Trang chủ > PG Việt Nam > Nhân vật

Tiểu sử Hòa thượng Giác Huệ (1939 - 1980)

Tác giả: Môn đồ hiếu quyến.  
Xem: 21420 . Đăng: 02/04/2015In ấn


Tiểu sử Hòa thượng Giác Huệ (1939 - 1980)

 

 

HÒA THƯỢNG GIÁC HUỆ

TRƯỞNG GIÁO ĐOÀN VI - HỆ PHÁI KHẤT SĨ

 

1. THÂN THẾ VÀ THỜI NIÊN THIẾU

 

Hòa thượng Giác Huệ, thế danh Ngô Trọng Tín, sinh ngày Rằm tháng 8 năm Kỷ Mão (1939) tại Gia Định - Sài Gòn, nay là quận Bình Thạnh, TP. HCM. Ngài sinh trưởng trong một gia đình hiền lương nhân hậu, có nề nếp Nho phong lễ giáo. Thân phụ là nhà văn Ngô Trọng Phú, thân mẫu là cụ bà Lâm Thị Lựu, pháp danh Minh Ngọc. Hòa thượng là người con thứ hai trong gia đình có ba anh em trai. Năm cậu bé Trọng Tín lên ba tuổi, thân phụ của Người qua đời.

 

2. THỜI KỲ TRƯỞNG THÀNH

Tuy cha mất sớm, nhưng nhờ sự giáo dưỡng của mẹ hiền nên đến tuổi cắp sách đến trường, cậu bé Trọng Tín học hành chăm chỉ, ngoan ngoãn, lễ độ và lúc nào cũng vâng lời mẹ và các anh chị:

Trên thời hiếu thảo mẹ già
Dưới thời anh chị thuận hòa với nhau.
Nhờ hấp thụ tinh thần biết kính tin Tam Bảo theo truyền thống gia đình nên lúc còn đi học, trong những ngày nghỉ, Hòa thượng thường theo người dì đến chùa lễ Phật nghe kinh. Nhờ vậy, Hòa thượng được Tổ sư Minh Đăng Quang thương mến và ban cho pháp danh là Huệ Chơn. Thật là:

Huệ trí phá tan đời tục lụy
Chơn tâm thị hiện đạo viên thành.
Kể từ ấy, Huệ Chơn lập hạnh trường chay, quyết chí tu tập theo bậc xuất trần thượng sĩ. Rồi một hôm Hòa thượng quỳ bên chân đức Tổ sư cầu xin xuất gia tu học, nhưng Tổ sư thấy Huệ Chơn tuổi còn nhỏ nên bảo: “Hãy học hết bậc trung học rồi đi tu cũng không muộn.” Vâng lời chỉ dạy của Tổ sư, Huệ Chơn cố gắng dồi mài kinh sử để một ngày kia được làm môn đệ của Tổ sư. Vào năm 1954, Tổ sư vắng bóng để lại cho Huệ Chơn nỗi buồn thương tiếc khôn nguôi. Thế nhưng, sự vắng bóng của vị Thầy khả kính không làm thối chuyển đạo tâm mà còn nung nấu chí nguyện xuất gia của Người nhiều hơn nữa.

3. THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC

Một dịp nọ, đoàn Du tăng Khất sĩ do đức Thượng tọa Giác Chánh đến Sóc Trăng trụ lại Tịnh xá Ngọc Khánh. Khi ấy, Huệ Chơn tròn 15 tuổi. Không để mất cơ hội, Huệ Chơn liền gặp đức Thượng tọa Trưởng đoàn xin xuất gia và được Thượng tọa chấp nhận. Từ ấy, ‘Huệ Chơn’ được đổi pháp danh thành ‘Giác Huệ.’ Nhưng không bao lâu thì:

Nợ trần còn chút nghiệp vương,
Huệ Chơn theo gót huyên đường hồi quy.
Do lòng hiếu kính không dám làm phiền lòng mẹ nên Hòa thượng cam đành theo mẹ trở về nhà, nhưng trong thâm tâm, Người vẫn nuôi hy vọng mong đạt thành chí nguyện. Sau khi trở về gia đình, dù trong đời sống của cư sĩ tại gia, Hòa thượng vẫn lập hạnh quyết chí theo đời sống của người xuất gia, giữ gìn oai nghi tế hạnh, ăn uống theo đúng giới pháp của người xuất gia:

