Trang chủ > Phật Học > Luận Văn
Tìm hiểu sự liên hệ về học thuyết Vô Ngã
Xem: 21135 . Đăng: 02/09/2014In ấn
Tìm hiểu sự liên hệ về Học thuyết Vô Ngã giữa Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa

(Tác giả Bảo Minh Trang)
A. Dẫn nhập
Bài Pháp Vô Ngã tướng là bài pháp thứ hai do Đức Phật thuyết tại vườn Lộc Uyển cho năm anh em Kiều Trần Như, như một ánh hào quang sáng chói phá đi những tư tưởng chấp ngã lâu đời ở Ấn Độ. Điều đáng chú ý là bài Pháp này đã nêu lên một ý tưởng mới trong giáo lý phủ nhận sự hiện hữu của một Tự Ngã hay linh hồn. “Kinh Vô Ngã Tướng bắt đầu từ sự thừa nhận rằng mỗi cá thể thực sự có năm (kkandha) thành tố, tức là sắc, thọ, tưởng, hành (sankhàra ) và thức” [1] Bài pháp Vô Ngã đã khẳng định tính chất biến đổi và hoại diệt của ngũ uẩn khiến chúng gây khổ đau (dukkha) và một vật gây khổ đau, không làm thỏa mãn không thể là một linh hồn trường cửu. Duy Thức nói: “Nếu không có cái ta (cái ngã) Thì làm sao có sở hữu của ta (ngã sở) được? Chấm dứt cái và sở hữu của cái ta, Thì gọi là đạt được cái trí tuệ Vô Ngã”. [2] Vô Ngã là không có sự hiện hữu nào độc lập, và do đó không có thực thể nào là riêng của nó. Ý nghĩa của Tam Pháp Ấn nằm ở đây: “ Chư Hành Vô Thường là chân tướng của thế giới, là thế giới sinh diệt biến hóa, phủ nhận sự tồn tại của Ngã chủ tể duy nhất. Ngã chẳng qua là quá trình của sinh diệt biến hóa, chỉ tạm thời tồn tại, ví như nước chảy, bọt nổi đều không có thực thể. Như vậy nếu Ngã không có thực thể, mà tưởng tượng là thực thể, thực hữu thì chỉ là mê vọng, cho nên gọi là Chư Pháp Vô Ngã. Chúng sinh không biết nhận thế giới là thường trụ, tưởng tượng có Ngã, chấp trước thành Ngã Tưởng, sinh ra mọi thứ Hoặc, tạo ra mọi thứ Nghiệp, gây ra mọi thứ khổ nên gọi là Nhất Thiết Giai Khổ”.[3] Nếu thấu triệt được Tam Pháp Ấn này tức là đoạn được mọi “Hoặc” “Nghiệp” “Khổ” tới chốn Niết bàn tịch tịnh. Vô Ngã được đi qua bốn dòng Duyên Khởi như sau:
“Cái này có, thì cái kia có (imasmim sati idamhoti)
Cái này sinh, thì cái kia sinh (imassupàda imdam uppajjai)
Cái này không, thì cái kia không (imasmim asati idam na hoti)
Cái này diệt, thì cái kia diệt (imassa nirodhà idam airujjhata)[4]
Sang đến thời Ngài Long Thọ, vì thấy tư tưởng cố chấp của ngoại đạo đối với thuyết Vô Ngã của Đức Phật. Để đánh tan những tà kiến về giáo lý Phật Đà, bộ luận Trung Quán của ngài ra đời. Ngài luận giải lời dạy của Phật thật rõ ràng, theo đúng nghĩa duyên sinh, theo ý của Phật, cho là các pháp đều không có nguyên nhân đầu tiên Nhân không cho nên pháp cũng không: cũng không mà không phải không: phi hữu, phi vô: không phải có, không phải không có, nên gọi là Trung Đạo, từ đây mới biết do duyên mà vạn pháp được sinh, nên Ngài đã từ thuyết các pháp Giả Danh Không Thực Thể của Phật giáo Nguyên Thủy và Pháp Thể Hằng Hữu của Phật giáo Bộ Phái mà thành lập luận thuyết Chân Không Diệu Hữu gồm có tám cái Bất như sau:
“ Không phải sanh cũng không phải diệt
Không phải một cũng không phải khác
Không phải thường cũng không phải đoạn
Không phải đi cũng không phải đến”[5]
Tuy là hai lý thuyết khác nhau, nhưng lại là một cũng từ nơi Duyên Khởi tính mà ra, hễ không có cái này thì cái kia cũng không có, triệt tiêu tận cùng cái Tự Ngã. Đây là điểm liên quan diệu dụng giữa Vô Ngã của Nguyên Thủy và thuyết Bát Bất của Đại Thừa.
1. Lý do chọn đề tài
Đây là một đề tài hay và bổ ích, nói lên sự liên quan và tinh thần cốt yếu của Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa, cho nên con xin chọn đề tài này là: “Tìm hiểu sự liên hệ về Học thuyết Vô ngã giữa Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa”.
