Trang chủ > Hoạt Động Hệ phái > Khoá Tu
Khóa tu “Sống chung tu học” lần 11 Ni giới GĐ III – Ngày thứ ba
Xem: 2562 . Đăng: 24/10/2020In ấn
Khóa tu “Sống chung tu học” lần 11 Ni giới GĐ III – Ngày thứ ba
Ban Thư ký khóa tu
Hôm nay, mùng 6/9/Canh Tý (nhằm 22/10/2020) là ngày tu thứ ba - khóa Sống chung tu học, lần thứ 11 tại Tịnh xá Ngọc Túc (xã Cư An, huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai). Trong thời học pháp đầu ngày của Ni chúng, Ni trưởng Hiệp Liên - Trưởng ban Quản sự Ni giới Giáo đoàn III, Trụ trì Tịnh xá Ngọc Trung (An Khê, Gia Lai) đã chia sẻ kinh nghiệm làm trụ trì với các hành giả với chủ đề: TƯ CÁCH VÀ TRÁCH NHIỆM VỊ TRỤ TRÌ TRONG VIỆC NHẬN VÀ GIÁO HÓA ĐỆ TỬ XUẤT GIA
.jpg)
.jpg)
.jpg)
1. Sứ mệnh “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng”:
Trụ trì là một thuật ngữ của Phật giáo, có nghĩa là an trụ, duy trì, nắm giữ, hộ trì Phật pháp. Lại nữa Trụ trì có nghĩa là vị Tăng hay Ni đứng đầu một cơ sở tự viện, có trách nhiệm giữ gìn, quản lý cơ sở, sinh hoạt, tu hành, vừa gánh vác trách nhiệm hộ trì vừa truyền bá Phật pháp.
Với ý nghĩa đã trình bày ở trên, vị trụ trì là những người nhận lãnh vai trò quan trọng trong sứ mạng tiếp Tăng độ chúng, hoằng dương chánh pháp, làm cho mọi người được thấm nhuần giáo pháp của đức Phật và chuyển hóa tâm linh tự thân trên con đường tu học giải thoát, tạo dựng một đời sống an lạc và hạnh phúc cho muôn loài.
Như vậy, vị trụ trì phải lấy tinh thần phụng sự đạo pháp, dân tộc, hộ trì Tam Bảo làm động cơ thúc đẩy trên bước đường tiến tu đạo nghiệp, như lời của Đệ nhất Ni trưởng đã nguyện:
“Nguyện xin hiến trọn đời mình,
Cho nguồn đạo pháp, cho tình quê hương.”
Và Cổ đức cũng dạy:
“Nguyện đem thân tứ đại này,
Tô bồi đạo pháp dựng xây đạo tràng.
Cúng dường Tam bảo nghiêm trang,
Làm cho đời đạo ngày càng đẹp tươi.”
Trụ trì là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nặng nề, phải nỗ lực tu học tinh chuyên và có tâm phụng sự hết lòng mới hoàn thành sứ mạng cao cả của đức Thế Tôn giao phó là “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng”, hoặc “Trụ Như Lai xứ, hành Như Lai sự”. Có an trú trong ngôi nhà Phật pháp, giữ gìn hộ trì Chánh pháp của Như Lai mới có thể làm cho Phật pháp xương minh trường tồn.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập và phát triển, Phật giáo đang đứng trước những thử thách đổi mới. Do đó, vị trụ trì cần phải chú trọng trách nhiệm của mình hơn nữa để thích ứng với hoàn cảnh xã hội mới. Vị trụ trì hiện nay cần phải có trình độ nhất định về Phật học và thế học. Cổ đức đã dạy:
“Tu có học mới rạng ngời Chánh pháp,
Học có tu mới lợi đạo ích đời.”
Sự học trên bước đường hoằng dương Chánh pháp trong thời đại xã hội đang phát triển rất quan trọng và quan trọng hơn nữa là sự tu tập, trau dồi đạo đức, Phạm hạnh của mình. Cổ đức cũng có câu: “Người học đạo thì giữ gìn tùng lâm. Tùng lâm thì giữ gìn đạo đức. Người trụ trì nếu không có đạo đức thì tùng lâm sẽ suy tàn vậy.”
