Trang chủ > Phật Học > Luận Văn

Trình Bày Quan Điểm Về Đức Phật Của Đại Thừa & Đại Chúng Bộ

Tác giả: Bảo Minh Trang.  
Xem: 10631 . Đăng: 17/01/2015In ấn

Trình bày quan điểm về Đức Phật của Đại Chúng Bộ và Đại Thừa

Tác giả: Bảo Minh Trang

          A. Dẫn nhập

Nguyện lớn cao sâu của Phật Đà

Uy lừng vọng mãi  tận ngàn xa

Truyền ban đạo pháp tươi nhuần não

Phát triển tâm linh rực rỡ  nhà.

Hạnh sáng từ bi hiền kết quả

Gương  lành hỷ xả thiện bồi hoa

Soi đường tứ  chúng về an lạc

Nguyện lớn   cao sâu của Phật Đà.

Nói đến Đức Phật là nói đến một sự huyền bí cao siêu nhất, một nhân vật cao cả nhất ở trong lòng muôn vạn người Phật tử ở bốn biển năm châu. Sự xuất hiện của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong trần thế là cả một vinh hiển lớn cho con người và xã hội. Ngài là kết tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng; là hiện thân của chân lý giải thoát, là điềm lành cho tất cả chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới. Nếu cuộc đời không đau khổ tối tăm, đức Phật đã không xuất hiện ở đời. Ngài ra đời vì một mục đích trọng đại là chỉ bày cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến của chính mình. Trong Tăng Nhất A Hàm có nói về Đức Phật như sau: “ Một chúng sanh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho phần đông, vì hạnh phúc cho phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của Chư Thiên và nhân loại”.[1] Danh từ Phật dưới quan điểm Đại Chúng Bộ, Phật giáo Nguyên Thủy, hay Phật giáo Đại Thừa  cũng đều sáng ngời một ánh từ bi vô tận, một vầng hào quang ấm áp, một tấm gương sáng ngời nhân từ bác ái.  Một người vừa rất thật là người với ánh từ bi chiếu khắp năm châu bốn biển vừa rạng sáng tình người, vừa mang tính cao siêu huyền diệu của Bậc Thánh siêu phàm. Khi nghe tới danh Ngài là tất cả Phật tử đều hướng vọng đến với một tâm hồn thành kính nhất, tôn trọng nhất ngưỡng mộ nhất. Công hạnh của Ngài thật không lời nào bày tỏ hết, chúng con chỉ biết đê đầu đảnh lễ với tất cả tấm lòng thành kính. Phần Dẫn nhập của con được trình bày ở bốn mục sau:

1.    Lý do chọn đề tài

       Đức Phật là bậc cha lành của chư thiên và nhân loại, công hạnh của Ngài đối với chúng sanh thật không một ngòi bút nào có thể tả hết. Trong bốn mươi chín năm (theo Phật giáo Nguyên Thủy thì chỉ có bốn mươi lăm năm) trời hoằng hóa chúng sanh Ngài đã đem lại sự lợi ích to lớn tột cùng cho nhân loại, và để một sự nghiệp vĩ đại đến mấy ngàn năm sau vẫn còn lưu dấu… Vì thế nên con rất tâm đắc với công hạnh của Ngài và xin chọn đề tài là “Quan điểm về Đức Phật của Đại Chúng Bộ và Đại Thừa”.

2. Phạm vi đề tài

Sự huyền diệu về Đức Phật thì bao la vô hạn, mà sức học của con thì nhỏ bé như hạt cát trong đại dương, nên con xin giới hạn đề tài  của mình trong những ý như sau:

-                     Quan điểm của Đại chúng bộ về Đức Phật

-                     Quan điểm của Đại Thừa về Đức Phật

-                     Phân tích các quan điểm trên

3. Cơ sở tài liệu

Để hoàn thành bài Tiểu Luận này  con dựa vào các tài liệu là  bộ Dị Bộ Tông Luân Luận , Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa và một số Kinh Điển Đại Thừa, và Tiểu thừa và các tài liệu giảng dạy của giảng sư. Cộng với sự góp nhặt kiển thức thiển cận của con trong suốt gần bốn năm học để triển khai nội dung bài viết này.

4. Phương pháp nghiên cứu

Bài Luận văn được trình bày theo phương pháp luận giải thích, chứng minh cùng với phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những tính chất đặc thù của đề tài được nghiên cứu. Quá trình này đòi hỏi người viết phải nghiên cứu Kinh –  Luận để có những ý tưởng phong phú đặc sắc, và phải đi sát vấn đề cần làm. Mặc dù dựa trên tư tưởng giáo lý của Phật giáo làm chuẩn, đồng thời cộng thêm những tác phẩm, các văn bản rất có giá trị. Và đã cố gắng hết sức để trình bày nhưng cũng không khỏi sai lầm vì sự thô thiển yếu kém, kính mong thầy giáo thọ hoan hỷ chỉ dạy cho con.

           B. Nội dung

               I. Quan điểm về Đức Phật của Đại Chúng Bộ

Nói đến sự khác nhau giữa hai bộ phái tức bàn đến sự khác nhau về tư tưởng, kinh điển, quan điểm về Phật. Ở đây con xin trình bày quan điểm về Phật  của Đại chúng bộ và của Đại Thừa.

Các vị thuộc Đại chúng bộ xem đức Phật là con người siêu thế, với thân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Đó là khái niệm đầu tiên dẫn đến quan điểm “Phật siêu việt” sau này của Đại thừa Phật giáo. “Đại chúng bộ xem đức Phật là sống vô tận, đã đạt Nhất thiết trí, toàn năng, thể nhập đại định vĩnh cửu”. [2] Do đó có mười lăm quan điểm căn bản về xuất thế của chư Phật như sau:

1.1. Mười lăm quan điểm về Phật của Đại chúng bộ

1. Chư Phật là siêu thế gian (lokottara). [3]

2. Chư Như Lai hoàn toàn (Thatâgata) thanh tịnh đối với mọi ô nhiễm (anâsrava) và với mọi pháp thế gian (laukikadharma) [4]

3. Tất cả lời Như Lai dạy đều nhằm chuyển bánh xe Chánh pháp. [5]

4. Đức Phật với chỉ một âm thanh (sabda), tỏ bày toàn bộ pháp giới (dharmadhaatu).[6]

          5. Trong những gì Thế Tôn nói, không điểm nào là không phù hợp với thực nghĩa (yatharata). [7]

6.     Sắc thân (rupakaaya) của chư Như Lai là vô lượng (ananta). [8]

          7. Quyền năng (prabhaava) của Như Lai cũng là vô lượng.  [9]

8. Thọ mạng của Đức Phật cũng vô lượng. [10]

          9. Đức Phật không có ý nghĩ là đủ, trong việc hóa độ chúng sinh và làm nẩy sinh nơi họ niềm tin (sraddhâ) thuần tịnh (suddha).  [11]

          10. Đức Phật không ngủ và cũng không mộng mị.[12]

