Trang chủ > NT Huỳnh Liên > Các Bài Viết Tưởng Niệm
Cảm tưởng thơ Đệ Nhất Ni Trưởng
Xem: 7654 . Đăng: 23/04/2019In ấn
CẢM TƯỞNG THƠ ĐỆ NHẤT CỐ NI TRƯỞNG
Liên Thiền - Tịnh xá Ngọc Lộ
Ngược dòng quá khứ cách đây 70 năm, Cố Ni trưởng Đệ nhất Trưởng Ni giới HPKSVN đã góp phần làm vẻ vang đạo pháp, đi theo con đường “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” của Phật Tăng xưa. Gương hạnh Ni trưởng không những đã ghi vào trang sử Đạo một hình ảnh mang đậm tính dân tộc, mà còn để lại cho hàng hậu học chúng con những bài thơ, bài văn tuyệt tác, toát lên vẻ thoát tục của bậc Nữ lưu Khất sĩ, khiến chúng con ngày nay mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm. Đặc biệt là ý chí của người đã được HT Từ Thông đề bút tán dương:
“Chí bất khuất vì Hạnh Phúc Tự Do
chiếc áo Khất sĩ làm vẻ vang trong Ni giới
Nguyện kiên cường cho Hòa Bình Độc Lập
tấm thân Nữ lưu nêu gương sáng chốn Tòng lâm”.
Thật đúng vậy, Cố Ni trưởng Đệ nhất là Trưởng tử Ni của Đức Tổ Sư, Người được Tổ Sư giao phó lèo lái con thuyền Liên Hoa Khất Sĩ, bằng hạnh nguyện làm chiếc thuyền chở che phái Nữ qua sứ mạng kế thừa đạo nghiệp của Đức Tổ Sư. Người đã lãnh đạo Ni đi hành đạo khắp hai miền Nam Trung, từ thành thị đến xóm làng, nơi nào cũng có dấu chân Ni trưởng. Bằng hình ảnh một Sư Nữ thân tướng oai nghiêm, Người thuyết pháp, giảng kinh, khất thực… Người độ cho hàng cư sĩ tại gia tu tập, tạo công đức bố thí, cúng dường, gieo duyên với Phật Pháp.
Những năm chiến tranh, Đệ nhất Ni trưởng đã anh dũng dẫn Ni đoàn xuống đường đòi hòa bình cho dân tộc. Công hạnh viên mãn của Người được gói trọn trong hai câu thơ bất hủ khiến người người đọc đến đều hết lòng khâm phục khi tưởng nhớ về Người:
“Nguyện xin hiến trọn đời mình,
Cho nguồn đạo pháp cho tình quê hương”.
Với Ni giới Hệ phái Khất sĩ, Ni trưởng như ánh thái dương soi sáng cả bầu trời, chiếu khắp cả muôn loại. Chúng con được biết, trong những lúc đi hành đạo, Đệ nhất Ni trưởng quán thấy căn cơ chúng sanh bất đồng, người căn cơ cao sâu, kẻ căn tánh thấp kém, sự hiểu biết sai khác, nên Người mới quyết định chuyển dịch Kinh sách từ tiếng Hán và tiếng Pali ra tiếng Việt theo lối văn vần dễ hiểu, dễ đọc tụng, để quần chúng trong mọi tầng lớp đều có thể tụng đọc dễ dàng, qua đó giúp họ thấm nhuần giáo lý Phật Đà, như Kinh Di Đà, Kinh Phổ Môn, Kinh Báo Hiếu, Kinh Vu Lan, Kinh Hồng Danh Sám Hối... Ni trưởng còn viết diễn đạt ý của Đức Tổ Sư thành nhiều bài kệ tụng thật mộc mạc dễ hiểu nhưng ý tưởng thâm sâu, nhờ đó dễ đi vào lòng người, Người cũng để lại cho hàng hậu học hơn ba ngàn bài thơ, bài kệ đủ thể loại. Thơ của Người phần nhiều là do cảm hứng, tức cảnh làm thơ, Người có một tâm hồn nhạy cảm của một người yêu thơ, có thể đặt bút là dòng thơ tuôn trào trong mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng: Thơ trong đấu tranh, thơ trên đường hành đạo, thơ giáo hóa chúng sanh… Có thể nói, thơ văn của Ni trưởng là phương tiện hoằng đạo rất hiện thực. Do vậy, thơ và đạo của Người rất hài hòa, hỗ trợ cho nhau như hình với bóng, điều này đã nêu rõ trong bài Văn Với Đạo:
“Văn có Đạo cội bền cây tốt,
Đạo nương Văn ý tột lý mầu.
