều đạo đức. Đó là chuẩn mực thước đo lòng người trong hiện tại và mai sau: không sát sanh hại vật, không gian tham trộm cướp lường gạt của ai, không tà dâm phi pháp, không nói dối hại người, không uống rượu say và hút chích xì ke, ma túy. Ai giữ được năm điều trên bảo đảm đời sau được sinh trở lại làm người có nhân cách và phẩm chất tốt đẹp. Chúng ta tu là để chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành được an vui hạnh phúc, làm tròn trách nhiệm bộn phận đối với gia đình người thân và phục vụ lợi ích cho xã hội.
Người không sát sanh hại vật thì đời sau sống thọ và ít bị bệnh hoạn. Người không gian tham trộm cướp thì đời sau không bị ai lấy cắp lường gạt. Người không tà dâm thì đời sau sẽ đẹp đẽ, đoan chính trang nghiêm ai thấy cũng mến thương. Người không nói dối hại người thì đời sau nói năng lưu loát, nói ra mọi người đều tin theo không ai nghi ngờ gì hết. Người không uống rượu say, hút chích xì ke ma túy thì đời sau sanh ra thông minh sáng suốt, trí tuệ đầy đủ. Như chúng ta đã thấy, chỉ cần tin sâu nhân quả và giữ giới đầy đủ trọn vẹn thì ta sẽ có một tương lai tốt đẹp mà khỏi cần phải cầu khẩn van xin một ai. Còn những ai không tin sâu nhân quả và kiếp luân hồi tái sinh thì đâu có biết tu, nên đời sau họ sẽ đau khổ lầm mê.
Một người biết giữ gìn năm giới và tất cả mọi người đều giữ giới thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc, làm gì có chiến tranh binh đao tàn sát giết hại lẫn nhau. Nhà nào có người bị vướng vào tệ nạn xã hội thì trộm cướp hoặc rượu chè be bét và hút chích xì ke ma túy thì đó là họa lớn làm tổn hại cho mình và người.
Cho nên người Phật tử chân chính sẽ không làm phiền luỵ đến một ai và con đem lại hạnh phúc cho gia đình người thân và giữ gìn tốt an ninh trật tự cho xã hội.
Chúng ta nhờ tin lời Phật dạy, nên quyết tâm ứng dụng và hành trì theo kết quả mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống. Qua đó chúng ta mới thấy lời Phật dạy là chân lý nhiệm mầu luôn giúp cho mọi người biết sống yêu thương nhau bằng tình người trong cuộc sống.
TIN CHƯ TĂNG VÀ BIẾT CUNG KÍNH
Thứ ba là tin Tăng tức là những người vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn cho mọi người biết cùng tu học. Tăng là những người hiến trọn đời mình cho mục đích trên cầu thành Phật dưới cứu độ tất cả chúng sinh. Nhờ có chư Tăng ni thay Phật truyền đạt lời dạy của Ngài, khiến chánh pháp được mở mang rộng rãi giúp nhiều người sống tốt hơn. Nhờ vậy, những ai tiếp thu được Phật pháp nên sống bình yên hạnh phúc hơn và sẵn sàng chia vui sớt khổ trên tinh thần vô ngã vị tha. Nhưng Tăng có nhiều loại, đại khái lược lại có ba loại:
Bồ tát Tăng, Thanh văn Tăng và phàm phu Tăng. Đây là Tăng bảo chân chính xứng đáng được mọi người y chỉ tu học và tôn kính cúng dường. Phật dạy đối với Tam bảo Phật, Pháp, Tăng ta phải kính tin trọn vẹn. Phật thì tuỳ duyên giáo hoá cứu độ chúng sinh vượt thoát biển khổ sông mê và đã nhập Niết bàn, nay chỉ còn lại lời dạy vàng ngọc của Ngài. Còn Tăng là những người kế thừa sự nghiệp của Phật hiến trọn đời mình vì lợi ích nhân loại. Nhưng ta tin Tăng mà không thần tượng quá ông thầy của mình, vì thần tượng dễ sụp đổ và dễ dàng đả phá công kích người khác vì thấy thầy mình nhân cách đạo đức hơn người.
Tăng phàm phu là những người chân thật, vừa học vừa tu vừa hướng dẫn mọi người nguyện hiến đời mình cho lý tưởng giác ngộ, giải thoát. Giúp mọi người bớt khổ, thêm vui, tránh ác làm lành với tinh thần thương yêu đùm bọc san sẻ cho nhau nhằm chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc trong từng phút giây.
Tuy phàm phu Tăng vẫn còn nhiều khiếm khuyết chưa thành tựu đạo quả, nhưng nhờ học hiểu tu tập tới đâu thì đem ra hướng dẫn mọi người tới đó. Cho nên ai phát tâm cúng dường phàm phu Tăng vẫn được phước báo vô lượng vô biên. Nhưng đối với Tăng bảo trong thời đại hiện nay chúng ta cần phải tìm hiểu và chọn lọc. Tại sao? Bởi vì thời đức Phật còn tại thế, Ngài biết căn cơ, trình độ căn tánh của mọi người, nên khi đi giáo hóa gặp ai có cơ duyên, Ngài dạy xong họ nhận hiểu và ứng dụng rất mau ngộ đạo. Vì vậy thời Phật trực tiếp giáo hóa Tăng Ni cũng như Phật tử được gọi là thời chánh pháp, một trăm người tu thì một trăm người ngộ đạo.
Thực tế, trong cuộc đời này, phàm phu Tăng là số đông gần gũi với chúng ta nhất. Phàm phu Tăng chân thật tu hành, thuyết pháp độ sinh mang tinh thần Thánh Tăng bồ tát và Thánh Tăng thanh văn, đem đạo pháp vào đời cũng bắt đầu từ phàm phu Tăng. Và phàm phu Tăng là số đông đang tu học nên quý Phật tử dễ tiếp cận và gần gũi hơn, do đó mọi người vẫn học hỏi được những điều hay lẽ phải để áp dụng tu tập vào trong đời sống hằng ngày.
Nhiều khi chúng ta rất mâu thuẫn, khuyên nhũ mọi người chuyển hoá lòng tham hoặc không nên uống rượu, hút thuốc mà bản thân mình lại uống hút liên miên. Như vậy mình dạy người ai tin được? Cho nên buộc lòng chúng ta phải chọn lọc, tìm hiểu cho kỹ càng chứ không nên nghe ai nói sao tin vậy. Do đó, chúng ta phải dè chừng cẩn thận nếu chúng ta dễ tin mà không tìm hiểu chính chắn vô tình làm cho Tăng bảo bị mất giá trị và ảnh hưởng không tốt đến sự tu tập cho nhiều người.
TỰ TIN CHÍNH MÌNH
Kế đến, ngoài việc tin Tam bảo Phật dạy chúng ta phải tự tin nơi chính mình. Tin mình là tin cái gì? Tin ta có đủ khả năng thay đổi hoặc chuyển hóa những nghiệp nhân xấu ác trở thành nghiệp thiện lành tốt đẹp. Mình tin rằng mình có khả năng bỏ được những hành động xấu và cố gắng làm những điều hay lẽ phải để giúp người cứu vật.
Như trước kia khi chưa biết tu quý Phật tử trực tiếp giết hại những con vật như gà vịt bò heo để nuôi sống gia đình. Bây giờ biết tu, mặc dù vẫn ăn thịt cá nhưng chỉ mua ăn những con đã chết hoặc làm sẵn, như vậy là chúng ta biết chuyển nhân giết hại. Tự mình thấy được sự tác hại của nó, sát sinh hại vật là nhân gây thù chuốc oán làm khổ đau cho người và vật. Ý thức được sự giết hại là khổ đau ta quyết tâm từ bỏ thì bỏ được, chớ đâu ai bỏ thế cho mình được.
Thật vậy, ai tin nhân quả tức cũng là tin vào chính mình. Ta tin rằng khổ đau hay hạnh phúc đều do chính mình tạo lấy từ những suy nghĩ, nói năng rồi dẫn đến hành động. Đạo Phật không tin vào một đấng thần linh thượng đế hay tạo hóa nào có quyền ban phước giáng họa trên thế gian này.
Cho nên kinh nói ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào đã làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy. Do đó, tin nhân quả là tin rằng, thành Phật hay thành chúng sanh, sống cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau, sang hay hèn, phú quý hay bần tiện… đều tùy thuộc vào chính bản thân mình có tu tập hay không tu tập mà thôi. Nhận rõ được quả báo hành vi, ngôn ngữ và ý niệm của chính mình như vậy, chúng ta sẽ không oán trách trời đất, phiền muộn gia đình và xã hội, ta chỉ biết tự trách mình. Trái lại, chúng ta sẽ tích cực tu tâm dưỡng tánh, làm sao cho mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn, để cuộc đời được tươi sáng, gia đình hạnh phúc hơn.
Nếu chúng ta tin tưởng ở chính mình có khả năng thay đổi được các nghiệp nhân xấu ác và các thói quen nghiện ngập thì ta sẽ trở thành người tốt trong hiện tại và mai sau. Ngược lại, nếu ta không tin nơi chính mình, cứ đổ thừa tại bị thì là mà không can đảm vượt qua để rồi phải chịu ghiền suốt đời suốt kiếp. Cho nên niềm tin nơi chính mình rất quan trọng, nó đòi hỏi chúng ta phải có quyết tâm cao độ và nhận thức rõ ràng về sự tác hại của nó, nhờ vậy giúp ta thăng tiến trên con đường tu tập mà cố gắng vượt qua cạm bẫy cuộc đời.
Đó là ta đã tự tin chính mình để chuyển hoá những thói quen bên ngoài tin như vậy cũng chưa đủ, ta còn phải tin mình có tính biết sáng suốt ngay nơi thân này, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy mà không khởi niệm phân biệt đẹp xấu sự vật như thế nào thì ta thấy biết rõ như thế ấy, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.
Như vậy ai cũng có Phật tính thanh tịnh sáng suốt mà hay chiếu soi muôn loài vật cho nên thấy biết, nghe biết, ngửi biết, nếm biết, thân xúc chạm nóng lạnh biết và ý biết tất cả. Khi chúng ta tu, biết cách chuyển hoá và buông xả thì tâm hoàn toàn thanh tịnh do đó, trí tuệ sáng suốt sẵn có phát ra. Trí tuệ ấy vượt ngoài tất cả hiểu biết thông thường của thế gian, nên Phật gọi là vô sư trí, tự nhiên trí hay căn bản trí. Chúng ta có trí vô sư, có trí căn bản, có trí tự nhiên, nhưng không chịu tin nhận nên đành phải chịu sống trong đau khổ lầm mê.
Đức Phật là một con người, chúng ta cũng là con người, đức Phật có sẵn trí vô sư, trí tự nhiên, trí căn bản, chúng ta cũng có đầy đủ như Ngài. Vậy tất cả mọi người có tin không? Nếu không lòng tin của chúng ta còn yếu quá, bởi thế mình tu hoài mà không thấy giác ngộ. Nếu chúng ta vững niềm tin nơi chính mình, khẳng định mình cũng sẽ giác ngộ như Phật trong nay mai, thì ta mới mong thực hiện được nguyện vọng cao cả ấy trên cầu thành Phật dưới cứu độ tất cả chúng sinh.
Ở thế gian, các nhà khoa học hoặc bác học, khi muốn nghiên cứu một đề tài gì, họ phải dồn hết cả tâm lực vào đó, có khi quên cả vợ con, quên cả tắm rửa, quên cả ăn uống dồn sức đi sâu trong vấn đề đang nghiên cứu. Nhờ dồn sức mãnh liệt như vậy, qua một thời gian bỗng dưng họ sáng lên gọi là phát minh. Như vậy có ai dạy họ phát minh không? Tự họ sáng ra do tâm thanh tịnh sáng suốt và chuyên nhất, không tạp loạn.
Đó là trí vô sư đã sẵn, nhưng trước kia họ lo học, lo tìm kiếm, lượm lặt bên ngoài nên trí ấy không thể phát ra được. Bây giờ họ trở lại chuyên tâm dồn sức để phát huy trí tuệ của mình, do đó nó phát ra. Điều này chứng tỏ chúng ta ai cũng có sẵn trí vô sư, nhưng vì mình không chịu nhận mà lãng quên nên không dùng được rồi tự cho mình ngu si, mê muội.
Phật dạy:“Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Như vậy tất cả chúng ta đều có chủng tử, có nhân duyên sẽ thành Phật. Người tu quyết chí đi tới giác ngộ viên mãn, chớ không phải tu cầm chừng cho có, thì nhất định sẽ thành Phật trong tương lai.
Chúng ta đến với đạo Phật không phải để cầu khẩn van xin, không phải để nương tựa thần quyền hay đấng tối cao nào khác mà ta phải biết nương tựa chính mình, hoạ hay phúc từ ta mà ra. Niềm tin trong đạo Phật hướng về những điều mà Đức Phật đã giác ngộ, đó là duyên sinh, nhân quả nghiệp báo, là vô thường, khổ, không, vô ngã… Nếu chúng ta xây dựng niềm tin không vững chắc, hoặc niềm tin có được trên cơ sở nhận thức cảm tính mà không xuất phát từ lý trí, từ kinh nghiệm thực tiễn thì sớm muộn gì niềm tin ấy cũng bị đổ vỡ.
Người ta dễ dàng bỏ đạo, thay đổi thái độ, quan điểm cũng chỉ vì niềm tin không vững chắc và kiên cố, do không có sự tìm tòi cân nhắc và do tham muốn quá đáng. Người ta dễ dàng bị lôi cuốn, tha hóa, chạy theo tà đạo, rơi vào mê tín dị đoan, làm điều bậy bạ cũng vì không có niềm tin chân chính lâu dài.
Ngoài ra còn một điều hết sức quan trọng là lòng tự tín của người Phật tử. Đây là niềm tin căn bản nhất không thể thiếu. Lòng tự tín là lòng tin vào khả năng giác ngộ của chính mình, tin rằng mình sẽ thành Phật nếu ta biết cách nỗ lực tu hành. Bởi sự giác ngộ là tự mình giác ngộ chứ không ai có thể giác ngộ thay thế cho ta, vì thế nếu không có lòng tự tin thì chúng ta không cố gắng nỗ lực bền bỉ và lâu dài.
Tóm lại niềm tin căn bản trong đạo Phật là niềm tin Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng và niềm tin chính mình, ta tin vào khả năng giác ngộ của chính mình, tin mình có thể đạt đến chỗ hoàn toàn giác ngộ, giải thoát. Một khi có niềm tin nơi Tam bảo là những gì được xem là chân lý, là thánh thiện thì con người sẽ phấn đấu hướng đến những gì tốt đẹp nhất để đạt được mục tiêu an lạc hạnh phúc trong hiện tại và tương lai, cũng như con thuyền đã xác định phương hướng, đã có bến đỗ.
Phật ngày xưa khi chưa thành tựu đạo pháp, nhưng nhờ có niềm tin đã khơi dậy được tánh giác nên Ngài thành Phật, còn chúng ta có tánh giác mà chưa chịu nhận cho nên ông Phật của mình còn ngủ quên, chớ không phải không có. Bây giờ nếu khéo tu, khéo chuyển chúng ta sẽ thành Phật, giác ngộ như Ngài trong nay mai.
Có nhiều người cứ nghĩ rằng mình đủ thứ mê muội, nhiều tội lỗi, đủ thứ xấu xa dễ gì thành Phật. Nhưng Phật đã mở ra một con đường sáng để cho chúng ta có đủ niềm tin mà tu hành. Bởi vì chư Phật luôn muốn chúng sanh được giác ngộ, chớ các Ngài không muốn chúng ta chìm mãi trong biển khổ sông mê.
Quí vị khi nào được năm ba phút không nghĩ việc này, việc nọ hay không, được như vậy sẽ thấy trong đầu mình thảnh thơi sáng suốt và an lạc vô cùng. Chúng ta càng suy nghĩ, tính toán càng thêm rối rắm, càng suy nghĩ càng bị căng thẳng cho nên dễ bị bệnh thần kinh. Cũng như muốn cho nước trong mà ta cứ quậy hoài thì biết bao giờ nước mới trong được. Cũng vậy, tâm chúng ta lăng xăng điên đảo, cuồng loạn, hết nghĩ cái này lại tính cái kia vì sợ bị mất mát thiệt thòi. Bây giờ biết tu rồi phải ngồi lại nhìn nó, thấy được từng tâm niệm lăng xăng chạy đôn, chạy đáo, chạy ngược chạy xuôi, biết nó là vọng tưởng buông bỏ không theo, nhờ vậy dần hồi nó bớt loạn động.
Muốn vượt ra ngoài biển khổ sông mê chúng ta phải giác ngộ, giải thoát hoàn toàn mới được. Như hiện giờ trong tâm mỗi người quí vị sẽ nhớ cái gì nhiều nhất? Chắc chắn là không ngoài hai niệm thương và ghét, thương nhiều cũng nhớ hoặc ghét nhiều nhớ hơn, phải không quý vị?
Vì hai niệm thương ghét này mà làm cho chúng ta phải đau khổ hoài, thương mà không được gần cũng khổ, ghét mà gặp nhau hoài càng khổ hơn. Như vậy trong lòng mình cứ luôn chất chứa cái thương cái ghét, cái buồn cái giận, và đủ thứ hết. Những thứ đó là nhân sẽ đưa chúng ta đi trong luân hồi sanh tử, gặp lại nhau để đền trả mãi không thôi.
Nhà Phật gọi thương nhiều là ái tức là yêu thích, từ ái sẽ dẫn tới luyến lưu trong đời này và đời sau gặp lại nhau tiếp. Ghét nhiều là tắng tức là bực tức thấy mặt là không ưa rồi, cũng là nhân dẫn tới đời sau gặp lại nhau. Muốn không nằm trong cái vòng lẫn quẫn thương ghét đó ở mai sau nữa, thì chúng ta phải dứt lìa hai niệm thương ghét đó.
Do không tỉnh giác hoặc thói quen tập khí quá sâu dày, cho nên chúng ta cứ ôm ấp những nhân đau khổ, vì vậy đời này khổ, đời sau càng khổ hơn. Thế cho nên Phật dạy chúng ta tu là phải ngăn ngừa từ nhân, chừa bỏ những niệm xấu ác để đời sau có mặt trên thế gian không gặp phiền muộn khổ đau nữa. Đó là ta biết tu và có niềm tin nơi chính mình.
Người Phật tử chân chính phải tập làm chủ bản thân ngay nơi từng ý niệm của chính mình. Một niệm vừa khởi lên ta tìm cách chuyển hoá bó hoặc không bám víu theo thì tự động nó sẽ lặng xuống cho đến khi nào tâm tư mình lắng trong thanh tịnh sáng suốt, được như vậy ta mới sống đời giác ngộ, giải thoát.
Đức Phật dạy: “Chiến thắng vạn quân không bằng thắng mình. Thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất”. Cho nên làm chủ chính mình mới là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng.
Người Phật tử chân chính phải cố gắng nỗ lực, quyết tâm chuyển hóa từ ý nghĩ cho đến lời nói, hành động, làm sao chuyển hóa nghiệp xấu ác trở thành an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Để rồi chúng ta sẽ từng bước chuyển từ một phàm phu trở thành Thánh nhân. Đó là quyền của mình, ai cũng có thể làm được, ta phải tin chắc như vậy. Gốc của sự tu hành chính là tin nơi khả năng giác ngộ của mình, tin nơi trí tuệ sẵn có của mình, Phật có ta cũng có, vì Phật là con người ta cũng là con người.
Vọng tưởng
1- Niềm tin phát khởi do thấy biết rõ ràng. Và mọi thứ
Sao gọi là thấy biết rõ ràng, thế gian thấy cuộc đời là vui Phật dạy cuộc đời là khổ, nhưng khổ ở đây là do con người si mê vọng động tạo nghiệp mà phát sinh.Phật dạy: sinh già bệnh chết là khổ đó là một sự thật của kiếp người. Già là khổ. Vì sao già lại khổ? Hiểu biết nhận thức giảm sút, mắt mờ tai điếc, đi đứng lọng cọng, gối mõi lưng còng, ăn uống khó khăn…. già như vậy quả thật là khổ.Rồi sao nữa bệnh là khổ, quý vị nào có vào bệnh viện sẽ thấy từ em bé sơ sinh cho đến người già bệnh mà không đủ chỗ nằm thậm chí phải nằm ngoài hành lang. Chết là khổ. Ai cũng tham sống sợ chết muốn sống dai, sống già, sống thọ cho nên nhiều người tìm cách để luyện trường sanh bất tử nhưng cuối cùng rồi ai cũng phải chết. Và chết là một sự thật không tha bất cứ một ai, dù là đức Phật cũng phải xả thọ mạng này khi hết duyên đời. Mình muốn sống hoài mà không không được, cho nên nếu ai không biết tu gần chết rất khổ sở vì không biết mình sẽ đi về đâu.
2 - Niềm tin có từ sự suy nghiệm: Có nhiều người nói rất khoa học: cái gì thấy tôi mới tin, không thấy thì không tin. Câu nói đó đúng, nhưng chỉ trong giới hạn một chừng mực nào đó mà thôi. Có bệnh nhân nào thấy vi trùng lao không? Ngay cả bác sĩ chữa bệnh lao có thấy vi trùng lao không? Thực sự chỉ có những nhà nghiên cứu về vi trùng lao mới thấy và biết rõ về vi trùng lao. Bác sĩ có thể chữa lành bệnh lao là do có kinh nghiệm về bệnh ấy, nên bác sĩ nói thì bệnh nhân sẽ tin. Niềm tin này là do sự suy nghiệm mà phát sinh.
Có vị hỏi: có thế giới Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà không? Lời Phật dạy: có cái này thì có cái kia, có thế giới này thì có thế giới kia. Cho nên, có thế giới Ta Bà thì có thế giới Tịnh Độ, có Phật Thích Ca Mâu Ni, thì có Phật A Di Đà. Có Phật ở cõi này thì có Phật ở cõi kia. Có Nam bán cầu thì có Bắc bán cầu, có Đông thì có Tây, có trên thì có dưới, rõ ràng như vậy thôi, có gì là khó hiểu !
Thực ra, không phải chỉ có thế giới Tịnh độ của đức Phật A Di Đà, mà còn có vô số thế giới Tịnh độ ở phương Tây.Cảnh giới Tịnh độ của đức Phật A Di Đà chỉ là một trong vô số cảnh giới Tịnh độ ở phương Tây mà thôi. Các phương khác cũng vậy. Ngay ở thế giới Ta bà này cũng có vô số thế giới Tịnh độ, chứ đâu phải chỉ toàn là khổ đau thôi đâu.
Có những gia đình nghèo khổ tan tác toàn mặc áo rách áo vá, nhưng cũng có những gia đình người ta sống rất hạnh phúc. Có những người đụng đâu khổ đó, đụng đâu bất mãn đó, nhưng cũng có những người rất là an lạc thảnh thơi.
Chính vì vậy, niềm tin phải được soi rọi bằng trí tuệ, thì niềm tin đó mới không bị lung lay. Niềm tin phát sinh bằng sự suy nghiệm, tức là từ sự biết học hỏi và từ sự biết lắng nghe. Biết lắng nghe rồi, lại phải biết chiêm nghiệm và sau khi chiêm nghiệm rồi, lại phải biết áp dụng vào trong đời sống.
3-Niềm tin phát sinh từ sự thực nghiệm: Nghe, chiêm nghiệm, rồi đem áp dụng vào đời sống của mình. Nhờ sự thực tập đời sống mỗi ngày mà niềm tin được lớn mạnh và bản thân mình cũng lớn mạnh theo với niềm tin đó. Ví dụ, người bị bệnh, biết bệnh, chẩn đoán trúng bệnh, sắc thuốc uống rồi thì bệnh lành.
Chúng ta phải tu tập hàng ngày để niềm tin của chúng ta ngày mỗi lớn mạnh, trí tuệ ngày mỗi sắc bén và sâu thẳm hơn. Nếu niềm tin không lớn lên từ sự thực tập, thì trí tuệ làm sao có. Chúng ta cần có trí tuệ chứ không phải là trí thức quý vị ạ. Trí thức khác trí tuệ một trời một vực. Có trí thức mà không có trí tuệ vẫn khổ đau, và vẫn chưa vượt ra khỏi cái tầm thường của thế tục, dù họ có cả chục bằng tiến sĩ đi nữa. Vì vậy, tu tập là nuôi dưỡng đức tin, để từ đức tin đó, trí tuệ được phát sinh. Vừa rồi quý vị xem tivi có biết trường hợp một ông giáo sư tiến sĩ lại làm tình với một em bé 13 tuổi 4 tháng. Học hành cho đến học vị tiến sĩ, được xã hội công nhận là trí thức, nhưng có vượt ra khỏi cái dục vọng tầm thường phi luân lý như vậy đâu! Cho nên, trí thức chưa là cái gì cả, trí thức không đủ khả năng chế ngự được dục vọng, mà chỉ có trí tuệ mới có khả năng làm thay đổi cái thấp kém và nâng cái thấp kém đó đi lên. Người Phật tử không ham cầu trí thức, người Phật tử nếu có mơ ước thì mơ ước có được trí tuệ. Trí tuệ đó có gốc rễ từ niềm tin, phát sinh do sự thực tập giới và định. Niềm tin phát xuất từ sự thực nghiệm và trí tuệ, mới là niềm tin đích thực, bởi vì niềm tin đó có khả năng chế ngự dục vọng.
Một người nữ có thể họ không học trường lớp nào cả, nhưng họ có niềm tin sâu sắc đối với Phật Pháp Tăng. Họ sống cuộc đời rất đẹp, đẹp lắm và những hành xử của họ rất dễ thương mà một đôi khi người có hai, ba bằng tiến sĩ cũng không thể so sánh bằng được. Có vị Phật tử sống trong gia đình với người giúp việc, khi dọn cơm lên người giúp việc bưng chén kiểu bị té, và vị đó đã không la đứa bé đó, vị đó chỉ hỏi: “Con có can gì không? Chén bể không quan trọng, con không can chi là tốt rồi!”
Để có được hành xử như vậy phải là người có trí tuệ, trí tuệ có được từ niềm tin tam bảo. Trong trường hợp đó, nếu những người có trí thức mấy đi nữa, nhưng không có được niềm tin thì sẽ hành xử cách khác, có thể người đó bước tới và tát tai em bé và mắng: “Đồ vô ý vô tứ, cái chén người ta quý như thế đó mà để cho bể.” Thực sự, cái chén đâu quý bằng con người. Con người đang bị té, đang đau nằm đó không hỏi, lại đi hỏi cái chén đã bể chưa! Hỏi như vậy thuộc về những người tranh danh đoạt lợi tầm thường giữa đời, chứ không thuộc về người có niềm tin. Một người có đức tin trong sáng và từ đức tin trong sáng đó trí tuệ phát sinh, người đó có đời sống rất đẹp, đẹp vô cùng. Người có niềm tin và trí tuệ phát sinh từ sự thực nghiệm, là người biết áp dụng lời Phật, lời Tổ và lời các bậc Thánh hiền trong đời sống hàng ngày của mình. Nhìn vào dáng đi, cách ngồi, cách nói cười, mình có thể biết được người đó có niềm tin và trí tuệ hay không, mà không cần phải hỏi người đó học trường lớp nào, học ngang đâu.
4-Niềm tin phát sinh từ lời nói của các bậc Thánh trí: Là người phàm tục, mình đâu có biết vô thường là gì nên mọi việc mình đều cho là thường hết. Phật dạy: “Các pháp vô thường, thế gian vô thường, chế độ chính trị nào cũng dễ sụp đổ.” Cái biết đó là cái biết của Phật, của Tổ, của Thánh hiền. Mình tin vào lời dạy của quý ngài mà ra sức thực tập, khởi tâm buông xả, tâm không bám thủ vào bất cứ cái gì, nhờ đó mình có được hạnh phúc, an lạc.