          11. Chư Như Lai trả lời những câu hỏi không cần suy nghĩ. [13]

          12. Chư Phật chưa bao giờ nói lên một lời nào cả, vì các Ngài luôn an trú trong tĩnh lặng (hay định, samâdhi) nhưng chúng sanh vì nghĩ rằng chư Phật đã nói lên tỏ vẻ vui mừng. [14]

          13. Chỉ cần nhiếp tâm trong một sát na (ekaksanika-citta), chư Phật quán triệt tất cả.[15]

14.                Bằng trí tuệ siêu việt (prajñâ) chư Phật biết mọi pháp. [16]

         15. Nơi chư Phật Thế Tôn, tuệ tri về sự diệt tận (diệt tận trí – Ksayaknâna) và tuệ tri về vô sanh (vô sanh trí –anutpädajnâna) thường tại mãi cho đến khi các Ngài nhập Đại Niết bàn. [17]

            Mười lăm quan điểm trên đã nêu lên đức hạnh tuyệt vời của một vị Phật, một bậc hoàn toàn thánh thiện không còn một chút khuyết điểm nào. Là bậc Thầy của trời người, đáng để cho chư thiên và chúng sanh ngưỡng mộ.

             1.2. Quan điểm Pháp thân và Sắc thân Đức Phật của Đại chúng bộ

             Quan điểm về Pháp thân và Sắc thân của Đại chúng bộ được trình bày như sau:

Thân của chư Phật có hai thân: Pháp thân (dharmakàyaa) và sắc thân (rùpak àyaa). Sự xuất hiện của Ngài trong thế giới sanh tử chỉ là hư cấu nhằm thuận theo phương thức của cuộc đời. Trong thực tế Ngài đã thành tựu tất cả sự toàn thiện từ khi còn là Bồ tát. Mahàsanghika cho rằng Đức Phật Cù Đàm (Gautama Buddha) không chỉ là bậc siêu thế, mà còn là bậc toàn thiện toàn tri trước thời điểm nhập vào thai tạng của hoàng hậu Maya.[18] Ứng thân của Đức Phật xuất hiện trong hai thân khác là báo thân và pháp thân. Báo thân là thân phước báu, thân thọ hưởng không chỉ thọ hưởng hạnh phúc của thân thể tốt đẹp mà còn hưởng công đức của vô lượng đức hạnh tu tập.

         1.2.1. Pháp thân

        “Pháp thân ( 法身, sa. dharmakāya), là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân được xem chính là Phật pháp (sa. buddha-dharma) như Phật Thích-ca giảng dạy trong thời còn tại thế. Sau này người ta mới nói đến hai thân kia. Pháp thân được xem là thường hằng, vô tướng, nhất nguyên, là thể tính chung của các vị Phật, là dạng tồn tại thật sự của chư Phật. Pháp thân có nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ trường hợp sử dụng: Trong nhiều trường phái, người ta xem Pháp thân là thể trừu tượng không có nhân trạng, có trường phái khác lại xem Pháp thân hầu như có nhân. Đạt trí huệ siêu việt đồng nghĩa với sự trực chứng được Pháp thân.[19]

           Theo Thành Duy Thức, Pháp thân là: Sự thành tựu nơi Thế Tôn Đại Giác là pháp tịch mặc vô thượng, do đó được gọi là Đại Mâu Ni. Hai quả đạt được bởi Đức Mâu Ni vĩnh viễn thoát ly hai chướng cũng được gọi là Pháp thân. Vì được trang nghiêm bằng vô lượng vô biên pháp đại công đức như lực, vô úy.  [20]

1.2.2. Sắc thân

Sắc thân được giải thích như sau!

Sắc thân (tức là Báo thân) (Rūpakāya, 色身) của Đức Phật là vô hạn như kết quả vô lượng công đức của ngài đã gieo. Chân đế (Paramārtha, 真諦) được giải thích là ‘vô tận’, ‘không đo lường’ và ‘không liệt kê’ được. Nó có thể hoặc lớn hoặc nhỏ và cũng có thể là của bất cứ số nào. Trong Ứng thân (Nirmāṇa-kāya, 應身) của Ngài, Ngài có thể ứng hiện bất cứ nơi nào trong vũ trụ này.[21].

Điều này đã chỉ ra rằng theo các nhà Đại-thừa, Đức Phật là có mặt ở khắp nơi và như thế vượt khỏi phạm trù định cư ở bất cứ nơi chỗ hay hướng nào cụ thể, tất cả pháp thoại đều được thuyết từ Ứng thân của ngài.

                    1.3. Thân Phật và quyền năng của Phật là vô hạn

       Theo Đại chúng bộ, thân Phật và quyền năng của Phật là vô hạn. Phật có thể hiện hóa trong vô số thân khác nhau, không thể nói chắc được số lượng của thân Phật, vì thế nói rằng thân Phật là vô hạn. Quyền năng siêu phàm của Phật là sức mạnh đạo lý. Trong chỉ một sát na (ekaksana), Ngài có thể triển dương sức mạnh của Ngài đến khắp nơi, trong mọi hướng, đến mọi cảnh giới mà không cần một chủ ý đặc biệt. Vì Báo thân của Đức Phật đạt được do chỗ đã hành trì trong suốt vô lượng kiếp ba, nên thọ mạng của Ngài thực sự là vô tận và không thể bị hủy hoại.

         1.3.1. Mười tám giới trong thân Phật

   Mười tám giới (dhâtu), khi chúng ở trong thân của Phật, đều hoàn toàn thanh tịnh vì chúng không liên hệ (samprayukta) với ô nhiễm. Ba loại hành, được chư Phật thực hiện cũng hoàn toàn thanh tịnh. Vì vậy chư Như Lai hoàn toàn không có các pháp bất tịnh. Theo Vibhâsâ (Luận –Tỳ -Bà – Sa), những nhà Đại chúng bộ xác nhận rằng ứng thân của chư Phật cũng hoàn toàn thanh tịnh vì, nếu Phật sinh ra và lớn lên  (samvrddrati) trong thế giới (loka) này. Phật chỉ trụ thế (viharati) sau khi làm chủ (abhihuya) thế gian chớ không để bị lôi cuốn (anupalipta) bởi thế gian. Mười tám giới cấu thành nhân cách của chư Phật đều là hoàn toàn không ô nhiễm (anârava). Diệt tận trí và vô sanh trí, hai loại trí không ô nhiễm này là hai thể cách của trí tuệ siêu việt, chúng luôn nương tựa nhau mà vận hành cho đến ngày Phật đại Niết bàn

 1.3.2. Pháp luân (Dharmasakra)

3. “Pháp luân (Dharmasakra) không phải chỉ là “kiến đạo” (darsanamaâraga) chuyển hóa chúng sinh, mà là tất cả những lời Phật nói, vì không nói một lời nói nào của Phật là không hữu ích cho chúng sinh. Ở đây “bánh xe” là biểu tượng cho sự chế ngự thuần hóa và sự quay chuyển. Tất cả những lời Phật nói đều nhằm chế ngự và thuần hóa những ai còn trong trạng thái mê muội (vô trí ajnâna) lầm lạc (moha), v.v…