2. “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”:
Một trong những bổn phận của người xuất gia là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Vị trụ trì phải phát tâm Bồ-đề rộng lớn, mạnh mẽ, luôn nỗ lực trau dồi đời sống Phạm hạnh thanh tịnh để thăng hoa về mặt tâm linh trên bước đường tu học, giải thoát và làm nơi quy hướng cho đệ tử tại gia và xuất gia. Bất cứ lúc nào, vị trụ trì cũng tâm tâm nguyện nguyện là làm lợi ích cho chúng sanh, phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Muốn thực hiện bổn nguyện ấy, vị Tỳ-kheo phải có đủ tư cách làm thầy. Do đó đức Phật quy định Tỳ-kheo phải đủ 10 hạ, Tỳ-kheo-ni phải đủ 12 hạ mới được thu nhận đệ tử độ người xuất gia.
3. Tư cách và điều kiện làm thầy:
Nói một cách cụ thể, một vị Tỳ-kheo có đủ tư cách làm thầy khi vị ấy hội đủ 5 điều kiện được các bộ Luật quy định như sau:
1. Tuổi đạo phải đủ 10 hạ, Ni 12 hạ.
2. Phải am tường giới luật, biết rõ các trường hợp trì và phạm, khinh và trọng.
3. Đa văn: Phải có kiến thức văn hóa quảng bác.
4. Phải có kinh nghiệm tu tập, đủ khả năng giải quyết những tâm tư khúc mắc của đệ tử.
5. Phải có khả năng đoạn trừ tà kiến cho đệ tử.
Nói tóm lại, làm thầy phải biết giáo dục, dạy dỗ đệ tử về các mặt Giới Định và Huệ. Đây là ba môn học quan trọng trong quá trình tu tập giác ngộ giải thoát. Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ. Do tu tập Giới Định Huệ mà được dứt trừ vô minh phiền não, không còn đọa lạc vào trong ba cõi, thành tựu được trí huệ giải thoát. Người xuất gia nếu không tu tập ba môn học này không xứng đáng là người xuất gia. Giới Định Huệ là ba điều không thể tách rời khi đề cập đến giáo lý Phật giáo. Cho nên, đức Phật dạy:
“Trí huệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh. Giới hạnh được trí huệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí huệ; chỗ nào có trí huệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí huệ; người có trí huệ, nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí huệ được xem là tối thắng ở trên đời.”
Kinh Pháp cú, kệ 372 nhấn mạnh tầm quan trọng của Giới Định Huệ được Đệ nhất Ni trưởng phổ thơ:
“Không thiền định không sanh trí huệ,
Trí huệ không, chẳng thể định thiền,
Người nào gồm đủ nhơn duyên,
Định thiền, trí huệ gần bên Niết-bàn.”
Đức Tổ sư Minh Đăng Quang dạy: “… Thế thì, giới luật là y bát, là Khất sĩ, Khất sĩ là định huệ. Nếu Khất sĩ không có tu về định huệ, dầu mà có trì giới không đi nữa cũng chưa được gọi trọn là Khất sĩ, vì chữ Sĩ đây là sự học đạo lý với quả linh. Bằng pháp tu định huệ, tu tức là học, hay học tức là tu, bởi tại hành mà dạy sanh ra học. Tu học định huệ là do giới y bát Khất sĩ. Như vậy là trong tiếng Khất sĩ, đủ gồm cả giới định huệ”. (Chơn lý “Y bát chơn truyền”)
Giới Định Huệ quan trọng như vậy, cho nên nếu thấy yếu kém về các mặt đó thì bản thân vị trụ trì cần phải tự nỗ lực tinh tấn tu tập thêm giới hạnh, thiền định và trí huệ, chứ không nên chỉ vì mong muốn có người quét chùa, tụng kinh, bái sám, làm công tác phục dịch trong tịnh xá… mà thâu nhận đệ tử một cách cẩu thả, vội vàng, vô trách nhiệm tạo thành sự rối loạn trong chúng đệ tử, mất kỷ cương, nề nếp trong ngôi đạo tràng tịnh xá, làm tổn thương đạo pháp.
Người đệ tử khi từ bỏ tình thương yêu của cha mẹ, người thân trong gia đình, bước chân vào đạo phát tâm xuất gia, nương theo thầy học đạo là gởi trọn cả cuộc đời của mình cho thầy, đặt tất cả niềm tin của mình vào thầy.
“Bước đầu bổn phận làm trò,
Cả thân tâm ý dâng cho người thầy.
Mặc người uốn nắn chuyển xoay,
Đặng mình diệt hẳn riêng tây ý xằng.”