Lá cành sầm uất bền lâu,
Văn chương Đạo đức cùng nhau độ đời.
………………………………………..
Pháp thâm diệu Văn từ thâm diệu,
Văn phi thường Pháp hiểu phi thường.
Văn truyền Pháp hiển hoằng dương,
Văn phò lấy Đạo một đường dung thông”.
Hoặc đối với tình thương vạn loài, Người luôn thể hiện bằng tình cảm chân thành, thắm thiết qua bài Hoa Tình Thương:
“Có những việc làm không bao giờ thất bại,
Đó là việc làm ban rải tình thương.
Những đoá hoa đẹp sắc thơm hương,
Những màu da, những tiếng nói, những tình thương gom kết.
Mỗi màu hoa, đẹp ra mỗi nét,
Mỗi tấm lòng, mỗi xúc cảm chân thành.
Mỗi bầu trời, mỗi vẻ đan thanh,
Hội đủ nét hoạ nên tranh lịch sử”.
Lại nữa, để khuyến hóa hàng đệ tử chuyên lo tu tập, đoạn trừ tham, sân, si, ba món kiết sử phiền não làm nhiễm ô người sống đời thoát tục, nên Ni trưởng đã cảnh tỉnh Chúng Ni phải xa rời những lối sống trần tục để đạt đến con đường giải thoát, như trong bài Khuyến Tu:
“Chen lấn dầu ai giữa thị thành,
Riêng mình tự tại cõi vô tranh.
Sông mê sóng bủa cơn rùng rợn,
Biển khổ bèo trôi kiếp mỏng mành”.
Có lúc Người còn khuyên đệ tử trên đường hành đạo, nên hành Tứ Y Pháp, gieo duyên với mọi người để sách tấn cho họ hoàn thiện đạo đức, hầu tiến đến con đường Chân Thiện Mỹ, như trong bài Khất sĩ, Người miêu tả rất sinh động:
“Khất sĩ hạnh ta bà,
Tiêu diêu đường tự tại.
Không danh lợi cửa nhà,
Không của tiền con cái.
Đỡ lòng một bát cơm,
Che thân ba tấm vải.
Đầu đội nón càn khôn,
Chân mang giày thế giới”.
Hoặc trong bài Khuyên Con, Ni trưởng đã ân cần khuyên nhắc:
“Lên đường hành đạo độ sanh,
Những mong phước đức để dành cho con.
Tấm thân chừng đã gầy mòn,
Cõi lòng thêm nỗi héo von khổ sầu”.
Ngoài ra, bằng hình ảnh so sánh, ẩn dụ sinh động, Ni trưởng đã giải thích những vấn đề phức tạp trở thành đơn giản, để cho đệ tử thấy rằng trên bước đường hành đạo sẽ gặp những chông gai, nghịch cảnh, mà người con Phật phải trải nghiệm qua, mới mong thành chánh giác, hình ảnh cụ thể này được diễn đạt rất rõ nét trong bài Sức Chịu Đựng:
“Sức chịu đựng ai bằng quả đất,
Để trần gian chứa chất nặng nề,
Hỡi rừng, hỡi suối, hỡi khe,
Hỡi cây, hỡi đá, hỡi xe, hỡi thoàn.