2. Phạm vi đề tài
Lý thuyết về Vô Ngã của Phật giáo Nguyên Thủy và Tánh Không của Phật giáo Đại Thừa thì thâm sâu diệu vợi, còn sự hiểu của con thì kém cỏi nông cạn, nên xin giới hạn đề tài ở những mục sau:
- Giáo lý Vô Ngã của Nguyên Thủy
- Giáo lý Tánh Không của Đại thừa
- Phân tích sự liên hệ của các quan điểm trên.
3. Cơ sở tài liệu
Để hoàn thành Tiểu Luận này con đã dựa vào các tài liệu như Trung Quán Luận, Trung Luận, Tam Luận Toàn Tập, Lịch Sử Đức Phật Thích Ca, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Trường Bộ Kinh và Trung Bộ Kinh, Nguyên Thủy Tư Tưởng Luận, Nguyên Thủy Đại Thừa Tư Tưởng Luận, và các bài giảng của Giảng Sư cùng một số tài liệu khác v.v…
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài Luận văn được trình bày theo phương pháp luận giải thích, chứng minh cùng với phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những tính chất đặc thù của đề tài được nghiên cứu. Mặc dù dựa trên tư tưởng giáo lý của Phật giáo làm chuẩn, đồng thời cộng thêm những tác phẩm, các văn bản rất có giá trị. Và đã cố gắng hết sức để trình bày nhưng cũng không khỏi sai lầm vì sự thô thiển yếu kém, kính mong thầy Giáo Thọ hoan hỷ chỉ dạy cho con.
B. Nội dung
I. Tìm hiểu giáo lý Vô Ngã của Nguyên Thủy
1.1. Thuyết Vô Ngã của Phật giáo Nguyên Thủy
Thuyết Vô Ngã chỉ tìm thấy trong Phật Giáo. Như vậy, thuyết Vô Ngã khiến cho Phật Giáo khác hẳn các Tôn giáo khác. Bởi vì hầu hết các Tôn giáo khác đều có sự tin tưởng ngược hẳn với thuyết Vô Ngã (Anatta). Thuyết Vô Ngã là thuyết nòng cốt hay thuyết cốt yếu của Phật giáo. Sau khi thuyết bài pháp đầu tiên "Chuyển Pháp Luân" cho các thầy Kiều Trần Như, năm ngày sau Đức Phật mới thuyết bài pháp Vô Ngã Tướng. Sau khi nghe và thực hành, năm thầy Kiều Trần Như đắc quả A La Hán.
Trong bài Kinh Vô Ngã Tướng (Anatta Lak-khana). Đức Phật tuyên bố năm uẩn là Vô Ngã. Thật ra, Đức Phật lấy từng uẩn một mà nói rằng: Vật Chất là Vô Ngã, Thọ là vô Ngã, Tưởng là Vô Ngã, Hành là Vô Ngã, Thức là Vô Ngã. Như vậy, Đức Phật dạy rằng tất cả năm Uẩn là Vô Ngã. Và khẳng định rằng:
“Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. [6]
“ Như vậy các Tỳ Khưu, tất cả các sắc, dầu ở hiện tại, quá khứ, hay tương lai, ở bên trong hay ở ngoại cảnh, thô kịch hay vi tế, thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần phải được nhận thức với tri kiến chân chánh theo thực tướng của nó: “Cái này không phải là của tôi (Netay mama). Đây không phải là tôi (nesohamasmi), cái này không phải là tự ngã của tôi (na me so atta)””[7]
Tam Pháp Ấn nổi tiếng của Phật giáo là:
“Tất cả Hành là Vô Thường” (Sabbe samkhàrà)
“Tất cả Hành là Khổ” (Sabbe samkhàrà dukkhà)
“Tất cả các Pháp đều Vô Ngã” ( Sabbe dhammanattà)[8]
Như vậy hai câu đầu tiên Đức Phật nói rằng. Tất cả hay tất cả các có điều kiện hay Vật chất và tâm đều Vô Thường và Khổ. Nhưng câu thứ ba Đức Phật không dùng “Tất cả các Hành” mà Ngài dùng “Tất cả các Pháp” (Dhamma). Như vậy theo câu thứ ba thì tất cả các Pháp đều Vô Ngã. Kinh Culasaccaka (M) nói rằng:
“Mọi giống như mọi loại hạt giống hay thực vật sinh ra và phát triển đều phụ thuộc vào đất; cũng vậy, đối với bất cứ hành động dù thiện hay bất thiện mà con người thực hiện đều hoàn toàn tuỳ thuộc vào 5 uẩn, vậy năm uẩn cấu thành cái ngã của con người”. [9]
Kinh Khemaka nói rằng: “ Mùi thơm của sen không phụ thuộc vào cánh rễ, màu sắc, nhưng thuộc về toàn bộ hoa sen, nghĩa là cái ngã không có trong từng thành phần, nhưng nó có trong sự phối hợp”[10]
Theo nguyên nghĩa Anatta (Vô Ngã) tức là không có Ngã. Nhưng chú giải đưa ra một nghĩa nữa, Vô Ngã (Anatta) có nghĩa là không có cốt lõi, hay không có một thẩm quyền nào trên nó. Như vậy, chúng ta có thể hiểu chữ Vô Ngã ít nhất hai nghĩa: Vô Ngã có nghĩa là không có cốt lõi và không có thẩm quyền trên nó. Do đó, Đức Phật nói Vật Chất hay Sắc là Vô Ngã, có nghĩa là Vật Chất không có cốt lõi hay không có chủ quyền. Không có quyền lực nào có thể hành xử chủ quyền hay làm chủ Vật Chất được. Đây là sự phủ nhận Tự Ngã.