Đối với phàm tục, ta nhìn cái gì cũng thấy thường cả. Làm ra cái nhà mình nói cái nhà của mình là thường, nhưng thực ra cái nhà của mình cũng là vô thường thôi à. Nay chủ này, mai chủ khác, bản thân cái nhà rồi cũng sẽ sụp đổ, bởi vì vô thường là tự tính của vạn hữu. Không ai làm cho mình chết, nhưng rồi tự mình cũng phải chết, vì cái vô thường nó thuộc về ở nơi mỗi chúng ta. Chúng ta biết được như vậy là nhờ Phật, nhờ Tổ, nhờ các bậc Thánh trí nói lại. Chúng ta tin như vậy, thực tập như vậy, và hành xử đúng như vậy, cho nên chúng ta là những người có niềm tin và trí tuệ. Đối với thế gian này, có những người đến gần chết rồi mà vẫn còn ôm nhà ôm cửa, ôm bạc ôm tiền. Họ nói không được nữa, mắt họ cũng không còn thấy gì nữa, nhưng tay họ thì cứ mò mẫm nắm bắt. Hạt giống chấp thủ là hạt giống lâu đời, lâu kiếp, nó tàng trữ trong tâm thức và chúng luôn luôn biểu hiện theo nghiệp chủng vậy.
ý thức được vô thường và nói ra trên mặt ngôn ngữ, chưa quan trọng, ta phải ý thức được sự vô thường đó bằng chính sự thực tập của mình. áp dụng sự hiểu biết về vô thường trong đời sống của mình, tức là người đó có đời sống vô trú, không bám víu bất cứ đối tượng nào và bất cứ cái gì. Nó đến thì chấp nhận nó đến, nó đi thì chấp nhận nó đi, đón nhận cái đến, cái đi một cách rất bình thản. Thực tập được như vậy mới là người có niềm tin và trí tuệ. Niềm tin và trí tuệ đó do cái thấy mà phát khởi, do suy nghiệm mà phát khởi, do thực tập mà phát khởi, do nghe lời dạy của chư Phật, của chư Tổ, của các bậc thánh hiền, của các bậc thiện tri thức mà mình phát khởi.
Biết như vậy, thấy như vậy, sống như vậy, hành xử như vậy, đó là công trình thực tập niềm tin và trí tuệ.
Có người nông dân giỏi làm ruộng, khi mùa gặt đến ông ta gặt hái được hơn hai trăm thùng lúa, chất đầy cả nhà, nhưng công sức bỏ ra hết sức vất vả và khổ cực. Rồi khi có biến cố lụt lội, người nông dân giàu có ấy phải hì hục chuyển lúa lên cao, lỡ như giặc giã đến, họ cũng vất lúa đó mà chạy, có giỏi thì gánh đi vài thùng, chứ không thể gánh hết được.
Trái lại, cái giàu của người thành phố, họ có một hột xoàn bỏ trong túi thôi. Nhà cửa rộng thênh thanh, hột xoàn lại có giá trị gấp trăm nghìn thùng lúa, nhưng không ai biết. Khi cần họ bỏ hột xoàn vào trong chéo áo và đi như một người ăn xin vậy. Đi đâu thì đi, tới đâu an toàn thuận lợi thì bán ra mua nhà cửa,...
Cũng vậy, cái giàu có của người có đức tin, nhưng đức tin sai lạc với chánh pháp, không phải đức tin Đại thừa, cũng giống như cái giàu của người nông dân vậy.
Người giàu có đức tin Đại thừa tức là người biết rằng, mình có Phật tính. Đi đâu cũng phát triển và nuôi dưỡng Phật tính đó, thì ở đâu họ cũng có tịnh độ, ở đâu họ cũng có thân hữu, có bạn bè và ở đâu họ cũng gặp được Phật Pháp Tăng hết.
Đức tin của người Phật tử Đại thừa là đức tin vĩ đại. Trí tuệ của người Phật tử Đại thừa là trí tuệ vĩ đại, trí tuệ có gốc rễ từ niềm tin của Bồ đề tâm. Chúng ta phải tu tập làm sao để đức tin đó luôn có mặt trong đời sống của chúng ta.
- Con đường thực nghiệm:
Tôi rất thích bài thi kệ thiền tập sau đây:
ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nở hoa sen.
ý ta đang dong ruổi từ muôn vạn nẻo, ta đưa nó trở về với tâm duy nhất của mình trong từng giây phút của sự sống, thì bất cứ con đường nào ta đang đi, cũng đều là con đường của thiền hành cả. Ta đi với tâm an nhiên, với tâm có chánh niệm tỉnh giác, nên khi ta đi trên vạn nẻo đường của quê hương, thì vạn nẻo đường trên quê hương ấy, đều là vạn nẻo đường của thiền hành. ý bị trói buộc trong tam giới, nhưng mình đi với tâm an nhiên, bằng chất liệu của tâm chánh niệm tỉnh giác, thì tất cả nẻo đường trong tam giới cũng đều trở thành đạo tràng và thiền lộ. Hoa sen nở trong biển lửa là vậy. Mỗi bước đi làm gió mát trổi dậy, mỗi bước đi làm nở hoa sen, tức là sự giác ngộ có mặt trong từng bước chân đi và trong từng hơi thở của sự sống.
Bước chân chỉ là tiêu biểu thôi, chứ mỗi bước chân hay mỗi thế ngồi, mỗi thế đứng hay mỗi thế nằm, mỗi thế ăn hay mỗi hơi thở ra vào,... tất cả những cái đó, chúng ta đều phải thực tập sao cho tất cả đều nở hoa sen và những động tác đó phải là những động tác của niềm tin trí tuệ.
Vậy, xin quý vị hãy thực tập hết lòng trong mọi lúc, mọi nơi, để lúc nào cũng là lúc của an lạc, niềm tin và trí tuệ; để nơi nào cũng là nơi của niềm tin, an lạc và thảnh thơi. Chúng ta thực tập được như vậy, thì chắc chắn Tịnh độ không phải là một ước mơ, Niết bàn không còn là một sự hứa hẹn hão huyền và Phật không phải là một cái gì đó không thể đạt tới, mà tất cả đều có thể có mặt trong đời sống của chúng ta và chúng ta có thể đạt tới bây giờ và ở đây.
Sau khi thành đạo, Đức Phật ngạc nhiên khi nhận ra rằng: “Tất cả chúng sanh đều vốn có đầy đủ đức tướng của Như Lai”. Rồi Ngài tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Đó là sự khởi đầu của niềm tin trong Phật giáo. Niềm tin này hoàn toàn khác biệt với tín lý Bà la môn thời bấy giờ, vốn đã ăn sâu vào tận gốc rễ tâm hồn rằng con người được sanh ra từ đấng Phạm thiên hay Thượng đế, ở một chi phần nào đó trong cơ thể ngài, để rồi an phận trong cái giai cấp vô lý mà xã hội phân định, tin mọi khổ đau hay hạnh phúc của đời người đều tùy thuộc vào ý muốn của một đấng tạo hóa nào đó có quyền năng ban phước giáng họa…
Khác với niềm tin mù quáng đó, người Phật tử tin Phật là Đấng giác ngộ đã thành, được gọi là tín căn, một trong năm pháp tu gọi là Ngũ căn. Kinh Tương Ưng V, Đức Phật dạy: “Vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: Đây là Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật”. Tin như thế là hoàn toàn có cơ sở và kiểm chứng được. Đức Phật không bao giờ bắt buộc ai tin một điều gì mà không suy luận, không giải thích và không chứng nghiệm được. Ngài nói: “Ai tin Ta mà không hiểu Ta là phỉ báng Ta”. Rõ ràng, tin Phật mà không hiểu được, không biết được Đức Phật qua mười hiệu nêu trên thì có nghĩa là phỉ báng Ngài.
Tin Phật là Đấng giác ngộ đã thành không phải chỉ để tôn thờ, sùng kính, lễ lạy mà để thực hành tu tập theo Ngài, để mình cũng được thành Phật như Ngài, tức là tin vào khả năng thành Phật của chính mình. Điều này thì Khởi tín luận, khi trả lời câu hỏi người Phật tử phải tin vào điều gì, đã ghi: “Bốn sự tin thì một là tin căn bản, là thích thú nghĩ nhớ tâm thể chân như. Hai là tin Phật, rằng Ngài có công đức siêu việt, nên mình luôn luôn nghĩ đến sự thân cận, hiến cúng và tôn kính để phát sanh thiện căn, mong được tuệ giác hoàn hảo của Ngài. Ba là tin Pháp, rằng pháp ấy có lợi ích vĩ đại, nên mình luôn luôn nghĩ đến sự làm theo các pháp Ba la mật. Bốn là tin Tăng, rằng các vị ấy tu hành chân chính để tự lợi lợi tha, nên mong muốn gần gũi Bồ tát Tăng để cầu học sự tu hành đúng như sự thật”. Rõ ràng trong bốn sự tin, thì niềm tin nào cũng hướng chúng ta đến sự nỗ lực tinh tấn hay nương tựa vào chính hải đảo của tự thân để thành tựu “tự tánh Tam bảo”, đạt đến cứu cánh giải thoát. Đặc biệt, niềm tin căn bản phải là tin vào tâm thể chân như của chính mình. Tâm thể chân như chính là bản thể thanh tịnh của chúng sanh, ở đó, Tâm-Phật-Chúng sanh, cả ba đều đồng một thể, không sai khác.
Tâm thể chân như ấy là Phật tánh nơi ta và nơi mỗi chúng sanh. Vì vậy, Phật giáo tôn trọng tất cả mọi loài chúng sanh và tin rằng tất cả rồi sẽ thành Phật. Niềm tin ấy là cả một chân trời hy vọng, thương yêu và hướng đến xây dựng một thế giới hòa bình, nhất là kiến thiết nhân gian Tịnh độ. Bởi “chúng sanh vốn là Phật, dẫu cũng vốn có vô minh, nếu chúng sanh không vốn là Phật, thì tu hành cũng không thành Phật” (Kinh Viên Giác). Chính niềm tin này là động lực phát triển tâm từ, lòng thương yêu tất cả mọi người và mọi loài nơi mỗi chúng ta, tạo thành nguồn năng lượng cho cuộc sống tươi đẹp, lành mạnh, tràn đầy hy vọng và sự tin tưởng, tôn kính lẫn nhau dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Không phải tướng cướp Angulimàla đã tu tập và chuyển hóa thành A la hán Bất Hại, kỹ nữ Liên Hoa Sắc trở thành A la hán có thần thông đệ nhất trong hàng Ni chúng… đã cho chúng ta những niềm tin tươi đẹp đó sao!
Khởi tín luận “đã đưa chúng ta đến tột đỉnh của sự tự tín, xác quyết rằng chúa tể của ta chính là ta đây”. Niềm tin như vậy, đối với chúng sanh từ lâu đã tự đánh mất chính mình, bị mây mờ vô minh che lấp, quả thật là khó tin! Cho nên, đối với sự tu tập trong Phật pháp, nhất là sự tu tập đó nhằm đến mục đích giác ngộ thành Phật, niềm tin trở thành vô cùng cần thiết. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là căn nguyên của đạo, là mẹ của mọi công đức, nuôi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa vượt qua dòng nước ái dục, khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết bàn”. Vì vậy, niềm tin đó không gì khác hơn là tin vào chính mình, tin vào định luật Nhân quả, tin nguyên lý Duyên khởi, tin chân lý của cuộc đời là Tứ diệu đế.
Tin nguyên lý duyên khởi là do hiểu mà tin. Hiểu rằng mọi sự mọi vật trong vũ trụ vạn hữu đều nương vào nhau mà sanh khởi, tồn tại và hoại diệt. “Do cái này sanh nên cái kia sanh, do cái này diệt nên cái kia diệt”, vũ trụ vạn hữu đã tương tác lẫn nhau để đưa chúng ta ra đời. Làm sao chúng ta có thể nói rằng sự hiện hữu của chúng ta đây lại không có mặt của ngọn cây lá cỏ vô tình kia? Kinh Đoạn Tận Ái cho chúng ta biết, thân thể của con người gồm có nội thân và ngoại thân. Nội thân chính là bốn yếu tố đất (chất rắn), nước (chất lỏng), gió (hơi thở) và lửa (nhiệt lượng) trong cơ thể. Ngoại thân chính là yếu tố tứ đại bên ngoài chúng ta, tức là môi trường sống. Quả nhiên, bằng con mắt tuệ giác, chúng ta thấy, chứ không phải chỉ tin, trong cành cây ngọn cỏ kia đều ẩn chứa sự sống lung linh mầu nhiệm của chính bản thân mình (Một là tất cả, tất cả là một - Kinh Hoa Nghiêm). Sự hiểu biết này đã đánh tan mọi tư duy hữu ngã, nguyên do của khổ đau sanh tử luân hồi. Để đạt đến tuệ giác vô ngã, phải thấy mình với tha nhân là một, thấy mình với vũ trụ vạn hữu không tách rời nhau. Đây là tuệ giác giải thoát. Tình thương yêu sẽ tràn ngập thế gian này từ niềm tin trí tuệ đó. Và thế giới sẽ hòa bình, nhân gian sẽ thành Tịnh độ nếu ai cũng được giáo dục để có được sự tin hiểu này.
Không có sự hiện hữu nào lại không có nguyên nhân của nó. Sự thật hay chân lý của cuộc đời luôn luôn tồn tại theo hai cặp phạm trù: khổ-nguyên nhân của khổ và hạnh phúc-phương pháp đạt được hạnh phúc. Một sự thật như vậy cần có niềm tin mới thể nhập được hay chỉ cần có trí tuệ? Cả hai đều cần thiết. Bởi vì bốn sự thật cao cả này (Tứ diệu đế) bao hàm các giáo pháp như vô thường, vô ngã, tánh không, thật tánh… không thể chỉ hiểu và chấp nhận bằng tư duy và lý luận suông mà cũng cần phải có niềm tin. Cho nên, luận Đại trí độ mới nói: “Biển Phật pháp mênh mông nhưng có thể thâm nhập bằng tín”. Đức Phật cũng dạy: “Nếu đệ tử của Ta là hạng tuỳ tín tăng thượng, sau khi y vào minh tín, bằng tuỳ thuận pháp trí mà đạt đến cứu cánh” (Kinh Thắng Man). Nghĩa là, cũng có người nhờ vào tín tâm, nghe và tin những điều Phật dạy, rồi cứ y theo đó mà tu tập cho đến khi thấy được Thánh đế. Tuy nhiên, cũng có người sau khi nghe Phật giảng giải, đủ khả năng tự mình quán sát, phân tích, rồi theo đó mà tu tập để thấy được Thánh đế. Ở trường hợp này, Đức Phật khuyến khích: “Pháp của Ta là đến để thấy chứ không phải để tin”.
Cuối cùng, “Ví như nhà vua, tạo lâu đài nơi bên trong thành, xây đắp chắc chắn, khiến không thể hư nát; bề trong quốc gia yên ổn, bề ngoài ngự phòng giặc thù. Phật tử cũng vậy, phải kiên cố lòng tin tưởng Đức Như Lai, khi lòng tin đã vững vàng thì quyết không theo ngoại đạo, ác ma và ác thế gian. Ấy là đã xây dựng được lòng tin như lâu đài bền chắc. Là Phật tử phải bỏ điều ác, điều xấu mà tu các pháp lành (Kinh Trung A Hàm). Dù vậy, “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh mờ ám, người hiểu giáo lý mà không lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng đủ mới làm cội gốc tu hành (Kinh Niết Bàn). Vậy nên, là Phật tử, trước hết phải tự tín rằng mình đích thực là “Như Lai chân tử”, có quyền được thừa kế gia sản giàu có của ba đời chư Phật. Gia sản đó chính là giáo lý từ bi, giải thoát, an lạc… Xã hội dẫu còn tham nhũng, khủng bố, bạo hành xảy ra khắp nơi; một bộ phận thanh thiếu niên thì hư hỏng, mất gốc, tệ nạn ma túy, mại dâm; thiên nhiên thì ô nhiễm, thiên tai... đã khiến cho nhân loại phần nào đánh mất niềm tin vào cuộc sống. May thay, người Phật tử vẫn có cả một kho tàng giáo lý nhiệm mầu để cống hiến cho cuộc đời niềm tin yêu và hạnh phúc.
Niềm tin là sức sống của tất cả mọi người, tuỳ theo sự hiểu biết và thói quen của từng cá nhân mà mỗi chúng ta phải biết khôn ngoan sáng suốt chọn lựa. Niềm tin của người Phật tử là niềm tin phải đi đôi với sự nghiệm xét và nhận thức đúng đắn sau khi phát sinh trí tuệ. Niềm tin trong đạo Phật là chánh tín, tức niềm tin đó phải chơn chánh dựa trên nền tảng nhân quả. Dã sửa tới đây
Niềm tin trong đạo Phật là niềm tin trên cơ sở hiểu biết, trí tuệ. Đức Phật đã từng dạy: “Đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy từng được nghe nói đến, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được quảng bá rộng rãi, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do truyền thống để lại, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được kinh điển truyền tụng, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do một vị giáo chủ nói ra, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy đoán, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ do suy luận, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì mình thấy điều đó có lý, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều đó phù hợp với thành kiến, quan điểm nhận thức của mình, đừng nên tin bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy do thầy mình nói ra. Nhưng chỉ khi nào tự mình biết rằng những điều đó là không đúng, những điều đó không chính đáng, những điều đó bị người hiền trí phê phán, và khi chấp nhận, khi thực hành sẽ đưa đến tai hại và khổ đau thì các ngươi hãy từ bỏ những điều đó. Khi nào chính các người biết rằng những điều đó là chân chính, những điều đó không bị chê trách, những điều đó được người hiền trí khen ngợi, những điều đó khi được chấp nhận và thực hành sẽ dẫn đến an lạc hạnh phúc, thì các người phải nỗ lực mà thực hành” (Kinh Kalama, Tăng Chi Bộ kinh I).
Chúng ta theo đạo Phật vì thấy được giá trị lợi ích thiết thực của Phật pháp đối với đời sống con người và xã hội, thấy được những gì Đức Phật dạy là chân lý. Chúng ta nhận thấy đạo Phật không đơn thuần là một tôn giáo mà gồm thâu cả khoa học, triết học, đạo đức học, nghệ thuật sống… Chúng ta mộ Phật không vì hưởng ứng theo số đông hoặc vì tổ tiên ông bà chúng ta theo đạo Phật. Đức Phật dạy chúng ta chỉ nên tin vào những gì đem lại an lạc hạnh phúc cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai, đó chính là niềm tin chân chính và sáng suốt.
Niềm tin của người Phật tử, tức người đã quy y Tam bảo - quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng - thọ trì năm giới, thực hành đời sống tại gia tu hành, là niềm tin tuyệt đối vào Đức Phật, Phật pháp và Tăng già. Người Phật tử tin rằng Đức Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, có trí tuệ và phương tiện thiện xảo, Đức Phật có thể dìu dắt chúng sinh ra khỏi vòng vô minh lầm lạc, đạt đến an lạc, cứu cánh Niết bàn. Người Phật tử tin rằng Phật pháp là chân lý mà Đức Phật đã thân chứng, là phương pháp diệt khổ, là con đường đưa đến an lạc giải thoát. Phật tử tin rằng Tăng già là đoàn thể những người tiếp bước chư Phật đi trên con đường giác ngộ giải thoát và dìu dắt chúng sinh. Luận Đại thừa khởi tín có nói: “Lòng tin có bốn: Một là lòng tin cội gốc, nghĩa là luôn nghĩ pháp Chơn như. Hai là tin Đức Phật có vô lượng công đức, thường tưởng nhớ, gần gũi cung kính, cúng dường, phát khởi tâm lành để cầu Nhứt thiết trí. Ba là tin Pháp có nhiều lợi ích, thường nhớ tu hành cho rốt ráo. Bốn là tin Tăng hay tu hành hạnh lợi mình lợi người, thường gần gũi các bậc Bồ tát cầu học hạnh như thật”.
Niềm tin là một trong bảy tài sản của bậc Thánh (Thất Thánh tài). Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: “Niềm tin là mẹ sinh ra các công đức”. Bởi vì có niềm tin nơi Đức Phật, có niềm tin nơi Chánh pháp, nơi Tăng già, các bậc đạo sư thì mới quy ngưỡng và tín thọ, phụng hành giáo pháp đưa đến thành tựu phạm hạnh, an lạc giải thoát. Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật dạy: “Như người không có tay, tuy đến núi châu báu cũng không lấy được gì; người không có lòng tin, dù gặp Tam bảo cũng không ích gì”. Đức Phật lại dạy: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh si ám, người hiểu giáo lý mà không có lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng có đủ để làm cội gốc tu hành” (Kinh Niết Bàn). Thấy được giá trị lợi ích của Chánh pháp đối với cuộc đời, chúng ta phát khởi lòng tin, và nhờ niềm tin ấy mà nỗ lực thực hành Chánh pháp. Càng thực hành, càng áp dụng vào đời sống, càng được an lạc hạnh phúc thì niềm tin càng tăng trưởng và kiên cố thêm. Kinh Niết Bàn nói: “Lòng tin làm nhân cho nghe pháp và nghe pháp làm nhân cho lòng tin”.
Người Phật tử trên bước đường tu học cũng giống như một con thuyền đang lướt sóng trên biển, tức là phải gặp nhiều khó khăn gian khổ, nhiều chông gai thử thách. Nhưng khi con thuyền đã xác định rõ phương hướng, biết đích xác đâu là bờ thì chỉ còn nhờ vào sự nỗ lực và tài năng lèo lái con thuyền của người thuyền trưởng mà thôi. Người Phật tử cũng vậy, một khi đã có niềm tin vững chắc vào Tam bảo, vào tự thân, đã thấy rõ mục tiêu hướng đến, bằng sự tinh tấn nỗ lực sẽ mau chóng thành tựu, đạt được lý tưởng của mình. Nếu niềm tin không kiên cố, hoặc tin mà không có trí tuệ thì niềm tin ấy dễ dàng bị lung lạc bởi sự tác động của hoàn cảnh hay ngoại đạo, tà thuyết.
- Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: “Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán. Nếu sống và thực hiện các lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài” thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.
Đạo Phật không phải là một tôn giáo theo nghĩa những chân lý thần khải không thể kiểm điểm mà chỉ có thể tiếp nhận bằng đức tin. Đạo Phật trước hết là những phương tiện chỉ dẫn thực nghiệm tâm linh để khám phá thực tại. Kinh sách có giá trị như những đồ biểu hướng dẫn và phương pháp thiền quán có giá trị như một con tàu để đưa người hành giả tới bến bờ hiểu biết và để thực hiện sự hiểu biết ấy trong sự sống bản thân và sự sống xã hội. Chữ budh có nghĩa là hiểu biết do đó có chữ buddha, người hiểu biết, và sau này chữ buddhism, con đường của sự hiểu biết. Hiểu biết ở đây không phải là cái hiểu biết sách và kinh điển mà là bản thân của chính thực tại hiện rõ dưới khả năng trí tuệ bát nhã (prajna) chỉ có thể đạt đến do công phu tu tập thiền quán. Người Phật tử không khởi hành bằng một mớ vốn liếng kiến thức siêu hình không có nền tảng thực nghiệm, mà bằng những nhận thức được thực nghiệm bảo đảm.Người Phật tử không bắt đầu bằng một đức tin có tính cách may rủi mà bằng một sự cân nhắc cẩn thận những nguyên lý và những phương pháp do đạo Phật đề nghị. Đạo Phật mời con người thí nghiệm những phương pháp của nó: điều này chứng tỏ đạo Phật khác hẳn các tôn giáo mà trong đó ý niệm về "theo thử" được xem như là bất tín và phạm thượng.
Theo nguyên tắc đạo Phật, một cá nhân nào đó khi muốn bứơc vào con đường thực nghiệm, phải khảo sát những nhận thức mà đạo Phật xem như là căn bản, rồi khi đã chấp nhận những nhận thức ấy thì kiểm điểm lại nguyên tắc thực hành rút ra từ những nhận thức kia. Khi đã kiểm nhận kỹ lưỡng rồi, cá nhân ấy mới bên bước vào con đường thực nghiệm với thái độ cương quyết nhưng hết sức tỉnh táo, khách quan. Nếu sự thực nghiệm không mang lại kết quả thì phải bắt đầu trở lại, và nếu quả thực phương thức đề nghị không thích hợp thì phải bỏ đi để chọn một phương thức khác.
Tuy nhiên không phải người Phật tử nào cũng đi được con đường đó. Có những người mà vì căn cơ yếu đuối hơn nên phải chọn một trong những con đường thi thiết của đạo Phật; chữ thi thiết đây có nghĩa là những phương tiện thích hợp với căn tính của những người không đủ sức một mình một ngựa xông pha trên đường thực nghiệm. Và cũng vì vậy trong tám vạn bốn ngàn nẻo vào chân lý, có những nẻo để dành cho đức Tin. Giáo lý Tịnh độ chẳng hạn, là một giáo lý căn cứ trên đức Tin và thích hợp với một số người không phải nhỏ. Và số người nhờ cửa ngõ Tịnh độ để bước lên ngưỡng cửa Thiền cũng không phải là không đáng kể.
Tuy nhiên vì đạo Phật luôn luôn chú trọng thực nghiệm và lý trí nên đức Tin của người Phật tử không phải là một đức tin vô điều kiện. Theo sự tiến hóa của tâm linh, đối tượng của niềm tin càng ngày càng thay đổi, biến chuyển để đi đến sáng tỏ. Và khi đối tượng của tin tưởng trở thành sáng tỏ thì chủ thể tin tưởng cũng đã trở nên vững chãi và sáng tỏ lắm rồi. Tin ở đây là một quá trình tiến bộ.
Niềm tin chân chánh đối với người Phật tử rất quan trọng và cần thiết, cho nên chúng ta cần phải suy nghĩ và thực tập cho được kết quả tốt đẹp.
Niềm tin là gì? Từ khi loài người có mặt trong thế gian này sống giữa trời đất bao la với hiểu biết và việc làm còn giới hạn nên thường hay lo lắng và sợ hãi. Bởi những suy nghĩ cạn hẹp khi họ tưởng tượng ra có một đấng tối cao toàn quyền ban phước giáng hoạ. Nhìn núi cao, họ tưởng ra vị thần núi, nhìn biển rộng bao la, họ nghĩ có thần biển đang cai trị ở đó và vô số vị thần có nhiệm vụ cai quản muôn loài vật ở thế gian. Đó là niềm tin của con người ở thời kỳ sơ khai, tin vào thế giới thần linh một cách tuyệt đối và chấp nhận giao phó số phận của mình uỷ thác cho thần linh sắp đặt, định đoạt.
Nhưng loài người chúng ta thật là diễm phúc có được nhân duyên tốt đẹp nên mới gặp được Tam bảo tức ba ngôi báu Phật, pháp, Tăng trên cõi đời này. Ngài cũng tiếp thu những truyền thuyết đương thời, trên nền tảng có suy xét, chọn lọc bằng sự tu tập của chính mình để khám phá ra thế giới thần linh đúng như thật.
Đức Phật dạy rằng niềm tin là mẹ sinh ra tất cả công đức lành, người không có niềm tin chân chính không tạo được công đức lâu dài. Do đó chúng ta tin như thế nào là niềm tin chân chánh để không rơi vào si mê, cuồng tín.