             Khi hành trì mọi pháp môn, trong thời gian rất dài. Đức Phật đạt được nhiều công đức (punya) với nhiều năng lực phi thường không thể quan niệm được. Đứng về phía Đại chúng bộ mà quan sát Phật, thì chỉ căn cứ vào Phật tính rồi dần dần lý tưởng hóa sắc thân thành một đặc sắc duy nhất. Chẳng hạn Thuyết xuất thế bộ đã siêu nhân hóa thân Phật, nên mới mệnh danh là Thuyết xuất thế phái. Nhưng theo Tôn luân luận thì Đại chúng bộ đều chủ trương Phật thân là thanh tịnh vô lậu (cho đến các thứ Phật bài tiết ra cũng thơm tho khác hẳn với của người đời). Đó là việc vi diệu, bất khả tư nghị. Phật là một đấng toàn trí, toàn năng, hiểu biết hết thảy, và tùy ý chuyển vận hết thảy. Nếu dùng sức của Phật, thì dù cái vô thường mà muốn biến nó thành thường còn đều có thể được. Nhất là về phương diện giáo hóa độ sinh thì lại vô cùng vi diệu. Phật vì nguyện độ sinh mới ra đời, cho nên tất cả những lời Phật nói đều là thuyết pháp. Hơn nữa, Phật chỉ dùng một tiếng mà có thể nói được hết thảy mọi pháp, và đều hợp với trình độ hiểu biết của chúng sinh. Cứ như thế, giáo đồ Đại chúng bộ đề cao bản chất của Phật dần dần đến mức không còn giới hạn nữa.

II. Quan điểm về Đức Phật của Đại Thừa  [22]

      2.1. Tam Thân Phật

              2.1.1.  Ứng Thân Phật

Theo tinh thần Đại Thừa Đức Phật gồm có ba thân đó là Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân. Đức Phật Thích Ca là một Ứng Thân ở Ta bà để khai thị cho chúng  sanh vào trong con đường Phật tri kiến. Sau khi Ứng Thân  Phật Niết bàn, những Tỳ kheo mang hình thức giống Phật và truyền bá chánh Pháp, tiêu biểu cho Phật tại trần gian gọi là Hóa Phật: Ứng thân thường được dịch như thân do Đức Phật ứng hiện để thành tựu lời nguyện độ sanh. Sự biểu hiện của báo thân trong thế giới thực nghiệm như Đức Phật Cồ-đàm và những vị trước đó và nối tiếp Như-lai là Ứng thân của Đức Phật. Sự giáng sanh của Đức Phật xuống thế giới ta-bà không phải là một sự ngẫu nhiên mà là một may mắn lớn cho loài người biết đạo lộ đến niết-bàn: Đây là sự giáng xuống của một bậc Thánh, hoá thân thành một con người, những sự kiện khác từ khi sanh đến nhập Niết-bàn là những hạnh nguyện hiện thực trước mắt thật sự đáng tin, gần gũi với chúng sanh.[23]

 2.1.2.. Báo Thân Phật

Với nhân cách toàn thiện, trí tuệ toàn bích, đạo đức toàn mỹ, Đức Phật dễ dàng thành công trong việc giáo hóa. Báo thân hay là hành vi của đạo đức không chút lỗi lầm của Ngài đã ảnh hưởng tác động cho con người, xây dựng một đội ngũ xuất gia và tại gia đạo đức sáng suốt.

Báo thân Phật là thân kết tinh của trí tuệ và công đức phước báu mà Ðức Phật đã tu tập và thành tựu hạnh nguyện Bồ-tát trong vô số kiếp, từ lúc mới phát tâm tu tập cho đến khi đạt quả vị Thập địa, như Phật A Di Ðà, Phật Dược Sư tướng hảo quang minh nơi quốc độ của các Ngài. Báo thân là thân vô lượng sắc tướng, vô lượng công đức trang nghiêm không giới hạn mà hàng Bồ-tát Tam hiền, Thập địa mới thấy được. Ngoài ra, những khả năng phi thường, những phẩm chất cao đẹp, toàn mỹ của Ứng thân cũng được xem là một phương diện của Báo thân Phật. Suốt 49 năm giáo hóa, Ðức Phật đã sử dụng Báo thân của mình thông qua Ứng thân để dẫn đường cho chúng sinh về bến giác, mở ra muôn ngàn cánh cửa phương tiện hóa độ chúng sinh.

2.1.3. Pháp thân

Từ Báo thân viên mãn, đầy đủ phước đức, trí tuệ. Đức Phật dùng vốn quý giá ấy cấu tạo nên một thân thứ ba gọi là Pháp thân. Pháp thân không phải là cái gì siêu hình trừu tượng ở trong hư không. Đức Phật sử dụng Pháp thân chuyển hóa xã hội đương thời, và lúc ấy sanh thân Phật trở thành Pháp thân.

Pháp thân bao trùm khắp pháp giới, cả không gian và thời gian. Pháp thân thường trụ, bất sinh bất diệt, là tự tánh chân thật và bình đẳng của tất cả các pháp. Trong cuộc đời Ðức Phật, Ngài thị hiện bằng Ứng thân và Báo thân, trau giồi trí tuệ và tích lũy công đức, tu tập phá trừ vô minh, rồi thành tựu Pháp thân, hay nói đúng hơn là trở về với Pháp thân thanh tịnh, với bản thể Chân như. Không có một sự vật, hiện tượng nào rời bản thể Chân như, và bản thể Chân như luôn luôn biểu hiện qua sự vật hiện tượng, vì thế mà kinh điển gọi Pháp thân hay bản thể Chân như là Tỳ-lô-giá-na, Biến nhất thiết xứ.

Mỗi người chúng ta vì còn vô minh vọng động nên Pháp thân không phát huy diệu dụng. Ví như sóng chỉ là hiện tượng biến động của nước, nhưng bản thể của sóng và nước không hai. Ở Ðức Phật, tất cả việc làm của Ngài đều là diệu dụng của Pháp thân, nó tác động đến chúng sinh và các pháp.

Sau khi Phật nhập Niết-bàn, nghĩa là Ứng thân chấm dứt nhưng Pháp thân của Ngài vẫn thường còn, luôn hiển hiện bên chúng ta, được biểu hiện qua tinh thần từ bi, trí tuệ và bình đẳng, biểu hiện qua đường lối tu tập giác ngộ giải thoát, đời sống đạo đức thánh thiện được các thế hệ tiếp nối và kế thừa: Có thể nói Pháp thân Phật theo tinh thần Hoa Nghiêm được triển khai rộng hơn ý niệm  Pháp thân của Phật giáo Nguyên Thủy chỉ hạn hẹp trong giáo pháp của Phật lưu lại. [24] Những nhà Du-già luận đặc biệt rất quan tâm đến khái niệm pháp thân. Kinh Lăng-già dạy rằng Đức Phật (tự tánh pháp, Dharmatā, 自性法) không có bất cứ cơ sở nào (nirālamba), vượt khỏi các sắc căn, hình tướng và vì thế vượt khỏi nhãn quan của hàng Thanh-văn, Bích-chi Phật hoặc không phải Đại-thừa, mà pháp thân chỉ có thể tự giác ngộ trong chính vị đó.