1.2. Sự liên hệ của thuyết Vô Ngã và Duyên Khởi
Có một câu rất nổi tiếng trong Phật giáo chứng minh Thuyết Vô Ngã có ý nghĩa mật thiết với lý thuyết Duyên Khởi như sau:
“ Thấy được Duyên Khởi là thấy được pháp, mà thấy pháp tức là thấy Duyên Khởi. Tại sao vậy? Vì tất cả năm uẩn đều do Duyên Khởi mà sinh”[11]
Qua câu nói này ta có thể khẳng định tính quan trọng của Duyên Khởi, Đức Phật cũng từ pháp Duyên Khởi này mà chứng ngộ được chân lý thâm sâu. Trọng tâm của Duyên Khởi như sau:
“Cái này có, thì cái kia có (imasmim sati idamhoti).
Cái này sinh, thì cái kia sinh (imassuppàda idam uppajjati).
Cái này không, thì cái kia không (imasmim asati idam na hoti).
Cái này diệt, thì cái kia diệt (imassa nirodhà idam airujjhata)”.[12]
Theo nguyên tắc điều kiện tính, tương đối tính và tính hỗ tương tùy thuộc ấy, sự tiếp tục của đời sống và sự chấm dứt của nó được giải thích trong một công thức chi tiết gọi là Duyên Khởi, (nghĩa là sự sinh khởi có điều kiện hay duyên) gồm 12 yếu tố:
1- Vô minh (làm) duyên (cho) hành (những hoạt động cố ý hay nghiệp) (avijjàpaccayà samkhàvà).
2- Hành (làm) duyên (cho) thức (samkhàrapaccayà vinnànam).
3- Thức (làm) duyên (cho) danh sắc (những hiện tượng tâm lý và vật lý) (Vinnànapaccayà nàmarùpam).
4- Danh sắc (làm) duyên (cho) lục nhập (5 giác quan và ý thức) (Nàmarùpapaccayà salàyatanam).
5- Lục nhập (làm) duyên (cho) xúc (động chạm, tiếp xúc) (salàyatanapaccayà phasso).
6- Xúc (làm) duyên (cho) thọ (cảm giác) (phassapaccayà vedanà).
7- Thọ (làm) duyên (cho) ái (khao khát ham muốn) (vedanàpaccayàtanhà).
8- Ái (làm) duyên (cho) thủ (bám víu, giữ lấy) (Tanhapaccayà upàdànam).
9- Thủ (làm) duyên (cho) hũu (quá trình sinh ra và trở thành) (upàdànapaccayà bhavo).
10- Hữu (làm) duyên (cho) sinh (sự sống, sinh ra) (Bhavapaccayà jàti).
11- Sinh (làm) duyên (cho)
12- Lão (già) tử (chết) ưu bi khổ não (buồn lo đau đớn) (Jàtipaccayà jaràm maranam).
Ðây là quá trình theo đó sự sống đã phát sinh, tồn tại và tiếp diễn. Nếu ta đảo ngược công thức lại, ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá trình:
“Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt v.v.. cho đến khi sinh lão, tử, ưu bi khổ não... diệt”.[13]
Cần nhớ rõ một điều rằng mỗi yếu tố trên đây đều vừa là nhân vừa là quả, nó vừa bị định đoạt bởi (paticcasamuppanna), và vừa làm điều kiện cho (paticcasamuppàda). Bởi thế chúng đều là tương đối, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan với nhau, không có cái gì là tuyệt đối hay biệt lập, do đó mà Phật giáo không công nhận có "nguyên nhân đầu tiên" như ta đã thấy trước kia: “Duyên Khởi nên xem như một vòng tròn, chứ không nên xem là một sợi xích”.[14] Theo luật Duyên Khởi, cũng như theo sự phân tích con người thành năm uẩn, ý tưởng về một bản thể trường cửu bất diệt ở trong hay ngoài con người, dù gọi là Àtman, Tôi, Linh hồn, Ngã hay cái Ta, chỉ được coi như một niềm tin sai lạc (tà tín), một bóng dáng của tâm thức. Đây là lý thuyết Phật giáo Nguyên Thủy về Vô Ngã.