Niềm tin chân chánh được phát sinh sau khi có tu tập chuyển hoá nên khác với niềm tin mê muội, tà dại. Ngày xưa, người ta sợ trời đánh nên nghe tiếng sấm sét ta cho rằng có thần sấm sét, nhưng ngày nay khoa học đã phát minh nên có cột thu lôi, không bị sét đánh, rõ ràng là chẳng có ông thần sấm sét nào cả hiện thân trên cõi đời này.
Đức Phật dạy rằng niềm tin chân chánh là niềm tin có trí tuệ cân nhắc. Vì thế, Đức Phật khuyên chúng ta đừng nghe những gì người khác nói, dù đó là truyền thuyết có từ nhiều đời. Nghe điều gì, chúng ta nên suy nghĩ, tìm tòi xem sự việc đó có thiết thực lợi ích hay không, vì khi ta muốn tin điều gì mà không có trí tuệ suy xét, không chứng minh được nguồn gốc của nó thì dễ rơi vào mê tín, dị đoan. Đức Phật cũng dạy chúng ta rằng đừng vội tin những gì được nhiều người tin theo. Nếu họ là nhà trí thức có đời sống đạo đức, nhân cách cao thượng được nhiều người quý mến kính trọng ta cũng phải suy xét cho kỹ càng giá trị lợi ích của họ. Niềm tin của chúng ta căn cứ trên những tiêu chuẩn như vậy là niềm tin chân chánh.
Chúng ta kết hợp niềm tin là mẹ sinh ra các công đức lành được trải nghiệm qua đời sống hiện thực, nếu không chúng ta sẽ phạm phải sai lầm đáng tiếc vì niềm tin mù quán và từ đó chúng ta cũng sẽ bị người lợi dụng niềm tin để làm các việc xấu ác. Khi niềm tin của chúng ta bị lợi dụng, chúng ta trở thành người cuồng tín si mê dại dột, nên mặc tình giết người vì nghĩ rằng sẽ được lên thiên đường hưởng phước báo tối cao. Phước đâu chẳng thấy, còn phải mang tội giết người tạo ra mối nguy hiểm cho xã hội.
Ngày xưa, khi con người chưa văn minh tiến bộ, nên thấy dường như có đấng quyền năng sắp đặt định đoạt số phận muôn loài vật, nhiều người thiếu hiểu biết do không suy xét, khảo nghiệm chính vì vậy mà rơi vào tình trạng si mê cuồng tín. Ngày nay, loại cuồng tín này cũng có phần suy giảm do sự tiến bộ của con người, nhưng mê tín dị đoan thì còn quá nhiều.
Chúng ta có niềm tin chân chính sau khi có sự thẩm xét bằng trí tuệ của mình nhờ vậy, niềm tin chân chánh không phải nhắm mắt tin càn ai bảo gì làm đó mà không có sự kiểm tra cân nhắc. Và chúng ta thấy lòng thương người của Đức Phật khi chưa tu đã thể hiện rõ trong cuộc sống của Ngài. Khi thấy Đề Bà Ðạt Ða bắn chim bị thương, đức Phật đã cảm nhận niềm đau của nó như là nỗi đau của chính mình. Nên ngài vội vàng cứu chữa cho con chim lành mạnh và trả nó về thế giới tự do bao la. Người có tình thương vô điều kiện như vậy, chúng ta đáng tin cậy dù chưa là Phật. Ngài không đòi hỏi gì ở ta, không buộc ta làm gì cho Ngài, mà chỉ sẵn sàng giúp ta, cho chúng ta sự bình an để sống, để vượt qua nỗi khổ niềm đau.
Trước tiên, Đức Phật đem đặt Ngài vào hoàn cảnh của Sa môn; vì Sa môn đương thời là đối tượng chính của Phật trong việc độ sinh. Sa môn là người chán đời, bất mãn xã hội, họ đặt mình ra ngoài cuộc sống thế nhân. Họ tìm đường giải thoát, nhưng không có người nào hưởng được chút hương vị giải thoát cả.
Riêng tôi, cố gắng thực tập lời Phật dạy có kết quả tốt đẹp trên bước đường hành đạo, nên tôi tin Phật tuyệt đối. Và tiến tu giải thoát, tôi đọc kinh Pháp Hoa, thường suy nghĩ đến câu “Trong tam giới không có sinh tử”. Tam giới là thế giới sinh diệt, nhưng Đức Phật lại nói không có sinh tử, chỉ vì vô minh vọng kiến ngăn che, nên mọi người tạo tội sai biệt. Nói cách khác, con người tự làm khổ họ từ kiếp này sang kiếp khác, mãi mãi không chấm dứt.
Đức Phật thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài khẳng định rằng Ngài đã chấm dứt cuộc sống trầm luân sinh tử khổ đau và nhận ra sự thật không có sinh tử. Con người chỉ vì vô minh, ảo giác, tham vọng nên khổ mãi. Các Phật tử thử nghĩ xem, chỉ tại mình muốn mà không được, mới khổ. Lòng chúng ta không muốn, thì việc thành hay không là chuyện bình thường, cuộc đời này cứ như vậy mà sinh diệt; nhưng chúng ta trụ ở không sinh diệt thì sẽ không khổ. Ham muốn nhiều thì khổ nhiều, ham muốn ít thì khổ ít, không ham muốn thì không khổ.
Đoạn dục, không ham muốn, cuộc đời thế nào, ta sống như thế; tham vọng quá lớn gọi là đói con mắt, không phải đói cái bụng. Đầu tiên, cắt bớt cái đói của con mắt, chúng ta nhẹ được một phần, khi nào đói bụng mới ăn. Đói con mắt là muốn ăn đủ thứ, nên khổ. Tập tu một ngày, trưa đói ăn cơm để khỏi đói bụng, không đặt vấn đề thức ăn ngon hay dở. Và nếu thực tập khá hơn một chút, sẽ thấy rằng đói bụng ta phải ăn, đó là do nghiệp ăn của chúng ta, chứ thực cơ thể chưa cần ăn; vì chúng ta có thói quen ăn, nên đến cử ăn phải ăn. Nhiều lúc tôi bận, quên cử ăn, nhưng không thấy đói, vì chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể còn sử dụng được trong vài ngày. Khi làm việc xong, cơ thể tiêu hao năng lượng, nếu không đưa thực phẩm vào thì chết. Thiền sư nhập định quên ăn đến chấm dứt mạng sống, xác trở thành khô như hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường ở chùa Đậu.
Bát chánh đạo ứng vào ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng ta, giúp chúng ta trở thành con người hoàn thiện; lý tưởng này Đức Khổng Tử muốn xây dựng nhưng không được. Chỉ có Đức Phật xây dựng con người trở nên hoàn thiện trên nền tảng của Bát chánh đạo, từ lời nói, suy nghĩ, việc làm, cuộc sống đều hoàn toàn tốt đẹp.
Tóm lại, chúng ta đặt trọn niềm tin mãnh liệt ở Đức Phật là bậc toàn trí, toàn giác, toàn thiện và chúng ta tin ở giáo pháp của Phật hoàn toàn đúng đắn, đồng thời thể nghiệm tinh thần Phật dạy trong cuộc sống của chính mình, từng bước đạt được kết quả tốt đẹp. Đó chính là niềm tin chân chánh; không phải tin Phật là thần thánh ban phước giáng họa để chúng ta cúng vái van xin suốt đời làm kẻ nô lệ, tin như vậy là mê tín.
Với niềm tin chân chánh, bước theo dấu chân Phật, tất cả Phật tử phải nỗ lực thực hành giáo pháp Đức Phật đã chỉ dạy để từng bước hoàn thiện chính mình, cho đến không bị xã hội chi phối, không bị thiên nhiên bức bách, mới làm chủ được thân tâm và sử dụng thân tâm trong sáng thanh tịnh, giải thoát như vậy mà dấn thân vào lộ trình Bồ tát đạo, hướng dẫn mọi người có được niềm tin chân chánh vào Phật, Pháp, Tăng để họ thăng hoa cuộc sống đạo đức và trí tuệ, xây dựng Tịnh độ ngay tại cõi nhân gian này.
Đạo tràng an cư giúp người tu thanh tịnh tâm và là nơi câu hội của tứ chúng tu học, tụng kinh, niệm Phật, tham thiền, trì chú, nghe pháp, học hiểu kinh, trì giới luật, để phát sanh niềm tin chân chính vào lời dạy của Phật, hiểu rõ được chân lý vô thường, sanh, già, bệnh, chết đang chi phối cuộc sống con người.
Niềm tin sâu xa nơi luật nhân quả bình đẳng, con người tạo nghiệp thiện, tất nhận kết quả an vui; tạo nghiệp ác tất phải tự lãnh chịu hậu quả đau khổ. Nghiệp thiện hay nghiệp ác tạo tác từ thân khẩu ý. Dụ như hòn đá nặng (nghiệp ác, tâm nặng nề) tất nhiên phải chìm trong nước, giọt dầu nhẹ (nghiệp thiện, tâm khinh an) tất nhiên nổi trên mặt nước. Đó là nhân quả không sai, không phân biệt người nào.
- Niềm tin mãnh liệt nơi chính mình, nhận được bản tâm thanh tịnh vốn không sanh không diệt. Cứu cánh giải thoát sanh tử y cứ vào văn tư tu, tức là con người lắng nghe giảng chánh pháp, thực hành chánh pháp thấy có lợi lạc, tu chánh pháp dứt hết phiền não, sạch tội nghiệp, đạt đến niết bàn tịch tĩnh.
- Niềm tin vững chắc là căn bản của sự thành công chiến thắng tự tâm, nhiếp phục vọng tâm, là nguồn gốc của muôn hạnh lành. Niềm tin sáng suốt của người tu theo Phật không cuồng nhiệt, không sôi nổi, không so đo và không bản ngã (cái tôi).
- Niềm tin chân chánh là sự tự do thật sự, không bị ép buộc, cũng không vì động lực của lòng tham, sân, si sai khiến. Tu và học phải song hành, từ đó phát sinh niềm tin kiên cố, phân biệt chánh tà, đúng sai rõ ràng, không còn rơi vào mê tín hay bị dụ dẫn.
- Niềm tin bất thoái chuyển nơi Tam Bảo là thấy được giá trị lợi ích đối với đời sống con người trong xã hội.
Một tín ngưỡng mù quáng không xây dựng trên lý trí xét đoán là một nguy hại lớn cho đời sống của cá nhân, gia đình và xã hội. Thường sự tín ngưỡng sai lầm có thể làm hại đến tinh thần của số đông quần chúng.
Một đức tin huyền hoặc mơ hồ, thiếu căn cứ, thường hay đi đôi với sự ỷ lại nương nhờ vào một thế lực siêu hình nào đó. Do niềm tin mù quáng sai lầm, càng làm cho con người ta rơi vào u mê tối tăm.
Ðạo Phật đã truyền vào Việt Nam hơn 2.000 năm nay, có những thời rực rở huy hoàng nhờ có nhiều người tu chân chính, nhưng cũng có thời lu mờ tối tăm do vắng bóng các vị thiền sư. Có nhiều người tự xưng là Phật tử mà lại có những niềm tin mê tín vì luôn lúc nào cũng cầu khẩn van xin.
Phật giáo Việt Nam có những lúc thăng trầm trải qua rất nhiều thời đại do số đông chưa đủ niềm tin về Tam bảo. Chiến tranh làm cho con người lâu ngày mất đi lý trí vì trong tâm thức chỉ có hận thù và trả thù, từ đó một số phong tục tập quán tín ngưỡng dân gian ra đời dẫn đến nhiều sai lầm.
Những hình thức bói quẻ, xin xăm, đồng bóng, vàng mã hoặc đấng bề trên có quyền phán xét hoạ phúc nên các ông vua thời phong kiến độc quyền cai trị dưới hình thức là con trời để trị vì thiên hạ. Có rất nhiều người không biết đến Phật pháp bởi cho rằng chết là hết nên họ nói đạo Phật là bi quan yếm thế, họ không nghe, không hiểu, và không tin lời Phật dạy vì nó đi ngược lại lòng tham lam, ích kỹ của con người.
Hiểu như thế, ta mới thấy rằng những tâm niệm đen tối, mê tín, ỷ lại vào quyền năng vu vơ của thần thánh không phải là một lòng tin mà đạo Phật đòi hỏi. Người học Phật phải thận trọng, luôn luôn giữ thái độ khách quan trong khi tìm hiểu kinh điển, và như thế là có tinh thần khoa học. Trí óc kẻ học Phật phải là một cơ quan gạn lọc vàng sõi, phân biệt rõ ràng, đừng để bị nô lệ cho những kiến văn, sách vở, và những thành kiến dựa vào tình cảm.
Bằng sự học hỏi, trì tụng, thân cận các bậc thiện tri thức, giúp cho tâm trong sáng và đẹp đẽ trong con được phát hiện thường xuyên, và con sẽ tìm mọi cách để cho những tâm hành này ở lại lâu dài trong tâm ý, bởi vì con biết nếu những tâm hành tích cực như từ, bi, hỷ, xả được phát hiện và duy trì, chúng sẽ có cơ hội lớn lên và thực hiện được nhiều chuyển hóa, đem tới cho con và cho những người xung quanh rất nhiều hạnh phúc. Bạch đức Thế Tôn, Ngài đã dạy chúng con cách thức chế tác ra năm nguồn năng lượng là tín, tấn, niệm, định và tuệ. Năng lượng của niềm tin đưa tới năng lượng của sự tinh chuyên, và theo đó các năng lượng niệm, định và tuệ sẽ được chế tác và làm lớn thêm niềm tin. Con xin lạy xuống trước đức Thế Tôn và các vị thánh tăng để phát nguyện mỗi ngày sẽ thực tập để chế tác và làm hùng hậu thêm những nguồn năng lượng quý giá ấy.
Bạch đức Thế Tôn, chúng con có đủ niềm tin đối với Ngài, con xin phát nguyện tu tập và hành động để mỗi ngày có thể đi tới một cách dũng mãnh trên con đường chuyển hóa và độ đời. Con nguyện thực tập chánh tinh tấn. Những hạt giống tiêu cực trong tâm thức con như hạt giống của đam mê, của bạo động, của hận thù, v.v... con nguyền không tưới tẩm chúng bằng cách tiếp xúc và tiêu thụ những gì có công năng tưới tẩm. Con không muốn để cho những hạt giống đam mê, hận thù và bạo động ấy có cơ hội được tưới tẩm, phát hiện và lớn mạnh thêm. Con xin tu tập phép như lý tác ý, chỉ lưu ý tới những ý tưởng, hình ảnh và âm thanh có thể tưới tẩm những hạt giống trong lành nơi con mà thôi. Nếu lỡ những hạt giống tiêu cực được tưới tẩm và phát hiện thành tâm hành, con sẽ tìm đủ cách để những tâm hành ấy trở về dưới chiều sâu tâm thức dưới hình thức hạt giống của chúng. Con biết là nếu chúng được thường xuyên phát hiện thì chúng sẽ lớn lên rất mau chóng, còn nếu chúng được nằm yên lâu ngày dưới đáy sâu tâm thức thì chúng sẽ yếu dần đi.
Ngày xưa, có một cô gái miền quê sống thật thà chất phát tên gọi là Lan. Một hôm, Lan được mẹ sai đi chợ để bán mật và sắm sửa một ít đồ dùng. Trên đường đi đến chợ, Lan vừa đi vừa suy nghĩ mông lung…. Sáng nay mẹ có hứa nếu bán được có giá một chút, mẹ sẽ cho Lan một ít tiền để tuỳ nghi sử dụng. Trong lòng mừng thầm, Lan đang thêu dệt tương lai của mình nếu có tiền sẽ mua những gì đây?
À Bông sẽ mua nửa chục con gà, những chú gà lông nõn như tơ, vừa bằng cái chén Tống ấy mà... Ðàn gà gặp tay Bông biết nuôi thì phải biết... con nào con nấy mau lớn như thổi... Chúng sanh con đẻ cháu nhiều vô kể, chỉ hiềm một nỗi là chúng hay bơi xới cả ngày... cho nên một hôm, Bông bực mình bán quách đi cả, để mua hai chú lợn con ủn ỉn về nuôi cho tiện. Phiên chợ cuối năm Bông lùa lợn đi bán. Dạo cận Tết lợn bát rất được giá... Bông mua một chiếc áo dài màu hoa cà, một chiếc quần sa teng trắng, một đôi hài cườm như lũ con gái ở xóm lò lu thường mang. Vẫn còn nhiều tiền, mình mua cái gì nhĩ? Một chiếc lược cài hay khăn voan choàng đầu? Một chiếc dù hay một thỏi son?... À, phải rồi! Một chiếc trâm cài tóc. Tết đến Bông sẽ mặc quần áo mới, đi hài cườm, chiếc trâm có nhận hạt thủy tinh lấp la lấp lánh trên mái tóc nhung đen. Một chàng trai trẻ tuổi đến ngỏ chuyện làm quen với Bông... Bông e thẹn nép mình dưới một khóm lá... để đỡ ngượn. Bông đưa tay cài lại chiếc trâm, nghiên đầu, xõa tóc che bớt đôi má đỏ bừng vì thẹn... thì... xoảng! Bông ngơ ngác thấy mình đang đứng giữa đường làng, hũ mật đổ nhào xuống đất vỡ làm ba bốn mãnh... Áo lượt, quần là, cành trâm cùng chàng trẻ tuổi đều tan biến đâu mất... Cô thiếu nữ hay mơ mộng này không biết làm gì hơn là ôm mặt khóc òa...
PC: Cái này gọi là: “Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!”
Chuyện Tình Không Ðoạn Kết
Ngày xửa, ngày xưa, có một cô công chúa Út con gái yêu của hoàng đế La Mã - một ông hoàng giàu sang độc tài và rất hung bạo.
Lúc lớn lên, nàng công chúa lại đem lòng thầm yêu trộm nhớ một chàng trai trẻ tuổi trong đội Ngự lâm quân của cha mình. Nhà có ngạch vách có tai, câu chuyện tình thơ mộng này chẳng bao lâu lại lọt vào tai ông hoàng. Sau một hồi xoắn râu giận dữ, ông hoàng ra lệnh đưa chàng trai tốt phước (nhưng đang tái sanh mặt mũi) ra trước đấu trường.
Chàng trẻ tuổi được dẫn đến trước hai gian phòng và được quyền mở một trong hai cánh cửa.
Nếu chàng vô tội, thần linh sẽ giúp chàng mở cánh cửa hạnh phúc: một giai nhân đang chờ chàng cùng với số của hồi môn đồ sộ.
Nếu chàng có tội, cánh cửa sẽ mở lối cho một ả sư tử đói bụng, đang chờ chàng bằng hai hàm răng bén nhọn.
Trong giây phút định mệnh chàng ngự lâm bối rối nhìn quanh... và nơi khán đài danh dự, chàng bỗng bắt gặp ngón tay điềm chỉ của công chúa. Lòng đang hy vọng chàng liền mở một trong hai cánh cửa.
Nhiều thế hệ đã trôi qua, các ông hoàng bà chúa đã biến mất... Nhưng người ta vẫn chưa đồng ý với nhau về đoạn kết của câu chuyện.
Thằng Cu Trắng
Thuở xưa, có một thiếu nữ gia đen kết hôn với một người gia trắng, cuộc hôn nhân dị chủng này gây sự bất bình cho cả hai dân tộc da đen lẫn gia trắng. Người vợ bị gia đình cô từ bỏ, trong khi xã hội da trắng cũng không chấp nhận cô, tất cả đều khinh rẽ và đối xử với cô rất đen bạc.
Ðứa con đầu lòng của người thiếu phụ đáng thương này chào đời như một ân sủng của Thượng đế. Chú bé trắng trẻo khôi ngô khiến ai trông thấy cũng phải nựng nịu. Chúng ta gọi nó là thằng cu Trắng cho tiện. Cu Trắng được nhận vào lớp học dành riêng cho dân da trắng lúc nó lên 5 tuổi. Sự thông minh đĩnh ngộ của thằng bé khiến mọi người phớt lờ đi nguồn gốc da đen của nó.
Cu Trắng đi học được ít lâu thì người mẹ hạ sanh thêm một đứa em. Lần này Thượng đế không thiên vị nữa, một thằng cu đen thủi đen thui chào đời. Chúng ta gọi nó là thằng cu Ðen cho tiện.
Cu Trắng đem lại cho bố mẹ nó bao nhiêu niềm vui thì cu Ðen đem đến cho họ bấy nhiêu khổ sầu. Cu Ðen biết thân mình chỉ lẩn quẩn ở bên mẹ, không dám và không được đi chơi với bố cùng anh.
Lên 5 tuổi, cu Ðen cũng được bố mẹ chạy chọt cho vào học chung trường với cu Trắng. Nó bị bạn bè da trắng trêu chọc, hành hạ dữ dội. Cu Trắng cũng khổ sở vì sự hiện diện của thằng em không ít. Cuối cùng cả hai anh em đều bị chủng tộc da trắng đuổi ra khỏi trường.
Túng thế, bố mẹ của chúng phải sắp xếp như thế này: Cu Trắng được gởi đến một trường học nội trú của dân da trắng, thật xa để không ai biết đến nguồn gốc da màu của mẹ và em nó. Còn cu Ðen thì được gởi về quê ngoại theo học tại một trường nô lệ dành riêng cho dân da màu. Ông bố tiếp tục đi làm, bà mẹ thui thủi một mình ở nhà mà lòng nhớ con khôn tả. Sự hợp chủng kỳ diệu của hai dòng máu bất chấp sự kỳ thị của loài người đã khiến cu Trắng thành một đứa bé thông minh vượt bực. Ðiều này là nguồn an ủi cho bà mẹ và nàng thiếu phụ đáng thương này đặt hết hy vọng vào đứa con đầu lòng. Riêng thằng cu Ðen, màu da đen đúa đã xác định hẳn số phần hẩm hiu của nó.
Ở trường học dành riêng cho dân da trắng, cu Trắng được thầy cô yêu mến, bạn bè kính nể, không một ai có mảy may ngờ vực về nguồn gốc da màu của nó. Riêng thằng cu Trắng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ mọi người biết được sự thật về mẹ và em mình, sẽ tống cổ nó ra khỏi trường. Vì thế cu Trắng rất lấy làm khổ sở khi phải tiếp xúc với mẹ và em. Những ngày nghỉ học, cu Trắng thường la cà ở nhà bạn bè để cho bà mẹ ở nhà mỏi mòn trông đợi, và bà đã chết trong nỗi buồn thương đó, bố chúng cũng không sống được bao lâu. Sau khi bố mẹ qua đời, cu Trắng liền cắt đứt liên lạc với em.
Về sau, cu Trắng trở thành một chàng trai học thức, đẹp trai... Nó vào lính làm đến đại úy, rồi giải ngũ về làm biện lý tại một thành phố lớn, sống một cuộc đời giàu sang danh vọng như bao nhiêu người Âu khác, có khác chăng là lòng lúc nào cũng hồi hộp lo sợ người ta khám phá ra dòng máu lai đen của mình, dù cu Trắng đã khôn khéo thay tên đổi họ.
Riêng thằng cu Ðen, thì không được may mắn như anh, màu da của nó đã xác định sẵn địa vị của cu Ðen trong xã hội. Biết anh không thích mình nên cu Ðen chỉ làm bạn với sách vở và những người bạn cùng màu da. Hai anh em đều khôi ngô, thông minh như nhau. Có khác chăng là hai màu da và cu Ðen sống hoàn toàn thoải mái không có nỗi lo sợ bị lộ tung tích ám ảnh suốt ngày đêm như cu Trắng.
Sau mười mấy năm trời cách biệt, một hôm cu Ðen tình cờ đến gần anh. Ðược cu Trắng chấp thuận cu Ðen đến thăm anh. Vì cuộc gặp gỡ này một tai nạn xảy ra, mọi người đều biết chàng cu Trắng là dân da màu. Tất cả những gì cu Trắng đã dày công gây dựng như danh vọng, tình yêu, sự nghiệp đều nhất loạt sụp đổ.
Em thân mến!
Câu chuyện trên đây được rút ra từ quyển sách “Hãy để ngày ấy lụi tàn” của một văn sĩ người Anh. Ở đây tôi không cốt ý kể cho em nghe về một chuyện tình bi thảm của thế gian giới, tôi chỉ muốn hỏi em về tâm trạng của anh chàng cu Trắng trong mỗi con người chúng ta – tôi và em – Có phải dù chúng ta có cố gắng gìn giữ tập luyện tu hành để tạo cho mình một dáng dấp đàng hoàng thuần hậu, thánh thiện đến đâu đi nữa.... thì trong tận cùng thân tâm em và tôi đều phải đau khổ và ghi nhận rằng cái lý lịch đen, tức phần ác xấu, bất thiện vẫn còn ngũ ngầm ở đó. Và y hệt như anh chàng cu Trắng, nếu màu da bên ngoài của chàng ta được xã hội ưu đãi, mến chuộng bao nhiêu thì dòng máu lai đen nằm trong thân thể tạo thành một nỗi mặc cảm dày vò, bứt rứt, bấy nhiêu. Có bao giờ em thấy điều đó không? Sau những đức tính từ bi hỷ xả, tế nhị dịu dàng, đắc nhân tâm... những điều kiện ắc có và đủ để tạo thành con người hợp thời trang, lịch sự nhất mực đó, có phải em đã từng xót xa ghi nhận rằng những mầm móng tham sân, ganh ghét, độc ác, ích kỷ vẫn còn nằm sờ sờ ra đó... Có lạ chăng là mọi người chưa nhận thấy... Và vì thế, người chung quanh càng thương mến, ái mộ bao nhiêu thì em càng thấy mình lố bịch, giả dối bấy nhiêu.
Trong câu chuyện khi nào cu Ðen gặp gỡ hay liên lạc với cu Trắng thì cái thế giới hư danh, ảo vọng của chàng cu Trắng liền bị đe dọa sẽ sụp đổ. Chúng ta cũng thế sau biết bao là công khó tập luyện để có một phong thái tu hành rất mực thì chỉ cần một cơn giận, một nụ cười mỉa mai, một cái nhìn ganh tị đến viếng thăm... là tất cả cái bề ngoài sơn son thếp vàng đó liền sụp đổ tan tành.
Bi kịch của câu chuyện ở chỗ chàng cu Trắng chối bỏ dòng máu lai đen của chàng, cố gắng khỏa lấp để mạo nhận mình là da trắng 100% nên lúc nào chàng ta cũng phải nơm nớp lo sợ bị lộ tung tích.
Tại sao chàng trai lại cam chịu sống một cuộc đời đầy sợ hãi, giả dối và bấp bênh như thế? Chính cái thế giới phù hoa, những đặc quyền ưu tiên dành cho dân da trắng đã khiến chàng thèm thuồng và ao ước được hưởng như họ.
Trở lại của chúng ta ngay từ thơ bé, chúng mình đã được ba mẹ và thầy cô giảng dạy rằng... phải cố gắng làm sao để trở thành một đứa bé ngoan ngoãn, tử tế, dễ thương. Lúc dần dần lớn lên, xã hội lại cho ta một cái khuôn: thế nào là một người lịch sự, đắc nhân tâm, được mọi người yêu mến. Và khi em bước chân vào chùa, người xung quanh liền khen em là đại trượng phu, là sa môn, là thầy của mọi người v.v...
Hơn lúc nào hết đây là lúc em chối bỏ cái bản ngã thật sự của mình để cố gắng rập khuôn theo một hình bóng, một nhân dáng nào mà người chung quanh em chờ đợi và ca tụng. Ðó là lúc mà chàng cu Trắng đang cố gắng chứng tỏ mình là dân da trắng 100%.
Em thân mến!