2.2.  Mười loại thân Phật trong Kinh Hoa Nghiêm

Ngoài Tam thân, trong Kinh Hoa Nghiêm còn đề cập đến mười thân của Phật. Đó là:

1. Thân Bồ Đề: Là thân sau khi thành tựu đạo quả dưới cội Bồ Đề.

2. Thân nguyện: Vì nguyện lực độ sanh nên hiện thân.

3. Thân Biến Hóa: Còn gọi phân thân, là tùy theo cơ cảm chúng sanh mà hóa hiện.

4. Thân Trụ Trì: Những xá lợi Phật sau khi hỏa tán, để trên tháp tôn thờ. Những chúng sanh đời sau cung kính đãnh lễ cúng dường coi như Phật hiện tại, tạo nhơn duyên thù thắng có giá trị coi như Phật ở thế gian.

Các bậc sớ giải về sau mới liệt bốn thân đầu thuộc loại ứng hóa thân.

5. Thân Phước Đức: Muốn được thân phước đức phải tu tập bốn pháp hạnh viên mãn, thành tựu thân đại trượng phu. Bốn pháp hạnh đó là: Tứ nhiếp pháp, tứ bình đẳng Tâm, ngủ minh, lục độ. Do thành tựu bốn pháp hạnh này nên đức Phật được gọi là thân phước đức.

6. Thân đại lực: Trên cơ sở bốn pháp hạnh ấy tập trung vào bốn vô sở uý, thiền định và thập lực.

7. Thân tướng hảo: Đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp.

8. Thân thanh tịnh: Đức Phật, Ngài đã thành tựu đạo quả dưới cội bồ đề, dù vào trong thai mẹ, nhưng vẫn được thanh tịnh.

Kinh Đại Bản Nguyện nói:

“Bồ Tát trong thai mẹ

Thanh tịnh như lưu ly

Thường  giữ gìn chánh niệm

Như mẹ Ngài an lành”.

Sự hiện thân của Bồ Tát Hộ Minh vào thai mẹ, được tự tại an vui và giải thoát, từ nhập thai đến Niết bàn cũng đều thanh tịnh. Chỗ khác nói thân kim cang thanh tịnh.

9. Thân trí: Tập trung vào bốn trí. Đức Phật chuyển tám thức thành bốn trí, thành tựu quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.

10. Thân pháp giới: Lấy pháp giới làm thân, thể tánh của các pháp hiện hữu khắp mọi nơi, trên cơ sở này lấy pháp giới làm bản thể để có thêm Báo thân, Pháp thân.

Như vậy, ba thân được thành lập là dựa trên cơ sở 10 thân trong kinh Hoa Nghiêm.

Kinh Hoa Nghiêm kết hợp mười loại thân trên làm thành một Đức Phật toàn diện (không) và cũng là tổng thể của Tỳ Lô Giá Na Phật, kết hợp giữa chân lý và trí tuệ, chi phối ngược xuống chín loại hình, từ hàng thánh giả cho đến người thường và cả loài hữu tình, vô tình trên thế gian này.

III. Các quan điểm khác

3.1. Quan điểm về Phật trong Kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa đặt nặng tư  tưởng Nhất Thừa: Nếu trong giáo thuyết của tam thừa quả vị cứu cánh tu hành của Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát đều được hạn định trong một thời gian nào đó, Thì trong Pháp Hoa tính chất thời gian “co giãn” vô hạn. Cho nên Đức Phật chỉ nhập định trong khoảng một bữa ăn, mà chính thực bây giờ đã trải qua mấy mươi tiểu kiếp. [25] Trong Kinh Pháp Hoa Đức Phật được biểu tượng như một người Cha  Lành, một lương y tài giỏi tùy theo căn bệnh chúng sanh mà  cho thuốc bảo ban, đưa đến cảnh Nhất Thừa an lạc vĩnh viễn: Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ, lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết. Xá Lợi Phất! Vì nhơn duyên đó nên phải biết các Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. [26] Hay: Xá Lợi Phất! Đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.[27] Đức Phật thị hiện thân trong Kinh Pháp Hoa vì lòng từ bi thương xót tất cả chúng sanh, muốn cứu chúng sanh thoát khỏi luân hồi sanh tử, Đức Phật phải dùng phương tiện nói ba thừa giáo pháp, chỉ cho chúng sanh thấy được cảnh giới của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát là hạnh phúc hơn rất nhiều với đời sống hiện tại. Kinh thí dụ rằng: Thế gian này như một nhà lửa, chúng sinh như một đám người quay cuồng hoan lạc trong ấy mà không biết lối ra. Phật mới dùng phương tiện giảng thuyết ba thừa, hoặc nói những khổ não vô cùng của sanh tử, hay giảng thuyết về hạnh phúc an lạc của Niết bàn. Chúng sanh tùy căn tánh mà tu theo Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát. Nhưng cuối cùng đều đi đến chỗ thành Phật là Phật thừa. Chỉ có một mà thôi, không hai cũng không ba. [28]. Tuy có nói ra ba Thừa giáo pháp nhưng cái Đức Phật muốn truyền trao là Phật thừa, con đường thể nhập Phật Tri Kiến. Đức Phật trong Kinh Pháp Hoa đã hiện thân như một con người rất bình thường từ khi sanh ra, cho đến lúc thành đạo, Chuyển pháp luân hay thị hiện nhập Niết bàn.

Để cho thính chúng hiểu rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức chủng tử Phật. Mà đã có chủng tử Phật thì trước sau gì cũng thành Phật, điều nầy đồng nghĩa với có Phật Tri Kiến thì trước sau gì cũng hiển lộ Phật Tri Kiến. Đây là biểu tượng đặc biệt của Phật trong Kinh Pháp Hoa. Trong kinh Pháp Hoa có một câu dạy rất đặc biệt, nêu lên mục đích ra đời của mười phương chư Phật, câu đó là: Các Đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để đặng thanh tịnh mà hiện ra nơi đời, vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời, vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.[29]

3.2. Quan điểm Tam thân trong Thiền tông

Đối với Thiền tông thì ba thân Phật là ba cấp của Chân như, nhưng liên hệ với nhau trong một thể thống nhất. Pháp thân là “tâm thức” của vũ trụ, là thể tính nằm ngoài suy luận. Đó là nơi phát sinh tất cả, từ loài Hữu tình đến vô tình, tất cả những hoạt động thuộc tâm thức. Pháp thân đó hiện thân thành Phật Đại Nhật: Cũng theo Thiền tông thì Báo thân là tâm thức hỉ lạc khi đạt Giác ngộ, Kiến tính, ngộ được tâm chư Phật và tâm mình là một. Báo thân hiện thân thành Phật A-di-đà. Ứng thân là thân Phật hoá thành thân người, là Phật Thích-ca Mâu-ni. [30]

3.3. Quan điểm Tam thân trong Kim cương thừa

Trong Kim cương thừa thì Ba thân là ba cấp của kinh nghiệm giác ngộ. Chứng được Pháp thân chính là tri kiến được tự tính sâu xa nhất của muôn vật, và tự tính này chính là tính Không. Báo thân và Ứng thân là thân của sắc giới, là phương tiện tạm thời giúp hành giả chứng ngộ được tính Không. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem Thân, khẩu, ý của một vị Đạo sư đồng nghĩa với ba thân nói trên.

