Trang chủ > Đức Phật
Vương quốc tỉnh thức của đức Từ Phụ
Xem: 13664 . Đăng: 24/05/2014In ấn
Vương quốc tỉnh thức của đức Từ Phụ

Khi người viết đề cập đức Thế Tôn như là một vị vua không ngai vàng điện ngọc thì có huynh đệ nói vui rằng: Vua sao lại không có văn võ đại thần phụ tá, quân lính…. để thừa hành triển khai những sách lược, những hiến pháp được ban hành đến với mọi người trong vương quốc, hay chẳng lẽ tự mình phải thân chinh làm tất cả? Tuy câu nói vừa làm Vua lại vừa phải làm lính ấy chỉ là câu nói vui trong tình huynh đệ nhân lúc ngồi bên tách trà sau những giờ làm bạn với kinh sách, trường lớp… nhưng đã làm cho người viết suy tư và cũng là nhân duyên, tiền đề cho bài viết này ra đời để tiếp tục chia sẻ về hình ảnh những vị văn võ đại thần của “đức vua không ngai” trong vương quốc tỉnh thức.
Như mọi người đã biết, sau khi giác ngộ thành đạo dưới cội bồ đề đức Thế Tôn đã vận chuyển bánh xe pháp, hóa độ cho 5 anh em Tôn giả Anna Kondanna (A-nhã Kiều-trần-như) và bắt đầu kiến lập vương quốc tỉnh thức để mọi người cùng được thưởng thức hương vị an lạc, tự tại của một vị “vua không ngai vàng”. Sau khi giảng dạy hướng dẫn cho 5 vị tôn giả đi trên con đường giác tỉnh để đến với vương quốc tỉnh thức, đức Từ Phụ đã cùng với những người đệ tử đầu tiên này bắt đầu vận hành cơ chế đem phương pháp giáo dục lối sống hoàn thiện đến với nhân sinh, hình thành nên một hệ thống giáo pháp luôn mang lại an lạc hạnh phúc cho người thực hành….. Như vậy năm anh em Tôn giả Anna Kondanna được xem như là những người phụ tá đắc lực cho “đức vua không ngai”, hay nói cách khác họ chính là những vị đại thần đầu tiên trong vương quốc tỉnh thức của bậc Thiện Thệ. Chính những vị đại thần này đã vận hành nhuần nhuyễn lối sống hoàn thiện cùng dòng tư tưởng vì hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích cho chư thiên và loài người[1] của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Các tôn giả đã khéo léo đem lối sống hoàn thiện vào đời bằng chính ngay trên thân hành của mình, hay nói một cách dễ hiểu chính các ngài đã thực hành giáo pháp để làm gương cho con đường lối sống hoàn thiện.
Phương pháp giáo dục này mang lại hiệu quả khá cao, điển hình như việc Tôn giả Sāriputta(Xá-lợi-phất) được nhiếp hóa bởi chính phong thái thanh thoát nhưng rất thanh tịnh an vui, cùng những bước chân nhẹ nhàng đỉnh đạt của ngài Assaji (A-thuyết-thị) trong lúc trì bình khất thực. Chính giáo pháp toàn thiện đã được thể nhập và biểu hiện qua tư cách sáng ngời của Assaji, đã làm chấn động tâm thức nơi vị Bà-la-môn bác học đa văn nhưng cực kỳ nghiêm khắc về con đường thực nghiệm tâm linh nhằm hoàn thiện nhân cách sống. Vậy tại sao nhà luận biện đa văn túc trí như thế vẫn bị nhiếp hóa bởi một vị tôn giả không giỏi về khả năng luận chiến?