Nếu em đã thành công nghĩa là em đã trở thành một bậc chân tu thánh thiện, trắng bạch như vỏ ốc, không ai có thể tìm ra một chút xíu tỳ vết nào... và nhất là em rất bằng lòng về con người của em, và những đức tính mà em đã dày công tập luyện, cùng những quyền lợi phụ tùng mà thế nhân đã cung kính dành cho cái vỏ khả kính ấy, thì câu chuyện này xin ngừng lại nơi đây.
Nhưng nếu em thoáng thấy đã có một cái gì trục trặc, bất ổn, giả dối... trong con người đầy mâu thuẫn của mình, thì đâu hãy thử một lần, lấy hết can đảm nhìn kỹ mình, nó ra sao thì nhận như thế đó. Hãy thử đừng nỗ lực, cố gắng biến cải bản ngã khác mà em cho là tốt đẹp hơn. Chàng cu Trắng mà dám nhìn nhận mình là dân da màu thì ... hơi đau thật đấy, có nghĩa là chàng sẽ mất tất cả những uy danh và quyền lợi mà xã hội đã dành cho thế cấp da trắng... Cũng thế khi em chịu nhận mình là một tôn giả chúng sanh đầy đủ tham sân si... như trăm ngàn chúng sanh tầm thường khác thì em sẽ đánh mất hết lòng ái mộ, tôn kính của người chung quanh đã dành cho em. Nhưng bù lại chàng cu Trắng được sống hồn nhiên, thoải mái... không còn phập phòng lo sợ bị lộ tẩy... em sẽ thấy có một khung trời kỳ diệu mở ra trước mặt. Ðau đớn biết bao khi ta phải chứng kiến ngày lâm chung của cái huyễn ngã mà ta đã khổ công che đậy, tập luyện... nhưng bù lại ta sẽ không còn sợ hãi lo ngại... nghĩa là “vô hữu khủng bố, bô quái ngại” (không còn sợ hãi, lo ngại... cái quái gì hết).
Chấp nhận mình có những tánh xấu không có nghĩa là em sống si mê, buông mình theo vô minh dục vọng, mà chấp nhận có nghĩa là bình thản quán sát, theo dõi để thấu đáu toàn thể cái cơ cấu được mệnh danh là TA, là “bản ngã” của ta. Ðây cũng chính là chỗ mà ngài Huyền Giác quả quyết khẳng định: “Vô minh thật tánh tức Phật tánh” đó em!
Chiếc Cùm Bằng Ngọc
Thuở xưa, có một nàng công chúa bị quân địch bắt về giam giữ tại một hang núi nọ. Quân giặc trói nàng bằng một chiếc cùm bằng sắt, nạn nhân liền phản đối ấm ĩ, lúc nào cũng tìm cách thoát thân.
Cuối cùng bọn giặc nhốt nàng vào một chiếc lầu sơn son thếp vàng thật đẹp, đổi chiếc cùm bằng sắt bằng chiếc cùm vàng nạm ngọc... Nạn nhân liền đổi giận làm vui, nghĩ rằng từ nay mình được sở hữu cả một gia tài khổng lồ nên đành cam chịu cảnh tù tội, không bao giờ nghĩ cách thoát thân nũa.
Em thân mến!
Những chiếc cùm dù có làm bằng phẩm lượng khác nhau đi nữa, chúng cũng có cùng mục đích là trói buộc, tước đoạt sự tự do của chúng ta. Cởi bỏ một chiếc cùm bằng sắt, bằng gỗ... tuy là khó thật nhưng so với chiếc cùm bằng vàng bạc, kim cương... thì mới là thiên nan vạn nan. Những người bị trói bằng chiếc cùm quý có thể tự tử chết nếu được giải thoát. Em có thấy điều ấy không?
Có lẽ vì thế mà kinh Kim Cang có câu:
“Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp”, nghĩa là “Cùm vàng cũng phải cởi nữa là cùm bằng kẽm gai chăng?”
Cách Xử Thế Của Người Xưa
Xưa, có một chú học trò được dịp lên phố chơi. Nhằm ngày chợ phiên một cuộc mất cắp xảy ra tại quán trọ. Chú học trò liền bị quan huyện bắt nhốt vì người ta nghi ngờ chú là thủ phạm.
Sau khi trải qua những thủ tục tra hỏi phiền phức, quan huyện tìm ra thủ phạm chính, chú học trò được trắng án ra về.
Khi về làng gặp lại vị thầy dạy học, chú nhỏ tức tưởi kể lại tự sự, bộc lộ nỗi hàm oan của mình.
Ông thầy im lặng nghe xong câu chuyện, nghiêm nghị ra lệng đánh đệ tử 10 roi phạt. Ðương sự rất ngạc nhiên nhưng không dám cãi lời thầy, riu ríu leo lên bộ phản nằm chờ trận đòn mà lòng hoang mang vô kể.
Các bạn chú thấy thế ngạc nhiên thưa:
- Thưa thầy, trò này vô tội sao lại bị đòn?
Ông thầy từ tốn giải thích:
- Ðành rằng nó vô tội. Nhưng tại sao giữa phố chợ đông đảo, chỉ có mình nó bị tình nghi là kẻ cắp? Ta đánh đây là phạt cái tội nó đã có bộ vó của thằng ăn cắp để cho người ta nghi ngờ. Nếu nó không chỉnh đốn tư cách lại ta e rằng nó sẽ bị hàm oan nhiều lần nữa!
Em thân mến!
Ðây là một trong những cách xử thế tuyệt diệu của người xưa. Cổ nhân đào luyện thế hệ đàn em phải sống sao cho “cúi không thẹn đất, ngẩng không thẹn trời.” Ðành rằng chú bé trên đây không hề gian tham, nhưng vị thầy không bằng lòng khi thấy học trò mình chưa đủ tư cách chính nhân quân tử khiến người ta mất lòng tin nơi mình. Trong khi đức Phật cũng đã từng dặn dò chúng ta rằng: “Không phải nhờ ở lời khen của thế nhân mà con được đạo giải thoát, cũng không phải vì lời chê của thế nhân mà con bị rơi vào địa ngục, mà chính những ý nghĩ, lời nói và hành động của con sẽ quyến định cảnh giới thiện hay ác tương xứng.”
Thông thường chúng ta rất dễ nhẫn nhịn những lời khen (mà mình hoàn toàn không xứng đáng) và ngược lại chúng ta không tài nào kham nhẫn nổi những lời vui oan trách mắng vô căn cứ... Ðã bao lần em tức tưởi thuật lại nỗi hàm oan của mình cùng bè bạn... Và có lẽ chưa lần nào em bị đánh đòn như chú bé trong câu chuyện trên đây. Có lẽ vì thế mà chúng ta kém xa người xưa chăng?
Có hôm nào lỡ bị một nỗi hàm oan, em hãy thử một lần tự tìm xem mình đã có những tác phong, cử chỉ, cung cách như thế nào để cho người ta phải nghĩ về mình xấu tệ như thế đó. Nếu tìm thấy nguyên do nằm nơi mình, thì em đã bắt đầu nắm được chìa khóa giải thoát rồi đó. Giải thoát cái gì em biết không? Giải thoát em khỏi niềm sầu, nỗi khỗ, những tư tưởng bi quan, hắc ám vì thấy trên cõi đời này sao mà không có ai chịu hiểu mình hết trơn hết trọi...
Của Quý
Nước Tống có người nhặt được viên ngọc quý. Anh mang đến biếu quan Tư Thành là Tử Hản. Tử Hản không nhận, người được ngọc cố nài:
- Bẩm thượng quan, đây là viên ngọc rất quý và hiếm có, ai cũng công nhận điều ấy, xin ngài nhận cho tôi được vui.
Tử Hản đáp:
- Chú cho ngọc là quý, còn ta, ta cho tánh không tham là của quý. Chú mang ngọc cho ta nếu ta nhận thì cả hai đều mất cái mà mình cho là quý nhất, chi bằng của quý ai thì người ấy giữ.
Người được ngọc thưa:
- Chúng tôi là thường dân mà được ngọc thì dù biết là của quý, nhưng nếu cố giữ thì sẽ thành họa. Vì thế mới mạo muội đến dân lên Ngài.
Tử Hản bèn gọi thợ ngọc đến bán dùm viên ngọc. Xong ông trao tiền cho người được ngọc mang về.
PC: Tổ Bát Nhã Ba La được nhà vua dâng cúng một hạt bảo châu vô giá. Vua có ba vị hoàng tử. Tổ cầm ngọc hỏi các vị hoàng tử rằng:
- Trên thế gian này còn cái gì quý hơn viên ngọc này không?
Hay vị hoàng tử lớn đều đồng ý nhau rằng viên ngọc là quý nhất. Duy có vị hoàng tử út thưa:
- Bạch thầy còn có một thứ quý hơn nữa đó là trí tuệ!
- Làm sao chứng minh được điều đó?
- Thưa, viên ngọc này chỉ là một vật vô tri, nó không thể tự xác định là quý hay tiện. Phải nhờ trí huệ của loài người nhận định, nó mới trở thành một viên bảo châu vô giá, bằng không, nó chẳng hơn một hòn sỏi.
Tổ khen nhận. Về sau vị hoàng tử thông minh này xuất gia. Ðó chính là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma.
Em thân mến!
Với thế nhân “của quý” là ngũ dục, tức là tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ. Kẻ sĩ biết đạo thì cho “của quý” là những đức tánh như không tham, không sân... Riêng tăng đồ nhà Phật thì quý nhất là trí huệ. Chính nhờ có trí huệ soi thấu bản chất của vạn hữu mà chúng ta mới biết được tánh chất vô thường, huyễn ảo của ngũ dục. Cũng nhờ trí huệ mà chúng ta hiểu ra rằng thiện ác, tốt xấu, thị phi... chỉ là những phân chia giả định của loài người. Và cũng chính trí huệ là cái bền vững còn lại giữa thế gian vô thường sinh diệt này. Có lẽ vì thế mà trong kinh điển nhà Phật thường nhắc đi nhắc lại rằng: “Duy tuệ thị nghiệp” nghĩa là: “Chỉ có trí tuệ là sự nghiệp” chăng?
Ngày Mai Ăn Khỏi Trả Tiền
Xưa, có một ông già bán kẹo, đề trên thùng xe như thế này: “Ngày mai ăn khỏi trả tiền”. Trẻ con xem thấy thích lắm, rủ nhau mua kẹo và định bụng rằng: “Ngày mai mình sẽ ăn kẹo đã thèm. Vì ông bán kẹo đã nói vậy mà.”
Nhưng ngày mai, ngày mai... ngày mai rồi ngày mai. Ông bán kẹo vẫn bắt bọn trẻ phải đưa tiền mới trao kẹo cho. Vì ngày mai là một ngày không bao giờ có.
Em thân mến!
“Ngày mai ăn khỏi trả tiền” chỉ là một lối nói gạt trẻ con, vì ngày mai sẽ không bao giờ đến, thật chăng là chính cái khoảng khắc ngắn ngủi hiện tại này đây.
Nếu ta bảo rằng: “Ngày mai ta sẽ học hành đàng hoàng, sẽ giúp đỡ người này kẻ nọ, sẽ bắt đầu tu hành cẩn thận, sẽ thực thi những cải cách vĩ đại v.v... và v.v... thì coi chừng đó có thể là lời hứa hẹn suông để ta được phép duy trì tình trạng bê bối hiện tại... cho khỏi áy náy, cắn rứt lương tâm mà thôi.
Ngày mai rồi sẽ y hệt như ngày hôm nay mà thôi. Vậy thì, những gì có thể làm được bây giờ, chúng ta hãy một, hai, ba bắt tay làm liền chứ đừng hẹn vào ngày mai, là một ngày chỉ có trong ảo tưởng mà thôi.
Cây Ðèn Ðã Tắt
Xưa, có một chú bé bị mù cả hai mắt. Mỗi khi đi đâu chú đều phải cầm gậy dò đường. Ngày và đêm chú đều sống trong bóng tối như nhau.
Một hôm chú bé đến thăm bạn. Lúc ra về trời đã tối. Người bạn đốt một chiếc đèn lồng trao cho chú, chú bé cười nói:
- Tối hay sáng đối với tôi đều như nhau, anh trao đèn cho tôi làm gì?
- Ðành rằng anh không cần đèn nhưng người khác phải nhờ cây đèn này mới không đâm bổ vào anh chứ.
Chú bé mù cầm cây đèn ra về, đi được một quãng chú bị người khác đụng phải, chú bé tức giận quát:
- Bộ đui sao mà không thấy cây đèn của người ta?
Người kia cười to:
- Ðèn của anh tắt rồi anh đui ơi!
Em thân mến!
Giá trị của cây đèn là do ánh sáng, thiếu ánh sáng thì cây đèn chỉ là một vật vô dụng mà thôi. Một pháp môn hay nhất là chỗ nó giúp hành giả thấu rõ thực tướng của mình và muôn pháp, tiêu sạch phiền não, đem lại an lạc cho mình và người chung quanh.
Nếu chúng ta cứ cho rằng mình đã dự vào hàng ngũ xuất gia, thuộc vào hàng tông môn chính phái, thầy tổ là bậc chân tu lỗi lạc, bạn bè mình là hạng anh tài xuất chúng... chúng ta đã được học những pháp môn tối thượng thừa, cao siêu hi hữu... và chúng ta cho thế là đủ, sanh tật khen mình chê người, phiền não mỗi ngày một tăng trưởng thì... coi chừng chúng ta sẽ giống cậu bé mù trên đây, cầm một cây đèn lồng thật tốt, thật đẹp... nhưng... tắt queo cho mà coi!
Phật Ở Ðâu
Thuở xưa có anh chàng đọc kinh, nghe nói về Phật thích lắm, nhất định đi tìm cho gặp Ngài mới nghe. Anh chàng khăn gói quả mướp ra đi. Sau khi trải qua không biết cơ man nào là núi sông, hầm hố, gian nguy hiểm trở... chàng vẫn chưa được gặp Phật giống như hình dáng trong kinh đã diễn tả: “Thân Phật sắc vàng, cao một trượng sáu, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp hào quang sáng chói.”
Hôm nọ tại một triền non, chàng trai tình cờ gặp một cụ già râu tóc bạc phơ cốt cách siêu phàm. Mừng quá chàng khẩn khoản:
- Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không? Xin chỉ dùm con với.
Ông lão mỉm cười:
- Ồ, chỗ nào mà không có Phật? Trên quảng đường vừa qua chả lẽ con không gặp được Ngài.
- Thưa cụ trên đường đi con đã từng gặp vô số người, nhưng đều là hạng phàm phu tục tử cả... con chưa từng thấy người nào có được vài tướng tốt như trong kinh đã mô tả về Phật cả.
Ông cụ cười ha hả:
- Chú mày ngốc nghếch thật! Chú không biết rằng cái thân đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp đó, dân Ấn đã đốt thành tro và chia nhau xây tháp thờ cúng cả rồi ư?
- Thưa thế thì Phật chết rồi sao?
- Hiện giờ đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi. Ngài cũng mang thân tồi và xấu như chúng sanh vậy. Con còn có muốn gặp Ngài nữa không?
- Thưa dù với bất cứ hình dạng nào, nếu đích thực là Ngài thì con vẫn vô cùng khác ngưỡng.
- Vậy thì để ta mách nước cho con nhé... Con hãy quay về... Trên đường về, nếu gặp một người nào mang guốc trái ở chân phải, guốc phải ở chân trái thì chính người đó là một hóa thân của Phật. Hãy thừa sự và cúng dường vị Phật ấy như trong kinh đã dạy...
Chàng trai hối hả quay về, suốt quãng đường dài chàng không gặp đức Phật nào mang hình dáng như cụ già diễn tả. Chán nãn chàng quay về nhà. Trời đã khuya, bà mẹ còn chong đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa bà mừng quá, tụt xuống phản quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy tất tả ra mở cửa. Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang lộn chiếc guốc trái qua chân mặt, guốc mặt sang chân trái. Chàng ôm chầm lấy mẹ nghẹn ngào:
- Ôi! Ðức Phật yêu quý của con.
Em thân mến!
Trong kinh Phật có dạy: “Gặp thời không có Phật thì hai vị Phật đáng tôn thờ là cha và mẹ của mình, phải cung kính và thờ phụng hai vị này như tôn thờ đức Phật Thích Ca và Di Lặc vậy.” Ðó là lời dạy cho hàng Phật tử tại gia.
Riêng chúng ta hàng xuất gia đã lìa bỏ cha mẹ của xác thân này và để thừa sự cúng dường tất cả chúng sanh là những cha cùng mẹ trong vô lượng kiếp của mình.
Ngày xưa, trong hàng môn đồ của Ðại sư Trí Khải - một danh tăng đời Ðường – có một vị sư nhớ nhung cha mẹ, bèn bày tỏ cùng Ngài. Ðại sư dạy:
- Là người xuất gia ông chớ nên vì cha mẹ một đời mà xao nhãng bổn phận đối với cha mẹ nhiều đời, là tất cả chúng sanh đó vậy.
Câu chuyện anh chàng đi tìm Phật trên đây do người Trung Hoa đặt ra để nhắc nhở về chữ hiếu và bổn phận làm con. Nhưng qua câu chuyện này, em có thấy rõ chỗ oái oăm của nó là chúng ta bôn ba đi tìm Phật khắp nơi, trong khi Ngài ở kề cận bên mình mà chẳng hay. Vì thế mà có lẽ khi tăng Huệ Hải hỏi Mã Tổ về Phật, Mã Tổ đáp:
- “Hệt kẻ cỡi trâu đi tìm trâu” Em có thấy như thế không?
Bồ Tát Và Chúng Sanh
Trời vừa dứt mưa, một bà cụ khoác áo tơi đi ra phố. Gặp một chú bé đang nghịch nước bẩn bên vệ đường, bà cau mặt quát:
- Thằng Cu! Mày có lên ngay không. Khiếp!
Thằng bé phản đối:
- Cháu xí cái vũng này từ hồi mới mưa lận. Bà kiếm cái khác đi, thiếu gì!
Em thân mến!
Bồ Tát là những vị sách vở định nghĩa là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” (Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh). Riêng chúng ta có thể hiểu một cách giản dị như thế này: “Nếu chúng ta tin rằng mình và tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ thì ta đã có mầm Bồ Tát trong lòng rồi. Trên đường tu chừng nào thành Phật hãy hay, còn hiện tại chúng ta hãy tùy thuận giúp đỡ người chung quanh bằng tất cả khả năng hạn hẹp của mình... Vì tin tưởng nơi Phật tánh của mình và người nên Bồ Tát không bao giờ mệt mỏi trên bước đường tự lợi, lợi tha...
Nhưng... tâm Bồ Tát thì khó phát nhưng rất dễ thối thất... Em có biết tại sao không? Em đừng tưởng là khi hành Bồ Tát hạnh đi đến đâu thiên hạ cũng rải hoa và trải chiếu bông đón tiếp mình hết đâu... mà coi chừng vỡ mộng đấy nhé! Như trường hợp của bà cụ trên đây chẳng hạn. Nếu các tôn giả chúng sanh đang ưa thích điều gì mà mình cản trở thì coi chừng họ có thể nghi là mình muốn đoạt cái sở thích ấy, trong trường hợp đó, nếu ta chưa đủ tài thuyết phục họ thì phải chạy cho thật lẹ kẻo... u đầu, nếu em có giúp đỡ ai điều gì thì... chớ nên hí hửng chờ người tuyên dương công trạng của mình vì có hàng khối kẻ bàng quan đang bĩu môi phẩm bình rằng:
“Ðồ ngu! Chuyên môn làm mọi thiên hạ.”
Hoặc là:
“Cái số cực...” “Cái nghiệp nặng”. Chà coi bộ em muốn thối tâm rồi phải không? Nếu mình là Bồ Tát thứ thiệt thì khỏi nói, đàng này thật kẹt cho hàng Bồ Tát sơ tâm như bọn mình, có lẽ vì thế mà trong các kinh, đức Phật đã không tiếc lời ca ngợi hạnh Bồ Tát, và Ngài cũng đã từng nhắc nhở với chúng ta rằng:
“ Muốn giảng kinh Pháp Hoa, tức là đi gieo rắc niềm tin rằng “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”, Pháp sư phải ngồi tòa Như Lai, mặc áo Như Lai, tòa Như Lai là tâm từ bi, áo Như Lai là giáp nhu hòa nhẫn nhục đó em ơi!
Phật Của Ngoại và Phật của con
Có một chú bé đi chùa về khoe với ngoại rằng hôm nay cháu được thầy trụ trì chùa khen ngợi và tán thán con nhiều lắm. Ngoại hỏi : Cháu của bà hãy kể lại cho ngoại nghe.
Ngoại à! Thầy dạy con niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà để được vãng sanh về thế giới Cực lạc, ngoại nhớ niệm nghe.
Bà ngoại chần chừ một hồi lâu rồi đáp:
Xưa nay ngoại chỉ chuyên tâm niệm Ðức Quán Thế Âm, bữa nay đổi niệm Ðức Di Ðà... Sao ngoại sợ ông Phật kia giận ngoại quá...!
PC: Ðiều này phải hỏi lại Ðức Quán Thế Âm mới rõ thực hư.
Bà Chủ Hiền Thục
Kasi là một nữ chủ được nhiều người ca tụng là hiền thục, nàng không bao giờ nói lớn tiếng hay cau mặt với bọn gia nhân trong nhà.
Những lời đồn đãi về Kasi khiến cho Asy, một cô tớ gái đâm ra nghi ngờ, Asy nghĩ bụng: “Có thật là tiểu thơ của mình hiền thục hay không chứ? Hay là nhờ mình chu toàn bổn phận nên tiểu thơ không có dịp lộ vẻ bất bình, điều này phải trắc nghiệm lại mới được.” Và Asy liền tìm cách thử nữ chủ.
Một hôm Asy cố tình thức dậy muộn, cô bé thấy nữ chủ cau mày khi cô dâng bữa điểm tâm. Sáng hôm sau, Asy lại dậy muộn, nữ chủ của cô vừa cau mày, vừa quát mắng ầm ĩ.
Sáng hôm sau nữa, Asy lại dậy muộn, còn đang nằm nán trên giường thì cô bé đã thấy nữ chủ chưa kịp chải tóc, nghiến răng, trợn mắt, vào tận giường lôi cô dậy. Sáng ngày thứ tư, Asy lại dậy trễ, lần này cuộc trắc nghiệm lại thành công mỹ mãn: nữ chủ đã vớ lấy cây cài cửa... và cô bé Asy ôm chiếc đầu chảy máu, chạy thẳng ra khỏi nhà la khóc ầm ĩ:
- Ối làng nước ơi! Xem đây. Xem đây! Hãy xem nữ chủ rất hiền thục đánh tôi đây này...
Em thân mến!
Trong Trung Bộ Kinh, đức Phật đã kể lại câu chuyện trên cho các thầy tỳ kheo nghe, và Ngài kết luận:
- Này các tỳ kheo! Như Lai không gọi một vị tỳ kheo nào là dễ nói, dễ dạy, tu hành đắc lực khi vị ấy còn nhận được đầy đủ tứ sự cúng dường (quần áo, thực phẩm, thuốc men, mền mùng). Nếu nữ chủ Kasi phải thử thách qua bốn lần mới chứng tỏ được mức độ hiền thục của cô ta, thì một thầy tỳ kheo đệ tử của Như Lai, phải được thử thách khi chịu đựng sự thiếu thốn của những nhu cầu cần thiết, mà vẫn không sờn lòng nản chí thì Như Lai và các bạn đồng phạm hạnh của vị ấy mới có thể kết luận rằng: “Ðây là một vị tỳ kheo phạm hạnh thanh tịnh dễ dạy, dễ nói... đã xuất gia vì sự giải thoát cho mình, cho người chứ không phải vì cơm ăn áo mặc.”
Em thân mến!
Bọn chúng ta trong cảnh sống hiện tại đầy đủ hơn người xưa rất nhiều, chúng ta chưa đến nỗi thiếu thốn vì cơm ăn, áo mặc, thuốc men, mền mùng... nhưng không vì thế mà cuộc sống của chúng ta hạnh phúc hơn, tâm tư được thoải mái hơn các vị tỳ kheo thời trước. Nếu em không tỉnh giác kịp thời thì, một cơn bệnh dai dẳng, một lời nói trái tai, một chuyện bất như ý, vẫn có đầy đủ mãnh lực biến chúng ta từ một tu sĩ dễ dạy, dễ nói, dễ thương... thành một nhân vật không giống ai hết, có giống chăng là giống nữ chủ Kasi thôi. Có phải thế không nào?...
Sống Mắt Khuynh Thành
Xưa có một cô gái mù, nghèo nàn, xấu xí tên gọi là Mai. Ðến tuổi dậy thì Mai không ngớt than khóc cầu trời khấn Phật, ước ao sao cho được sáng mắt để làm lụng nuôi thân.
Tiếng than thở của cô làm động lòng một cô tiên nhỏ trên thượng giới. Cô tiên nghĩ thầm: “Thật là bất công khi để cho một mình cô gái này chịu đến mấy tai họa, mình mà không ra tay giúp thì còn ai trồng khoai đất này.”
Một hôm thừa dịp các bà tiên lớn ngủ say, nàng tiên bé bỏng liền ăn cắp chiếc đũa thần vội vã bay xuống trần và gõ lên đầu cô gái xấu số... xong cô tiên cũng vội vã bay về thượng giới lòng vui khôn tả xiết.
Việc đầu tiên của Mai khi sáng mắt là hối hả chạy ra bờ suối để soi mặt. Thấy khuôn mặt xấu xí của mình lung linh qua ánh nước, Mai lại khóc nức nở, vật vã than trách:
- Cô tiên nào ác thì thôi! Cho tui sáng mắt làm chi để thấy cái bản mặt xấu xí thế này. Hu hu, thà chết quách cho rồi còn sướng hơn. Cô tiên bé bỏng điếng hồn, cô không hờn giỗi khi nghe những lời vong ân bội nghĩa của Mai. Cô chỉ sợ nàng Mai nhảy xuống suối tự vận thì các nàng tiên lớn sẽ khám phá ra hành động nhanh nhẩu đoản của cô. Cô tiên ngẫm nghĩ:
- Cô ta than khóc cũng phải. Nếu gương mặt mình mà xấu như cô ấy thì có lẽ mình cũng sẽ than khóc suốt ngày. Thôi, thì làm ơn cho trót... trước sau gì người lớn cũng biết chuyện này thôi kia mà.
Và nàng tiên thơ ngây lại vung đũa thần lên. Mai liền biến thành một thiếu nữ khá mặn mà sống bằng nghề gánh nước mướn.
Như một nghệ sĩ lưu tâm đến tác phẩm nghệ thuật của mình, nàng tiên bé bỏng cũng vén mây theo dõi đời sống của Mai bằng tất cả tấm lòng từ ái. Cô xót xa không ít khi thấy Mai nhịn ăn nhịn uống, không dám mua gạo mà lại để dành tiền mua dưa chuột, cà chua... đắp mặt cho nó mịn màng... xót xa cả ruột, cô tiên lại vung chiếc đũa thần lần nữa... Mai liền có một làn da đẹp như hoa đào.
Lần này Mai vẫn nhịn ăn để mua quần áo, giày dép và đồ trang sức... Cô tiên lại cảm thấy chạnh lòng, cô liền đánh cắp chiếc đũa thần lần nữa... nàng Mai liền biến thành một tiểu thơ cành vàng lá ngọc, lược giắt trâm cài, quần là áo lượt, nhiều không biết cơ man nào mà kể, không phải làm lụng mà vẫn có ăn. Mai dành hết thì giờ cho việc trang điểm trau chuốt... suốt ngày cô ngồi trước gương để tô lục chuốt hồng, chuyện mới lạ hơn là Mai nảy ra ý định kén chồng... lần này khỏi cần sự trợ giúp của đũa thần nữa, cái nhan sắc yêu kiều, tuổi trẻ cùng một gia tài kếch sù đã giúp Mai kén chọn được một người bạn trăm năm ưng ý: một thanh niên đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi. Cô tiên an lòng, mỉm một nụ cười hiền hậu rồi chấp cánh bay về thượng giới.