Cam chịu đựng muôn vàn sức nặng,
Chất bao nhiêu quyết chẳng nản lòng,
Vì đời âu phải ra công,
Vì đời âu phải gánh gồng bọc bao”.
Không những tô bồi, dựng xây cho hàng Ni Chúng sức kham nhẫn vì tha nhân. Với hạnh tu Khất sĩ hòa cùng hạnh nguyện độ sanh, rày đây mai đó, không ở một chỗ, không dừng nghĩ dù chỉ một lần, lấy đời sống của chúng sanh làm niềm vui của mình, bốn phương trời làm nơi trú ngụ, không nhà cửa, cũng không ruộng vườn, sống đời giải thoát, Ni trưởng đã cảnh tỉnh hàng đệ tử hằng tâm niệm, ta sống đây là sống cho nhân loại, ý chí này được thể hiện qua bài Nếp Sống Vân Du:
“Cảnh dầu đẹp, ở hoài cũng hết đẹp,
Người dầu thân, gần mãi cũng thôi thân.
Một tàn cây, không dừng nghỉ hai lần,
Nghe Phật dạy, cho tâm hồn thanh thoát.
Đường giải thoát, gồm ba y một bát,
Đi, đi, đi học khắp bốn phương trời.
Hé túi khôn châu ngọc chứa muôn loài,
Tuỳ duyên tốt mà tuôn rơi pháp báu”.
Người còn nhắc nhở mọi người luôn thấy cuộc sống của mình được an lạc trong nếp sống hóa duyên, nên trong bài Sen Gương, Ni trưởng đã ân cần dạy bảo:
“Thiền trà vị đắng mùi thơm,
Thân tuy khổ hạnh tâm hồn thảnh thơi
Nghiêng vai gánh Đạo vào đời,
Cho đời tỏ Đạo ta người đồng tu”.
Với hình ảnh nhân cách hóa mang tính cách giản dị, lạ thường, kết hợp dòng thơ ngọt dịu, nhẹ nhàng, nhưng đã thấm đượm sâu sắc vào lòng người đọc, Ni trưởng đã khuyến khích chư Ni trong mọi công việc qua bài Bàn Tay Đẹp:
“Bàn tay đẹp là bàn tay trắng muốt,
Ngón búp măng, móng chuốt nhuộm màu son.
Dáng thanh thanh da mát mịn mềm non,
Để dành ngắm, để dành tôn để mộng? ? ?
Không! Bàn tay đẹp là bàn tay “lao động”,
Chuyển đường gân dâng sức sống cho đời.
Hiện khắp nơi và ở khắp nơi nơi,
Như đất nước như khí trời vũ trụ.
Bàn tay đẹp là bàn tay “nông vụ”,
Đem sức người tranh đấu với thiên nhiên.
Biến tấc vàng trong tấc ruộng bùn đen,
Đổi hạt ngọc, mồ hôi chen thánh thót”.
Đối với hàng Phật tử tại gia, Ni trưởng lại khuyên đem tình thương, mở lòng từ bủa khắp đến muôn loài chúng sanh, dù loài nhỏ nhít, côn trùng. Ni trưởng dạy không nên giết hại hoặc xúi người giết, vì sinh mạng của chúng cùng ta đều như nhau, đều muốn sinh tồn, nên trong bài Giới Sát, dạy rất tỉ mỉ:
Muôn loài nào khác chi ta,
Cũng cần sanh sống, lánh xa tai nàn.
Có cha mẹ, có họ hàng,
Kết bè sinh hoạt, hiệp đoàn tương thân.
Ta đừng giết nó mà ăn,
Cũng đừng bắt nó trói trăng giam cầm.
Bẫy câu chước độc mưu ngầm,
Làm cho chúng nó âm thầm đớn đau.
Lạc bầy dớn dác xôn xao,
Lại e cái nạn thớt dao hầu gần.