Trong Kim cương thừa, quan điểm Ba thân có mục đích phát biểu các tầng cấp khác nhau của kinh nghiệm giác ngộ. Pháp thân là tính Không, là Chân như tuyệt đối, bao trùm mọi sự, tự nó là Giác ngộ. Báo thân và Ứng thân là các thể có sắc tướng, được xem là phương tiện nhằm đạt tới kinh nghiệm về một cái tuyệt đối. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem thân, khẩu, ý của một vị đạo sư chính là Ba thân, được biểu tượng bằng thần chú OṂ-AH-HUNG (gọi theo tiếng Tây Tạng). Sức mạnh toàn năng của Pháp thân được thể hiện ở đây bằng Phổ Hiền (sa. samantabhadra). Các giáo pháp Đại thủ ấn và Đại cứu cánh giúp hành giả đạt được kinh nghiệm về tâm thức vô tận của Pháp thân.

3.4. Quan điểm về  thân Phật trong Tịnh Độ Tông

Ngoài ra Đại thừa còn phát sinh lý tưởng Tịnh Độ, song song với sự phát triển tư tưởng “vạn Phật”. Cõi Ta –bà (Shà-lodhàtu) này là nơi đầy uế trược (kasàyàh) và chúng sinh đang ở trong thời kỳ ngũ trược ác thế. Duy chỉ có cõi Phật trong 10 phương là nơi thanh tịnh và an lạc. Do đó Phật Thích Ca giảng thuyết về Tịnh Độ. Chúng sinh niệm Phật cầu vãng sanh về đó sẽ không bị ngoại duyên trắc  trở chi phối, dù hạ căn trí độn bao nhiêu, vẫn an nhiên tu  tập cho tới khi chứng được quả Bất thối chuyển. Trong Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ nhấn mạnh đến 48 đại nguyện rộng lớn  của Đức Phật A Di Đà, như sau: Khi con thành Phật, nước con không có tên ba đường ác. Chúng sanh, sanh vào nước con đều nhứt tâm trụ vào chánh định. Không còn nhiệt não, tâm được mát mẻ, hưởng thọ an lạc, như Tỳ Kheo lậu tận. Nếu còn khởi niệm tham đắm thân sau, thề không thành Chánh giác. v.v… [31]

Hình ảnh bất tư nghì của đức Phật A Di Đà được đức Phật Thích Ca thuyết giảng như sau:  Này A Nan! Oai thần và quang minh của Phật A Di Đà tối tôn đệ nhất, quang minh của chư Phật khác sánh chẳng kịp. Quang minh ấy chiếu khắp hằng sa cõi Phật ở phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên dưới và bốn phương phụ cũng lại như vậy. Hào quang trên đảnh chiếu xa một hai ba bốn do tuần, hoặc năm ngàn vạn ức do tuần. Hào quang các đức Phật khác hoặc chiếu đến một hai cõi Phật, hoặc trăm ngàn cõi Phật, chỉ có hào quang đức Phật A Di Đà chiếu khắp vô lượng vô biên cõi Phật.  [32]

  Quang minh ấy chiếu khắp mười phương thế giới, chúng sanh nào gặp được quang minh ấy thì cấu uế tiêu diệt, điều lành phát sanh, thân ý hòa dịu. Nếu ở tam đồ chịu khổ cùng cực thấy được quang minh nầy liền được dừng khổ, mạng chung được giải thoát. Chúng sanh nào nghe được oai thần công đức quang minh nầy ngày đêm khen nói chí tâm không nghĩ, tùy theo ý nguyện được sanh về Cực Lạc.[33]

Ví như biển lớn sâu rộng vô biên, nếu lấy một sợi tóc chẻ ra làm trăm phần, tán ra thành bụi, rồi lấy một hột bụi ấy thấm một giọt nước biển, nước nơi bụi tóc ấy so với biển cả chẳng lấy gì nhiều. Nầy A Nan thọ mạng của chư Phật và thọ lượng chúng Bồ tát, thanh  văn, Thiên, nhơn ở cõi ấy cũng như vậy, không thể lấy toán số thí dụ mà biết được. [34]

Trong tư tưởng Di Đà và cõi Tịnh Độ của Ngài tuy có nhiều đặc sắc khác nhau, nhưng những đặc sắc rõ rệt nhất đó là:

         “Bản thân Đức Di Đà thọ mệnh là vô lượng, sáng suốt vô lượng, đồng thời chúng sanh về cõi Cực Lạc cũng được sống lâu và sáng suốt như Ngài”.[35]

Qua trình bày trên ta thấy quan điểm về Phật của Tịnh Độ tông cũng là vô cùng vô tận, thân Phật và thọ mạng Phật hào quang Phật thật không thể nào dùng toán số để thí dụ. Đây cũng là một quan điểm nổi bật về thân Phật của Đại Thừa.

IV. Phân tích

4.1. Các quan điểm về Phật thân

Như ta thấy Phật giáo Đại chúng bộ chủ trương Báo Thân và Ứng Thân. Sau đó Phật giáo Đại Thừa kết hợp hai tư tưởng này lại để hình thành quan niệm tam thân Phật: Ứng hóa thân, Báo thân và Pháp thân. “Nghĩa là quan niệm sanh thân của Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại chúng bộ giống nhau, vẫn giữ nguyên, nhưng mang tên khác là Ứng hóa thân” [36]  Nhưng Phật giáo Đại Thừa lại đặt nặng vấn đề tri thức đạo đức nên lấy Báo thân viên mãn hay phước đức trí tuệ làm thân. Và Đại Thừa kết hợp giáo pháp Pháp thân của quan niệm Nguyên Thủy với Tăng đoàn Pháp thân của thời kỳ bộ phái, biến đổi thành thanh tịnh Pháp thân. Như vậy danh từ Pháp thân tuy giống nhau, nhưng tư tưởng cốt lõi bên trong khác nhau.

         4.2. Mối Liên quan giữa Ứng thân, Báo thân và Pháp thân

Ba thân của Ứng thân, Báo thân và Pháp thân đã phát triển thành một hình thức tiến bộ trong kinh tạng Đại-thừa. Ứng thân là thân hiển hiện, một hình thức đích thực của Đức Phật lịch sử được kính trọng (trong khi hoá thân là các thân khác với hình tướng Đức Phật). Quá tôn kính ngài, các đệ tử đã tôn xứng ngài ‘chúa tể của lòng từ’ như một bậc siêu lịch sử và không rời bỏ chúng sanh. Thân ứng hoá của bậc giác ngộ là vượt thời gian, không gian, không hình tướng, màu sắc hoặc kích cỡ, không giới hạn bởi phạm vi và cơ sở. Thân siêu lịch sử của Đức Phật biểu hiện vô số thân vì lòng từ cứu chúng sanh ra khỏi thế giới ta bà.