Ðến cổng nhà trời, cô gặp bà tiên trưởng nhìn cô một cách nghiêm khắc, cô tiên không hề nao núng, việc làm của cô tuy có sai nguyên tắc thật, nhưng mọi việc há chẳng tốt đẹp, xuôi chèo mát mái đó sao? Một thiếu nữ tàn tật xấu xí nghèo nàn nay đã trở thành một mệnh phụ phu nhân yêu kiều, sang giàu tột bực... mà chẳng tốn hao công của gì của trần gian hết... Nếu bà tiên già cho phép, cô tiên bé bỏng sẽ chẳng hề ngại lao ngọc mang đũa thần xuống hạ giới, giúp cho thế nhân người nào cũng cầu được ước thấy cả... cõi hồng trần sẽ hóa ra miền tiên cảnh cho mà xem...
Như đọc được luồng tư tưởng của cô bé ngây thơ bà tiên già lạnh lùng lột đôi kính trắng trao cho cô bé. Qua cặp kính cô sẽ nhìn thấy tương lai của nàng Mai. Không đợi bà tiên ra lệnh cô tiên bé nhỏ vội vã mang kính vào... Người đàn bà vô hạnh lại có nhan sắc khuynh thành đã gây không biết bao nhiêu là điều rắc rối cho trần thế... Mai thay chồng như thay áo, con cái vất vơ... Cô tiên nhỏ bỗng òa lên khóc, những giọt lệ tiên lóng lánh như hạt trân châu lăn tròn trên đôi mà bầu bĩnh. Nàng Mai đang xui chồng, người chồng thứ mười bảy này là một tướng lãnh quân phiệt, mở cuộc xâm lăng trừng phạt nước láng giềng vì nghe đâu ông vua nước này bảo rằng bà hoàng hậu của ông là một giai nhân vừa đẹp người vừa tốt nết hơn hẳn nàng Mai gấp bội. Hai nước đang chuẩn bị chiến tranh, lệnh tổng động viên ban hành, các trường học đều đóng cửa... Cô tiên nhỏ không còn thấy gì nữa, lệ trào tuôn như suối làm nhoè cặp kính. Bà tiên già lại lạnh lùng vung chiếc đũa thần lên và ra lệnh cho cô tiên lau sạch nước mắt. Nàng Mai trở lại nguyên hình như cũ. Một cô gái mù xấu xí đang ngồi than thở trong chòi tranh dột nát. Tất cả giống hệt như thuở ban đầu có khác chăng là những điều vừa xảy ra kỳ diệu quá... khiến cô gái không thể nào chấp nhận được sự thực phũ phàng... cô hóa điên từ đó. Sau khi sự vụ của nàng Mai xảy ra, Thượng đế bèn ban sắc lệnh cấm chỉ chư tiên giao tiếp với người trần. Ý của đấng tối cao muốn rằng mọi việc phải diễn tiến bình thường. Phép lạ mà đem trình diễn ở cõi hồng trần thì chỉ đem lại những hậu quả bất bình thường mà thôi. Vì thế mà ngày hôm nay chúng ta không có được chiêm ngưỡng dung nhan một nàng tiên nào hết. Chư tiên mà có giáng trần thì cũng vứt hết đũa ngọc và cánh đi, cũng đổ mồ hôi sôi nước mắt hệt như chúng ta - những con người phàm phu tục tử vậy.
Và trên đường đời, nếu gặp phải một cô gái xấu nết nào có sắc đẹp khuynh thành, người ta lại ngờ rằng đó là tác phẩm hư hỏng của một cô tiên bé nhỏ nào đó. Nhưng may mắn là những người đẹp thường chóng già hoặc chết sớm, nên cõi hồng trần này sau những ngày gió mưa giông bão, mây giăng đen nghịt... vẫn còn có khối ngày trời xanh nắng ấm, gió mát trăng thanh... nữa là!
Tái Ông Thất Mã
Thuở xưa, có ông lão họ Tái bị mất một con ngựa quý. Mọi người đến chia buồn, han hỏi và tiếc dùm cho ông. Ông lão điềm nhiên nói:
- Không sao! Mất của là điều rủi ro thật nhưng biết đâu trong cái rủi có cái may!
Ít lâu sau con ngựa trở về nhà và còn dắt theo một con ngựa khác - bạn của nó - đẹp và quý hơn nhiều.
Bà con lại tụ họp, tấm tắc:
- Ông cụ thật có phước, tưởng đâu mất con ngựa quý, ai dè lại được thêm con nữa.
Ông lão họ Tái vẫn thản nhiên:
- Biết đâu trong các may lại có cái rủi. Và cái rủi đó đã đến, cậu con ông lão rất thích cỡi ngựa mới, dong ruổi cả ngày trên lưng ngựa nên bị té gãy một chân. Thân bằng quyến thuộc đều đến chia buồn về tai nạn đáng tiếc vừa xảy ra. Ông cụ vẫn mỉm cười:
- Biết đâu trong cái rủi lại có cái may!
Chiến tranh bùng nổ, các thanh niên đều phải ra chiến trường, cậu con trai nhờ tàn tật nên được ở nhà hủ hỉ với cha già.
Tái ông thất mã là thế đó!
Người Mù Sờ Voi
Thuở xưa có một đám người mù từ thuở sơ sinh, nghe nói đến con voi nhưng chưa từng thấy nó ra sao cả. Một hôm nghe đồn có một con voi đi qua làng, đám người mù liền nhờ người dẫn đường đến xem voi. Anh nải dễ dãi cho phép họ được rờ rẫm con voi tùy thích. Lúc trở về đám người mù kháo nhau rằng:
- Bác ạ! Lạ quá nếu không phải chính tay tôi sờ thì tôi không thể nào tin được, con voi hệt như cái cột nhà... kinh thật! (Anh chàng này sờ nhằm chân con voi).
- Bác bảo sao? Con voi còn lâu mới giống cây cột nhà...” Anh mà sờ nhằm chiếc đuôi quả quyết:
- Nó giống cây chổi chứ lại...
Anh sờ tai voi cãi:
- Tôi thấy nó giống cây quạt mo.
Anh sờ nhằm bụng bảo:
- Tôi cho rằng nó giống cái chum tương.
- Hừm, mắt với mũi các anh ra sao đấy. Tôi thì thấy nó như cái ống điếu, anh chụp nhằm cái vòi hét.
Anh chàng sau cùng sờ nhằm cái ngà cười khẩy:
- Thật là đồ ngu, vừa đui vừa ngốc... con voi chẳng khác chi cái sừng trâu mà lại khéo tưởng tượng.
Tức thì cả bọn nhao nhao lên:
- Sao? Mày dám bảo ông đui à... hử thằng kia...
- Vừa đui vừa ngốc mới ăn nói ấm ớ như thế!
- Này... ngu này... ngu này...
Ðoàn người mù bèn lăn xả vào nhau đánh, thụi, cào cấu... Ai cũng cho là mình đúng còn người kia đều là sai cả, nên kết quả là anh chàng nào cũng bị nện một trận đích đáng.
Em thân mến!
Chúng ta đã từng nghe kể câu chuyện người mù sờ voi này từ thuở còn bé... Nhưng em có nhận thấy rằng mình cũng giống hệt như anh chàng mù kia không?
Cái tâm hư vọng sinh diệt liên miên của chúng ta cũng giống như con voi nọ mà chúng ta là những anh chàng mù khốn khó. Vì không quan sát được hành tung cùng hình tướng của tâm thức nên chúng ta hay khoát lên cho bản ngã mình những nhân dáng riêng, tùy theo các hình tướng của vọng niệm mà chúng ta bắt gặp được. Chẳng hạn như vừa thấy loáng thoáng các vọng niệm có vẻ từ bi, hỷ xả... chúng ta liền hãnh diện nhủ thầm: “Ta đây là một nhân vật từ bi hỷ xả cùng mình chứ không phải như anh kia chị nọ.” Gặp một người bạn đang nóng giận ta liền hạ một từ ngữ: “Thật là một anh chàng cọc cằn, đê tiện.” Những ý tưởng tự tôn và tự ty đều được thành hình từ đó.
Thấu đáo rõ toàn thể tầm vóc của con voi để phá vỡ những kiến thức thiên lệch của mình là chữa được tật... cãi lộn của bọn người mù. Thấu rõ được toàn thể quá trình sinh diệt, đường lối về của các vọng niệm... là chuyện cần thiết và cấp bách của người tu Phật. Muốn thấu đáo cho rõ ràng chúng ta phải bình tĩnh quan sát không thiên vị, lo sợ hốt hoảng hay muộn phiền trước những vóc dáng đặc tính nào của vọng tâm hết.
“Tham, sân, phẩn, hận, phú, não, tật, xan” là những món phụ tùng mà cái bản ngã nào của nhân loại cũng có... Giống như một chú voi thì phải có đầy đủ cả đầu đuôi, bụng, lưng, ngà, tai vậy. Một con voi thiếu một bộ phận sẽ là một con voi dị dạng có tật.
Nếu chúng ta còn ngạc nhiên khi bắt gặp một tánh xấu của mình, khó chịu khi thấy hành vi của người khác... là chúng ta chưa hiểu rõ tường tận về chú voi của mình. Các chú voi đều giống nhau ở hình vóc đại cương kia mà. Chính chỗ này một thiền sư đã bảo “như nhau dọc mũi ngang mày.” Thấy rõ tướng của con voi, theo dõi những biến chuyển đa dạng của vọng tâm, quả là một kỳ công lý thú, nhưng chuyển một con voi ngang tàng bướng bỉnh thành một con voi ngoan ngoãn tốt nết là một chuyện đòi hỏi khá nhiều thời gian và nhân lực. Cũng như biến đổi một cái tâm hỗn tạp, rắc rối đa sự thành một cái tâm Phật không phải là chuyện dễ... không dễ nhưng không phải là bất khả. Vì các kinh điển thường nhắn nhủ chúng ta rằng: “Phiền não tức bồ đề, tâm chúng sanh tức là tâm Phật vậy.”
Chuyện Âm Phủ
Tại âm phủ một hồn ma đang quỳ đối chất với Diêm chúa, giữa hai vị công an của diêm phủ là Ngưu Ðầu và Mã Diện.
Diêm chúa ngồi trên chính bệ dõng dạc ra lệnh:
- Phán quan đâu đọc hồ sơ của tên này xem.
Phán quan liền cất giọng đọc rõ ràng và chậm rãi:
- “Trần Văn Trụi, 82 tuổi, du thủ du thực, vô gia cư lẫn nghề nghiệp, trúng gió chết tại chợ Bến Thành...”
Hồn ma lễ phép đưa một tay lên xin góp ý:
- Muôn tâu Diêm chúa cho con được phép cải chính.
- Hử
- Thưa, con đúng tên là Trần Văn Trụi thật nhưng mới 28 tuổi chứ không phải 82 đâu ạ!
- Sao! Phán quan đâu hắn nói thế có đúng không?
Phán quan giật mình, kéo áo lau kiếng, xem lại sổ bộ, ấp úng:
- Dạ... Dạ...
- Ðúng hay sai chứ dạ cái gì?
- Bẩm... đúng ạ!
- Chèn đéc ơi! Mấy người làm ăn kiểu này thì chết tôi rồi. Ngưu Ðầu đâu?
- Dạ, có con đây ạ!
- Mau lên giữ xác nó để người ta đem chôn bây giờ.
Tại làm sao mà ra cớ sự này hử?
Ngưu Ðầu vội vã ra đi. Phán quan gãi đầu ấp úng:
- Dạ, dạ... tại mới mua chiếc kính nhìn chưa quen mắt nên ngu thần đọc nhầm 82 thành 28 ạ... Xin thánh thượng bớt giận... thần sẽ đi thay kính lập tức...
- Nó sống đến bao nhiêu tuổi?
- Muôn tâu... 82 ạ!
- Vậy thì còn chờ đợi gì mà không dắt nó đi nhập xác?
Hồn ma liền xen vào:
- Tâu Diêm chúa! Những tưởng nhân gian mới làm ăn bê bối... dè đâu đây cũng vậy. Con đang đi ăn phở với người yêu ở chợ Bến Thành thì thấy hai cha nội này đến thộp cổ dắt đi... có lẽ bây giờ người yêu của con đã uống thuốc chuột chết theo con rồi cũng không biết chừng.
Diêm vương hạ giọng:
- Thôi “Thiên tải nhất thì” mới có một vụ lầm lẫn, mũi dại lái chịu đòn. Ngươi cho ta xin lỗi vậy, về dương gian đi, vui vẻ nhé!
- Muôn tâu, xin ngài hãy bồi thường thiệt hại cho con.
- Mi muốn gì? Giấy tiền vàng bạc nơi đây đâu thể đem lên dương gian xài được...
- Thưa... con chỉ muốn xin rằng luôn tiện ngài cho con liếc sơ qua cái phiếu lý lịch số 3, tức là cung tình duyên gia đạo của con ấy, liệu con có lấy được người mình yêu và nàng có thành thật yêu con không ạ!
- A thằng nhãi... ! Biết trước vị lai để làm gì... chẳng sướng ích chi đâu con ạ!
- Muôn tâu... Nếu ngài không bằng lòng khi về dương gian con nhất định sẽ làm ầm lên về cái chuyện này, con sẽ...
- Tặc, thằng ranh! Ðừng có dở trò hăm dọa ta không ngán mi đâu... Mà thôi! Phán quan đâu?
- Dạ có thần đây.
- Ðọc phiếu số 3 cho nó nghe đi...!
- Vâng ạ.
Phán quan liền lau kính hắng giọng đọc:
- “Trần Văn Trụi, sinh ngày... tại Cao Lãnh, con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi. Ðương sự có số công danh, khoa cử, thi đâu đậu đó. Năm 27 tuổi tốt nghiệp kỹ sư công chánh hạng bình được bổ nhiệm về Sài gòn.
Năm 28, y cưới vợ là hoa khôi ở cầu Bông.
Năm 29 tuổi làm Trưởng ty công chánh ở Tây Ninh.
Năm 30 tuổi bị gọi nhập ngũ gắn lon trung úy.
Năm 31 tuổi có con trai đầu lòng.
Năm 32 tuổi có con gái.
Năm 33 tuổi bị giật mìn chết phanh thây ở cầu Ông Phủ.
Nếu còn âm đức y sẽ thoát chết chỉ gẫy một chân và mù một mắt, vinh thăng đại úy rồi giải ngũ.
Năm 40 tuổi... hai đứa con lớn của y bị chết đuối ở Vũng Tàu.
Năm 45 tuổi bị tê liệt, sốt nằm nhà thương hai năm.
Năm 50 tuổi nhà cháy, vợ hóa điên.
Năm 82 tuổi y mất trí nhớ, du thủ du thực, đi xin ăn lẩn quẩn ở các chợ Cầu Muối, Bến Thành rồi trúng gió chết...
Phán quan đọc xong, hồn ma tháo mồ hôi hột, đứng chết sững. Diêm vương thúc:
- Sao? Ðủ chưa... xong rồi đó, đi đi cha nội...
Hồn ma vẫn còn chần chờ. Phán quan hối:
- Lè lẹ lên, ở đó mà dang ca hoài, cái xác mi mà sình lên thì chỉ còn nước đem chôn.
Trần Văn Trụi đáp một cách xuôi vị:
- Bẩm, hay là để cho thiên hạ chôn quách đi cho rồi.
Em thân mến!
Biết rõ vị lai không phải là một chuyện dễ chịu cho lắm. Hèn chi Phật và chư tổ thường căn dặn chúng ta rằng: “Trong khi tu nếu chưa sạch phiền não mà rủi ro có được thần thông, biết được quá khứ vị lai thì phải buông bỏ cho lè lẹ kẻo phải lâm vào cảnh ngộ như chàng Trần Văn Trụi trên đây.
Người Mang Châu
Xưa, tại một làng ven biên giới có xảy ra tại nạn binh đao. Dân chúng phải bồng bế nhau đi lánh nạn. Trong đoàn người di tản đó, có một thanh niên, con nhà giàu, của cải vô số. Anh mặc vào người đến ba bộ đồ, mang theo một túi da cùng bốn bao vải lớn chứa đầy ngọc ngà châu báu, ai thấy anh cũng bật cười. Một vài người tốt bụng khuyên:
- Con đường mình đi tỵ nạn rất hoang vắng, trộm cướp nhiều như rươi. Anh mà mang hành lý cồng kềnh như thế này, tôi e lành ít dữ nhiều đa!
Anh chàng biện hộ:
- Ðây là tài sản của riêng tôi, chưa chắc ai có được, người đâu của đó, thà chết chứ tôi không bỏ lại được.
- Nào ai có bắt chú vứt bỏ đâu... Có điều mang đi ngờ ngờ thế này thì e rước họa vào thân đấy!
Giặc tan, mọi người lục tục kéo về tất cả đều đủ mặt, duy có anh chàng nhà giàu nọ thì không có ngày về. Anh đã bị cướp giết dọc đường.
Em thân mến!
Cõi đời mà chúng ta đang sống đây thuộc về dục giới, nghĩa là chúng sanh xem ngũ dục là của báu. Ðó là những món sắc, thinh, hương, vị, xúc làm đẹp ý vừa lòng thiên hạ. Chúng sanh thường chém giết nhau để tranh dành ngũ dục. Hàng tu sĩ chúng ta cũng giống như đoàn người di tản nọ. Thật là hiểm nguy cho kẻ nào trong bọn chúng mình còn đèo queo theo trong mình một ít tiền của, tài năng, danh tiếng hoặc sắc đẹp mà lại cố tình biểu diễn cho người khác thấy. Một tôn giả chúng sinh nào mà đã trông thấy “của báu” của chúng ta rồi thì sinh mạng của khổ chủ quả là như chỉ mành treo chuông... Hành giả khó mà vượt bể sinh tử được.
Ðức Phật đã không phải là không có thâm ý khi bảo tăng đồ nhà Phật phải sống bần hàn, vô sản và cạo quách đi mái tóc, ăn mặc xuềnh xoàng để “nếu còn một tí ti sắc đẹp nào cũng tèm lem hết.” Và thật là khó coi khi có vị tu sĩ nào cứ lo tô lục chuốt hồng bề ngoài, suốt ngày xăm soi, ve vuốt cái nhan diện của mình. Nó cũng chướng mắt hệt như ta bắt gặp các hình ảnh cồng kềnh của anh chàng nhà giàu trên đường chạy giặc trên. Riêng đối với các nhà hành giả nào không có lấy một tí ti tài sắc, xin quí vị cũng chớ lấy làm bi quan, mặc cảm, hờn duyên tủi phận... mà nên vui mừng vì con đường trở về rất là an toàn. Ðã lên đường đi thì thế nào cũng có ngày đáo bỉ ngạn 100% đấy, thưa chư hiền hữu.
Ba Câu Hỏi Của Ðức Vua
Thuở xưa có một vị vua thuộc vào hành minh quân, thương dân như con đẻ. Nhưng dù là minh quân, Ngài vẫn không sao tránh được một ít lỗi lầm đáng tiếc.
Lúc tuổi đã cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu Ngài được các bậc hiền tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc sau đây thì có lẽ Ngài tránh được rất nhiều khuyết điểm. Ðó là những nghi vấn sau:
1. Thời gian nào quan trọng nhất của một công việc?
2. Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
3. Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?
Ðức vua cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp các thị trấn, làng mạc và hứa sẽ trọng thưởng cho người nào có lời giải đáp khôn ngoan nhất.
Bố cáo vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt, thạc học minh triết lũ lượt kéo nhau về kinh thành. Mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình phải thành lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực, suốt hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên sai vạn biệt thành một vài trường phái nhất trí và dâng lên đức vua - vị chánh chủ khảo tối cao của cả nước.
Ðáp lại câu hỏi đầu tiên có người bảo rằng: Muốn biết thời gian nào quan trọng nhất của một công việc, người ta phải thiết lập chương trình kế hoạch, thời dụng biểu hẳn hoi. Xong ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo từng thời điểm đã qui định sẵn đó... Nhưng ý kiến ấy liền bị nhà vua bác bỏ vì không ai có thể tiên đoán những điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu sẵn, công việc đòi hỏi phải linh động mới được. Có trường phái lại cho rằng: Một người không thể khôn ngoan hơn tập thể. Ðức vua nên thành lập một nội các gồm nhiều đại biểu để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và làm theo quyết định chung. Một trường phái khác lại đề nghị đức vua cần thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước khi thực thi một công việc...
Như thế đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng: Thời gian quan trọng nhất của công việc là thời gian chuẩn bị nghĩ suy về công việc ấy.
Về câu hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau: Thượng đế, đức vua, quan tể tướng, các giáo sĩ, bốc sư... được đề nghị là những nhân vật quan trọng nhất.
Câu hỏi thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương tự - công việc nào phải được xem là quan trọng nhất? Thưa đó là việc nước, việc nhà, việc ăn, việc mặc, học hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự hay là tôn giáo? Các đề mục đều được các khối óc khôn ngoan tinh tế nhất đề cập đến...
Và vị chánh chủ khảo - tức là đức vua ấy không chấp nhận câu giải đáp nào cả...
Nhiều năm trôi qua... ba câu hỏi rơi dần vào quên lãng... cho đến một hôm, nhà vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ đầy mây nọ có vị đạo sĩ được coi là bậc giác ngộ, nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao tiếp với các nhà quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ khiến nhà vua để ý và một hôm ngài quyết định cải dạng thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.
Ðến nơi nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào và nêu lên ba câu hỏi. Ðạo sĩ chỉ mỉm cười đưa tay vỗ nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công chuyện. Ðã được báo trước về tánh khí lạ lùng của đạo sĩ, đức vua không nản lòng, ngồi xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay trao cuốc cho vua làm giúp. Nhiều giờ trôi qua đức vua vẫn xới đất, còn đạo sĩ thì nhổ cỏ quanh quẩn bên am tranh. Khi đôi tay vương giả bắt đầu chai phồng đức vua ngừng cuốc, nghỉ một giây lâu và nói với đạo sĩ:
- Tôi từ xa lặn lội đến đây cầu thầy chỉ giáo cho ba điều nghi vấn. Nếu thầy biết xin vui lòng chỉ dẫn cho, bằng không cũng xin cho biết để tôi trở về kẻo tối. Ðạo sĩ mỉm cười định nói câu gì đó thì chợt cả hai người cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức vua:
- Bác xem có ai đến kìa!
Nhà vua quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất, toàn thân nhuộm máu. Hai người già không ai bảo ai, đều hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân chỉ còn thoi thóp thở. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các vết thương. Hai người im lặng làm việc cho đến lúc ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở đỉnh núi bên kia.
Ðưa nạn nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng tre độc nhất của căn lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng luộc và vì quá mệt đức vua ngã mình xuống nền đất thiếp đi.
Sáng hôm sau khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm hồng chiếc thảo am và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải bàng hoàng hồi lâu mới rõ mình đang ở đâu và làm gì... Ðạo sĩ đã đi làm vườn sau khi đặt một rổ khoai luộc bên cạnh ông khách.
Trên chõng tre nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng cặp mắt long lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một bàn tay lên vầng trán nóng như lửa của anh ta và cất tiếng thăm hỏi bệnh tình. Nạn nhân bỗng òa lên khóc:
- Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần...
Vô cùng ngạc nhiên đức vua bảo:
- Khanh là ai mà lại biết trẫm?
- Bệ hạ không biết thần đâu. Hạ thần chính là em trai của võ tướng Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề trước linh cửu của anh là sẽ giết bệ hạ để báo thú. Biết bệ hạ lên núi này thần mai phục sẵn. Không ngờ đợi đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi, thần liền đi tìm... và bị chợt chân té xuống triền núi. Nếu không nhờ bệ hạ ra tay cứu chữa thì có lẽ thần đã mất mạng. Từ đây oan cừu xin giải hết... Thần cúi mong bệ hạ tha tội chết cho hạ thần.
- Câu chuyện đáng tiếc năm xưa đã làm ta hối tiếc khôn nguôi, nhưng việc đã dĩ lỡ rồi, trẫm không biết tính sao. Bây giờ chẳng những trẫm tha lỗi cho khanh, mà trẫm còn phục hồi chức tước và chu cấp cho gia đình Trần Ðoàn nữa. Khanh hãy yên tâm mà tịnh dưỡng đi.
Ðức vua ra hiệu gọi vệ sĩ đến, cho khiêng nạn nhân xuống núi và vời ngự y tới để chăm sóc vết thương. Sắp xếp đâu đó xong xuôi, vua đi tìm đạo sĩ. Nhà tu đang lúi húi trồng rau trên vạtn đất mới cuốc hôm qua. Ðức vua ngỏ ý cáo từ và lập lại ba câu hỏi::
- Xin đạo sĩ giải đáp cho...
Nhà tu mỉm cười:
- Bần đạo đã trả lời cho bệ hạ rồi đó. Ðức vua ngạc nhiên:
- Hồi nào đâu?
- Ngay lúc bệ hạ vừa nêu câu hỏi.
- ???
- Này nhé “thời gian nào là thời gian quan trọng nhất” đó là lúc bệ hạ cuốc đất giúp cho bần đạo, nếu thiếu khoảng thời gian này thì bệ hạ đã bị chết về tay anh chàng kia rồi nhé. “Nhân vật quan trọng nhất” chích là bần đạo đây, quan trọng đến nỗi bệ hạ phải trèo non lội suối đi tìm có phải không? Và câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất?” Thưa đó là cuốc đất, việc mà hai chúng ta đã làm ngày qua...
Rồi sau đó, khi chàng thanh niên xuất hiện, anh ta biến thành nhân vật quan trọng nhất, công việc cần thiết nhất là cấp cứu cho anh ta và thời gian cứu chữa là thời gian quan trọng nhất. Có phải thế không nào?
Nhà vua cúi đầu ngẫm nghĩ giây lâu, cất tiếng:
- Thưa đạo sĩ, trẫm đã hiểu. Thời gian quan trọng nhất là thời gian hiện tại. Nhân vật cần thiết nhất là người mà ta cần gặp gỡ trong hiện tại và công việc khẩn thiết nhất cũng là công việc trong hiện tại. Quá khứ là những điều đã qua rồi vĩnh viễn, vị lai chỉ là những ảo tưởng mơ hồ... chỉ có khoảng khắc ngắn ngủi trong hiện tại là giúp đỡ người chung quanh ngay trước mắt ta trong cái giây phút ngắn ngủi quý báu đó. Thưa có phải thế không ạ?
Ðạo sĩ mỉm cười và nụ cười đó thay lời tống biệt đưa nhà vua xuống núi, nơi mà triều đình và thần dân đang đón chờ ngài.
Em thân mến!
Hiện tại là cái khoảnh khắc ngắn ngủi mà chúng ta luôn luôn bỏ quên vì mãi lo hoài bão về tương lai, tiếc thương cho quá khứ, không ngờ nó lại là thời gian quan trọng nhất. Chư Tổ thiền tông cũng dạy chúng ta rằng:
“Việc qua rồi chẳng nhớ
Việc chưa đến đừng lo
Việc hiện tại chớ đem lòng vọng tưởng.”
Lời dạy này cũng đồng nghĩa với câu giải đáp của đạo sĩ trên. Nếu chỉ sống với giây phút hiện tiền, thì dù ta đang gánh nước, bữa củi, uống trà, mặc áo, ăn cơm... tất cả những chuyện tầm thường nhất, không hành vi nào mà không phải là đạo.
