Trang chủ > Bồ Tát > Bồ tát
Tín ngưỡng Quán Thế Âm
Xem: 12463 . Đăng: 17/07/2014In ấn
TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM
Thích Phước Đạt

Không phải đợi đến ngày vía Đức Quán Thế Âm, giới Phật tử mới thành tâm lễ bái, cầu nguyện và tưởng niệm mà hình tượng Ngài đã đi sâu vào tâm thức trong đời sống tu tập tâm linh của mọi người con Phật. Niềm tin bất động ấy đã trở thành tín ngưỡng tôn giáo, không chỉ thể hiện qua lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm vào các ngày vía Ngài mà còn tác động khá rõ nét vào đời sống văn hóa cộng đồng qua nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo các nhà nghiên cứu Phật giáo thì tín ngưỡng Quán Thế Âm rất phổ biến ở các nước Phật giáo Bắc truyền. Việc dịch kinh điển về tín ngưỡng Quán Thế Âm có từ rất sớm. Người đầu tiên phải kể đến là Chi Cương Lương Tiếp, nước Đại Nhục Chi đã dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội (6 quyển) vào năm 255 tại Giao Châu (miền Bắc Việt Nam) cùng với nhà sư Thích Đạo Thanh phụ dịch. Ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch phẩm Quán Thế Âm Phổ môn trong kinh Chính Pháp Hoa vào năm 286. Ngài Đàm Vô Kiệt dịch kinh Quán Thế Âm Bồ tát thọ ký… Ngoài kinh Pháp Hoa còn có kinh Vô Lượng Thọ được ngài Khang Tăng Khải dịch vào năm 252 đời Tào Ngụy; kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập pháp giới do ngài Phật Đà Bạt La dịch, nói rộng về hạnh lợi tha của Bồ tát Quán Thế Âm; kinh Thập Nhất Diện Quán Thế Âm thần chú do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào thời Bắc Chu thì nói rõ về phước đức và sự linh nghiệm của việc xướng danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm… Nhờ các bản kinh này được phiên dịch làm cho tín ngưỡng Quán Thế Âm phát triển rộng rãi.
Căn cứ vào các bản kinh nói trên, thì danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm có bản nguyện và năng lực là “quán sát" và “lắng nghe” những âm thanh kêu gọi cứu khổ của chúng sinh mà mở lòng cứu độ vô điều kiện. Cũng vì đó mà hàng Phật tử tôn kính, thờ tự, ngưỡng nguyện Ngài mọi lúc, mọi nơi trong sự độ trì của Ngài.
Diệu Pháp Liên Hoa kinh, phẩm Phổ môn là bản kinh khá quen thuộc và được giới Phật tử hành trì theo công hạnh cũng như tiếp nhận sự gia trì, che chở từ năng lực huyền thâm của Ngài. Năm 406, đời Dao Tần, Cưu Ma La Thập đã dịch kinh này sang Hán ngữ.
Nội dung phẩm Phổ môn chủ yếu là đề cập đến công hạnh cứu khổ cứu nạn của Bồ tát Quán Thế Âm trước những khổ đau và hệ lụy của chúng sanh. Theo phẩm kinh này thì khi chúng sinh gặp khổ nạn, chỉ cần niệm danh hiệu Bồ tát, tức thời Ngài quán sát âm thanh ấy mà đến giúp. Điều đáng nói trong bản kinh này là người hành trì sẽ đón nhận một trong những hóa thân Ngài đến cứu độ trong mọi hoàn cảnh, tình huống khổ đau, hoạn nạn, hiểm nguy, bệnh hoạn… và vô lượng sự nhiệm mầu khác nữa.
Theo kinh Bi Hoa, xuất phát từ ý nguyện độ sinh, hướng dẫn linh thức của người hằng niệm Phật với tâm tịnh tín, một lòng hướng nguyện sinh về cõi Cực Lạc, Ngài với Đức Đại Thế Chí cùng trợ hóa đắc lực cho Đức A Di Đà, tiếp dẫn chúng sinh về Cực Lạc.
Ngoài ra, hình tượng Quán Thế Âm còn được biểu trưng cho vị Bồ tát hóa độ xuyên suốt thời gian và không gian kể từ khi Đức Phật Thích Ca thị hiện ở cõi Ta Bà cho đến lúc Phật Di Lặc đản sinh và hơn thế nữa. Chí nguyện đó trở thành cơ sở cho niềm tin bất diệt trong tâm thức người Phật tử, vì vậy Đức Quán Âm có ý nghĩa như là toàn bộ giá trị thăng chứng trí tuệ, giác ngộ giải thoát, sự chứng đắc quả vị Phật, luôn hiện hữu trong mọi chúng sinh.