Chính vì vậy, vị thầy phải đem hết tâm từ bi, vị tha, dùng đủ phương tiện thiện xảo để giáo dưỡng, hướng dẫn, dạy dỗ đệ tử trên con đường tiến tu giới thân huệ mạng. Người trò có hư hay nên, một phần lớn là do giáo dưỡng của người thầy. Người xưa nói: “Nghiêm sư xuất cao đồ”, hoặc nói “Minh sư xuất cao đồ”, người thầy dạy dỗ nghiêm túc, khéo léo thì sẽ đào tạo những người đệ tử đạo hạnh giỏi giang. Cho nên, bổn phận và trách nhiệm của người thầy thật vô cùng quan trọng vậy.
Ngài Viễn Công nói: “Trụ trì có ba điểm cần thiết là NHÂN – MINH – DŨNG. Nhân nghĩa là thực hành đạo đức, phát triển việc giáo hóa, an trên dưới, làm đẹp lòng người đi kẻ lại. Minh là giữ lễ nghĩa, biết an nguy, xét hiền ngu, biện phải trái. Dũng nghĩa là phải quả cảm với công việc trừ kẻ gian, bỏ kẻ nịnh. Nhân mà không có Minh như người có ruộng chẳng cày. Minh mà không có Dũng như có lúa non mà chẳng làm cỏ. Dũng mà chẳng có Nhân cũng như chỉ biết cắt cỏ mà chẳng biết gieo hạt giống. Ba điểm thiết yếu như trên mà đầy đủ thời chốn tùng lâm hưng thịnh, thiếu một thời suy, thiếu hai thời nguy, thiếu tất cả thời cái đạo của trụ trì tất hỏng vậy”.
Ở đây xin dùng một bài thơ để tóm ý này:
Viễn Công nói phận trụ trì,
Nhân Minh và Dũng khắc ghi trong lòng.
Nhân là đạo đức thực hành,
Hoằng khai giáo pháp nhơn sanh đẹp lòng.
An trên thuận dưới thong dong,
Dưới trên vui vẻ tâm không nhẹ nhàng.
Minh là lễ nghĩa nghiêm trang,
Xét xem, phân biệt nguy an, dở hiền.
Biện minh phải trái nghịch duyên,
Tâm an thanh tịnh não phiền tránh xa.
Dũng là trừ kẻ gian tà,
Tâm hồn quả cảm yêu ma đoạn trừ.
Nhân không Minh, lỗi đạo tu,
Có ruộng chẳng cấy, lu bù cỏ hoang.
Minh mà không đúng lỗi đàng,
Lúa non mới lớn không ngăn cỏ đầy.
Dũng không Nhân, uổng sức dày,
Như người cắt cỏ chẳng hay gieo trồng.
Ba điều thiết yếu thành công,
Từng làm rạng rỡ, hưng long với đời.
Cả ba khi thiếu một rồi,
Tức là suy yếu đạo thời lung lay.
Thiếu hai nguy hiểm tràn đầy,
Thiếu ba thì đạo trụ trì đã hư.”
4. Quan tâm vừa tinh thần lẫn vật chất:
Người thầy phải hướng dẫn người đệ tử cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong Luật có nói:
“Bậc thầy phân làm 4 hạng:
1. Có pháp lại có cơm áo.
2. Có pháp mà không có cơm áo.
3. Có cơm áo mà không có pháp.
4. Không có pháp mà cũng không có cơm áo.
Vị thầy lý tưởng dĩ nhiên là vị thầy đã có pháp để học, lại có cơm áo để dùng. Đệ tử theo hầu dưới tòa của vị thầy ấy chẳng nên ly khai. Nếu như vị thầy có Phật pháp để học mà không có cơm áo để dùng cũng không nên ly khai. Vì Phật pháp khó được, cơm áo dễ được. Nếu như vị thầy chỉ có cơm áo không có Phật pháp thì chẳng đủ tư cách làm thầy. Đến như vị thầy không có Phật pháp cũng không có cơm áo, quyết không nên theo thờ người ấy làm thầy.
Trong Kinh Trung bộ, đức Phật dạy rằng chư Tỳ-kheo sống gần một người nào, Tỳ-kheo sống gần người ấy, các niệm chưa được an trú được an trú… chưa được chứng đạt được chứng đạt và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cẩn phải sắm đủ như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị người bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn… Chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy phải trọn đời theo sát người này không được bỏ đi dầu cho có bị xua đuổi.