Những điều thú vị của câu chuyện trên là lời giải đáp cho câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất.” Thưa đó là giúp đỡ những người chung quanh ta, cũng ngay trong hiện tại.
Trong cuộc sống hàng ngày mãi lo ngong ngóng đến tương lai, chúng ta thường bỏ quên hiện tại. Có lẽ vì mãi nghĩ đến những chúng sanh mà mình sẽ độ sau này (khi đã thành Phật hay Bồ tát chính hiệu), nên em không thấy được rá rau của người bạn tri nhật đang hối hả lặt cho kịp giờ cơm, quên luôn nền nhà đầy rác đang cần quét, chiếc ly uống nước đầy cáu bẩn v.v...
Tương lai đã che khuất em không thấy được những người bạn đồng tu của mình đang nhễ nhại mồ hôi, đầu tắt mặt tối vì công việc... và điều này khi nói ra e làm em bất bình, nhưng tôi xin chân thành xin lỗi em trước, cũng như tôi đã sám hối và ân hận mãi vì đã có một thời tôi và em, những người mãi miết lo nghĩ đến tương lai đã biến chuyện tu hành của mình thành một gánh nặng cho bè bạn. Và chúng ta đã đặt tên cho những hành động lạ lùng đó bằng các danh từ thật kêu như “hạ thủ công phu,” “giải quyết sinh tử,” “miên mật tu hành.” Hỡi ơi, nếu trong hiện tại chúng ta nhẫn tâm lợi dụng sức lao động của bạn bè mình, để làm bàn đạp tiến thân, tiến đến quả vị Phật tổ là những quả vị không còn dấu vết của bản ngã (và những phụ tùng của nó là tham, sân, si). Chúng ta thản nhiên nhắm mắt làm ngơ trước những công việc cần thiết cấp bách cho mình và cho người chung quanh để chỉ lo thực hiện cho kỳ được những hoài vọng do cái bản ngã đa sự của chính mình, với một lời hứa hẹn trấn an lương tâm là: “Chừng nào mình hoát nhiên đại ngộ hay thành Phật chẳng hạn, tôi sẽ độ cho quý vị hết trơn hết trọi.” Và chúng ta sẽ nhắn nhủ thầm rằng: “Còn bây giờ quý vị nên làm công quả cho tui, chuyện tu hành khó khăn lắm, cần phải có những căn cơ siêu việt mới có thể đảm đương được (như tui đây chẳng hạn)... chừng nào cuộc thí nghiệm của tôi thành công, công lao của quý vị sẽ được đền bù gấp trăm, gấp nghìn lần.”
Em thân mến!
Trong kinh Kim Cang, Ngài Tu Bồ Ðề có hỏi Phật rằng:
- Những người thiện nam hay thiện nữ khi đã phát tâm vô thượng bồ đề rồi thì làm sao hàng phục được tâm mình?
Ngài đã đại diện cho chúng ta nêu lên cái nguyện vọng, nỗi băn khoăn nghìn đời là “làm thế nào để con được thành Phật?” Câu trả lời của đấng đạo sư đã khiến ta bối rối hết sức:
- Con nên độ cho hết thảy chúng sinh vào vô dư niết bàn mà không thấy có một chúng sinh nào được diệt độ.
Câu đáp trở thành khó hiểu khi chúng ta ngỡ rằng “thành Phật tức là thành một đấng gì đó” cao hơn hết thảy chúng sinh, một “khối” gì đó... chẳng hạn. Còn nếu chúng ta chỉ hiểu một cách giản dị rằng: Phật chính là sự giác ngộ. Thành Phật tức là thành một chúng sinh giác ngộ - nhưng giác ngộ cái gì mới được chứ. Thưa, giác ngộ rằng “bản ngã” không thật bền, không có...
Nỗi bận tâm duy nhất và tha thiết nhất của chúng ta là cái bản ngã của chính mình. Từ lâu chúng ta mê mải tìm cầu ngũ dục cho nó hưởng thọ... Không ngờ cái dư vị của ngũ dục quá đắng cay khiến chúng ta đâm hoảng... Và thay vì say mê tham đắm ngũ dục, chúng ta lại xoay qua mê tu tham đắm niết bàn giải thoát. Ðối tượng có thay đổi, nhưng lòng tham lam tính toán vẫn còn đó... Ngày xưa chúng ta bon chen, thủ lợi, giành giựt ngũ dục ra sao thì bây giờ ta cũng tính toán để tóm cho bằng được Niết bàn hay quả vị Phật hệt như vậy.
Thế nên, nếu Ðức Phật đưa ra một đường lối, một phương pháp để đạt... Niết bàn thì chúng ta sẽ chịu lắm. Ta sẽ sẵn sàng hy sinh tất cả... để giật cho được cái Niết bàn lè lẹ kẻo thiên hạ phỏng tay trên hết. Vì thế câu trả lời của Ðức Từ phụ đã làm chúng ta chưng hửng và thất vọng biết bao! Hỏi làm cách nào để được giải thoát. Ngài lại bảo: “Hãy lo độ sanh đi, tức khắc tâm con được an, tâm an tức được giải thoát.”
Bàn về huyền nghĩa của kinh Kim Cang chúng ta có đến hằng khối kinh luận sớ và sao, giảng giải... Thế nên nơi đây tôi không dám bàn thêm. Tôi chỉ xin kể cho em nghe về chuyện thiền sư Triệu Châu, một Tổ sư Trung Hoa cũng có một câu đáp “lãng quẻ” tương tự.
Có một bà lão đến hỏi sư. “Già này mang thân đàn bà ô uế, bị đủ thứ ràng buộc... làm sao để thoát thân nữ?”
Sư đáp:
- Bà hãy phát tâm nguyện như thế này: Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thân tướng trang nghiêm của đại trượng phu, còn riêng thân tiện tỳ này thì vĩnh kiếp trầm luân nơi địa ngục.
Lão tử cũng có câu tương tự:
- Những ai muốn đứng trước thiên hạ thì hãy đặt mình đứng sau thiên hạ.
Và cũng có lẽ vì thế mà Ðại thừa Phật giáo đã không tiếc lời ca ngợi hạnh nguyện Bồ tát chăng? Xin mở một ngoặc đơn (chúng sanh: là người tìm đủ mọi cách để thỏa mãn tham vọng của riêng mình. Bồ tát: là người giác ngộ được chút đỉnh, nên dù vẫn thiết tha cầu Phật đạo mà vẫn không bỏ việc lợi sanh, nhưng Bồ tát không có phụng sự cho dục vọng của chúng sanh đâu nghen!) Em nghĩ sao? Ư nhữ ý vân hà? Nếu những lời lẽ trên đây có làm em khó chịu thì tôi xin cáo lỗi và xác định lại: Ðây chỉ là lời lải nhải, độc thoại tự nhủ của một người hơn là ngỏ cùng độc giả vậy.
Mối Dây Thân Ái
Visakha là một nữ đệ tử tục gia của Phật. Một hôm bà đến thăm Phật tại tịnh xá Kỳ viên với nước mắt ràn rụa. Ðức Phật hỏi:
- Này Visakha! Sao hôn nay con có vẻ buồn thảm thế?
- Bạch Thế Tôn, con mới vừa mất đi một cháu trai dễ thương, không ai trông thấy cháu mà không mến yêu cho được.
- Này Visakha! Nếu như toàn thể cư dân thành Xá Vệ này là thân quyến của con... thì con cảm thấy thế nào?
- Bạch Thế Tôn, ước mong sao được như thế, con vẫn thầm mong rằng bất cứ người nào cũng đều là thân bằng quyến thuộc của mình.
- Nhưng này Visakha! Ở thành Xá Vệ này mỗi ngày có khoảng bao nhiêu người chết?
- Bạch Thế Tôn có lẽ khoảng hàng chục người...
- Nếu vậy thì... có ngày nào con được ráo nước mắt đâu?
- Bạch Thế Tôn! Thật là vừa đủ cho con với ngần ấy cô cháu, con dì, chú bác nội ngoại... để mà sầu lo buồn khóc...
- Này Visakha! Những ai có 100 người thân, kẻ ấy có 100 mối sầu, những ai có 50 người thân, kẻ ấy có 50 nỗi lo buồn.. những ai không chấp thủ rằng đây là ta, đây là người thân của ta, kẻ ấy không có sự khổ. Ta xác nhận rằng đó là người không sầu, không tham đắm, không có ưu não. Và đức Thế Tôn liền đọc kệ:
“Sầu than với đau khổ
Sai biệt có ở đời
Do thân ái chúng có
Không thân ái chúng không
Do vậy người an lạc
Ðược không sầu không than
Chớ làm thân làm ái
Với một ai ở đời.”
Người Yêu Muôn Thuở
Ba Tư Nặc là đức vua trị vì vương quốc Kosala, một quốc gia hùng cường ở Ấn Ðộ, trong thời Phật còn tại thế.
Ðức vua có một vị hoàng phi xinh đẹp tên là Mạt Lợi, mỹ nhân này là một cô công chúa của giòng họ Thích Ca, được vua Ba Tư Nặc đặc biệt sủng ái.
Một hôm nhà vua hỏi nàng Mạc Lợi:
- Trên đời này, ái khanh yêu ai nhất?
- Muôn tâu... dĩ nhiên là thiếp quý bệ hạ nhất.
- Trẫm cùng đoán là khanh sẽ trả lời như vậy.
Mạt Lợi mỉm cười:
- Muôn tâu, nếu thánh thượng cho phép thần thiếp sẽ nói khác đi một tí, nhưng xác thật hơn.
- Ái khanh cứ nói.
- Muôn tâu, người mà thần thiếp yêu quý nhất chính là thần thiếp.
- Sao? Mình lại yêu mình? Trẫm không hiểu ái khanh muốn nói gì?
- Tâu bệ hạ, vì có ái trọng tự ngã của mình nên thần thiếp mới yêu thương bệ hạ... Vì bệ hạ là người đã đem lại hạnh phúc cho cái tự ngã này.
- Trẫm đồng ý điều đó, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý của ái khanh.
- Muôn tâu, thần thiếp xin mạn phép nêu ra một câu hỏi: “Trên đời này bệ hạ yêu quý ai nhất?”
- Ái khanh chứ còn ai nữa?
- Nhưng giả sử như thần thiếp lại đi yêu thương chìu chuộng, ve vuốt một người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ tính sao... Muôn tâu, thần thiếp chỉ giả dụ vậy thôi.
- À... à... trẫm sẽ, trẫm sẽ...
- Nghĩa là bệ hạ sẽ nỗi trận lôi đình và chém đầu thần thiếp ngay lập tức?
- Ái khanh hỏi rắc rối thật!
- Muôn tâu, có đúng thế không ạ?
- À... à...
- Ðúng... phải không bệ hạ?
- Ờ... ờ... có lẽ đúng như vậy.
- Thế thì... bệ hạ đã hiểu rõ câu đáp của thần thiếp rồi chứ?
Nhà vua im lặng giây lâu rồi lặng lẽ gật đầu:
- Có lẽ, khanh nói đúng, mình chỉ yêu thương có mình mà thôi.
Hôm sau, đức vua xa giá đến Kỳ Viên thăm Phật và trình bày tự sự câu chuyện đối đáp giữa vua và hoàng phi Mạt Lợi. Ðức Phật đã xác nhận ý kiến của hoàng phi Mạt Lợi bằng một bài kệ trong kinh Phật Tự thuyết:
Tâm ta đi cùng khắp
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã.
Và đức Thế Tôn cũng nhắn nhủ luôn đức vua Ba Tự Nặc cùng số thính chúng đang hiện diện.
Tự ngã đối mọi người
Quá thân ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã
Chớ hại tự ngã người
Bát Báu Của A Tu La
Tương truyền rằng A Tu La là một loài chúng sanh ở khoảng giữa loài người và loài trời. Nam A Tu La thì hung bạo, xấu xí, còn nữ A Tu La thì trái lại cực kỳ xinh đẹp.
Các tôn giả A Tu La cũng có phước báu như chư thiên, nghĩa là không phải lao động vất vả như chúng ta mà vẫn có cơm ăn. Mỗi A Tu La đều có một chiếc bát báu, màu sắc và hương vị khác nhau, không ai có thể ăn ké của ai được hết.
Ðiểm đặc biệt của dân chúng A Tu La là họ rất dễ nỗi giận. Vì vậy mà hầu hết đàn ông con trai A Tu La đều dùng thì giờ rảnh rỗi để đánh lộn với chư thiên thay vì trồng trọt mua bán như loài người. Phụ nữ A Tu La thì không bận nấu nướng giặt giũ, tề gia nội trợ như phụ nữ của loài người nên rất ư là diễm lệ...
Nhưng mà... ấy chứ! Xin các tôn giả loài người chớ nghe nói thế mà vội vã phát nguyện sinh về thế giới của A Tu La. Cũng theo tương truyền rằng chiếc bát báu của loài A Tu La là một vật dụng kỳ dị. Nghĩa là trong giờ ăn khi các tôn giả A Tu La đang xực phàn một cách ngon ơ thì bỗng dưng thức ăn của họ bỗng biến thành đồ bất tịnh, đầy dẫy những bùn đất dòi bọ... Vì thế mà các A Tu La cảm thấy nhàm chán, thống khổ kịch liệt khi phám phá ra mình đang ngậm và nhai những của quỷ ấy!
Như thế loài A Tu La chỉ được ăn có nửa bát mà thôi... Nếu kẻ nào húp hết cạn tàu ráo máng thì không sao tránh khỏi tình trạng trên.
Em thân mến!
Truyền thuyết trên đây hư thực thế nào chúng ta chưa rõ được nhưng em có nhận thấy loài người chúng ta chỉ hưởng được có phân nửa hạnh phúc trần gian, hệt chiếc bát báu của loài A Tu La chăng!
Từ lúc chúng ta chào đời thân bằng quyến thuộc đầy đủ, nhà cửa sung túc, cầu được ước thấy. Ðó chính là nửa bát trên và nếu phần trên ngon ngọt dễ chịu bao nhiêu thì phần dưới lại đắng cay ê chề bấy nhiêu. Ðó chính là lúc chúng ta vật vã khóc than chôn cất hết người thân này đến người thân khác, phải đối diện với cái già, cái chết, những tai biến thình lình xảy đến. Cũng giống hệt như loài A Tu La, chúng ta không biết phải nên dùng đũa nào để khỏi ăn nhằm đồ bất tịnh.
Mỗi lần vớ được ngũ dục là chúng ta hưởng thụ một cách mê ly cho đến bao giờ bị chúng làm cho đau khổ khốc liệt, nuốt không xong mà nhả chẳng ra... đợi đến lúc ấy chúng ta mới chịu dừng đủa thì ôi thôi... quá muộn rồi!
Các thứ tình đời, tình bạn, tình yêu... đều là những món nhấm khó chịu như thế cả. Em có thấy vậy không?
Hãy thử nhìn các cặp tình nhân mới yêu nhau thì biết, khoé mắt, làn môi, giọng cười tiếng nói của họ đều biểu lộ một niềm hỷ lạc, hạnh phúc sung mãn tràn trề. Ðó là nửa bát trên. Và sau em hãy cố gắng nhìn tiếp, khi họ bắt đầu hằn học tru tréo, chửu rủa, đánh đập... tìm đủ các hành hạ nhau cho thỏa tức. Ðó là nữa bát dưới.
Ðiều oái oăm nhất là loài người chúng ta cũng như loài A Tu La, không ai tìm được ranh giới phân chia giữa khoái lạc và đau khổ để có thể dừng lại kịp thời. Trong lúc đang hưởng hạnh phúc nếu có ai ngăn cản, bắt chúng ta dừng lại đương sự sẽ đòi... uống thuốc chuột tự vận ngay... và thật là tội nghiệp khi người ta đang phản đối ầm ĩ, tìm đủ trăm phương nghìn kế để được tiếp tục hưởng món ăn ngon thì... đùng một cái thức ăn hóa thành độc dược...
Nhận chân được điều đó Ðức Phật khuyên chúng ta rằng: “Thọ là khổ,” nghĩa là cảm giác nào cũng khổ hết, kể cả các cảm giác gây khoái lạc vì bản chất của chúng là sinh diệt vô thường. Và Ngài cũng dạy chúng ta rằng nên thọ dụng những nhu cầu cần thiết sao cho diệt được thọ khổ mà đừng nảy sinh thọ lạc... nghĩa là nên dừng lại ở nơi đâu nhỉ?
- Thưa, ở nơi mà chúng ta thấy có đắm trước, trìu mến, lưu luyến thì phải một, hai, ba ngưng ngay lập tức... nguyên tắc thì như thế đó, nhưng khi thực dụng thì còn tùy theo sự không ngoan, mê hay tỉnh của từng người...
Nhưng mà có nhiều chúng sanh đã tình nguyện rằng: “Thà sống bên nhau (để được gây gổ, đánh đập hoài hoài) còn hơn là cô đơn gối lẻ,” nghĩa là họ tình nguyện nốc chén của mình cho đến giọt cuối cùng đó em ơi!
Bà Chúa Xứ
Thuở xưa có một anh chành xấu xí kia, con nhà nghèo, thất học phải sinh sống bằng nghề khuân vác mướn ngoài chợ. Người ta gọi anh là thằng Bu.
Bu làm việc siêng năng giỏi giắn nên cuộc sống của anh không lấy gì làm chật vật cho lắm. Có điều anh rất buồn khi chung quanh chẳng có ai coi trọng nể vì anh hết. Cũng như hầu hết mọi người, anh thèm thuồng được quyền uy, lòng ái mộ khát ngưỡng của đồng loại. Mặt mũi anh đã không thuộc loại đẹp trai, anh lại không có một làn hơi thiên phú để ca vọng cổ hay tân nhạc, nên anh không thể tiến thân bằng con đường văn nghệ. Anh lại tứ cố vô thân không tiền của nên khó mà mua danh vọng chức tước, chữ nghĩa lại chẳng bằng ai... Vậy thì phải làm cách nào cho thiên hạ ngán mình đây? Suy nghĩ suốt một đêm chàng Bu nảy ra một sáng kiến.
Một hôm, sau vài ly ba xị đế, Bu đến ngồi trước miễu Bà Chúa Xứ, một vị thần không được thiêng cho lắm, nên nhang tàn khói lạnh, mỗi năm chỉ được người ta cúng cho một lần. Bu đến trước cửa miếu, ngồi lắc lư ợ ngáp liên hồi... Ban đầu chỉ có bọn trẻ con tụ tập chung quanh anh sau đó là các bà vô công rỗi nghề, rồi dần dần có đến cả hội đồng bô lão của làng nữa. Người ta nhìn nhau thì thầm:
- Bà về! Bà về!
Vài mụ đàn bà góp ý:
- Khoảng nửa tháng nay đêm nào tôi cũng thấy có cục lửa to xẹt lên xuống ngang chòm cây này. Tui sinh nghi trong bụng mà không dám nói ra chớ.
Mỗi người góp một ý, vàng hương hoa quả được mang đến và chàng Bu nghiễm nhiên thành cái xác của Bà Chúa Xứ.
Từ đó, Bu không còn phải đi khuân thuê vác mướn nữa, người gọi anh bằng “Bà,” bằng “Ngài,” xúm xít cười vả lả, đón rước những lời nũng nịu, õng ẹo thốt ra từ đôi môi xám xịt của Bu. Anh mặc áo lụa quần sa ten trắng, đi hài cườm, thoa son phấn và đeo đồ trang sức.
Một tháng sau, Bu đã có vô số người ái mộ, những kẻ trước kia dòm Bu chỉ bằng nửa con mắt bây giờ lại kính cẩn lễ bái đón nhận từng mệnh lệnh của anh. Người ta đến xin bùa phép của anh để mua may bán đắt, để được sinh con trai, con gái, đánh đề, đánh bạc, đua ngựa, đá gà v.v... Bởi vì chư Phật và Bồ Tát thường ít khi chịu khó chìu lòng những tham vọng ấy của chúng sanh, thánh thần thì bận thưởng thiện phạt ác, ma quỷ thì đòi ăn hối lộ. Duy có anh Bu không đòi hỏi gì cả, ngoài việc ước mong được thiên hạ chìu chuộng, tâng bốc vuốt ve lòng tự ái của mình.
Ba tháng trôi qua, những cuộc lên đồng cầu đảo bất kể đêm ngày đã khiến Bu xuống sắc rõ rệt. Lớp son phấn dày cộm không che khuất đôi mắt đầy quầng đen. Càng đông người tín mộ, anh càng phải lên đồng thật xuất sắc... Anh không còn đủ thì giờ để ăn uống ngủ nghĩ... Những lúc mệt quá, anh cũng muốn nghĩ ngơi “thăng” đồng để trở lại đời sống bình thường của anh... nhưng những lúc ấy anh phải trở lại chấp nhận cái bản thân bình thường thấp kém của anh Bu khuân vác muớn, một điều mà anh muốn chối bỏ, anh phải chịu đựng những ánh mắt lạnh nhạt khinh bỉ của người chung quanh. Người ta sẽ gọi anh bằng “thằng,” bằng “mày.” Vì thế, dù mệt mỏi anh vẫn phải đồng hóa mình với Bà Chúa Xứ, một nhân vật do cư dân trong vùng lập ra và tôn thờ, chỉ ăn hương, uống hoa, sống bằng giọng đàn, tiếng địch cùng lời xưng tụng của người chung quanh.
Em thân mến!
Số phần của anh chàng Bu này sẽ ra sao? Ðiều này tùy thuộc vào anh. Nếu Bu khám phá ra rằng chính mình là nạn nhân của trò chơi lên đồng ấy, rằng sau những lúc trà nghiêng rượu nhạt... anh cũng phải trở về đối mặt với con người thật của anh: một anh Bu tầm thường, vô danh tiểu tốt. Nếu anh nhận thấy rằng anh đang bày trò điên loạn và trong cảnh giới cuồng điên đó anh đã được sự tung hô tán tụng của những người điên khác. Và nhất là những danh vọng hão huyền đó cũng chẳng thú vị gì cho lắm. Tại sao anh không trở về với anh Bu khuân vác thường ngày dù không được sự nể vì kính trọng của bàng dân thiên hạ nhưng ít ra anh cũng còn có cái thế giới tỉnh táo chân thật của con người tầm thường và bình thường.
Mặt khác nếu anh không thể nào chấp nhận con người chân thật của mình, thì anh cứ tiếp tục bám vào cái vỏ Bà Chúa Xứ bôi son trét phấn, hò hét ban phúc giáng họa cho được đông người ái mộ. Tín đồ càng đông thì “Bà” càng phải thiêng. Và nếu Bà Chúa Xứ không còn hợp thời trang nữa thì anh có thể đổi danh hiệu thành Bà Ngũ Hành, Cửu thiên huyền Nữ, hay là cô... cậu... nào đó.
Nước đời lắm nỗi, chúng ta chỉ có thể đoan chắc một điều là... giữa lớp danh vọng hư huyễn phù hoa đó, anh chàng Bu sẽ chết lần chết mòn. Thể xác mệt mỏi tinh thần điên đảo... Nếu trò chơi cứ tiếp tục thì chung cuộc anh sẽ vào nhà thương dành cho bệnh tâm thần.
Em thân mến!
Câu chuyện trên đây tôi đã đau xót viết cho riêng mình, nói với em cũng có nghĩa là tôi độc thoại một mình. Vì tôi không tin tưởng rằng có một cuộc đối thoại thực sự cảm thông khi chúng ta mỗi người còn đang ngóng về một hướng, mải miết đuổi bắt những lý tưởng tận đâu đâu... Tôi chỉ muốn hỏi em đã có lúc nào em thấy mình giống hệt anh Bu trên đây không?
Riêng tôi, tôi còn nhớ rất rõ ràng thuở bé tôi rất là hồn nhiên, không nhớ mình là trai hay gái, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, giỏi hay dở gì hết. Tôi sống thoải mái và vô tư như một chú gà con thì bỗng nhiên, dần dần tôi nghe người chung quanh nhận xét rằng tôi không đẹp bằng chị tôi, không giàu bằng nhà hàng xóm, không giỏi bằng bạn bè chung quanh... và cũng dần dần từ đó, tôi bắt đầu cảm thấy thống khổ kịch liệt khi thấy sao mà mình tầm thường quá đỗi... Không có một sở trường gì để tự “lăng xê” mình, làm nổi bật mình lên trước bàng dân thiên hạ. Rất nhiều đêm tôi niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát cầu mong sao cho mình được đẹp, được sang, được giỏi hơn thiên hạ. Mặt khác tôi cố gắng thức khuya dậy sớm bỏ ngủ quên ăn để học cho bằng bạn bè, những người hơn tôi cả tài lẫn sắc... để ít ra mình cũng chứng tỏ được cái khả năng của mình, rằng mình không phải là con số 0.
Em ạ!
Ðó chỉ là một thí dụ, một phần rất nhỏ trong cuộc đời đa thủ phức tạp của chúng ta. Ðiều khổ tâm nhất của chúng ta hằng ngày không phải là chuyện sanh, già, bệnh, chết, vì đó là một lý đương nhiên, không ai tránh khỏi, chúng ta thường khốn khổ, bứt rứt vì cái bản ngã của mình, sao mà mình nhỏ nhoi tầm thường quá, không có tí ti nào khả ái, khá kính dưới mắt ta và người chung quanh hết. Những lúc đối mặt với chính mình, ta phải cay đắng mà nhận chân rằng ta chỉ là một nhân vật quá mức tầm thường, một con số 0 to tướng. Thế là anh chàng Bu trong ta bắt đầu tham gia vào trò “lên đồng.” Từ con số 0 tùy theo cơ hội, hoàn cảnh và nhu cầu của người ái mộ chung quanh mà chúng ta sẽ thành một cái gì đó... Mỗi người đội một danh hiệu khác nhau nhưng cùng giống nhau ở một điểm là - chối bỏ con người tầm thường chân thật của mình để sống dưới lớp áo của những nhân vật rất mực phù hoa và giả dối... và em ơi! Một điều kỳ thú là chỗ chúng ta lẫn trốn sợ hãi, lại chính là chỗ mà các thiền sư đại ngộ. Lục Tổ há chẳng xác định một cách hùng hồn rằng: “Bản lai vô nhất vật” đó sao? Dưới bất cứ lớp áo nào và nhãn hiệu nào, em và tôi đều phải công nhận rằng, trong những giây phút chiếu soi nhìn lại mình, ta thấy mình quả là “vô nhất vật”, nghĩa là “ta không là gì cả, ta không phải là Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, cô cậu... gì hết. Không là gì hết... nhưng ta vẫn thấy nghe hiểu biết rất rõ ràng, cái khả năng “kiến văn giác tri” ấy chúng ta đều bình đẳng như nhau. Ðây chính là Lục Tổ nói: “Ðâu ngờ tánh mình bản lai thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ cả v.v... đó em!”
Khi anh chàng Bu không còn lên đồng nữa, không còn là ông kia bà nọ thì không phải là anh ta chết, anh ta chỉ mất - mất hết những cái gì giả dối không phải là mình thôi.
Nếu em thấy rằng “bà đồng” của mình hãy còn thiêng lắm, và thà rằng em đội lốt, mang mặt nạ, chìu theo thị hiếu của bàng dân thiên hạ, để được thờ phụng tung hô... và được vô vàn quyền lợi phụ tùng khác, thì em cứ tiếp tục. Không có ai, sẽ không có ai dám lên án, chỉ trích hay cười cợt em đâu... Vì lên án Bà Ðồng cũng có nghĩa là lên án luôn đám quần chúng đang ái mộ, và ai mà dại gì đứng ra chọc giận thiên hạ nhiều như thế. Em có thể yên tâm mà tiếp tục...