Đây chính là hạt nhân quan yếu mà con người thường hướng nghĩ và niệm tưởng về Ngài với ước nguyện mong cầu khả năng chuyển hóa từ năng lực “biết quán sát và lắng nghe”. Sự hóa hiện mầu nhiệm cùng với những đức năng được nhiều bản kinh Bắc truyền mô tả, Ngài được biểu trưng bằng những hình ảnh khác nhau. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh Cửu diện Quán Âm, Thập nhứt diện Quán Âm, Tống tử Quán Âm, Quán Âm nghìn mắt nghìn tay…
Tuy nhiên, chính sự đa năng và tùy duyên hóa độ này mà Ngài được tôn vinh bằng nhiều danh hiệu khác nhau để khái quát trong việc cứu độ theo từng lĩnh vực, chức năng chuyên biệt gắn liền những sự tích thiêng liêng. Chẳng hạn, khi nói đến “Nam hải Quán Âm” có nghĩa Ngài đang là vị Phật chủ tể biển Nam để cứu độ những sinh thể đang trôi giạt ở đó. Ngài thường cảm ứng, chia sẻ nỗi đau với những người phụ nữ hiếm con, hay muộn con mà thị hiện cứu độ nên có danh hiệu “Tống tử Quán Âm”. Ta còn bắt gặp hình tượng Quán Âm được thờ trong chùa, các tư gia mặc áo trắng tinh khiết, có danh hiệu “Bạch y Quán Âm”, hoặc là hình tượng Ngài ngồi một cách thoải mái, biểu thị sự cứu độ chúng sinh một cách “vô tư” mà có danh hiệu “Tự tại Quán Âm”.
Tiếp cận các bản kinh Bắc truyền có liên hệ đến Ngài, sự đa dạng phong phú qua các danh hiệu và hình thức thờ tự Ngài thường gắn liền với ý nghĩa biểu tượng của giáo pháp, sự hành trì đi đến giải thoát. Chẳng hạn, hình tượng Tứ thủ Quán Âm (bốn cánh tay) là biểu tượng giáo pháp Bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Chính bốn tâm vô lượng trở thành phương tiện hữu dụng để Ngài hóa độ cùng khắp, xứng danh “đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn, linh cảm”. Hay hình tượng Dương liễu Quán Âm, tay cầm bình nước cam lồ và tay kia cầm cành dương liễu. Cả hai đều có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về giáo pháp tự độ, độ tha mà người Phật tử hướng đến. “Giọt nước cành dương”, trong đó bình nước cam lồ là hình ảnh biểu trưng chuyển tải từ bi và trí tuệ. Nhành dương liễu biểu thị sự linh động, uyển chuyển, chuyển hóa, tùy căn cơ, tùy thuận chúng sinh trong mọi hoàn cảnh mà cứu độ.
Trong các thời khóa hành lễ, mở đầu bao giờ cũng trì niệm thần chú Đại Bi. Thần chú này có ý nghĩa quan trọng, công năng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Thần chú “Án ma ni bát di hồng” cũng mang giá trị tâm linh mầu nhiệm, một khi đang đắm chìm trong khổ đau mà biết chí thành trì niệm chú này thì Bồ tát hóa hiện cứu độ ngay lập tức. Chính sự nhiệm mầu linh cảm của Đức Quán Âm nên chúng sinh hiện hữu ở đời cảm nhận Ngài luôn dõi mắt và lắng nghe từng nhịp đập con tim của họ chẳng khác người mẹ trông con. Vì thế mà Ngài trở thành mẹ hiền Quán Thế Âm, dân gian còn gọi là Phật Bà. Từ đó, nói đến “Quán Âm” là nói đến sự hiện thân của lòng từ bi cao cả, tột cùng của chư Phật và Bồ tát ba đời. Mặc dầu các ngài như Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc… đều có hạnh nguyện từ bi như Ngài, nhưng trong các vị Bồ tát cứu độ chúng sinh thì Quán Thế Âm là vị Bồ tát được sùng bái, trì niệm, phổ cập vào quần chúng nhất. Thậm chí, bất kỳ sự linh nghiệm nào mà người ta đón nhận được từ trong khó khăn, nguy hiểm hay an vui, thuận lợi đều được xem là có sự cứu độ của Ngài.