Câu hỏi này đã có đáp án ở trên, nhưng ở đây người viết vẫn xin nhấn mạnh lại rằng: Đây chính là nhờ hệ thống giáo pháp hay những phương pháp thực hành hoàn thiện của đấng Pháp vương đã cùng với tôn giả hòa nhập với nhau như nước với sữa và trở thành pháp âm vi diệu cho sự thức tỉnh nhân sanh. Chính yếu tố này đã giúp cho Tôn giả Assaji trở thành tấm gương sáng chói trong mắt vị Bà-la-môn Sāriputta nói riêng và mọi người có cơ duyên tiếp xúc nói chung, mới có đủ năng lực nhiếp phục, giáo hóa để đưa nhà luận biện đa văn túc trí này về với vương quốc tỉnh thức. Chính nhờ nhân duyên của vị đại thần phụ tá, Tôn giả Assaji, mà đức “vua không ngai” lại có thêm 2 vị đại thần phụ tá đắc lực[2] và được xem như là hai cánh tay của đức Điều Ngự, là tướng quân Chánh pháp của bậc Pháp vương trên con đường trợ duyên cho Ngài hướng dẫn và giáo huấn Tăng đoàn, cũng như mang ánh sáng vô nhiễm đến với nhân sinh nơi vương quốc tỉnh thức.
Nói như vậy thì trong vương quốc tỉnh thức ấy chỉ có 5 vị đại thần được “đức vua không ngai” hướng dẫn đầu tiên sau lần vận chuyển bánh xe chánh pháp cùng với hai huynh đệ vị tướng quân chánh pháp này thôi, hay còn những ai? thần dân mà họ cần phải khuyến hóa hay đem giáo pháp đến phổ biến thì ở đâu, khí cụ để bảo vệ vương quốc là những gì?... Đây là những điều mà chúng ta cần tìm hiểu tiếp để làm sáng tỏ vấn đề.
Như mọi người vừa được biết về các vị phụ tá của đức Như Lai trong thời gian đầu khai lập vương quốc tỉnh thức, thời bên cạnh ấy còn có các vị khác được sự hướng dẫn của bậc Chánh Biến Tri cùng các vị tôn giả phụ tá, đã giúp vương quốc tỉnh thức của Ngài phát triển và phủ khắp vương quốc Ấn Độ đương thời như Thập đại đệ tử và Tăng đoàn mà kinh sách thường ghi lại là 1250 vị. Mười vị đại đệ tử này đều là những bậc đã thấu đạt con đường, hệ thống giáo pháp mà đức “vua không ngai” ban hành, và hơn thế nữa mỗi vị lại vận hành phát triển chúng theo một phương cách và hình thành nên những sở trường phạm hạnh khác nhau. Các vị phụ tá này nói riêng và Tăng đoàn nói chung đã phần nào thể hiện được bản sắc cao đẹp của giáo pháp và khá thành công trên con đường phổ biến cho mọi người phương pháp đi đến đời sống toàn thiện. Cho nên Tăng đoàn chính là các vị đại thần phụ tá đắc lực của đấng Pháp vương.
Khi nói Tăng đoàn là chúng ta đã đề cập đến đoàn thể tu học trong giáo pháp của đức Thế Tôn. Đoàn thể ấy được hình thành nên bởi nhiều cá nhân mà thuật ngữ nhà Phật thường gọi là Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni, những vị sứ giả của Như Lai. Như vậy những vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chính là thành phần nòng cốt trên con đường hoằng dương chánh pháp, đem giới pháp đến với mọi người trong cộng đồng xã hội, và có thể nói họ như là những vị triều thần của vương quốc giác ngộ, còn nhân sinh được giáo hóa làm cư sĩ tại gia chính là thần dân trong vương quốc tỉnh thức. Hơn thế, những vị sứ giả này luôn được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành dòng chảy bất tận của sự truyền thừa giới pháp cùng mang phương pháp sống hoàn thiện đến với nhân sinh.