II. Tìm hiểu giáo lý Bát Bất của Đại Thừa
2.1. Ý nghĩa của Bát Bất trong Đại Thừa
Quan điểm Bát Bất của Đại Thừa cũng dựa trên lập trường Vô Ngã và Duyên Khởi (duyên sinh) của Phật giáo Nguyên Thủy thể hiện qua bài kệ Bát Bất, là triệt tiêu cái ngã, cuối cùng Ngài nói “…Năng thuyết thị nhân duyên”.[15] Tất cả các pháp do duyên mà tồn tại đều tùy thuộc vào nhau, vì vậy dẫn đến trung đạo . Và theo ngài: Vô Ngã không phải vô và không phải hữu nên gọi là Chân Không Diệu Hữu: “ Nghĩa là khi đạt đến tuyệt đối thì Chân Không là Diệu Hữu, Diệu Hữu tức là Chân Không”[16]. Tất cả những quan điểm đó được Ngài Long Thọ xây dựng trên quan điểm Bát Bất như sau:
“Bất sanh diệt bất diệt Không phải sanh cũng không phải diệt
Bất nhất diệt bất nhị Không phải một cũng không phải khác
Bất thường diệt bất đoạn Không phải thường cũng không phải đoạn
Bất khứ diệt bất lai Không phải đi cũng không phải đến”[17]
Bài kệ 4 câu gồm tám chữ Bất ( không), là bốn câu trong 446 bài kệ trong Trung Quán Luận với tư tưởng tuyệt đối Chơn Không, Sanh diệt, đồng nhất hay dị biệt v.v…là quan niệm tương đối không phân cách. Đó là quan niệm của sinh diệt môn, không phải Chơn Như môn. Sanh diệt môn nằm trong vòng vọng chấp, nhiễm trước đam mê, thiên kiến, sai lầm. Luận cứ của Long Thọ Bồ Tát được thấy có 4 điểm chính là: Có (Ens) Không (Non –Ens) cũng Có cũng Không (Either ens or non én). Chẳng phải Có chẳng phải Không (Neither ens nor non ens). Bài kệ dưới đây của Long Thọ Bồ tát là một thứ luận cứ trên:
“Chúng nhân duyên sanh pháp Các pháp do nhân duyên sanh ra
Ngã thuyết tức thị vô Ta cho đó là không thật có
Diệt vị thị giả danh Có cũng là giả danh thôi
Diệt thị trung đạo nghĩa Cũng chỉ là lý nghĩa trung đạo vậy”[18]
Long Thọ Bồ Tát không phủ nhận hoàn toàn các pháp do nhân duyên sanh là không có. Các pháp do nhân duyên sanh là từ nhiều yếu tố phương tiện và điều kiện hình thành. Trong Kinh Trường A Hàm nói: “Nhân nhờ dầu và tim đèn, mà ngọn đèn được cháy sáng. Nó không phải tự cái này, hoặc không phải tự cái kia, hoặc không phải tự chính nó, các pháp hiện tượng chính nó không có. Tất cả là không thật là giả hữu”.[19]
Ngọn đèn phát ra từ dầu và tim đèn, song dầu và tim đèn không phải là ngọn đèn. Ngọn đèn nếu không nhờ tim đèn và dầu thì ngọn đèn không thể sáng được. Đó là lý tương duyên của nhân sinh và vũ trụ. Mục tiêu của Ngài Long Thọ là đả phá kiến chấp cố định. Cho nên quan niệm thật hiện hữu, hay không hiện hữu đều bị coi là sai lầm. Đại Thừa từ cửa Không mà thâm nhập, cho nên phần lớn nói về bất sanh bất diệt, nhưng kỳ thật sanh diệt và bất sanh bất diệt chỉ là một. Duyên Khởi là chân nghĩa của Phật pháp tánh Không, điều đó rõ ràng đã nêu lên được sự thật của việc phát triển tư tưởng Phật giáo. Đức Thế Tôn đã nói nhiều về Vô Thường và Vô Ngã. Nếu nương vào Vô Thường, Vô Ngã của Duyên Khởi để quán xét, liền thể hội được Duyên Khởi không tịch. Do đó, Duyên Khởi rất sâu xa, mà tánh không tịch của Duyên Khởi càng sâu xa hơn. Từ đó Duyên Khởi được xem là pháp tánh, pháp trụ, pháp giới.
Ngài Long Thọ nhấn mạnh có hai chân lý mà giáo lý của Phật Thích Ca đề cập đến là: Chân lý tương đối thực nghiệm và Chân lý tuyệt đối. Chân lý tương đối thực nghiệm dành cho bực hạ căn hạ trí, Chân lý tuyệt đối siêu việt dành bực thượng căn thượng trí. Người không hiểu hai chân lý này, thì không thể nói là người thâm hiểu lý vi diệu thậm thâm của Phật.