Người xuất gia thời nay không giống thời xưa, do hoàn cảnh tu học khác với lớp người trước. Có thể là xã hội càng ngày càng hiện đại hóa, điện tử hóa, vi tính, điện thoại di động, mạng lưới internet, giúp cho việc thông tin trên thế giới càng ngày càng phổ cập nhanh chóng, cũng giúp cho việc hoằng pháp càng phổ biến được sâu rộng và tiện lợi hơn, nhưng cũng vì đó mà làm cho một số Ni trẻ càng ngày càng đắm sâu vào những tiện nghi vật chất, quên đi việc tu học cần phải thanh bần, đơn giản. Vị thầy phải biết khế thời, khế lý, khế cơ trong việc giáo dưỡng để giúp cho Ni chúng vừa tiếp cận với những thành quả của khoa học kỹ thuật, vừa nhắc nhở đệ tử đừng quên phương châm “Tam thường bất túc” nghĩa là ba sự ăn, mặc và ngủ không được quá thừa thải, sung túc, phải ít muốn biết đủ, sống giản dị, nhằm đoạn trừ lòng tham, dốc tâm tu học hầu đạt đến an lạc thật sự.
Hai phương diện tinh thần và vật chất, vị trụ trì đều quan tâm lo lắng cho đệ tử sẽ tạo cho mối quan hệ thầy trò, trong nếp sống thiền môn trên nền tảng giải thoát giáo ngộ càng có ý nghĩa hơn. Ngài Diễn Tổ nói: “Việc lớn của trụ trì cần ở Huệ và Đức phải đầy đủ cả hai phương diện, không thể bỏ thiếu một. Có ơn huệ mà không có đạo đức thời người ấy chẳng kính, có đức mà không có ơn thời người chẳng nhớ. Nếu biết làm ơn tất có sự mong nhớ, lại thêm có đức để cũng giúp lẫn nhau, thời cái ơn đã tỏa ra, tất đủ để an trên dưới dụ dẫn bốn phương. Nếu thấy đức là đáng kính, lại thêm vào đó ơn để giúp lẫn nhau, thời cái đức sẵn có đủ để nối dõi bậc Tiên giác, chỉ đạo kẻ ngu mê. Cho nên, người khéo trụ trì phải nuôi đức để làm ơn huệ, tuyên ân huệ để giữ đạo đức. Đức mà hay nuôi thời chẳng khuất, ơn huệ mà hay làm thời có ân. Bởi thế, đức và ơn cùng súc tích, ơn và đức cùng thực hành với nhau, như thế thời đức chẳng cần phải tu mà được sự kính mến ngang với Phật Tổ, ơn chẳng cần phải thực thi mà được nhớ như là cha mẹ. Vậy nên, những kẻ có chí với đạo khắp chốn hồ hải, ai là chẳng quy tụ. Người trụ trì truyền đạo đức, phục hưng giáo hóa, nếu chẳng rõ điều cốt yếu này, thời không thể thi thố trọn vẹn được.”
5. Thời gian cho xuống tóc, thọ giới, đi học:
a. Phát tâm xuất gia:
Khi có một vị Phật tử phát tâm xuất gia học đạo, vị trụ trì phải xem xét căn cơ và nguyện vọng của người này. Nếu là người Phật tử thuần thành, đã có nhiều năm gắn bó với Tam bảo, ý thức và giác ngộ sự vô thường của cuộc đời, phát tâm Bồ-đề mong cầu sự giải thoát thì có thể thâu nhận ngay. Còn nếu không phải là Phật tử thuần thành, chỉ là buồn chán gia đình, thất vọng trong cuộc đời, hay đi tu chỉ vì thấy vui vui mà đi, hay chỉ là mong muốn bốc đồng thì vị trụ trì có thể khuyên nhắc sự cao quý cũng như sự khó khăn gian khổ của sự tu hành cho người đó nghe. Nếu thấy được thì mới thâu nhận.