Đến đây chúng ta lại thấy một điều khá thú vị và đặc biệt trong Vương quốc tỉnh thức mà khó có một vương quốc nào làm được: Đó là sự truyền thừa tiếp nối của dòng chảy kéo dài từ thiên niên kỷ này sang thiên niên kỷ khác, từ 5 vị Tỳ-kheo đầu tiên được bậc Pháp Vương hướng dẫn truyền trao giới pháp cho đến Chúng Trung Tôn hôm nay, đã trải qua hơn 2550 năm nhưng vương triều tỉnh thức vẫn đang phát triển mạnh. Không những vậy, trong suốt chiều dài tồn tại của vương quốc, các vị sứ giả của đức “vua không ngai” đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình, mang ánh sáng trí tuệ đến với nhân sinh bằng con đường tình thương, không phải bằng binh đao, máu và nước mắt. Điều này đã được lịch sử minh chứng, cũng như qua lời nhận định của giáo sư P.V. Bapat[3] trong tác phẩm “2500 Năm của Phật giáo”: “Chưa có một trang lịch sử nào của Phật giáo bị xóa nhạt bởi ánh sáng của ngọn lửa tòa án dị giáo hay bị bôi đen bởi làn khói dị giáo hay các nơi thị tứ vô tín ngưỡng bốc cháy, hay bị nhuộm đỏ với máu của các nạn nhân vô tội vì hận thù tôn giáo. Phật giáo chỉ dùng một thanh gươm, đó là gươm Trí tuệ và chỉ thừa nhận kẻ thù, đó là Vô minh. Ðó là chứng tích của lịch sử không thể chối cãi được”[4].
Không đặc biệt sao được! Khi mở rộng bờ cõi, nhiếp hóa nhân sinh nhưng lại chỉ sử dụng thanh gươm trí tuệ để phá màn vô minh, đem ánh sáng tình thương đến cho mọi người mà lại không hề nhuốm đượm máu của nhân sinh, dù cho có sự khác biệt về con đường hay phong cách sống đi chăng nữa. Điều đặc biệt ở đây chính là khí cụ thanh gươm: chúng không được sử dụng để nhuộm máu sanh linh cho việc mở mang bờ cõi mà chỉ dùng cho mục đích nhiếp hóa ma quân tham sân si, 3 vị tướng quân trung kiên của vương quốc phiền não khổ đau. Khi những vị tướng này bị nhiếp phục, cũng là lúc binh lính chủng tộc của vương quốc khổ đau tan rã và giải tán để nhường lãnh thổ cho vương quốc tỉnh thức hoạt động. Chính vì thế thanh gươm huệ đến đâu thì ánh sáng của chúng có thể chiếu rọi, xóa tan màn đêm bóng tối của vô minh và lấp đi sông mê để mở rộng ranh giới vương quốc tỉnh thức đến đó. Đặc biệt hơn, thanh gươm trí tuệ chỉ nhiếp hóa và soi sáng cho vô minh phiền não chứ không hề diệt trừ chúng, bởi nhiệm vụ của thanh gươm trí là giúp đỡ, soi sáng cho nhân sinh bằng tình thương và trợ duyên cho họ thấy rõ bản chất của vấn đề sự việc. Điều này khác hẳn với thiết bị binh đao chỉ biết dùng để nhuộm đỏ nhân sinh. Cho nên thanh gươm huệ cùng khí cụ tình thương chính là những phương tiện thiết yếu cho việc bảo vệ và mở rộng bờ cõi vương quốc tỉnh thức một cách hữu hiệu nhưng không mang lại khổ đau cho cuộc sống, mà trái lại nhân sinh vô cùng hân hoan đón nhận. Như vậy các vị sứ giả Như Lai đã vì lợi ích cho chư thiên và loài người nên đã mở mang vương quốc tỉnh thức bằng con đường rất cao đẹp, hàm chứa tinh thần nhân văn rất cao và không đánh mất bản chất của giáo pháp, lòng đại bi của bậc Chánh Biến Tri.