2.2. Sự liên hệ của thuyết Bát Bất với thuyết Duyên Khởi
Ngài Long Thọ y cứ vào nghĩa Không để nói về Trung Đạo, tức Bát Bất Duyên Khởi. Trong đó, tuy có sự giải thích bất đồng về Duyên Khởi bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất nhị, bất lai, bất khứ, nhưng kinh A-Hàm đã dẫn giải minh chứng rõ ràng, cho nên hàng Thanh Văn dễ dàng tiếp nhận. Chỉ có Duyên Khởi bất sanh bất diệt thì còn có chỗ tin hiểu. Từ điểm này mà hình thành nét đặc sắc của Đại Thừa không cùng chung với hàng Thanh Văn.
Theo các nhà Trung Quán, Duyên Khởi bất sanh bất diệt là tánh tịch diệt của trung đạo. Đức Phật giác ngộ được Duyên Khởi mà thành đạo, chính là chỗ này; Thanh văn chứng nhập vô vi vô sanh cũng chỗ này. Duyên Khởi bất sanh bất diệt này chính là nghĩa sâu xa căn bản của Phật pháp, là sở chứng chung của hàng Tam thừa. Nhưng trong quá trình triển khai giáo nghĩa của Phật giáo thì Duyên Khởi này trở thành nghĩa sâu xa mà các học giả Đại thừa đặc biệt phát huy. Và chủ trương giáo thuyết: “Chân Không là kết luận của vọng tâm duyên sinh quan, còn Diệu Hữu là cái cảnh giới đã diệt trừ vọng tâm mà làm sáng tỏ thể tướng của tịnh tâm”.[20] Như vậy: “ Chân Không nghĩa là hết thảy hiện tượng không có tự tính, còn Diệu Hữu là chỉ sự tồn tại của vạn pháp”.[21] Hai quan niệm này không bao giờ tách biệt nhau. Đó là điểm đặc sắc của Đại thừa, về hình thức nó đã trở thành giáo học riêng biệt của Đại thừa.
III. Sự liên hệ giữa giáo lý Vô Ngã của Nguyên Thủy và Bát Bất của Đại Thừa
3.1. Lý thuyết Vô Ngã và Duyên Khởi của Nguyên Thủy
Sự tương quan giữa Vô Ngã và Duyên Khởi của Nguyên Thủy được đi qua Tam Pháp Ấn và bốn dòng Duyên Khởi là:
“Tất cả Hành là Vô Thường” (Sabbe samkhàrà)
“Tất cả Hành là Khổ” (Sabbe samkhàrà dukkhà)
“Tất cả các Pháp đều Vô Ngã” ( Sabbe dhammanattà)[22]
“Cái này có, thì cái kia có (imasmim sati idamhoti)
Cái này sinh, thì cái kia sinh (imassupàda imdam uppajjai)
Cái này không, thì cái kia không (imasmim asati idam na hoti)
Cái này diệt, thì cái kia diệt (imassa nirodhà idam airujjhata” [23]
Trong Kinh đã nhấn mạnh rằng:
“ Thấy được Duyên Khởi tức là thấy pháp, mà thấy pháp tức là thấy Duyên Khởi. Tại sao vậy? Vì tất cả năm uẩn đều do Duyên Khởi mà sinh”.[24]
“Duyên Khởi là gì? Này các Tỳ Khưu! Là y vào duyên mà sinh. Này Tỳ Khưu! Dù Như Lai có ra đời hay không, cũng không liên quan gì cả. Nó là pháp giới thường trụ, là thực pháp (Dhammatthit ata) là định pháp (Dhammani-vamata), là tính duyên khởi (Idappa-ccayata), Như Lai vì những người chưa ngộ đạt pháp ấy thì làm cho ngộ đạt, bằng mọi cách thuyết minh giảng giải, chỉ bày, xác lập, nói rộng ra, và phân biệt rõ ràng cho họ có thể thấy”.[25]
Phật giáo Nguyên Thủy đã giải thích Duyên Khởi như là một tiến trình thời gian ngắn ngủi của những thực thể để đích thật mà giữa chúng có một chuỗi tương quan nhân quả. Như vậy theo Phật hết thảy hiện tượng tuy là vô thường biến thiên, nhưng trong cái thiên biến vô thường ấy có một cái lý pháp nhất quán vĩnh viễn bất diệt, mà lý pháp đó chính là nhân duyên.
3.2. Lý thuyết Bát Bất của Đại Thừa
Sự chặt chẻ của thuyết Bát Bất cũng được đi qua tám công thức sau:
“Bất sanh diệt bất diệt Không phải sanh cũng không phải diệt
Bất nhất diệt bất nhị Không phải một cũng không phải khác
Bất thường diệt bất đoạn Không phải thường cũng không phải đoạn
Bất khứ diệt bất lai Không phải đi cũng không phải đến”[26]
Qua thuyết Bát Bất của Đại Thừa ta có thể nhận thấy rằng. Bài kệ 4 câu gồm tám chữ Bất ( không), là bốn câu trong 446 bài kệ trong Trung Quán Luận với tư tưởng tuyệt đối Chơn Không, Sanh diệt, đồng nhất hay dị biệt v.v…là quan niệm tương đối không phân cách. Đó là quan niệm của sinh diệt môn, không phải Chơn Như môn. Sanh diệt môn nằm trong vòng vọng chấp, nhiễm trước đam mê, thiên kiến, sai lầm.