Sự mầu nhiệm và hóa thân của Đức Quán Thế Âm còn tác động vào đời sống văn hóa các nước ở nhiều lĩnh vực, nhất là văn học, văn hóa và nghệ thuật. Ở Trung Hoa xuất hiện việc sáng tác một số kinh điển văn học tín ngưỡng Quán Thế Âm nhằm giải thích, sớ giải nghĩa lý về hình tượng Quán Thế Âm. Chẳng hạn như ngài Trí Khải dựa vào phẩm Phổ môn, kinh Pháp Hoa mà soạn Quán Âm huyền nghĩa, Quán Âm nghĩa sớ, Thỉnh Quán Âm sám pháp… Ngoài ra, những sáng tác nghệ thuật kiến trúc tự viện, mỹ thuật trang trí hình tượng Quán Thế Âm rất phong phú, đa dạng. Các nghệ nhân phóng tác tùy theo sự giao cảm, lòng tin và ứng nghiệm mà tạo tượng Quán Âm ngồi trên sò, Quán Âm ngồi trên sườn núi trong biển cả, tượng Quán Âm tay xách giỏ cá… Tượng Bồ tát Quán Âm được tôn trí trong thạch động Đôn Hoàng chiếm gần một nửa, cho thấy tín ngưỡng Quán Âm rất thịnh hành.
Ở Nhật Bản cũng rất sùng kính Bồ tát Quán Thế Âm. Theo Phù Tang lược ký thì Suy Cổ Thiên hoàng có ban sắc khắc tượng Quán Thế Âm bằng gỗ thơm trầm thủy; Thánh Vũ Thiên hoàng và hoàng hậu Quang Minh triều Nara kiến lập Quốc Phân Ni tự, tôn trí tượng Quán Thế Âm, tạo 177 pho tượng và chép 177 quyển kinh Quán Thế Âm để cầu nguyện cho thái tử hết bệnh. Tín ngưỡng Quán Thế Âm vào thời Bình An cũng rất phổ cập. Có gần 500 tác phẩm điêu khắc, hội họa qua các thời đại, hiện được xếp vào hàng quốc bảo. Ngoài ra, các tác phẩm kinh văn nói về sự linh nghiệm của Quán Thế Âm cũng được ghi nhận khá nhiều như Quán Âm cảm thông truyện, Quán Âm tân nghiệm lục, Quán Âm diệu ứng tập…
Ở Việt Nam, từ khi kinh Pháp Hoa được dịch ngay từ thời du nhập đến nay, tín ngưỡng Quán Thế Âm đã phát triển mạnh mẽ trong đời sống văn hóa cung đình cho đến đời sống văn hóa dân dã. Từ việc vua chúa xây chùa biểu đạt tâm thức người Việt như chùa Một Cột cho đến dựng tượng đài Quán Thế Âm khắp nơi, cũng như tôn trí các bức tượng Quán Thế Âm qua nhiều mẫu thức khác nhau trong các tự viện, tịnh thất, cho thấy sự sáng tạo mỹ thuật hội họa, điêu khắc trong trực cảm tâm linh của quần chúng đối với Ngài thật là tương thích, đa dạng và nhiệm mầu. Có những bức tượng, ảnh tượng ngày nay đã được trở thành báu vật quốc gia được lưu giữ ở trong các tổ đình và bảo tàng quốc gia. Sự tác động của tín ngưỡng Quán Thế Âm còn đi vào sự thể nhập trong văn học nước nhà. Các truyền thuyết Quán Âm Diệu Thiện, Quán Âm Thị Kính, Nam Hải Quan Âm… đã đi vào tâm thức người Việt như dòng chảy văn hóa Việt Nam đang lưu chuyển trong dòng máu Lạc Hồng để tạo ra những mẫu người Phật tử Việt Nam chí thành với đạo và tận tâm với đời để cùng nhau xây dựng đời sống an lạc. Đây chính là giá trị tâm linh mà tín ngưỡng Quán Thế Âm đem lại cho cõi đời này.
Thích Phước Đạt
4-04-2007
---o0o---
Nguồn: www.giacngo.vn
BÀI LIÊN QUAN
Bồ tát Quán Thế Âm ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 5487 xem)
Đức Bồ Tát Quan Thế Âm ( Tâm Quang , 6104 xem)
Bồ tát Quan Âm ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 6833 xem)
Sự tích Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. ( Tạp chí Từ Bi Âm , 5796 xem)
Sự linh ứng của Bồ-tát có mâu thuẫn với luật nhân quả? ( Tổ Tư vấn Báo Giác Ngộ , 5600 xem)
Sự tích Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ( Tạp chí Từ Bi Âm , 5430 xem)
Phổ Hiền Bồ-tát ( Đỗ Hồng Ngọc , 16484 xem)
Tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật ( Hòa thượng Thích Trí Quảng , 5441 xem)
Đức Bồ Tát Quan Thế Âm ( Tâm Quang , 6629 xem)
Bồ tát ( Thích Đức Thắng , 5922 xem)
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
Nguyện xin hiến trọn đời mình
Cho nguồn Đạo pháp cho tình Quê hương
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 45 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 29/3 – 06/4 năm Bính Ngọ (ngày 15/5/2026 – 22/5/2026) tại Tịnh xá Ngọc Tâm, phường Tân An, tỉnh Tây Ninh (tỉnh Long An cũ)
Thông báo: Hội thi giáo lý nhân ngày Lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam
Nhân ngày lễ Tưởng niệm lần thứ 39 Ni trưởng Huỳnh Liên - Đệ Nhất Trưởng Ni giới Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương sẽ tổ chức Hội thi giáo lý về cuộc đời và đạo nghiệp của Ni trưởng Đệ Nhất.