Nhưng... nếu như có hôm nào, quá mệt mỏi với cái trò chơi xốc nổi ấy, mặt nhìn tận mặt, soi lại lòng mình giữa cảnh hoang tàn của trà ôi, rượu nhạt, hoa héo, hương phai, nhìn thấy người chung quanh cũng chán chường mệt mỏi không kém mình... thì, em hãy thử một lần, làm sống lại con người năm xưa của chính mình, của anh chàng Bu khuân vác thử xem. Ðiều này đòi hỏi nơi em rất nhiều can đảm và hy sinh, vì em sẽ mất hết uy danh, quyền lợi, mất hết những người ái mộ cung nghinh, em sẽ bị xem thường, khinh rẽ... Em phải hy sinh hết vàng son, phấn sáp, danh lợi cùng uy quyền để đi may thuê cuốc mướn, phải đổ mồ hôi nước mắt mới có miếng ăn.
Thế nhân thường đi tìm sự thực, nhưng sự thực lại quá ư phũ phàng không giống như ta hằng mơ tưởng... nên... thà rằng, cứ nhắm tít mắt lại để còn có một thế giới hoa mộng, huyền ảo, mê ly.
Câu chuyện này xin dừng lại nơi đây, vì tôi bất chợt nhận ra rằng, dường như tôi đang lên một cơn đồng xuất sắc hơn, hợp thời trang hơn... bà đồng thường, đôi khi ta ngỡ rằng mình đã thức dậy, đi ra khỏi cơn mơ, nhưng sau đó thật lâu, ta mới vỡ lẽ ra rằng mình chỉ thay đổi tình tiết của giấc mơ mà thôi và điều mà ta thấy mình đang lên đồng thật xuất sắc là... khi có một hành động nào đó của ta được nhiều người vỗ tay tán tụng, khi mà từ cái Không, ta trở thành Có, và cái Có này, ngày càng bành trướng nảy nở ra. Chính những tràng pháo tay đã báo hại chúng ta không ít, nó xui ta cứ tiếp tục... chiêm bao, để được khen hoài khen mãi, em có thấy như vậy không? Hèn chi mà trong kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát khuyên ta cứ làm đi, làm mọi việc để lợi mình và lợi người, nhưng phải làm sao để cả “Tam luân” đều không tịch, nghĩa là không thấy có mình, có người và có pháp nữa, chỉ đem thân huyễn làm việc huyễn(dĩ huyễn thân tác huyễn sự) mà thôi. Các Ngài khôn quá phải không?
Ði Trắng Về Ðen
Xưa, có anh chàng thanh niên, đến nhà bạn chơi, lúc về gặp trời mưa ướt hết quần áo, chàng phải mượn y phục của bạn mặc rồi ra về.
Thấy chủ về con chó đã không mừng mà còn chạy ra cắn sủa ầm ỉ. Chàng trai tức giận cầm gậy định đánh chó, thời cha anh ta can:
- Ấy chớ! Không phải lỗi của nó đâu. Nếu con chó nhà ta đi đâu về màu lông trắng hóa thành đen thì con có đánh đuổi nó không đả?
Em thân mến!
Chỉ trách người thay đổi mà không thấy sự thay đổi của mình là một trong những chuyện thường xảy ra ở cái trần gian điên đảo này. Có lẽ vì vậy mà cổ nhân đã để lại cho ta một lời khuyên thật khôn ngoan:
“Trách người một trách ta mười
Bởi ta tệ trước nên người bạc sau.”
Khi Người Ðẹp Trả Thù
Mạn La Hoa là cô gái đẹp nhất của kinh thành U Du. Vừa đẹp đẽ lại vừa giàu sang thuộc dòng danh giá vọng tộc nên cô được không biết bao nhiêu Vương tôn công tử gấm ghé cầu hôn. Cha mẹ cô thuộc dòng dõi danh giá vọng tộc và rất giỏi nghề tướng số. Như bao nhiêu đấng sanh thành khác, song thân của Mạn La Hoa rất lấy làm hãnh diện về cô con gái cưng của mình. Họ nhất định phải chọn cho được chàng trai nào có đầy đủ 32 tướng tốt, bất kể giàu nghèo để gả con gái cho.
Khi ấy đức Thế Tôn của ta mới ngoài 30 tuổi. Trên đường hoằng pháp Ngài đi ngang qua kinh thành U Da. Nhác trông thấy từ dung của Ðức Ðạo Sư, thân phụ cô Mạn La Hoa đã giật mình sửng sốt. Ðây quả là chàng rể đông sàng mà ông bà thầm ao ước. Nhìn tới ngắm lui thấy Ngài quả thật hết chỗ chê, ông Bà la môn thân phụ của Mạn La Hoa liền bước tới ngõ lời:
- Này cậu sa môn! Không nói giấu gì cậu, già đây cũng là người có chút đỉnh danh vọng ở vùng này, già hiếm hoi chỉ được một gái, tuổi vừa đôi tám, bộ dạng cũng huê mỹ mặn mà... không biết bao nhiêu người đã gấm ghé cầu hôn mà già đây chưa nhận lời. Bữa nay chợt gặp cậu đây, già liền sanh lòng yêu mến. Vậy, cậu hãy chịu khó đứng đây, già về dắt má bày trẻ đến bàn chuyện.. và đem quần áo tốt cho cậu thay đổi rồi về gia trang của già.
Ðức Thế Tôn làm thinh không đáp.
Ông Bà la môn hối hả chạy về nhà, gọi vợ:
- Này má nó ơi! Hỷ tín! Chàng rể nhà ta đã đến rồi.
Bà vợ tất tả chạy ra, ông liền thuật lại tự sự rồi dắt vợ đi tìm Ðức Thế Tôn.
Lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn đang ngồi thọ thực dưới bóng mát của một tàng cây. Ông lão sốt ruột lẩm bẩm:
- Ủa! Ðâu rồi cà... Rõ ràng là tôi dặn y đứng chờ, y làm thinh có mòi chịu lắm mà!
- Hồi nãy, ba nó gặp ở chỗ nào?
- Thì ngay đây nè! Ðó... dấu chân y còn in rõ nơi đây... má nó thấy không? Bàn chân này có một không hai trên đời này...
- Ông à! Sao tui thấy dấu chân này lạ quá...
- Thì tui đã nói với bà rồi, còn lạ lùng gì nữa... Y đẹp trai số dzách, tướng hảo vô song, xứng đôi vừa lứa với con Hoa nhà mình lắm.
- Ông à... tui thấy không ổn rồi...
- Sao? Bà thấy cái giống gì mà không ổn?
- Cái dấu chân này có vần thiên luân... chứng tỏ người này đã dứt lòng dục nhiễm rồi.. Hạng này không chịu lập gia đình đâu ông.
- Thôi đi bà ở đó mà tướng với số. Y đã bằng lòng rồi mà. Kia kìa! Y đang ngồi dưới tàng cây kia.
Hai ông bà liền đến gặp Phật nhắc lại chuyện trăm năm. Ðức Thế Tôn liền tùy cơ nói pháp, sau thời pháp cả hai ông bà đều đắc quả Tu Ðà Hoàn, xin quy y làm đệ tử tục gia của Phật.
Trong khi ấy, Mạn La Hoa ở nhà trang điễm kỹ lưỡng theo lời cha mẹ dặn dò, hồi hộp chờ đợi vị hôn phu thì con hầu gái đã tất tả chạy về mách lẻo trước.
- Tiểu thơ ơi! Tiểu thơ.
- Cái gì?
- Dạ... dạ hỏng rồi!
- Cái gì hỏng? Cá khô hay là cơm khét?
- Dạ... hỏng phải chuyện đó...
- Chứ chuyện gì?
- Dạ... chuyện trăm năm của tiểu thơ đó...
- A! Con bé này láo thật, mi dám xen vào chuyện của chủ nhân à?
Cô hầu gái, bị rầy, tiu nghỉu:
- Xin tiểu thơ tha lỗi cho... từ rày về sao con không dám thế nữa...
- Ðược rồi lần đầu cô tha cho... lần sao thì phải đòn đấy. Mà này, em biết gì... nói cô nghe thử...
- Dạ... dạ cái ông sa môn đó, tuy có đẹp trai thật nhưng mà khinh người số một. Con núp đàng sau cội cây nghe ổng đối đáp với lão gia rõ mồn một... ổng chê rằng... nhưng ... con không dám nói đâu...
- Em cứ nói, cô cho phép...
- Thưa tiểu thư, ổng bảo rằng thân thể của tiểu thư bẩn thỉu, hôi thíu lắm...
Mạn La Hoa tái mặt, lần đầu tiên cô mới nghe một lời phẩm bình về cô quá khó nghe như thế. Con hầu gái vẫn thản nhiên nói:
- Ổng nói là: Cô con gái của hai ông bà chỉ có thể mê hoặc những tên đàn ông ngu ngốc thôi... ổng nói là... cơ thể của cô ngày đêm rỉ chảy đủ thứ đồ ô uế như đàm dãi, phân tiểu... Là lúc ổng tu hành ở trong rừng, mấy bà tiên ở trên trời xuống đòi làm hầu thiếp mà ổng còn hỏng thèm... Là, cái thể xác của tiểu thư, cho ổng đụng tới bằng ngón chân, ổng cũng không thèm là...
Quá sức chịu đựng, Mạn La Hoa ném ngay lọ hoa xuống đất, hét:
- Im ngay! Im ngay! Ta cấm mi không được lập lại những lời này với một kẻ thứ hai nào hết... Nếu trái lời, đừng trách ta độc ác... Nghe rõ chưa?
- Dạ rõ!
Thấy nữ chủ nổi trận lôi đình, con hầu gái vội vàng lẩn mất. Mạn La Hoa nằm vật xuống giường òa lên khóc nức nỡ.
Hồi lâu, cô hậm hực nhìn về phía Ðức Thế Tôn đang ngự, chỉ tay gằn giọng:
- Này ông sa môn ngạo mạn kia hãy mở con mắt chống lỗ tai lên mà xem Mạn La Hoa này, ông phải trả giá cho những lời nói hỗn xược của ông... Làm như ta đây là thứ ế ẩm để dành bán sol... không bằng.
Với chủ tâm trả thù Phật, ngày hôm sau Mạn La Hoa cho bắn tin với đại vương thành U Du rằng cô đã bằng lòng. Một tuần sau cô trở thành hoàng phi của vua U Du, đệ nhất phu nhân của vùng Kosambi.
Nhiều năm trôi qua, ngày mà hoàng phi Mạn La Hoa chờ đợi đã đến, đức Phật cùng A Nan du hóa qua vùng Kosambi. Những tay chửi lộn mướn chua ngoa nhất của kinh thành đều được tu tập lại... để đón chào đấng Ðạo Sư. Ngài điềm nhiên đi qua những con đường vang rền các âm thanh thô tục như không có chuyện gì xảy ra. Riêng tôn giả A Nan, tối mặt tối mũi trước những âm thanh kỳ quái ấy, bèn bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn... chúng ta đi về thôi...
- Về đâu? Hỡi A Nan...
- Thưa... đi đến một thành phố khác như thành Ðề Xá chẳng hạn.
- Nhỡ nơi ấy cư dân lại đón tiếp thầy trò y hệt nơi đây thì ông tính sao?
- Thưa, chúng ta sẽ đi qua thành Hoa Thị...
- Và nếu tình trạng của thành Hoa Thị lại tương tự như đây thì ông tính sao?
- Bạch Thế Tôn... chúng ta sẽ đi và sẽ đến những nơi nào mà người ta không bạc đãi mình như thành Vương Xá, thành Tỳ Xá Ly chẳng hạn.
- Này A Nan! Tại sao cư dân các thành phố đó lại ưu ái và ân cần với thầy trò mình?
- Thưa... vì họ đã nghe pháp, hiểu pháp, đã có trí huệ để biết đâu là hành động lành, đâu là hành động dữ... nên rất khát khao được chiêm ngưỡng Ðức Thế Tôn.
- Và này A Nan! Còn cư dân vùng này tại sao lại đón tiếp thầy trò mình kiểu này?
- Bạch Thế Tôn, vì họ chưa hề biết đến Phật pháp, chưa phân biệt rõ đâu là nghiệp lành hay nghiệp dữ nên họ mới hành động như thế.
- Này A Nan! Ví như có một vị đại lương y tài giỏi, thương bệnh nhân như con đẻ. Vị lương y này có bao giờ dán bố cáo trước cổng rằng:
“Nơi đây bổn hiệu chỉ nhận chữa bệnh cho người lành mạnh hoặc ít bệnh. Còn ai đau nặng thì xin miễn tiếp” hay không?
- Bạch Thế Tôn! Không bao giờ, vì thấy thuốc hay cần cho người bệnh nặng chứ không phải dành riêng cho người khoẻ mạnh.
- Này A Nan, cũng thế, Như Lai ra đời là vì lợi ích cho những chúng sanh si ám chưa phân biệt rõ thiện và ác, chuyên tạo nghiệp dữ để chiêu vời những quả khổ trong ba đường ác. Những người bệnh nặng cần lương y như thế nào thì cư dân nơi đây cũng cần đến sự hiện diện của Như Lai như thế đó. Cư dân của các thành Tỳ Xá Ly cùng Vương Xá giống như những người khoẻ mạnh hay ít bệnh, các đệ tử Như Lai hiện diện nơi đó cũng đủ rồi, còn nơi đây nếu Như Lai không đích thân giáo hóa thì còn ai dám đến nữa hở A Nan?
- Nhưng bạch Thế Tôn ở đây có ai thèm nghe Thế Tôn nói Thế pháp đâu? Họ đã đón tiếp Thế Tôn bằng những gì thối tha bẩn thỉu nhất. Những người bệnh nặng cả mà không cần thầy thuốc thì dù lương y có sẵn lòng từ tâm cũng chỉ luống công vô ích mà thôi.
- Này A Nan! Một người bị bệnh nặng, thân lẫn tâm bị xúc não, thống khổ... không thể nào có những tâm niệm, ngôn ngữ và hành vi như một người bình thường được. Vị lương y phải tận tâm hành nghề không xao xuyến vì lời nói và cử chỉ bất nhã của bệnh nhân, cho đến bao giờ, thấy rằng cư dân vùng này thật sự không còn cần đến Như Lai nữa, Như Lai sẽ đi ngay.
Ngay lúc ấy tên chúa trùm du đãng, thủ lãnh các tay anh chị chửi lộn mướn, liền bước ra nói:
- Thưa sa môn Cồ Ðàm! Con xin đại diện cho cư dân vùng này nói chung, và toàn thể anh chị em chửi lộn mướn chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư nói riêng, xin được ngỏ lời xin lỗi Ngài cùng ông thầy đây. Qua câu chuyện đối đáp giữa thầy trò của Ngài chúng con vô cùng hối hận... Vậy xin Ngài Cồ Ðàm đừng giận, mà hãy ở lại đây để dạy dỗ chúng con, những bệnh nhân đang hấp hối.
Một tuần lễ sau dân chúng thành U Du lại cư xử với đấng đạo sư hệt như cư dân thành Vương Xá, thành Tỳ Xá Ly.
Ngày đức đạo sư cùng tôn giả A Nan lên đường đi du hóa nơi khác dân chúng lũ lượt kéo nhau đi tiễn đưa, rải hoa và khóc than rất là bi thiết.
Tất cả những sự kiện ấy đều đến tai hoảng phi Mạn La Hoa, bà hoàng này không biết làm gì hơn là trút cơn giận vào những thái giám và thị nữ dưới tay mình.
Em thân mến!
Tất cả mọi chúng sanh đều có Phật tánh, đầy đủ trí huệ như Phật không khác... nhưng có lẽ điểm khác nhau rõ rệt giữa Ngài và chúng ta là:: Ðức Thế Tôn chuyển nghịch thành thuận không nề gian khổ trong chuyện độ sanh... còn chúng ta hàng đệ tử Phật – thì gặp phải nghịch cảnh thì vừa chạy vừa khóc, thối thất tâm bồ đề.
Có lần Ðức Thế Tôn đã dạy Sa di La Hầu La như thế này: “Nếu con đòi rằng, mỗi lần đi đến đâu chúng sanh phải trải chiếu bông để đón chân con, để con khỏi dẫm lên gai góc... thì điều đó thật là khó thực hiện... Vì làm sao người ta có thể tìm ra đủ số chiếu để làm vừa lòng con? Chi bằng hãy mang một đôi giày vào chân thì tha hồ mà xông bờ lướt bụi.”
Ðôi giày này tức là đức nhẫn nhục đó em ơi! Bọn mình có thể thêu câu này vào chiếc khăn tay (thường được dùng để quẹt nước mắt và hỉ mũi) hay không, hở nhỏ?
Chim Cú Mèo
Xưa có con chim Cú mèo làm tổ chung trên một cây với chim Gáy.
Một hôm Cú mèo đến từ giã chim Gáy để dọn đi nơi khác, Gáy ngạc nhiên hỏi:
- Bác đi đâu thế?
- Tôi dời nhà sang phương Tây.
- Sao thế? Có việc gì làm trở ngại cho bác? Tôi trông nơi đây sinh sống dễ dàng, mát mẻ, sao bác lại bỏ đi?
Cú mèo buồn rầu đáp:
- Dân cư vùng này không ưa tôi.
Chim Gáy dịu dàng bảo:
- Này bác ạ! Chỗ thân tình với nhau tôi nói cho bác nghe... sở dĩ người ta không ưa bác là vì tiếng kêu của bác. Nếu sang phương Tây bác cũng kêu như thế thì người ta cũng ghét bác thôi... Chi bằng bác đổi tiếng kêu thì đông tây gì cũng tốt như nhau, chẳng ai ghét bác nữa đâu mà sợ.
Cú mèo nghe nói, giận dữ bỏ đi đến miền Tây ở. Ðúng như lời tiên đoán của chim Gáy, dân chúng miền Tây cũng ghét bỏ nó, Cú mèo đâm ra hận đời, nhất định đi vào thâm sơn cùng cốc, lánh xa loài người, loài vật, mặt trời, mặt trăng...
Em thân mến!
Ðổi chỗ ở bao giờ cũng dễ dàng hơn sửa đổi một số tật của mình, phản ứng nhất thời của chúng ta mỗi khi gặp trở ngại, bị bạc đãi là giận dữ bỏ đi. Ta chỉ muốn giữ lại mối tương giao nào mà cái huyễn ngã của chúng ta được ái mộ chìu chuộng vuốt ve, những hành động của ta được tung hô vạn tuế... Bằng ngược lại, ta hờn, ta dỗi, ta hận đời đen bạc, than rằng sao người ta không hiểu mình, rằng sao mà mình cô đơn quá v.v...
Vậy thì nên đổi cảnh hay đổi tâm đây? Em có để ý rằng chư vị Bồ Tát dù ở địa ngục mà vẫn hỷ lạc như cảnh trời đệ tam thiền, còn chúng ta ở giữa cảnh đời này trăng thanh gió mát, hoa thắm lá xanh, bụng no thân ấm mà vẫn muộn phiền khôn nguôi chăng?
Và có lẽ cứ mang cái mạng mộc của mình đi lang thang từ nơi này sang nơi khác, dù gặp được những chốn thong dong như cõi Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà đi nữa, chúng ta cũng chỉ tự làm phiền mình và các chúng sanh lân cận mà thôi. Em nghĩ sao?
Người Trong Mộng
Xưa, có một anh chàng họa sĩ tài ba đẹp trai nhưng phải cái tội nghèo.
Một hôm thừa hứng, chàng họa nên một bức tranh giai nhân tuyệt đẹp. Chàng họa sĩ say sưa ngắm nhìn người trong tranh, tô lục chuốt hồng vào, càng nhìn càng thêm ngơ ngẩn...
Nhìn tới ngắm lui, lâu ngày chày tháng họa sĩ đâm ra si tình người trong tranh... Suốt ngày chàng chỉ lẩn quẩn bên tranh để tỏ tình, quên cả ăn ngủ và làm việc để kiếm tiền mua gạo.
Tình trạng càng ngày càng bế tắc, sợ chàng họa sĩ chết mòn vì đói, song thân chàng tìm cách cho chàng một người vợ, nhưng khốn nỗi... Làm sao tìm cho được người trong mộng cho chàng họa sĩ tài ba này đây?
PC: Xin hỏi nhỏ: Khi chúng ta cảm thấy yêu (hay ghét) một người nào, là chúng ta yêu ngay đương sự hay là vớ nhằm một cái bóng do chính mình họa nên về nhân vật đó. Thưa chư hiền hữu!
Và trong tình trạng này thì phải “làm sao để giết được người trong mộng đây?”
Nắm Tay Không
Bé Xí rất khoái ăn bánh kẹo.
Một hôm, má đi chợ vắng, hũ bánh lại ở ngay tầm tay còn gì bằng, Xí thò tay bốc ngay một nắm thật to. Nhưng eo ôi! Sao hũ bánh níu chặt lấy tay bé... dùng hết sức bình sanh mà bé lôi bánh ra cũng không được... cả con nô cũng bó tay. Xí đành khóc đợi mẹ về.
Lúc mẹ về, mẹ chỉ cần bảo: “Con thả nắm bánh ra.” Cái tay không có nắm bánh nào, chui ra khỏi hũ một cách dễ ợt! Sao lạ vậy?
Hèn chi có người làm thơ rằng: “Thà không nắm bắt còn hơn buộc ràng.” Nhưng ai buộc ai đây?
Lợi Danh
Lão tử tuy nghèo khổ, có khi phải đói khát nhưng lại là một bậc hiền nhân của nước Trịnh. Vua Trịnh sai người chở đến cho Liệt Tử mấy chục xe thóc, ông chắp tay bái dài không nhận. Bà vợ Liệt Tử đấm ngực than, ông bảo:
- Vua mà thương ta không do chỗ thâm tình mà nhờ người mách lẻo. Vì thế mà ta không nhận lộc. Vả chăng nếu chịu bổng lộc của người gặp lúc người hoạn nạn mà mình không liều chết để giúp kẻ vô đạo thì thuộc loại bất nhân. Vì vậy mà ta không nhận. Thôi! Má bầy trẻ đừng có làm phiền ta nữa. Lời bàn
Kiếm được chút đỉnh lợi danh không phải là chuyện dễ. Ðược lợi thì mất danh, có danh thì hết lợi.
Tình Nghĩa
Xưa, nước Tề đem quân đi đánh nước Lỗ. Vừa đến biên giới, quân Tề thấy một người đàn bà nước Lỗ tay bồng tay dắt hai đứa bé đi lánh nạn.
Tướng quân giặc kéo đến, người thiếu phụ vội bỏ đứa bé đang bồng trên tay xuống, bế đứa kia chạy trốn. Ðứa bé bị bỏ rơi chạy theo kêu khóc, người thiếu phụ vẫn không ngoảnh lại.
Tướng quân nước Tề cho bắt người thiếu phụ lại hỏi:
- Ðứa bé chị đang bế là con ai? Ðứa chạy theo là con ai?
Thiếu phụ thưa:
- Ðứa tôi bế là con người anh tôi, đứa tôi bỏ lại là con ruột tôi. Sức tôi không thể nào bảo toàn cả hai đứa nên đành bỏ nó lại.
Tướng giặc ngạc nhiên hỏi:
- Phụ tử tình thâm, sao chị nỡ bỏ con mình để giữ lấy con của người?
Thiếu phụ đáp:
- Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công... Bỏ con đẻ tuy đau lòng quặn ruột thật, nhưng tôi không thể “bất nghĩa” mà sống được... Và con tôi, có lẽ cũng không muốn có một người mẹ vô nghĩa như thế.
Tướng quân nước Tề bèn tâu với vua xin bãi binh. Vì một người đàn bà ở vùng biên địa còn giữ gìn được như thế huống là các hàng sĩ phu. Vua Tề đồng ý.
Vua nước Lỗ biết chuyện, thưởng cho thiếu phụ 100 tấm lụa và phong cho hai chữ: “Nghĩa Cô”
Vậy Sao???
Thiền sư Hakuin là một tăng sĩ được cư dân quanh vùng ca tụng và kính trọng như một ông Phật sống.
Gần tịnh thất của sư có một thiếu nữ rất đẹp. Một hôm cha mẹ mỹ nhân chợt khám phá ra con mình có mang.
Qua biết bao là phiền phức, mỹ nhân thú thật rằng: thiền sư chính là người tình vụng trộm của mình. Bao nhiêu danh thơm tiếng tốt của sư đều đổ xuống bùn nhơ cả. Bà mẹ dẫn cô gái đến gặp thiền sư. Ðáp lại trận mưa ngôn ngữ thịnh nộ của khách, sư chỉ mở mắt hỏi:
- Vậy sao?
Khi đứa bé chào đời, nó được bà ngoại mang đến tịnh thất với những lời sỉ vả cay đắng kèm theo. Từ dạo đó cư dân thường thấy thiền sư đi trì bình với một đứa bé trên tay. Sư nuôi nấng đứa bé rất tử tế... Chú bé lớn lên rất bụ bẫm... chú tập bò, đứng và đi lẫm dẫm chung quanh chiếc thiền sàng của sư. Chỉ khi nào chú bé ngủ say, sư mới đi tọa thiền được.
Hơn một năm sau, mỹ nhân thú thật rằng: cha chú bé không phải thiền sư Hakuin.
Sau bao nhiêu lời sám hối dài dòng và phiền toái, thiền sư trao chú bé lại cho bà ngoại chú, cũng với hai tiếng “Vậy sao?”
Ngôi tịnh thất im lìm trở lại, vắng bặt tiếng u ơ của trẻ thơ và thiền sư khi đi trì bình chỉ còn vỏn vẹn cái bình bát.
Cư dân lại ca tụng và kính trọng sư như một ông Phật sống.
Lời bàn:
Có muốn bắt chước theo... cũng khó.
Cầu Ðược Ước Thấy
Xưa, có một chúng sanh đang chịu quả khổ ở địa ngục. Trong cơn đau tận mạng y niệm Phật luôn miệng, van:
“Xin Ngài cứu con thoát khỏi cái chảo dầu sôi này. Làm thân ngạ quỷ cho đỡ khổ hơn...”
Bụt và Diêm vương nghe van mủi lòng, bèn cho y được như nguyện.
Làm ngạ quỷ được vài hôm, y lại kỳ kèo:
“Xin Ngài làm phúc cho con được làm thân súc sanh, một con chó... cũng được, chứ làm ngạ quỷ... khổ quá trời ơi!
Y liền được mang thân một con chó tên là Nô. Nô lại than van:
“Hỡi ơi! Thân chó nào có sướng ức gì... ước chi con được thân người... Gâu... gâu... gâu!
Nô liền được như nguyện... mang thân một chị đàn bà xấu xí, bán ve chai sống qua ngày. Chị ve chai lại rên rỉ:
“Trời Phật ơi! Khổ thân tôi xấu xí thế này sống chi thêm cho nhục... ước chi tôi dễ coi một chút để kiếm một ông chồng mà nương tấm thân liễu yếu. Hu, hu!
Chị ve chai lại biến thành một thiếu nữ khá mặn mà... Và có vô số anh hùng rấp ranh bắn sẻ. Sau mấy năm kén cá chọn canh, treo cao giá ngọc, chị lên xe hoa với một người trong mộng. Mười năm sau chị lại than thở:
“Trời ơi, chồng với con ước gì tôi được như thời con gái, không có cả đống phụ tùng rắc rối, tui sẽ cạo đầu vô chùa tu quách. Ư hự!
Cầu được ước thấy, chị thành một tu sĩ.