Trong Chơn lý, Tổ sư dạy: “Thế nên khi xưa có kẻ cư sĩ ít duyên gần Tam bảo mà muốn xin nhập đạo, các Ngài lại bảo rằng khoan, hãy nên học nghiệm rộng khắp giáo lý, xã hội, gia đình, tôn giáo, cư gia cho thông trước đã rồi mới sẽ nên vào. Vì khi vào đạo rồi là phải chịu bó buộc sự tu học theo giới luật, chương trình cho đến ngày đắc đạo, cũng giống như học trò lớp dưới, hết bài học rồi mới sẽ lên trên, hay như cư sĩ đứng ngoài là phải nên lựa chọn, chớ vào lớp rồi là không được dòm ngó hai bên do dự nữa và đợi cho đến khi đã trở nên bậc thầy là Phật Thánh thì trí học mới sẽ ngó ra ngoài xa kia được.” (Chơn lý “Đạo Phật Khất Sĩ”)
b. Thế phát xuất gia:
Theo quy định hiện nay của Ni giới Hệ phái Khất sĩ, người nữ Phật tử phát tâm xuất gia phải ở trong tịnh xá một thời gian để vị thầy xem tâm niệm xuất gia có kiên trì hay không rồi mới đem về Giáo đoàn chứng minh xuống tóc. Kể từ ngày xuống tóc mới được gọi là ngày chính thức xuất gia. Thời gian nhanh hay chậm tùy theo căn cơ của người nữ Phật tử.
c. Công quả tại tịnh xá:
Trong thời gian đầu tiên mới xuất gia, không nên cho đi học sớm, để cho tập công quả, bồi công lập đức, hầu thầy và học oai nghi tế hạnh của một vị xuất gia có uy đáng kính, có nghi đáng sợ. Những oai nghi tế hạnh này, người đệ tử sẽ nhận được từ thân giáo, khẩu giáo, ý giáo của vị thầy trong thời gian tập sự ở gần thầy. Đây cũng là thời gian được thầy đặc biệt quan tâm chỉ dạy, từ những oai đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, uống nước, chấp tác, lễ lạy, tụng kinh, mỗi mỗi người đệ tử đều phải được hướng dẫn trong thời gian này. Nếu trong thời gian đầu tiên mà không cho đệ tử học những uy nghi phép tắc thuở ban đầu của người xuất gia thì sau này sẽ khó kềm chế tâm của người đệ tử trên con đường trau dồi Phạm hạnh giải thoát giác ngộ.
Ngoài những uy nghi phép tắc hằng ngày, vị thầy phải cho đệ tử học những Bài học Khất sĩ và Bài học Sa-di để đệ tử được thấm nhuần hơn. Trong thời gian này, hai thời công phu sớm tối, nghi thức sám hối và những bài kinh kệ cần được học thuộc lòng. Có những vị thầy quá thờ ơ trong việc hướng dẫn đệ tử học kinh kệ, thậm chí bài kinh cúng dường tu cả năm rồi mà vẫn chưa thuộc. Khi thọ giới, Ban Giám khảo khảo hạch bài, giới luật không thuộc một câu, Tứ y pháp, Bát kính pháp cũng không thuộc. Cho nên, vị thầy phải hướng dẫn đệ tử một thời gian đầu nếm được chút cơm thiền sữa pháp, lúc này mới có thể rời xa thầy đi học hoặc cho thọ giới pháp Sa-di-ni để tiến tu trên bước đường tu tập.
Chơn lý của Tổ sư có viết: “Từ xưa đến nay, kẻ nào được chơn sư xem xét chọn lựa trên hai năm kỹ lưỡng, đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên, mới chịu dạy truyền cho giáo lý y bát áy để tách khỏi xa thầy một mình đi xa tu học thành công.” (Chơn lý “Y bát chơn truyền”)
Nhứt là không nên mới thâu nhận đệ tử liền cho xuống tóc, đạo tâm chưa vững đã cho đi học xa thầy, xa huynh đệ. Và sau khi học xong, vị thầy dạy đệ tử phải trở về tịnh xá, trú xứ của thầy phụ giúp công việc Phật sự mới có thể đền trả công ơn tế độ giáo dưỡng của thầy. Hiện nay, có một số Ni đi học xong là tìm chỗ ra riêng không trở về với Thầy Tổ.
Đúng theo truyền thống của Hệ phái, các giới tử trước khi lên lớp thọ giới phải về chỗ đăng cai An cư kiết hạ ba tháng để quý Ni trưởng, Ni sư xét dò đạo hạnh mới được thọ giới. Song điều cần yếu việc giáo dưỡng là do Bổn sư của người đệ tử đó chịu trách nhiệm. Vì “Dưỡng bất giáo phu chi quá, giáo bất nghiêm sư chi đọa”, nghĩa là nuôi con mà không dạy bảo là lỗi của người cha, dạy đệ tử không nghiêm là lỗi của người thầy. Hay là “Phụ giáo, sư nghiêm, lưỡng vô ngại. Học vấn vô thành, tử chi tội”, nghĩa là cha dạy thầy nghiêm, cả hai làm đúng chức năng của mình, nhưng học vấn không thành là lỗi của người đệ tử. Việc giáo dục, dạy dỗ đệ tử của những bậc làm thầy có liên quan mật thiết đối với sự thịnh suy của Phật pháp.