Mình có thân, nó cũng thân,
Nuôi mình giết nó, nào cân công bằng.
………………………………
Ruột rà ai cắt chẳng đau,
Tình thương ai dứt chẳng xao gan vàng”.
Và thực tế hơn nữa, trong bài Ngũ Phước còn biểu hiện sức cảm hóa cụ thể, đó là Ni trưởng dạy cho chúng sanh biết được tội phước của mình, gieo nhân nào thì gặt hái quả đó, qua năm giới cấm mà người Phật tử tại gia thọ nhận:
“Kẻ không sát sanh,
Được khương minh thọ mệnh.
Kẻ không trộm tham,
Được giàu sang hưng thịnh.
Kẻ không tà dâm,
Được người đời yêu kính.
Kẻ không vọng ngôn,
Được thêm nhiều uy tín.
Kẻ không say sưa,
Được sáng tâm tỏ tánh”.
Đặc biệt là đối với việc bố thí, cúng dường, không nên cầu phước báu, danh lợi, vì cầu như thế là tăng trưởng lòng tham. Thay vào đó, mỗi lần phát tâm cúng dường bố thí, mục đích chỉ mong mình giảm bớt tâm tham để dễ bề tu tập mà thôi, như trong bài Cúng Chùa Không Cầu Phước, Ni trưởng dạy rất rõ:
“Con cúng Chùa không mong phước đức,
Mà chỉ mong tiêu dứt tội duyên.
Tham lam nhiều kiếp vô biên,
Cầu xin hành phạt cho yên tấc lòng”.
Nói chung, Ni trưởng luôn dạy cho môn đồ cũng như hàng Phật tử, muốn tu tập thì phải thực hành Giới, Định, Tuệ. Vì Giới, Định, Tuệ là đạo lộ đưa người đến bờ giải thoát Niết Bàn. Thế nên trong bài Giới, Ni trưởng đã khuyến tấn rằng:
“Nhịn nhường là giới đầu tiên,
Kìa chư Phật vẫn nhắc khuyên ta hoài.
Kẻ mong lìa bỏ trần ai,
Mà còn phiền giận thật ngoài chữ tu”.
Và Người cũng hằng nhắc nhở hàng đệ tử phải cố gắng tu tập để đền đáp công ơn Phật và các bậc Tổ Thầy, như trong bài Nhớ ơn Phật:
“Đời chen lộn ngàn đường tội lỗi,
Ta bước riêng một lối thanh cao.
Đạo vàng quí báu biết bao,
Vừa mình tu tỉnh, vừa trau sửa người!”
Không những Ni trưởng quan tâm, lo lắng cho hàng đệ tử, mà Người còn đồng hành với nhân dân, đất nước kiến tạo nền hòa bình, như trong bài Khúc Thanh Bình:
“Dầu tu sĩ cũng công dân đất nước,
Vì tình thương vì Đạo đức đấu tranh.
Cho Tự do trong Độc lập Hoà bình,
Cho Hạnh phúc trong phồn vinh vĩnh cữu”.
Thậm chí Ni trưởng còn quan tâm đến mọi nỗi khổ đau của người dân trong từng hoàn cảnh, nên trong bài Giọt Sữa Tình Thương, Người đã thố lộ tâm tư cảm thương người dân rất chân tình:
“Giọt sữa tình thương thấm cõi lòng,
Đạo Đời liên kết lý dung thông.
Kẻ đang xót khổ, người đang khổ,
Giọt sữa tình thương biển đại đồng”.
Chính vì ý thức được điều này, nên Ni trưởng luôn thể hiện rõ mình là bậc Thầy mô phạm, soi đường dẫn bước đưa chúng đệ tử đi theo con đường hòa cùng dân tộc, kiến tạo hòa bình, từ bi, vô hại đúng với bổn hoài của Đức Phật, nên trong bài Tôi yêu Phật giáo Việt Nam người đã tâm nguyện rằng:
“Tôi yêu Phật giáo Việt Nam,
Là vì Phật giáo không làm hại ai.