Sự liên hệ của Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa nằm ở đây. Theo Nguyên Thủy các nhân duyên nối nhau như vòng tròn vô tận:
“Các Pháp do nhân duyên sanh là các Pháp chính nó không có tự tánh, tự tánh là chỉ tánh chơn thật, hay nói khác hơn là bản thể thường trú, mà Long Thọ Bồ Tát gọi là Sunya “Tánh Chơn Không”. Bản thể thường trú của nó không phải từ nhân duyên sanh, mà nó là phi nhân duyên. Do đó tự tánh bản thể Chơn Không là tánh bất sanh, bất diệt, bất đoạn, bất thường”.[27] Đây cũng là sự tương quan Duyên Khởi của Đại Thừa.
Nhìn từ mặt đức hạnh (thiện) thì Duyên Khởi của Tánh Không là Vô Ngã . Nhân sanh là một dòng tương tục mà thân tâm nương gá tồn tại, cũng là sự hòa hợp tự tha y tồn. Chỉ có Vô Ngã mới có từ bi; từ Chánh Giác Duyên Khởi, thân tâm nương nhau, tự tha cùng tồn tại, vật ngã giúp nhau, mà sanh ra chân tướng Vô Ngã. Chân trí tuệ và chân từ bi, tức là nội dung của Duyên khởi cũng là sự liên hệ triệt tiêu Tự Ngã của Nguyên Thủy và Đại Thừa.
3.3. Sự liên hệ giữa giáo lý Vô Ngã của Nguyên Thủy và Tánh Không của Đại Thừa
Phật giáo Nguyên Thủy lấy giáo lý Duyên Khởi (Paticcamūpāda) làm trọng tâm; trong khi Phật giáo Đại Thừa hình thành thêm hệ tướng Trung Quán (Mādhyamika) và Duy Thức (Yogācāra) trên nền tảng của Duyên Khởi; và, sau cùng là sự ra đời của Kim Cang thừa (Vajrayāna), còn gọi là Mật Tông. Mặc dù vậy, tất cả hệ tư tưởng trên không hề mâu thuẫn nhau, ,mà lại còn tương đồng với nhau. Có thế nói tư tưởng Bát Bất của Đại Thừa được kế thừa từ lập trường Vô Ngã của Nguyên Thủy.
: Hoà thượng Walpola Rahula của Phật giáo Nguyên thủy nói: “Có người nghĩ rằng: ‘Tánh Không’ mà ngài Long Thọ nói, hoàn toàn là giáo lý Đại thừa. Thật ra ngài căn cứ vào lý Vô ngã và Duyên khởi, đã có sẳn trong kinh Pàli để viết ra”. Cho nên ta có thể thấy rằng Ngài Long Thọ đã dựa vào hai giáo lý trên khi viết quyển sách nổi tiếng “Madhyamika-karika” (Trung quán luận).
Thuốc trị bệnh chấp Ngã của Nguyên Thủy chính là giáo lý Vô Ngã, ở trong các bộ kinh Nikaya và A Hàm (Agama). Còn Phật giáo Ðại Thừa chuyên nói về tánh Không, trong đó có hai loại: Ngã Không và Pháp Không. Ngã Không cũng chính là Vô Ngã. Đại thừa từ cửa Không mà thâm nhập, cho nên phần lớn nói về bất sanh bất diệt, nhưng kỳ thật sanh diệt và bất sanh bất diệt chỉ là một. Duyên Khởi là chân nghĩa của Phật pháp tánh không, điều đó rõ ràng đã nêu lên được sự thật của việc phát triển tư tưởng Phật giáo. Đức Thích Tôn đã nói rất nhiều về Vô Ngã và Vô Thường. Nếu nương vào Vô Thường, Vô Ngã, Duyên Khởi của Nguyên Thủy để quán xét, liền thể hội được Duyên khởi Không Tánh. Do đó, Duyên Khởi của Nguyên Thủy rất sâu xa, mà Tánh Không của Duyên Khởi Đại Thừa càng sâu xa hơn. Từ đó Duyên Khởi được xem là Pháp Tánh, Pháp Trụ, Pháp Giới.
Phật giáo Nguyên Thủy phủ nhận Tự Ngã qua Tam Pháp Ấn. Quan điểm này là chân tướng của thế giới hiện thực, là thế giới sinh diệt biến hóa, phủ nhận sự tồn tại của cái Tự Ngã là chủ thể duy nhất.