Ứng thân của Đức Phật xuất hiện trong hai thân khác là Báo thân và Pháp thân. Báo thân là thân phước báu, thân thọ hưởng không chỉ thọ hưởng hạnh phúc của thân thể tốt đẹp mà còn hưởng công đức của vô lượng đức hạnh tu tập. Theo tinh thần, Hóa thân cũng được biết là vô tướng và vô sắc.Thân thường trụ của Đức Phật gọi là Pháp thân là thân chân thật. Đó chính là pháp. Như chân lý, Pháp thân cũng được biết là vô tướng và vô sắc.

C. Kết luận

Theo quan điểm về Phật của Đại chúng bộ : Là do hành trì nhiều công đức, trải trong nhiều kiếp ba (kalpa). Đức Phật đã được một báo thân hoàn hảo và không giới hạn, bao trùm toàn thể pháp giới. Tấm thân thấy được (hóa thân) của Phật cao 16 thước, không phải là thật thân của Phật. Thật thân của Phật phải chính là cái thân huyền nhiệm (nirmânakaya) của Ngài chính với cái thân huyền nhiệm Phật xuất hiện với chúng sinh và thân ấy được thích ứng với mục tiêu của giáo pháp của Ngài. [37]

Theo tinh thần các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa... thuộc hệ thống kinh điển của Phật giáo Đại thừa, thì sự ra đời và hóa độ của Ðức Phật Thích Ca chỉ là sự thị hiện của Ứng thân Phật. Ra đời dưới cây Vô Ưu, đến lúc trưởng thành quyết chí xuất gia, trải qua một thời gian tầm sư học đạo và tu khổ hạnh ép xác chốn rừng già, nhập định dưới cội Bồ-đề 49 ngày đêm và giác ngộ thành Phật, mở phương tiện hóa độ chúng sinh suốt 49 năm (hay 45 năm theo Phật giáo Nam truyền), rồi nhập Niết bàn. Ðó là Ứng thân của Phật, ứng theo cơ duyên mà thị hiện ra với những hành trạng nhằm hóa độ chúng sinh, tùy nghi mở phương tiện thuyết pháp đem lại lợi lạc cho muôn loài.

Ngoài Ứng thân và Báo thân ra, Ðức Phật còn một thân thứ ba là Pháp thân, bản thể Chân như của các pháp. Pháp thân bao trùm khắp pháp giới, cả không gian và thời gian. Pháp thân thường trụ, bất sinh bất diệt, là tự tánh chân thật và bình đẳng của tất cả các pháp. Trong cuộc đời Ðức Phật, Ngài thị hiện bằng Ứng thân và Báo thân, trau giồi trí tuệ và tích lũy công đức, tu tập phá trừ vô minh, rồi thành tựu Pháp thân, hay nói đúng hơn là trở về với Pháp thân thanh tịnh, với bản thể Chân như. Không có một sự vật, hiện tượng nào rời bản thể Chân như, và bản thể Chân như luôn luôn biểu hiện qua sự vật hiện tượng, vì thế mà kinh điển gọi Pháp thân hay bản thể Chân như là Tỳ-lô-giá-na, Biến nhất thiết xứ: Hết thảy chư Phật đều cùng một bản thể, chư vị đều giống nhau khi xét về chứng ngộ tự nội, Pháp thân sự sở hữu ba mươi hai tướng tốt, và tám mươi vẻ đẹp. Nhưng khi chư vị muốn dạy dỗ chúng sanh tùy theo đặc tính của chúng sanh mà chư vị mang nhiều hình tướng hiện ra khác nhau đối với các chúng sinh khác nhau do đó có đến vô số (Asamkhyea) danh hiệu của các chư Phật.[38]

Ở Ðức Phật, tất cả việc làm của Ngài đều là diệu dụng của Pháp thân, nó tác động đến chúng sinh và các pháp. Dưới lăng kính Đại thừa Phật giáo, Đức Phật hiện hữu cao quý và trường tồn chính là vì Ngài đã thành tựu Báo thân. Nghĩa là Đức Phật không chỉ có nếp sống đơn thuần như một con người bình thường, nhưng cuộc đời Ngài là kết tinh của phước đức, trí tuệ và việc làm siêu việt. Ngài đã thành công trong việc giáo hóa là do đức hạnh và tri thức của Ngài đã tác động cho người thăng hoa thánh thiện.

Từ báo thân viên mãn, đầy đủ phước đức, trí tuệ, đức Phật dùng vốn quý giá ấy để cấu tạo thành pháp thân. Pháp thân không phải là cái gì siêu hình, trừu tượng ở trong hư không. Bằng trí tuệ của bậc chánh tri biến tri, đức Phật biết rõ và vận dụng được nguyên lý tạo nên con người và thế giới. Từ đó mọi vật, mọi hiện tượng trong trời đất, mọi việc của các loài đều không chướng ngại đối với Ngài. Và hơn thế nữa, Đức Phật chi phối toàn bộ các pháp sử dụng chúng một cách tự tại; các pháp trở thành thân Ngài. Đức Phật sử dụng pháp thân chuyển hóa xã hội đương thời, lúc ấy sanh thân Phật trở thành pháp thân hay được coi là pháp thân. Sanh thân không còn hiện hữu mà pháp thân vẫn thường trụ vĩnh hằng được vô số tâm hồn lớn nối tiếp, tạo thành mạng mạch Phật giáo lưu truyền, lợi lạc cho chúng hữu tình qua suốt 25 thế kỷ.

Có thể nói cách khác Pháp thân Phật vĩnh hằng, nhưng từ tổng thể phát sinh ra Báo thân và ứng Hóa thân Phật có đổi khác. Từ tổng thể pháp thân hiện ra hoạt động của báo thân trong trời đất, tùy duyên cứu độ chúng sanh bằng mọi cách, không ngừng nghỉ. Đó là hiện hữu của Như Lai bất động mà biến hóa lợi ích không cùng. 

Hình ảnh của Đức Phật bất cứ ở trong quan điểm Đại Thừa hay Đại chúng bộ cũng vừa cao siêu vời vợi như ở tận cung trời xa thẳm, vừa gần gũi như một người cha lành đối với những đứa con thương yêu ruột thịt, luôn luôn sẳn sàng làm người hướng đạo không mệt mỏi cho đàn con bước đến bến bờ giải thoát. Ngài hiện hữu trên cuộc đời này, bên trong thân tứ đại hàm chứa một Báo thân viên mãn. Cuộc sống của Đức Phật tỏa sáng lòng từ bao la, đức hạnh cao quý, hiểu biết siêu quần, thể hiện thành những việc làm cứu đời, lợi ích cho người. Nhờ đó, chúng sanh mới hướng về Ngài và phát tâm tiến bước theo con đường giải thoát của Phật vạch ra.