Mỗi ngày một bữa ngọ trưa,
Cũng vừa đủ sống, lại vừa trau tâm.
Do công hạnh đó mà tâm mẹ Ngài lần lần thay đổi, và sau cùng bà đồng ý cho con xuất gia trở lại. Thế là, cánh chim bằng lướt gió tung bay, bao nguyện ước đã trở thành hiện thực. Giác Huệ xuất gia lần thứ hai vào ngày Rằm tháng Bảy năm Ất Mùi (1955), lúc bấy giờ Hòa thượng vừa tròn 16 tuổi. Đặc biệt trong ngày lễ xuất gia lần này, Hòa thượng Giác Huệ được đức Thượng tọa Giác Chánh cho đắp y Sa-di trong ngày ấy và theo đoàn Du tăng đi hành đạo ngay sau khi thọ giới. Thời gian thấm thoát qua nhanh, với công phu tu tập đạo hạnh, vào ngày Rằm tháng Bảy năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng được thọ Cụ túc giới tại Tịnh xá Liên Trung (Cần Thơ), thực sự bước vào hàng xuất gia bình đẳng, sánh vai cùng chư huynh đệ để “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.”

4. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Suốt trong thời kỳ xuất gia học đạo đến khi thọ Đại giới từ năm 1955 đến năm 1958,, lúc nào Hòa thượng cũng lo trau giồi đạo hạnh, lập công bồi đức, học hỏi các bậc Thầy Tổ và đàn anh đi trước để phát huy sáng kiến, đổi mới tư duy hầu làm lợi ích cho nhân sanh vạn loại. Sau năm 1954, Tổ khai sơn Hệ phái Khất Sĩ vắng bóng, đoàn Du tăng Khất Sĩ do đức Trưởng lão Giác Chánh và Trưởng lão Giác Như thừa truyền dẫn dắt hành đạo khắp miền Tây Nam bộ, miền Đông và miền Trung. Chính trong thời gian này, Hòa thượng đã theo chân Đức Nhị Tổ thuyết pháp giảng kinh, tiếp chúng độ Tăng, làm lợi lạc quần sanh. Từ năm 1958 đến năm 1960, trên đà phát triển, Đạo Phật Khất Sĩ thành lập các đoàn Du tăng do các vị Đại đệ tử của Tôn sư đứng ra xiển dương Chánh pháp, đáp ứng nhu cầu học đạo của cư gia bá tánh. Trong suốt thời gian hoằng pháp độ sanh từ 1962 đến 1971, Hòa thượng đã xây dựng được 10 ngôi tịnh xá: 1. Tịnh xá Ngọc Lợi (Bạc Liêu), 2. Tịnh xá Ngọc Châu (Tân Châu), 3. Tịnh xá Ngọc Ánh (Chợ Mới), 4. Tịnh xá Ngọc Huệ (Cai Lậy), 5. Tịnh xá Ngọc Tường (Mỹ Tho), 6. Tịnh xá Ngọc Mỹ (Mỹ Tho), 7. Tịnh xá Ngọc Tân (Thủ Thừa), 8. Tịnh xá Ngọc Lâm (Quận 6), 9. Tịnh xá Lộc Uyển (Quận 6), 10. Tịnh xá Ngọc Diệp (Quận 3). Với biện tài vô ngại, từ năm 1972, Hòa thượng được GHPGVNTN (VNQT) mời giữ chức vụ “Tổng Vụ trưởng Vụ Hoằng pháp.”

Ngoài ra, Hòa thượng còn tiếp nhận 15 ngôi tịnh xá khác xin gia nhập vào giáo đoàn. Năm 1971, “Giáo Hội Khất Sĩ Việt Nam”[1] ra đời, trong nhiệm kỳ đầu 1971-1973, Hòa thượng được công cử làm Tăng trưởng và đến nhiệm kỳ 1973-1975 được bầu làm Tổng Trị sự trưởng cho đến ngày đất nước được giải phóng hoàn toàn.

Sau ngày đất nước hòa bình, Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước ra đời và Hòa thượng được mời làm Cố vấn Ban Liên lạc Phật giáo Quận 6 cho đến năm 1980. Trong quá trình hành đạo năm 1955 đến năm 1980, trên 20 năm giáo hóa chúng sanh, Hòa thượng đã thâu nhận nhiều Tăng Ni xuất gia và tiếp độ hàng ngàn cư sĩ thọ Tam quy Ngũ giới. Đối với đoàn thể, Hòa thượng là vị lãnh đạo sáng suốt. Đối với Hệ phái, Hòa thượng là một giảng sư lỗi lạc. Với đức tính khiêm cung, bình dị, Hòa thượng lúc nào cũng hòa mình với đại chúng, kính trên nhường dưới, luôn gìn giữ đạo hạnh của người Tăng sĩ. Ngoài việc tu học, Hòa thượng còn phát huy năng khiếu làm thơ, sáng tác truyện ngắn và cộng tác với nhiều nhật báo trong mục thơ văn.