Phật giáo Đại Thừa đã phát triển giáo lý Vô Ngã của Phật giáo Nguyên Thủy lên thành Tánh Không, với tám cái Bất đã triệt tiêu những gì là Tự Ngã, thành quan điểm Chân Không Diệu Hữu, nhưng quan điểm của Đại Thừa có phần thâm sâu hơn. Về phương diện bản thể luận, quy định trạng thái hoạt động của tâm một cách tinh thế là trung tâm của triết học Đại Thừa. Tâm của Đại Thừa có thể là kinh nghiệm, cũng có thể là vật: căn cứ vào đây Phật giáo Đại Thừa thành lập thế giới quan: Chân Không Diệu Hữu: Chân Không là kết luận của vọng tâm sinh diệt; Diệu hữu là cảnh giới đã trừ diệt vọng tâm mà làm sáng tỏ ở thể tướng của tịnh tâm.
Vậy sự liên quan của lý thuyết Vô Ngã của Nguyên Thủy và thuyết Bát Bất (Tánh Không) của Đại Thừa đến đây ta đã hiểu rõ là tuy hai mà một, tuy một mà hai. Đều chung một quan điểm triệt tiêu Tự Ngã.
C. Kết luận
Qua đây ta thấy Phật giáo Nguyên Thủy lấy giáo lý Duyên Khởi (Paticcamūpāda) làm trọng tâm; trong khi Phật giáo Đại Thừa hình thành thêm hệ tưởng Trung Quán (Mādhyamika) và Duy Thức (Yogācāra) trên nền tảng của Duyên Khởi; và, sau cùng là sự ra đời của Kim Cang thừa (Vajrayāna), còn gọi là Mật Tông. Cho nên tất cả hệ tư tưởng trên không hề mâu thuẫn nhau, ,mà lại còn tương đồng với nhau. Có thế nói tư tưởng Bát Bất của Đại Thừa được kế thừa từ lập trường Vô Ngã của Nguyên Thủy.
Cả hai đều đứng trên lập trường triệt tiêu Tự Ngã. Có thể thấy rõ rằng Vô Ngã là hình thức đối nghịch với cái Ngã. Cái Ngã thì sanh lão bệnh tử, biến dị, khổ ưu, vô thường. Trái lại Vô Ngã được quan niệm như là bất sanh, bất diệt, bất biến, thường hằng, tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Có thể hiểu Vô Ngã là hình thức nhận thức vượt khỏi Vô Minh, Phật dạy cho chúng sanh phương pháp này là giải thoát khỏi cái Ngã sanh diệt, có nghĩa là khôi phục lại cái thực tính của nó là sự hiểu biết chân thật trở về với Chân Như Pháp Tánh…Giáo lý Phật về Vô Ngã không nên xem là tiêu cực hay hủy diệt. Cũng như Niết bàn đó là Chân Lý, Thực Tại, và Thực Tại thì không bao giờ là tiêu cực. Chính niềm tin sai lầm vào một cái Ngã tưởng tượng mới là tiêu cực. Giáo lý Vô Ngã xua tan bóng tối của tà tín và phát sinh ánh sáng của trí tuệ. Nó không tiêu cực như Ngài Vô Trước (Asanga) đã nói rất đúng: “Có một thực tại là Vô Ngã”.
Qua đây chúng ta có thể thấy Vô Ngã là nền tảng, là căn bản của tất cả pháp tu khác và cũng là mục tiêu chứng đắc của các bậc A la Hán, và Bồ Tát, và cũng là phương hướng cho Phật tử tại gia hành theo triệt tiêu lòng tham ái, để hướng về chơn tâm thuần thiện, đem lại hạnh phúc an lạc cho gia đình và xã hội.
* Giữ giới mà không hiểu Vô Ngã thì giới luật trở thành gò bó, cấm đoán và cái Ta sẽ bực bội, khó chịu.
* Hiểu Vô Ngã thì không còn soi mói tìm lỗi của người khác, không còn khen mình chê người . Khi gặp chuyện tranh chấp, xích mích, không còn đổ lỗi cho ai cả, vì biết không có ai là thủ phạm.
* Hiểu Vô Ngã thì làm các việc phước thiện như bố thí, cúng dường sẽ không cần chùa hay thầy phải ghi tên mình vì hiểu rõ không có một cái Ta hay Ai bố thí cúng dường cả, mà chỉ thấy có một sự bố thí. Trong Bát Nhã gọi đó là Bố Thí Ba La Mật.
* Hiểu Vô Ngã thì tự nhiên sẽ hiểu và xa lìa bốn tướng: ngã, nhơn, chúng sinh, thọ giả của Kinh Kim Cang.
* Tu Thiền mà hiểu Vô Ngã thì không còn bị vọng tưởng làm mê hoặc. Khi những ý niệm tốt xấu khởi lên trong tâm liền biết rõ: "Ðó chỉ là những ý niệm hiện khởi!" ngoài ra không có một cái Ta nào tốt hay xấu.