Trong kinh đức Thế Tôn đã răn nhắc rằng nuôi đệ tử mà không biết dạy dỗ để họ làm tổn thương đến đạo pháp thì tội lỗi còn nặng hơn một người đồ tể sát sanh. Vì người đồ tể gây nghiệp ác chỉ làm hại đến bản thân mình, còn một người xuất gia mà làm trái giáo pháp sẽ khiến cho Chánh pháp vì thế mà sớm bị diệt vong. Vì thế con trò rất mong quý vị trụ trì, nhất là các vị tân trụ trì nên chú ý đến điều này.
6. Kết luận:
Trách nhiệm “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng”, “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của vị trụ trì rất quan trọng, có liên quan đến sự thịnh suy của đạo pháp. Cho nên, quý vị trụ trì cần phải trang nghiêm tự thân trong việc tu học Giới Định Tuệ, khéo áp dụng tinh thần Từ bi, Trí tuệ, Vô ngã, Vị tha trong việc thâu nhận và giáo hóa đệ tử xuất gia.
Huynh đệ trụ trì nên cố gắng sắp xếp thời gian đi tham dự khóa Trao đổi kinh nghiệm trụ trì một tuần vào đầu mùa An cư kiết hạ của Hệ phái để nắm bắt được đường lối tu học, hành đạo dưới sự hướng dẫn của chư Tôn lãnh đạo Hệ phái. Chúng ta phải ghi nhớ pháp yếu của chư Phật từ xưa là:
“Nên phải tập sống chung tu học,
Cái sống là phải sống chung,
Cái biết là phải học chung,
Cái linh là phải tu chung”.
(Chơn lý “Hòa bình”)
Trên đây là đôi lời nhắc nhở quý huynh đệ trụ trì, nhất là tân trụ trì, mong rằng quý vị ghi nhớ lấy những lời con trò vừa nói để tiến tu trên con đường tu học và hành đạo. Chúc chư huynh đệ vui khỏe, hành đạo tốt.
Dưới đây là một số hình ảnh tu học, sinh hoạt của khóa tu ngày thứ ba :
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
-----ooOoo-----
Nguồn: daophatkhatsi.vn
BÀI LIÊN QUAN
Khóa tu "Sống chung tu học" lần 11 Ni giới GĐ III – Ngày thứ hai ( Liên Hòa, Giác Minh Phát , 2640 xem)
Gia Lai: Khai mạc Khóa tu “Sống chung tu học” – lần thứ 11 của chư Ni giáo đoàn III tại Tịnh xá Ngọc Túc ( Liên Hoà , 2836 xem)
Thông báo khóa "Sống chung tu học" lần 11 Ni giới GĐ III ( Tỳ kheo Giác Hoàng , 2748 xem)
TP. HCM: Ni sư Tuệ Liên chia sẻ ý pháp tại Lớp giáo lý Tổ đình ngọc Phương ( Ban Thông tin truyền Thông , 5812 xem)
Tiền Giang: Khoá tu Bát quan trai tại Tịnh xá Ngọc Nguyên ( Ban Truyền thông NGKS , 5224 xem)
Thanh Hóa: Tịnh xá Linh Sơn – Khóa tu một ngày chánh niệm ( Tronghaitb , 5532 xem)
TP HCM: Lễ bế mạc Khóa Bồi dưỡng Đạo hạnh ( Ban Truyền thông NGKS , 4932 xem)
TP.HCM: Khóa Bồi dưỡng Đạo hạnh tại Trường hạ Ngọc Phương ( Ban Truyền thông NGKS , 5189 xem)
Kết thúc khóa Bồi dưỡng Đạo hạnh Hệ phái Khất sĩ lần thứ 6 ( Ban Thư Ký Khóa Tu , 4076 xem)
Nói với hàng xuất gia trẻ tuổi trong khóa Bồi dưỡng đạo hạnh - Ngày thứ 3 ( Ban Thư Ký Khóa Tu , 2804 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