Những tác phẩm do Ngài sáng tác gồm có: Thẳng Nét Mực Tàu, Tôn Giáo và Thế Giới Ngày Mai, Tôn Giáo và Sự Thống Nhất Nhân Loại, Đường Xa Xứ Lạ, Thằng Sửu Con Loan. Về thơ có: Giác Huệ Thi Tập I, Giác Huệ Thi Tập II (Bông Huệ Trong Rừng Thiền).

Hòa thượng có những đóng góp đáng kể về phương diện thơ văn cũng như làm lợi ích cho chúng sanh qua nhiều phương tiện. Đối với Phật giáo thế giới, Hòa thượng cũng được mời tham dự Đại hội Phật giáo Thế giới ở các nước Nhật Bản, Mã Lai, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore.

5. THỜI KỲ VẮNG BÓNG

Với tâm nguyện đem Chánh pháp phổ hóa nhân gian, nên ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Thân (1980), Ngài ra hải ngoại để thực hiện tâm nguyện của mình. Nhưng rồi, từ ngày đó bóng Thầy biệt vô âm tín. Người đã thực sự ra đi không bao giờ trở lại.Mãi mãi về sau, môn đồ pháp quyến và toàn thể Phật tử xa gần vẫn một lòng hướng tâm mong đợi bóng Thầy.

Thầy con nay đã đi rồi,
Đường mây giá lạnh phương trời cách xa.
Trời chiều ngả bóng xế tà,
Đêm về sương lạnh xa xa bóng Thầy.
Dư âm văng vẳng đâu đây,
Dường như lời giảng của Thầy hôm nao.
Gió lay cành lá xạc xào,
Thầy con nay đã đi vào… hư vô…
Thế là bóng Thầy đã biền biệt nơi phương trời vô tận.

6. KẾT LUẬN

Phật dạy:

Hữu vi là pháp vô thường,
Sớm còn tối mất vô phương vững bền.
Một khi sinh diệt đã xong,
Niết Bàn an lạc thong dong tháng ngày.

Trong suốt cuộc đời xuất gia hành đạo của Hòa thượng, với 42 tuổi đời, 25 năm hành đạo, Hòa thượng đã thể hiện mẫu mực tinh thần lợi tha qua các hoạt động thuyết pháp độ sanh, thâu nhận Tăng Ni xuất gia hành đạo, phát huy mở rộng ngôi nhà Chánh pháp làm chỗ dựa nương cho cư gia bá tánh. Đó là những công đức mà Hòa thượng đã làm được trong cuộc đời hành đạo. Những tưởng trên bước đường phụng sự đạo pháp phục vụ chúng sanh ngày càng hưng thịnh, Hòa thượng vẫn còn là ánh đuốc soi đường dẫn lối cho Phật tử bền lâu, nào ngờ Ngài lại sớm ra đi!!! Thế nhưng, qua bài thơ “Sống Lâu Hay Chết Yểu," chúng ta hiểu được quan niệm của Hòa thượng thì khác:

Chết yểu người ghê muốn sống lâu,
Riêng tôi, tôi chẳng quản cần đâu.
Chỉ cần cái sống làm sao ấy,
Cái sống muôn đời dứt khổ đau.
Còn hơn cái sống muôn ngàn tuổi,
Mà cứ nồi da xáo thịt nhau.
Như thế thà rằng tôi chết yểu,
Hơn tôi gây tội ngất trời cao.

Phải chăng đây là lời tiên đoán của Thầy trước ngày vắng bóng.

 

NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT. 


[1] Lúc bấy giờ, Giáo đoàn VI còn hoạt động độc lập, chưa phải là thành viên chính thức của Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam. “Giáo Hội Khất Sĩ Việt Nam” này được thành lập không có sự tham gia của chư Tôn đức Trưởng lão đệ tử của Đức Tổ Sư.

 

------oo0oo------

Nguồn: Đạo Phật Khất Sĩ

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)

Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)

Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức

Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.

Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến

Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày

VIDEO HÔM NAY

Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