Vô Ngã là một chánh kiến cần được hiểu và thực hành trên con đuờng tu Phật. Tuy nhiên, hiểu Vô Ngã không phải là xong, đó chỉ là căn bản, là bước đầu, chúng ta vẫn phải tiếp tục trau dồi Giới - Định - Huệ, tu tập tất cả hạnh lành mà không chấp vào một cái Ta. Tập bỏ bớt việc đời để có nhiều thời giờ quán chiếu nội tâm, sống cuộc đời vô ngã vị tha.
Tài Liệu Tham Khảo
- Nguyên tác: HW. SCHUMANN, Trần Phương Lan (dịch) (2000) Đức Phật Lịch Sử, Nxb Tôn Giáo.
- Thích Minh Châu (2010) Tóm Tắt Kinh Trung Bộ, Nxb Văn Hóa Sài Gòn.
---------------------(2012) Kinh Trung Bộ I-II, Nxb Tôn Giáo.
---------------------. (Ấn hành (1971- 1999) Đại Thừa Và Sự Liên Hệ Với Tiểu Thừa.
- Phạm Kim Khánh (dịch) (2008) Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo.
- Trí Hải (2000) Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo.
- Quảng Liên (2007) Trung Quán Luận, Nxb Tôn Giáo.
- Thích Thiện Siêu (2001) Trung Luận, Nxb TP. Hồ Chí Minh.
- Thích Chơn Thiện (2009) Lý Thuyết Nhân Tính Qua Kinh Tạng PàLi, Nxb Phương Đông.
----------------------(2009) Phật Học Khái Luận, Nxb Phương Đông.
- Thích Đức Nghiệp (2002) Tam Luận Toàn Tập, Nxb Tôn Giáo.
- Kimura Taiken- Thích Quảng Độ (dịch) (2012) Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo.
------------------------------------------(dịch) (2012) Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo.
------------------------------------------(dịch) (2012) Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo.
- Thích Mãn Giác (2007) Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, Nxb Văn Hóa Sài Gòn.
- Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông.
-Hạnh Viên (dịch) (2011) Tư Tưởng Phật Giáo Ấn Độ, Nxb Phương Đông.
-Hồng Dương – Nguyễn Văn Hai (2001) Nhận Thức Và Không Tánh, Nxb Phương Đông.
-Thích Thanh Kiểm (2011) Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, Nxb Tôn Giáo.
Và một số bài giảng của Giảng Sư.
[1] Nguyên tác: HW. SCHUMANN, Trần Phương Lan (dịch) Đức Phật Lịch Sử, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr. 166
[2] Thích Đức Nghiệp, Tam Luận Toàn Tập, Nxb Tôn Giáo, 2002, Tr, 166
[3] Thích Thanh Kiểm Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, Nxb Tôn Giáo, Tr. 62-63
[4] Trí Hải, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr, 123
[5] Quảng Liên, Trung Quán Luận, Nxb Tôn Giáo -2007,Tr, 77
[6] Thích Minh Châu, Tóm Tắt Kinh Trung Bộ, Nxb Văn Hóa Sài Gòn -2010, Tr. 85
[7] Phạm Kim Khánh (dịch), Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, Tr. 112
[8] Trí Hải, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr, 132
[9] Tài liệu của Giảng Sư
[10] Tài liệu của Giảng Sư
[11] Kimura Taiken, Thích Quảng Độ (dịch), Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo -2012, Tr, 116
[13] Trí Hải, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr, 125
[14] Trí Hải, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr, 125
[15] Thích Thiện Siêu, Trung Luận, Nxb TP. Hồ Chí Minh -2001, Tr,9
[16] Kimura Taiken- Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo -2012, Tr, 227
[17] Quảng Liên, Trung Quán Luận, Nxb Tôn Giáo -2007,Tr, 77
[18] S Đ D (15) 78
[19] S Đ D (15) 78
[20] Kimura Taiken- Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo -2012, Tr, 101
[21] S Đ D (18), 226
[22] Trí Hải, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr, 132
[23] Trí Hải, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo -2000, Tr, 123
[24] Kimura Taiken- Thích Quảng Độ dịch, Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo -2012, Tr, 96
[25] Kimura Taiken- Thích Quảng Độ dịch, Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Tôn Giáo -2012, Tr, 96
[26] Quảng Liên, Trung Quán Luận, Nxb Tôn Giáo -2007,Tr, 77
[27] Quảng Liên, Trung Quán Luận, Nxb Tôn Giáo -2007,Tr, 148
BÀI LIÊN QUAN
Vài nét về Phật giáo đời Trần ( Thích Nữ Nghiêm Liên , 11143 xem)
Ý nghĩa độc đạo trong thiền quán tứ niệm xứ ( Thích nữ Hữu Liên , 16553 xem)
Ngã chấp nguyên nhân của đau khổ ( Thích Hạnh Lưu , 8898 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