Người ta lại nghe sư cô này than van:
- Ư hự! Phải chi mình được “sinh phùng trung quốc, hội ngộ minh sư” (sinh ra gặp chốn may mắn, gặp thầy sáng suốt dẫn dắt) thì tu mới không ngán, đàng này không ai chỉ dạy tu gì mà chỉ thấy phiền với não.
Sở cầu hợp pháp này được chuẩn y lập tức. Sư cô được gởi vào một Phật học ni viện, lần này các ni sinh bạn cô lại nghe kể lể:
“Học chi mà lắm thế. Học mà không tu thì như mang dãi sách, đói ăn mà không no... ước chi tôi được gặp một thiền sư, ở trong một thiền viện để vừa tu vừa học, tri thành hợp nhất... hi... hi...
Bụt liền giúp cô trở thành một thiền sinh trong một thiền viện “Bất tác bất thực.” Thiền sinh này thường chống cuốc than thở:
“Chèn ơi! Quanh năm chỉ thấy cào bới với cuốc cày. Làm mãi không có thì giờ để tu. Ước gì tôi được nhập thất để giải quyết sinh tử, nhất đao đại hoạn, hừ hừ!
Bụt lại ra tay, một cái thất được dựng lên cấp tốc, một, hai, ba, bốn thí chủ hùn tiền giúp cô an tu. Ngồi bó rọ trong thất đương sự loay hoay tính toán:
- Phải chi có ai tu giùm, mình ké vô để thành Phật thì sướng biết mấy. Sư chưa kịp ao ước thì bỗng bắt được cái điện tín của Diêm vương gởi qua cái răng sâu... và cả tiếng thì thầm của bọn quỷ sứ dưới âm phủ:
- Tâu Diêm chúa, chảo dầu này hai đứa con chụm sắp sôi rồi, chừng nào Diêm chúa lôi cái tên đa sự đó về đây?
PC: Xin hãy đọc câu chuyện này giống như đọc một cuốn sách thuộc loại “khoa học giả tưởng.”
Trân trọng!
Người Bốc Vác
Xưa, có hai thiền sinh có việc phải hạ sơn. Trên đường đi đôi bạn gặp một thiếu nữ xinh xắn ngồi buồn rầu bên vệ đường.
Chả là cô ta muốn đi ăn cỗ cho sáng sủa, mà lại bị một vũng bùn to ngang đường chẹn mất lối đi.
Vị thiền sinh trẻ tuổi nhất liền giúp cô ta qua đường. Sau lời cảm ơn đường ai nấy đi.
Buổi chiều vừa về đến cổng tu viện, vị thiền sinh lớn tuổi đã khều tay bạn hỏi một cách bực dọc:
- Này chú, tại sao hồi sáng chú dám cả gan bế một thiếu nữ xinh đẹp thế kia qua vũng bùn mà không sợ ô nhiễm đến giới thể ư?
Vị thiền sinh trẻ tuổi ngạc nhiên:
- Ơ hay! Em đã đặt cô nàng xuống bên kia vệ đường rồi cơ mà! Sao sư huynh còn cõng cô ta về tận nơi đây?
PC: Vác một cô nàng như thế từ sớm đến chiều thì kể cũng nặng thật.
Cô Lái Ðò
Xưa, có một thiền sinh có việc phải sang sông. Ngồi trên đò, sư cũng hơi kinh ngạc vì nhan sắc dễ coi của cô gái miền quê.
Ðến lúc lên đò, hành khách mỗi người phải trả một quan. Sư cũng định thế, không ngờ cô gái hóm hỉnh bảo:
- Xin thầy trả cho tôi hai quan.
Sư còn đang ngạc nhiên thì cô gái đã tiếp:
- Một quan tiền đi đò và một quan cho về khoản nhìn người lái.
Vốn không ưa tranh cãi lôi thôi, sư liền trả cô hai quan tiền nhưng trong bụng hơi tấm tức. Bận về sư cứ dí mũi xuống sàn thuyền không dám nhìn lên. Nào ngờ lần này cô lái bảo:
- Xin thầy cho em 5 quan.
Không nhịn được nữa, nhà sư cãi:
- Nhưng tôi có nhìn cô đâu nào?
Cô gái cười mĩm:
- Ðồng ý là thầy không nhìn tôi bằng mắt, nhưng thầy lại nhìn bằng tâm... Vì thế mà tôi tăng giá gấp đôi lên cơ chứ!
PC: Nếu mỗi móng tâm động niệm của chúng ta đều phải trả tiền kiểu này thì có lẽ chỉ còn nước đi ở đợ mới thanh toán nổi!
Kiếm Khách Lừng Danh
Xưa, có một chàng trai, con của một kiếm sư lừng danh. Dưới sự đào tạo của ông cha vô số kiếm khách đại tài xuất hiện. Nhưng điều lạ lùng là kiếm sư từ chối không truyền nghề cho con. Ðiều này khiến chàng trai rất buồn và cảm thấy lòng tự ái bị tổn thương.
Một hôm chàng bỏ nhà ra đi, tìm một kiếm sư lừng danh khác xin thọ giáo. Kiếm sư này lại từ chối y hệt như ông thân sinh của chàng:
- Chú không đủ tiêu chuẩn để học nghệ thuật này đâu!
Chàng trai đau khổ khẩn khoản:
- Kính bạch tôn sư... nhưng nếu con cố gắng chuyên cần nhất mực, thì sẽ mất bao nhiêu lâu mới đủ tiêu chuẩn để thành một kiếm khách?
- Cả cuộc đời còn lại của chú.
- Nhưng bạch tôn sư... con không chờ đợi lâu như vậy... con còn cho mẹ già phải phụng dưỡng. Con sẽ hiến thân làm một người giúp việc cho tôn sư và con không từ nan bất cứ một việc khó khăn nào... thì con phải mất bao lâu mới thành tài?
- Có lẽ khoảng 10 năm...
- Bạch tôn sư... thời gian ấy vẫn quá dài đối với con... Nếu chuyên cần hơn nữa, thì phải mất bao nhiêu lâu?
- Có lẽ... 30 năm.
- Bạch tôn sư! Người muốn đùa con chăng? Sao trước Ngài bảo con 10 năm, bây giờ lại tăng lên 30 năm? Con tha thiết học và sẽ không từ nan bất cứ trở ngại nào... Con xin tôn sư chiếu cố đến tấm chân tình của con... thâu bớt thời gian lại.
- Thôi được! Mi nóng nảy, bộp chộp quá. Ta giảm xuống 3 năm... Mi phải ở đây tối thiểu là 7 năm.
Chàng trai chợt hiểu ra khuyết điểm của mình là thiếu kiên nhẫn. Chàng vội vã kêu lên:
- Con đội ơn tôn sư vô cùng...
Từ đó chàng trai ở lại bên thầy, tận tụy lo cơm nước, rửa chén, quét nhà, làm vườn, đi chợ v.v...
Ba năm cực khổ trôi qua, kiếm sư vẫn chưa truyền cho chàng một bí quyết nào và chàng cũng không được sờ đến thanh kiếm. Một hôm, đang nấu cơm, thình lình chàng bị vị kiếm sư rón rén đến sau lưng và tặng cho một nhát kiếm gỗ vào mạng sườn đau điếng. Và từ đó lúc nào chàng cũng lưu ý đề phòng những cú đánh lén của thầy... dù là đang gánh nước, bửa củi, cuốc đất hay ngủ nghỉ. Chẳng bao lâu chàng trai trở thành một tay kiếm lừng danh, tên chàng là Matajuro.
PC: Nghệ thuật học thiền cũng học y như vậy đó. Người thiền sinh cũng phải làm những chuyện xem ra chẳng dính dáng gì đến thiền hết như nấu cơm, cuốc ruộng, trồng rau, tỉa lúa chẳng hạn...
Và cuộc đời là một ông thầy vô cùng tận tâm lúc nào cũng sẵn sàng đâm lén chúng ta bằng những thanh (kiếm gỗ) bát phong trí mạng. Hỡi ơi! Kiếm gỗ còn có thể đón được chứ bát phong thì dễ có mấy ai?
Ông Phật Mũi Ðen
Xưa, có một sư cô trên đường tìm giác ngộ sư cô có một tượng Phật bằng vàng y rất quý... đi đâu cũng mang theo bên mình, và đốt hương cúng hoa mỗi ngày.
Một hôm trên đường hành cước, sư phải tá túc chung với một hội chúng đông đảo. Và ông Phật vàng cũng phải ở chung với một đại chúng Phật đá, Phật đồng v.v...
Sư cô chỉ muốn xông hương trầm cho một mình ông Phật vàng thôi. Sau nhiều đêm suy nghĩ sư tìm ra một cách khiến hương trầm chỉ bay thẳng vào mũi ông Phật vàng, các ông Phật khác khó mà ngửi ké được.
Nửa tháng trôi qua... chiếc mũi được xông trầm hương của ông Phật vàng bỗng đen thui thủi!
PC: Ðược chúng sanh ái mộ chưa chắc là điều dễ thở...!
Sư Ðệ
Thiền sư Bankei có rất nhiều đệ tử đoanh vây để học pháp. Trong số đó có một chú đệ tử nhỏ thường hay ăn cắp vặt và đã bị bắt quả tang nhiều lần.
Thấy thiền sư cứ bỏ qua không đá động gì đến tội phạm, các sư huynh của chú tiểu phạm tội liền họp nhau làm một tờ đơn thỉnh nguyện, dâng lên sư phụ, dọa rằng họ sẽ bỏ ra đi tất cả nếu thiền sư còn làm ngơ không xử tội tên ăn cắp.
Ðọc xong tờ khiếu nại, thiền sư bèn họp chúng tuyên bố:
- Tốt lắm, cứ theo tờ thỉnh nguyện thư này thì các con đều là những người thông minh phân biệt rành rẽ về thiện và ác... các con có thể đi bất cứ nơi nào cũng xuôi chèo mát mái cả... Và thầy cũng không có gì để lo ngại. Duy có thằng đệ tử đáng thương này là chưa biện rõ tà chánh... Thầy có bổn phận phải dạy dỗ nó. Các con cứ lên đường, nó phải ở lại đây với thầy. Chú tiểu ăn cắp òa lên khóc... Và từ đó chú không bao giờ tái phạm lỗi cũ. Tất cả môn đồ đều xin ở lại, và họ sống bên thiền sư cho đến ngày khi người viên tịch.
PC: Tìm được một bậc thầy như thiền sư Bankei không phải là chuyện khó. Khó nhất là tìm người đệ tử biết hối cải như chú tiểu trên đây.
Thiền Trong Mọi Phút
Teno là một thiền sư vừa hạ sơn, sau 10 năm khổ luyện công phu, sư đến yết kiến thiền sư Nanin, một đại thiền sư nổi danh thời ấy.
Vừa gặp mặt Nanin đã hỏi:
- Lúc nãy nhà thầy bỏ chiếc dù bên phải hay bên trái đôi guốc trước khi vào thiền thất của ta?
Teno bối rối thú nhận rằng đã không nhớ rõ và đành ở lại xin thụ giáo với sư Nanin. Một lần khác Nanin lại hỏi:
- Khi nãy thầy bỏ dép trước khi vào thất thầy đã bỏ dép ở chân nào trước?
Teno cũng không thể trả lời được. Nhiều năm trôi qua Nanin vẫn không dạy dỗ gì thêm ngoài chuyện dù dép. Cho đến một hôm tự thấy mình đã hoàn toàn hành thiền được trong bốn oai nghi. Teno đến từ giã thầy ra đi. Nhưng lại thêm một lần rủi ro nữa. Thầy mở cửa hơi mạnh tay khiến nó vang lên một tiếng động nhỏ... điều này chứng tỏ thầy đã dụng một sức lực quá mức cần thiết... Teno lại phải ở bên thầy thêm vài năm để học về cách đóng cửa... Và sau 6 năm ở với Nanin, sư trở thành một thiền sư lừng danh của nước Nhật.
PC: Rốt cuộc cũng chỉ là chuyện dù với dép, tay với chân... Sao không là chuyện có chút gì là cao siêu huyền bí hết? Vậy mà Teno đã dám bỏ ra 6 năm dài để học những chuyện vặt vãnh ấy. Muốn bắt chước Teno còn khó hơn là bắt chước Tây Thi nhăn mặt nữa... Hỡi ai! Những điều mà chúng ta bỏ qua và khinh thường luôn luôn là những điều cổ nhân lưu ý nhất.
Ryonen
Ryonen là một thiếu nữ xuất thân từ một gia đình vương giả. Nàng được gia đình cho phép xuất gia vào năm 25 tuổi và hãy còn rất đẹp.
Sắc đẹp của Ryonen gây ra nhiều rắt rối không một thiền sư nào dám nhận nàng vào tu viện vì một lý do duy nhất là dung nhan của Ryonen sẽ gây xáo trộn cho đồ chúng họ.
Ryonen liền lấy cái bàn ủi nóng xóa đi cái chướng ngại cuối cùng ấy. Nàng đã viết lên tấm gương soi những dòng chữ đánh dấu sự thành công của mình:
“Ngày xưa ta đốt hương trầm
Ướp xông những chiếc quần hồng áo sa
Muốn làm khất sĩ ta bà
Chính tay ta đốt mặt hoa của mình.”
Về sau, Ryonen trở thành một thiền sư đắc đạo.
Sư tịch vào năm 66 tuổi.
PC: Có vô số thiền sư ni, khỏi đốt mặt cũng không gây rắc rối cho ai ngoài chính mình.
Dòng Suối Trường Xuân
Xưa, có hai vợ chồng già yếu, hiền lương nhưng không có con cháu cấp dưỡng nên vẫn phải làm việc lam lũ.
Một hôm sau khi cuốc đất ông cụ than thở:
- Ước chi mình được khoẻ mạnh như thời trai tráng thì dù có vất vả mấy cũng không ngán... đàng này...
Nghe lời cụ than thở, bụt hiện ra bảo:
- Ta có thể giúp con thực hiện lời mong ước giản dị đó. Cách đây 5 dặm về hướng Ðông, có một dòng suối nhỏ. Ngày mai con xuống đó tắm sẽ cải lão hoàn đồng trở lại.. như ý con muốn.
Ông cụ mừng rỡ ra về, giữ kín chuyện và sáng hôm sau tất tả đi tìm dòng suối mầu nhiệm nọ. Quả nhiên là kỳ diệu. Vừa ngâm mình vào làn nước, cụ đã cảm thấy trong người dâng lên một sức sống kỳ diệu... Cụ thấy số tuổi mình giảm dần... từ 60 xuống đến 50 rồi 40... 30 cho đến lúc vừa trở thành một thanh niên 25 tuổi thì cụ già... (í quên)... chàng thanh niên chứ, bước lên bờ tự nhũ:
- Bây giờ mình đã đủ sức cầm một chiếc rìu rồi... phải về nhà báo tin cho bà nó mới được.
Lại đến lượt cụ bà tất tả chống gậy ra đi... giòng suối vẫn còn đó và sự mầu nhiệm lại tái diễn...
Từ số 70, bà cụ dần dần thục lui đến 60, 50, 40, 30 rồi 25. Ðáng lẽ phải bước ngay lên bờ như lời đấng phu quân căn dặn.. bà cụ... (í quên)... cô nàng lại ngẫm nghĩ:
- Dễ gì dịp may trở lại hai lần... mình là đàn bà thế nào cũng mau già hơn đàn ông... phải tắm thêm chút nữa đã. Dòng suối vẫn còn mầu nhiệm một cách vô hình, người thiếu phụ bước sang tuổi 20, rồi 19, 18, 17...
Buổi chiều chàng trai đợi mãi không thấy vợ về... nóng ruột... đi tìm, đến bờ suối chàng gặp phải một bé gái... và chỉ còn biết thở dài bế nó về nhà.
PC: Lo ra, lo xa và nhanh nhảu đoản là một trong những sở trường của phe ta ấy mà!
Ảo Ảnh
Thuở xưa có một vị hoàng tử chào đời trong niềm vui mừng của nhà vua, hoàng hậu và thần dân cả nước. Nhưng không may cho cậu bé, hoàng hậu mất đi rất sớm, bà mẹ kế muốn dành ngai vàng cho con trai mình nên âm mưu cho bộ hạ mang hoàng tử vào rừng giết đi.
Vị thái giám mang chú bé vào rừng nhưng không nỡ xuống tay, đành giao đứa bé ngây thơ lại cho một bọn thợ săn sống nơi triền núi. Chú bé lớn lên vô tư như một cây xanh dưới nắng và gió... hoàn toàn không hay biết gì đến nguồn gốc vương giả của mình.
Thời gian trôi qua, chẳng bao lâu chú bé trở thành một thanh niên cường tráng... Chàng trai vẫn vô tư sống giữa đoàn thợ săn như một cội tùng non xanh tâm tư hoàn toàn thoải mái như thú rừng. Chàng không hề biết đến những ai khổ lụy của những con người phố thị. Cho đến một hôm người trưởng đoàn thợ săn cho phép chàng theo ông ta xuống núi.
Những bước chân vô tư của chàng hoàng tử có cội nguồn vương giả này thản nhiên đặt chân trên những nẽo đường của đế đô nơi mà trước kia dân chúng đã đặt hương án chào mừng ngày sinh của chàng.
Chàng trai vô cùng kinh ngạc về sự xa xỉ của dân phố thị, chàng không hiểu tại sao thế nhân lại có thể chìm đắm cười khóc theo những trò đời, mà theo chàng nhận xét có vẻ ấu trĩ và điên rồ khôn tả.
Sau hai tháng rong chơi ở thành phố, thấy mãn nhãn những màu sắc vinh hoa phú quý của trần đời, chàng theo người trưởng đoàn trở về, lòng không vương một hạt bụi nhỏ, rừng núi gió trăng và kiếp sống hạc nội mây ngàn tưởng chừng là một thế giới riêng biệt thân yêu nhất của chàng. Trên đường về hai thầy trò dừng chân bên một bờ suối vốc nước uống... khi bất chợt ngẩng mặt lên chàng trai trẻ sửng sờ kinh ngạc, chưa bao giờ chàng trông thấy một thiếu nữ quyến rũ như thế. Trong khoảnh khắc, núi rừng trở nên âm u tẻ nhạc... một cái gì chợt thức dậy trong lòng chàng... một sức sống mãnh liệt bừng dậy khắp mọi nơi, chàng trai tưởng chừng như mình mới mở mắt lần đầu tiên... dường như chàng mới thức dậy sau giấc ngủ nghìn năm mê mệt... Trời xanh hơn, mây trắng bồng bềnh, cây cỏ lá hoa đều đậm đà màu sắc một cách kỳ diệu. Thần ái tình đã bắn mũi tên định mạng. Người trưởng đoàn đã thấy niềm xao xuyến của chàng tuổi trẻ... Ông bồi hồi nhớ lại thời thanh xuân của mình và bất giác rùng mình, cánh chim đại bàng vương giả sắp đến ngày ra ràng... những hốc đá hoang vu của ông không đủ rộng cho đại bàng giăng cánh, ông chỉ thấy lòng đau xót lẫn đắng cay. Có phải đây là đoạn đường mà ai cũng phải một lần hăm hở bước qua? Và mấy ai qua đó mà không thân bại danh liệt, nước mắt tràn mặt mày?
Vì thế khi chàng trai trẻ lúng túng ngỏ ý xin rời đoàn ít lâu, ông chỉ im lặng nhìn chàng... Và sau cái nhìn lặng lẽ của ông, con chim đại bàng liền tung cánh.
Người thiếu nữ đã đánh thức giấc ngủ bình an của chàng thanh niên quả là một nhan sắc hiếm có, và cũng giống hệt như bao nhiêu mỹ nhân khác nàng rất tự kiêu về mình. Chàng trai đã bao lần quỳ gối trước mặt nàng xin suốt đời làm kẻ nô lệ nhưng nàng vẫn lạnh lùng. Song thân cô gái khám phá ra nơi kẻ si tình có một sức mạnh vô địch và họ không bỏ qua điều đó. Ðể lấy lòng ông bà nhạc tương lai và nhất là người đẹp, chàng trẻ tuổi đã làm quần quật suốt ngày, phá rừng vỡ núi... chàng không từ nan một trở ngại nào miễn sao được thấy mặt nàng là đủ... Chàng cũng mơ hồ cảm thấy mình đã đặt mối đam mê vào một khoảng trống... nhưng hệt như tất cả kẻ si tình khờ dại khác, chàng trai mới lớn này đã hăng say lao đầu vào bể khổ với tất cả sự vụng dại lẫn thật thà. Niềm hy vọng của chàng sống leo lét cho đến một ngày kia nhà vua mở cuộc đi săn... qua vùng đất Hứa và như một định luật thiên nhiên, cô gái đẹp nhất vùng đã tìm đến đấng quân vương trẻ tuổi.
Mọi người đã không khám phá ra tài thiện xạ của chàng trai miền núi... mãi đến khi nhà vua trẻ tuổi của họ ngã gục dưới mũi tên của kẻ tình địch thì chàng trai đã nhanh chân chạy mất, lẹ như một con cheo. Chàng chạy trốn như một tên điên, toàn thân ướt đẫm mồ hôi và vết cào xướt của cây rừng... cho đến lúc kiệt sức, ngã gục bên bờ suối, chàng mới chợt thấy mình đang ở bước đường cùng... Cuộc đời chàng há không đã chấm dứt rồi sao? Hình bóng mỹ nhân như một mũi tên cắm sâu vào lồng ngực. Ðó là một nỗi niềm đau nhức mới lạ và khó chịu... số ngôn từ ít ỏi và chất phác của chàng không đủ để diễn tả nỗi u uất sầu khổ, chàng chỉ có cảm giác như một con thú rừng bị trúng tên độc và đang thoi thóp thở những hơi cuối cùng... Chưa đến một năm mà chàng đã đi đến cuối đoạn đường, chàng trai trẻ hồn nhiên vô tư của rừng núi đã ngã gục bên kia bờ suối... Con đại bàng vương giả vừa giăng cánh đã gục chết trên cây.
Khi chàng trai tình dậy chàng không biết mình ở đâu, mê hay tỉnh. Chàng đang nằm trên một đệm rơm, và bên bục đá là một vị sư đang ngồi tĩnh tọa. Gương mặt của người dường như phảng phất một nụ cười. Ðôi mày của nhà sư bạc trắng như một cách hạc nhưng màu da lại hồng hào. Khuôn mặt ấy có một cái gì vừa hồn nhiên vừa ngây thơ như trẻ nít. Chàng đưa mắt quan sát vẻ đơn sơ của một nơi ẩn dật và bắt gặp một rổ khoai nấu chín còn âm ấm, nằm trong tầm tay với của mình.
Mãi đến chiều hôm sau nhà sư mới xuất định. Người nhìn chàng trẻ tuổi với ánh mắt của một người thân, chàng trai đọc được niềm thương hại lẫn chế nhạo trong nụ cười của nhà tu. Chàng kính cẩn dâng nước cho ông như một chú tiểu sơ cơ vào đạo. Hai thầy trò không nói với nhau một lời. Trò không dám mở miệng trước và thầy sau khi uống một ngụm nước đã đi nhập định trở lại.
Nhìn gương mặt bình an của nhà tu, chàng trai thấy dường như nỗi thống khổ cay đắng của mình chỉ là một trò chơi trẻ dại. Chàng nhớ lại những ngày thơ ấu cùng bọn mục tử chơi đùa, trò chơi thường kết thúc bằng tiếng cãi vã, gây gổ, lắm khi lại đem đến những màn ấu đả phải nhờ đến sự can thiệp của người lớn mới chấm dứt được.
Thuở ấy chàng đã nhiều lần tự hỏi không hiểu tại sao mình đã để những quy luật ăn thua giả tạo của trò chơi gây buồn phiền uất hận. Khi từ giã đoàn mục tử để đeo đuổi mỹ nhân, chàng há đã không hăng say lao đầu vào một cuộc chơi mới đó sao? Trò chơi vẫn chưa kết thúc... Và chàng thì đã mất hết sức sống.
Thế giới của nhà tu bình an như một mặt nước, có phải nhờ họ bỏ cuộc chơi hay đã nắm vững trò đùa không bị nao núng bởi những qui ước giả tạo của thế gian?
Bảy ngày trôi qua, nhà sư ngoài những lời tĩnh tọa vẫn im lặng như một tảng đá. Chàng trẻ tuổi không thể nào chịu nổi nữa... Một hôm chờ lúc nhà tu vừa xả thiền, chàng tấn công ngay, bằng cách kể lại câu chuyện mình cùng những nỗi u uất, chán chường đang rút mòn sinh khí của chàng. Nhà sư im lặng lắng nghe và khi chàng trai đòi hỏi một câu nói, sư chỉ thốt lên hai tiếng “ảo ảnh”. Chàng trai thất vọng nhiều hơn là tức giận. Chàng những tưởng đã tìm đâu đó một lối thoát qua phong cách thoát tục của nhà tu, nào ngờ sư chỉ buông hai tiếng nhẹ như một làn gió. Chàng gằn giọng:
- Sao có thể là huyễn hóa được?
Nhà sư bật cười, với tay lấy bình nước trao cho chàng trẻ tuổi:
- Ta khát quá, không thể nói nhiều được, con cho ta một ít nước suối mát.
Chàng trai ôm bình ra suối múc nước. Ðến lúc ngẩng mặt lên, ô kìa! Chàng có mơ chăng? Mỹ nhân đang đứng ở bên kia, mắt dáo dác như muốn tìm ai. Nhác trong thấy chàng, nàng đã nhanh như một con sóc, chạy đến quỳ ôm hôn chàng khóc tức tưởi...
Chàng trai mềm lòng... Chàng còn được biết thêm rằng sau khi nhà vua băng hà, quan thái giám tiết lộ tông tích của chàng và quần thần đang chờ tôn chàng lên ngôi cửu ngũ.
Và hệt như một chuyện đời xưa, chàng trai được rước về lên ngôi vua, mỹ nhân làm hoàng hậu. Họ sinh ra những đứa con kháo khỉnh và đẹp như tiên đồng ngọc nữ. Mười lăm năm trôi qua. Sau một trận chiến bại, đức vua bị quân giặc bắt giam vào ngục đá với bà hoàng gào khóc phát điên và bầy con chết nằm la liệt chung quanh...
Nhà vua thấy tim mình như vỡ ra từng mãnh... những sợ dây mắt xích, bà vợ điên, đám con chết nằm đoanh vây, tất cả đè nặng lên con tim già nua của ông.
Ngay lúc đó ông bỗng nghe tiếng nói nhẹ nhàng của thiền sư:
- Chỉ múc có một bình nước mà đã nửa giờ hơn... sao lâu vậy chú?
Chàng trai mở bừng mắt, chàng thấy mình còn đang đứng bên bờ suối, tay ôm bình nước... và tóc hãy còn xanh.
Nhà tu mĩm cười:
- Ảo ảnh là thế đó chú ạ!
Từ đó chàng trai không bao giờ rời núi nên không ai biết chàng tịch lúc nào và ở đâu!
PC: Ảo ảnh là như vậy đó em ơi!
BÀI LIÊN QUAN
Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm "Khóa hư lục" ( Thượng toạ Thích Phước Đạt , 7482 xem)
Diệu dụng của Bát-nhã ( Phước Tâm dịch , 5545 xem)
Sống để làm gì? ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 7264 xem)
Giàu nghèo do ai? ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 6851 xem)
Tình - Tiền - Tù tội ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 11264 xem)
Hạnh Bồ Tát ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 6247 xem)
Thiên hạ ai cũng có tâm ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5438 xem)
Phật dạy 20 điều khó ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 6000 xem)
9 điều nên nhớ ( Thích Đạt Ma Phổ Giác , 5079 xem)
Nên tập sống chung tu học ( Thượng tọa Giác Trí , 8965 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