Trên đường du nhập xa dài,
Không khai đường máu, mà khai tâm lành”.
Tóm lại, thơ văn của Đệ nhất Ni trưởng quả là chứa chan một nguồn đạo sống động. Mỗi bài thơ là dòng tuôn chảy vào lòng người như từng giọt sữa cam lồ, làm mát mẻ, thấm nhuần tinh thần “Từ Bi Bình Đẳng” của người con Khất sĩ nói riêng, và người con Phật nói chung. Mạch thơ không những phong phú, mà ý tứ lại càng sinh động sâu sắc hơn. Vì thơ Ni trưởng sáng tác rất linh hoạt, đa dạng. Có thể nói, mỗi ý thơ như dòng chảy quyện vào dòng đời, lại như những cánh nhạn tung bay khắp phương trời. Chính nhờ những vần thơ bất diệt của Người, đã đem lại ánh sáng giác ngộ cho đời, tạo cho nguồn đạo sáng ngời muôn vẻ. Lại nữa, ý thơ của Người như giòng suối trong lành, làm mát mẻ tâm tư vạn loại chúng sanh, như ánh trăng rằm, chiếu rọi đến khắp nơi giúp bao người thoát khỏi bóng mê, tiêu trừ khổ não. Đặc biệt hơn nữa, thơ của Người còn nêu cao đức hạnh phi thường của bậc Bồ tát trên đường độ sanh. Nên nói, cả cuộc đời Cố Ni trưởng luôn cống hiến chẳng biết mỏi mệt, không hề chán nản, sẵn sàng hy sinh cho đạo pháp, cho tổ quốc, quê hương. Người là ngọn đèn trí tuệ soi đường dẫn lối cho đàn hậu bối chúng con tiến bước, Người còn là một nhà tôn giáo yêu nước, góp phần tích cực vào công cuộc lập lại Hòa bình cho dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, tuy Đệ nhất Ni trưởng không còn nữa, nhưng những vần thơ bất hủ ấy còn lưu mãi trong tâm khảm chúng con và mãi về sau. Chúng con nguyện cố gắng tu tập, để không phụ công ơn giáo dưỡng sâu dày của Cố Ni trưởng, và cũng không quên công ơn to lớn về sự nghiệp dựng xây hình thành nên một Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam. Kính Bạch Giác linh Đệ nhất Cố Ni trưởng, những lời văn của con hôm nay không sao diễn tả hết được cảm xúc trong con. “Vì rằng hạt cát nhỏ không làm nên sa mạc” con xin thành tâm sám hối Giác linh Người. Cuối cùng con xin thành tâm đảnh lễ Giác linh Đệ nhất Cố Ni trưởng.
-----ooOoo-----
BÀI LIÊN QUAN
Chuyển hóa tự thân ( Liên Như , 7488 xem)
Gương sen chiếu diệu ( Hòa thượng Giác Toàn , 10252 xem)
Đời - Đạo viên dung ( Liên Duyên , 8216 xem)
Kỷ yếu Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 30 Ni Trưởng Huỳnh Liên - Lời Nói Đầu ( Ban Biên Tập , 11904 xem)
Ni sư trưởng Huỳnh Liên- hiện thân của đạo pháp và dân tộc ( Nguyễn Túc , 2952 xem)
Cảm Tác ( Ni sư Kiên Liên , 6532 xem)
Ngọc Uyển Một Chiều Mưa ( Ni sư Kiên Liên , 6256 xem)
Dòng biển bao la ( Ni sư Tiến Liên , 8380 xem)
Cảm Hoài ( Ni sư Tiến Liên , 9092 xem)
Tưởng Niệm lần thứ 30 Ni Trưởng Ân Sư viên tịch ( Ni sư Tiến Liên , 5616 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