Tam Thân của Phật sáng muôn đời

Đại Giác bi từ vượt biển khơi

Khai triển pháp mầu minh phủ đất

Hoằng dương giáo nghĩa trí giăng trời

Vĩnh hằng đạo hạnh tươi cùng chốn

Thường trụ tinh thần đẹp khắp nơi

Trí huệ siêu nhiên nhuần bủa đức

Tam thân của Phật sáng muôn đời. [39]

 

 

Tài Liệu Tham Khảo

 Phạm Kim Khánh (2008) Đức Phật và Phật Pháp, Nxb Tôn giáo.

Thích Trí Quảng (2004) Lược Giải Kinh Hoa Nghiêm, Nxb Tôn Giáo.

Thích Mãn Giác (2007) Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, Nxb Văn Hóa Sài Gòn.

Thích Trí Tịnh (2009)  Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo. Hà Nội.

Viên Trí (2009) Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận,  Nxb Phương Đông.

- ANDRE BAREAU (2002)  Pháp Hiển (dịch) Các Bộ Phái Phật Giáo, Nxb Tôn Giáo – Hà Nội.

Nguyên bản Hán: Hạ Liên Cư (hội tập), chuyển ngữ: Thích Đức Niệm và cư sĩ Minh Chánh, Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh, Nxb Tôn Giáo. 2011

Thích Chơn Thiện (2005) Trần Tuấn Mẫn, Lăng Già Kinh, Nxb Tôn Giáo.

 Thích Hạnh Bình (2001) Chú Giải Dị Bộ Tông Luân Luận, Nxb Phương Đông

Trí Quang (1994) Dị Tông Luận, dịch, ghi chú và lược giải, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh.

KIMURA TAIKEN, Việt dịch Thích Quảng Độ (1969)  Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận. Tr. Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản, Phật Học Viện Quốc Tế -USA 1986.

                     Tuệ Sĩ (2009) Luận Thành Duy Thức, Nxb Phương Đông.

 

 

 

 


[1] NÀRADA MAHÀ THERA, Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp. tr. 21, Nxb Tôn Giáo. Hà Nội- PL: 2552 –DL:2008

[2] http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_ch%C3%BAng_b%E1%BB%99

[3] Đức Phật là bậc xuất thế gian, vốn không phải là con người, sự hiện diện của Ngài ở thế gian chỉ là sự thị hiện

[4] Thân thế Như Lai đều vô lậu thanh tịnh, không bị ô uế. Quan điểm này được trình bày rất rõ ở chương 3 “Vô lậu luận” trong “ Luận Sự” (Kathãvatthu) tập 1, trang 293 -296 (Nam Truyền Đại Tạng Kinh, quyển 61) đây là cơ sở để về sau Phật giáo Đại thừa cho rằng: “Phật thân thanh tịnh thường tịnh…” (Kinh Đại Phương Quảng Phật).

[5] Tất cả lời nói của Như Lai đều mang ý nghĩa giáo hóa, không có lời nói bình thường như con người, tức là lời nói đùa.

[6] Căn cứ theo “Dị Bộ Tông Luân Luận” thì Ngài Thế Hữu sử dụng từ nhất âm này mang ý nghĩa khác, chữ âm này không mang ý nghĩa ngôn từ, mà mang ý nghĩa chỉ cho tư tưởng, vì nó là từ mô tả sự tương phản từ ngũ âm (五音) của phái đối lập (Thượng Tọa Bộ), như trong “Dị Bộ Tông Luân Luận” ghi: “Phật sử dụng 5 âm để mô tả cho giáo lý xuất thế đó là 1. Vô thường; 2. Khổ; 3. Không’ 4. Vô ngã; 5. Niết bàn tịch tịnh… (CBETA, T49,no2031,p.16a1214). Như vậy nếu khái niệm 5 âm của phái Thượng Tọa Bộ chỉ cho tư tưởng thì khái niệm “một âm” của phái Đại Chúng cũng chỉ cho tư tưởng – Nhất thừa hay Phật thừa không phải chỉ cho ngôn ngữ.

[7]  Ám chỉ lời Phật dạy mang ý nghĩa sâu sa. Nói cách khác Đại chúng bộ hay nói đúng hơn Phật giáo Đại thừa chuyên bàn về bản thể luận còn Tiểu thừa chỉ bàn về hiện tượng luận.

[8] Vì thực thi sự nghiệp độ sanh, đáp ứng nhu cầu của chúng sanh,  cho nên Đức Phật trong Đại chúng bộ đề cao vai trò thần thông biến hóa.

[9] Quyền năng siêu phàm của Ngài là sức mạnh đạo lý. Trong chỉ một sát na (ekaksana), Ngài có thể triển dương sức mạnh của Ngài khắp nơi, trong mọi hướng, đến mọi cảnh giới, không cần một chủ ý đặc biệt.

[10] Một số bộ phái trong Đại chúng bộ cho rằng, tuổi thọ của chư Phật không có giới hạn, vô lượng, vô biên, do vậy về sau các kinh điển của Đại thừa cũng kế thừa tư tưởng này, như “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”  (妙 法 蓮 華 經) cho rằng: “Từ khi ta thành Phật đến nay cũng đã rất lâu, thọ mạng của ta cũng đã trải qua vô lượng A – tăng ký kiếp thường trụ bất diệt” (CBETA, T09, no. 262, p. 42, c1921).

[11] Tịnh tín là niềm tin trong sạch, được xây dựng trên cơ sở với tâm không tham sân và si, không phải niềm tin bắt nguồn từ tâm mê mờ.

[12] Trong giấc ngủ tâm (cita) bị mờ ám và nhất định rơi vào tình trạng phân tán. Nơi chư Phật, không có một tư tưởng này không được thu phục (samâpanna) hay tập trung. Vì vậy chư Phật không có ngủ.  Mộng mị là sản phẩm của tác ý (cetanâ) tưởng (samknâ), tham dục (kâma) v.v…vì chư Phật đã loại bỏ các thứ kể trên, nên các Ngài không có mộng mị

[13] . Quan điểm của Đại chúng bộ cho rằng đức Phật là bậc Nhất thiết trí cho nên nếu ai hỏi bất cứ vấn đề gì thì Ngài lập tức trả lời không cần trải qua giai đoạn suy nghĩ.

[14]  Chữ “danh” là danh tướng còn có nghĩa là hình thức. Như vậy điều 12 này mang ý nghĩa Phật không chú trọng mặt hình thức, vì Ngài luôn ở trong thiền định quán sát thấy rõ thực tướng của các pháp, còn hàng phàm phu thì chú trọng mặt hình thức.

[15] Vì đã hành trì trong vô lượng kiếp ba, nên chỉ chư Phật, với chỉ một nhiếp tâm, có thể hiểu biết hết mọi thể cách riêng của (biệt tướng) cũng như tự tánh (svabhâva) của mọi pháp.

[16] Trí huệ siêu việt của chư Phật, câu hữu với sự nhiếp tâm, trong một sát na có thể biết được rằng các pháp đã quán triệt (Ksina), vì đây là trí tuệ toàn vẹn. Vì đã đi hết con đường của Đạo Giải Thoát (vimuktimârga), nên khoảng thời gian của một niệm (smrti), chư Phật biết tự tánh của mọi pháp.