Đâu chỉ dừng lại ở đó, các vị sứ giả của bậc Pháp vương còn đem ánh sáng giáo pháp, soi rọi đến những nơi mà được cho là nghiêm khắc, chỉ sử dụng lý trí và sự minh chứng cụ thể bằng những dụng cụ, thiết bị đo đạt như lãnh vực khoa học. Điều này đã được khoa học gia Albert Einstein khẳng định: “Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu với nhu cầu khoa học hiện đại thì tôn giáo đó phải là Phật giáo”. Và hơn thế, ông còn nhấn mạnh về tầm quan trọng cũng như giá trị mà hệ thống giáo pháp mang lại cho khoa học: “Điểm kết thúc của khoa học chính là điểm khởi đầu của Phật giáo”[5]. Lời này của ông đã nói lên một điều: giáo pháp hay ánh sáng mà “đức vua không ngai” mang đến cho nhân loại luôn có giá trị, tương thích với mọi lãnh vực, là điểm tựa và soi sáng cho khoa học nương theo; hay nói cách khác lời dạy của đấng Pháp Vương đã hướng dẫn, giúp cho khoa học thấy được bản chất của sự vật, hướng đi cho con đường nghiên cứu khoa học và đặc biệt là thấy được con đường đi đến chân hạnh phúc trong cuộc sống. Chính vì vậy mà một số khoa học gia, triết gia đã tuyên bố về Ngài: “Con người vĩ đại nhất chưa từng có, Ánh hào quang của vị Thầy vĩ đại này soi sáng cái thế giới đau khổ và tối tăm, giống như ngọn hải đăng hướng dẫn và soi sáng nhân loại”[6].
Quả thật như thế, ánh sáng mặt trời mặt trăng có thể soi sáng thế gian này nhưng không thể chiếu rọi đến những nơi bị che khuất và chắc chắn không thể nào soi sáng được cho những tướng quân tham sân si, những phiền não trong tâm thức u tối của kẻ si mê. Ngược lại ánh sáng giáo pháp của đấng Pháp vương như là ngọn hải đăng soi sáng khắp nơi và giúp cho nhân sinh vượt qua được thế giới u tối, đưa binh đoàn của tướng tham sân si cùng quyến thuộc của ma vương về dưới trướng trí tuệ tình thương nơi quốc độ tỉnh thức. Đồng thời hệ thống lối sống hoàn thiện được các vị phụ tá của đấng Pháp vương triển khai và giúp cho nhân sinh thấy được ánh sáng trí tuệ để vẹt màn vô minh trở về sống với vương quốc giác tỉnh.
Giờ đây chúng ta có thể thấy được phần nào về tôn chỉ “vì lợi ích cho chư thiên và loài người” của “đức vua không ngai” nói riêng và của vương quốc tỉnh thức nói chung. Chính vì vậy mà các vị sứ giả của Ngài luôn là hướng đạo sư cho nhân sinh thấy được con đường vượt thoát những trói buộc phiền não vô minh để trở về với hải đảo tự thân nơi vương quốc giác tỉnh. Và đặc biệt hơn, vương quốc này chỉ sử dụng thanh gươm trí huệ cùng khí cụ tình thương để soi chiếu, hướng dẫn nhân sinh cách mặc áo giáp giáo pháp để tiến vào thành Niết-bàn và làm chủ vương quốc tỉnh thức.
[1] Trong Đại Phẩm của Luật Tạng có ghi lại rằng: “Hãy đi! Hỡi các Tỷ-kheo, vì lợi lạc số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của loài Trời và loài người. Các người hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng….”
[2] Hai tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Mahà Moggallàna (Mục-kiền-liên) là đôi bạn thân cùng lí tưởng và có ước hẹn với nhau, khi vị nào tìm thấy được chánh pháp trước thì hãy thông báo cho vị kia. Chính nhờ duyên đó mà họ đã trở thành nhị vị đại đệ tử của đức Bổn Sư thông qua sự hướng dẫn chỉ bày của Tôn giả Assaji.
[3] Giáo sư P.V. Bapat, nguyên Giáo sư Văn Hóa Ấn Độ Cổ đại; Pali và Phật học tại Trường Đại học Poona (Puna) và Trường Cao đẳng Fergusson, Poona.
[4] HT.K.Sri Dhammananada, Phật Giáo Dưới Mắt Nhà Trí Thức, Thích Tâm Quang (dịch), daitangkinhvietnam.net.
1. [5] HT.K.Sri Dhammananada, Phật Giáo Dưới Mắt Nhà Trí Thức, Thích Tâm Quang (dịch), daitangkinhvietnam.net.
[6] Như trên
Nguồn: daophatkhatsi.net
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