[17] Mười tám giới cấu thành nhân cách chư Phật đều là hoàn toàn không ô nhiễm (anârava). Nên, vô nhiễm trí của các Ngài cũng thường tại bất diệt tại mọi thời khắc, cho đến khi nhập Đại Niết bàn. Diệt tận trí và vô sanh trí, hai loại trí không ô nhiễm này là thể cách của trí tuệ siêu việt, chúng luôn nương tựa nhau mà vận hành.

[18] Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận. tr. 280. Nxb Phương Đông, 2009

[19] http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_th%C3%A2n

 [20] Tuệ Sĩ, Luận Thành Duy Thức, tr, 752, Nxb Phương Đông. 2009

[21] N. Dutt, Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal, rpt. 1998, trang 105.

[22]  Đại thừa (大乘, sa. mahāyāna), tức là “cỗ xe lớn”. Tư tưởng của Đại thừa mong muốn được giải thoát để cứu độ tất cả chúng sinh (sa. sarvasattva). Hình tượng tiêu biểu của Đại thừa là Bồ Tát (sa. bodhisattva) với đặc tính vượt trội là lòng Từ bi. Sau cùng là đạt quả vị chánh đẳng chánh giác.

[23]  Xem Buston, trang 133 trở đi. Uttaratantra of Asaṅga, trang 245 trở đi (Obermiller’s Trans. Acta Orientalia, Tập IX, 1931).

[24] Thích Trí Quảng, Lược Giải Kinh Hoa Nghiêm. Tr. 48, Nxb Tôn Giáo, PL. 2549-2004

[25] Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ. Tr. 235. Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2007

[26] Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Phẩm Thí Dụ. Tr. 125. Nxb Tôn Giáo. PL: 2553 –DL:2009

[27] S Đ D (26) Phẩm Phương Tiện Thứ Hai. Tr. 66

[28] S Đ D (26) Tr. 234

[29] S Đ D (26) Tr. 66

[30] http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_th%C3%A2n

[31] Nguyên bản Hán: Hạ Liên Cư (hội tập), chuyển ngữ: Thích Đức Niệm và cư sĩ Minh Chánh, Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh, tr. 37  Nxb Tôn Giáo. 2011

[32] S Đ D, (31) tr. 55

[33] S Đ D, (31)  tr, 56

[34] S Đ D, (31) tr. 57

[35] KIMURA TAIKEN, Việt dịch Thích Quảng Độ, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận. Tr. 53. Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản 1969, Phật Học Viện Quốc Tế -USA 1986

[36] Thích Trí Quảng, Lược Giải Kinh Hoa Nghiêm. Tr. 36. Nxb Tôn Giáo, PL. 2549-2004

[37] ANDRE BAREAU, Pháp Hiển dịch, Các Bộ Phái Phật Giáo Tiểu Thừa. Tr. 107. Nxb Tôn Giáo – Hà Nội, 2002

[38] Thích Chơn Thiện,  Trần Tuấn Mẫn, Lăng Già Kinh. Tr. 18,  Nxb Tôn Giáo - 2005

[39] Các bài thơ không để trong dấu “ “ là của người viết Bảo Minh Trang

BÀI LIÊN QUAN

Ngũ Uẩn theo Quan điểm Sinh lý học và Duy thức học  ( Thích Nữ Thông Nhàn , 4225 xem)

Những tư tưởng khác biệt giữa Ấn độ giáo và Phật giáo  ( Thích Lệ Duyên , 4868 xem)

Nội dung và ý nghĩa phẩm Nhập pháp giới trong kinh Pháp hoa  ( Thích Nữ Tâm Thảo , 4327 xem)

Nhận Diện Chân Tâm  ( Bảo Minh Trang , 10941 xem)

Phát Bồ đề tâm theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm  ( Thích Phước Trí , 5607 xem)

Phật giáo và tín ngưỡng ở đồng bằng sông Cửu Long  ( Thích Nữ Diệu Tâm , 5558 xem)

Suối nguồn thực tại của người xuất gia  ( Thích Nhuận Tường , 3597 xem)

Phương pháp hành trì tứ chánh cần của người con Phật  ( Thích Nữ Liên Lương , 6419 xem)

Tại sao Phật giáo Lý Trần hưng thịnh  ( Thích Hạnh Đạo , 5743 xem)

Tam pháp ấn giáo lý đặc trưng trong đạo Phật  ( Thích Lệ Định , 3792 xem)

Ý KIẾN BẠN ĐỌC


NI TRƯỞNG HUỲNH LIÊN
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên
  • Thích Nữ Huỳnh Liên

 

Nguyện xin hiến trọn đời mình

Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương

 

THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ
  • Thích Nữ Bạch Liên
  • Thích Nữ Thanh Liên
  • Thích Nữ Kim Liên
  • Thích Nữ Ngân Liên
  • Thích Nữ Chơn Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Quảng Liên
  • Thích Nữ Tạng Liên
  • Thích Nữ Trí Liên
  • Thích Nữ Đức Liên
  • Thích Nữ Thiện Liên
THÔNG BÁO

Thư mời viết tham luận về những giá trị Tôn giáo và Xã hội của Hệ phái phật giáo Khất sĩ trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Nhằm phát huy những giá trị tôn giáo và xã hội của Hệ phái Phật giáo Khất sĩ Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam giao Ban Tôn giáo phối hợp với Ban Công tác phía Nam, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức tọa đàm khoa học: “Những giá trị tôn giáo và xã hội của Hệ phái Phật giáo Khất sĩ Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Thông báo thực hiện ấn phẩm Đuốc Sen số 30

Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử, Đuốc Sen là một ấn phẩm văn hóa quen thuộc của Phật giáo Khất sĩ, truyền tải nguồn văn học, văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung và Khất sĩ nói riêng. Trong nhiều năm qua, Đuốc Sen đã được chư Tôn đức quan tâm và đóng góp bài vở, tin tức, góp phần cho sự thành tựu ấn phẩm này. Do nhiều yếu tố khách quan, nên ấn phẩm này bị gián đoạn.

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

Thông báo về việc chiêu sinh Lớp Trung cấp Phật học NGHPKS

Thông báo về lễ tưởng niệm Tổ sư Minh Đăng Quang

Kính thông báo đến chư Tôn đức Giáo phẩm và trụ trì các miền tịnh xá về lễ tưởng niệm Tổ sư Minh Đăng Quang

Thông báo của Giáo phẩm Thường trực NGHPKS

THÔNG BÁO CỦA GIÁO PHẨM THƯỜNG TRỰC NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ VIỆT NAM

VIDEO HÔM NAY

Lễ Truy niệm và Phụng tống kim quan Ni trưởng Minh Liên nhập bảo tháp - Ban Thông tin truyền Thông

Pháp âm MP3

  • 0 - Lời Mở Đầu
  • 01 - Võ Trụ Quan
  • 02 - Ngũ Uẩn
  • 03 - Lục Căn
  • 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên

LỊCH VIỆT NAM

THỐNG KÊ