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức tại Thiền viện Minh Đăng (tỉnh Đồng Nai)
Thông báo Khóa tu Truyền thống lần thứ 44 Do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức từ ngày 23/01– 29/01 năm Bính Ngọ (11/3/2026 – 17/3/2026) tại Thiền viện Minh Đăng, Ấp Bến Nôm I, xã Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Thông báo Khóa Bồi dưỡng đạo hạnh lần thứ 9 do Ni giới Hệ phái Khất sĩ tổ chức
Tiếp theo thời khóa tu học trong 3 tháng An cư là chương trình 10 ngày bồi dưỡng đạo hạnh cho chư Ni trực thuộc NGHPKS, bắt đầu từ mùng 1 tháng 7 đến ngày mùng 10 tháng 7 năm Ất Tỵ (PL.2569 – DL.2025) tức ngày 23.8.2025 – 01.9.2025.
Thông báo Lớp Giáo lý trực tuyến
Thời gian tụng kinh, thuyết giảng trực tuyến như sau: Tụng kinh: Hàng ngày từ 6g30 – 7g15 tối là thời khóa tụng kinh, các ngày sám hối trì tụng Hồng Danh Bửu Sám. Thuyết giảng: 7g30 – 8g30 tối hàng ngày
VIDEO
Trực tiếp: Phiên Bế mạc Hội thảo Khoa học Ni trưởng Huỳnh Liên tại Pháp viện Minh Đăng Quang - Ban Truyền hình Trực tuyến PSO
Pháp âm MP3
- 0 - Lời Mở Đầu
- 01 - Võ Trụ Quan
- 02 - Ngũ Uẩn
- 03 - Lục Căn
- 04 - Thập Nhị Nhơn Duyên
BÀI XEM NHIỀU
Ảnh hưởng của Kinh Kim Cang đối với Thiền tông
Kinh sách PDF của HT Nhất Hạnh
Kinh sách PDF của Hòa thượng Thích Thanh Từ
LỊCH VIỆT NAM
THỐNG KÊ













Lễ an vị Phật
Lễ Tưởng niệm 60 năm Đức Tổ sư vắng bóng - Giáo hội
Theo đó, Ban Tổ chức tang lễ đã cung đón chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Hệ phái PGKS tại Gia Lai Đông, Gia Lai Tây; chư Tôn đức GĐ.II PGKS; Ni giới GĐ.III PGKS; Ni giới Hệ phái PGKS Gia Lai Đông; Ban Hoằng pháp GĐ.III PGKS; chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái PGKS tại Vạn Ninh; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện trong và ngoài tỉnh; đoàn lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN, Công an phường An Nhơn Đông; cùng các đoàn Phật tử xa gần thân lâm về Tịnh xá Ngọc Liên kính viếng Giác linh Hoà thượng.
Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến là vị Tôn túc nhiều năm gắn bó và sinh hoạt Phật sự cùng chư Tôn đức PGKS tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Vào những năm 1969 – 1970, hữu duyên với vùng đất An Nhơn, Bình Định (cũ), Ngài được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất để có chỗ dừng chân đồng thời tạo không gian hữu duyên cho bà con Phật tử về nương theo tu tập. Từ nhân duyên đó, ngôi đạo tràng Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài khai sơn dựng lập. Song, với một lòng mang theo chí nguyện hành đạo du phương, nên sau đó, ngôi Tịnh xá Ngọc Liên được Ngài giao lại cho người đệ tử là TT. Giác Ngôn tiếp nối trụ trì, Ngài lại cất bước trên con đường du phương tịnh xứ.
Được biết, chiều 12/04/2026 (25/02/Bính Ngọ), lúc 13h00, chư Tôn đức lãnh đạo GĐ.III PGKS đã thân lâm Giác linh đường, cử hành nghi thức truy điệu và phụng tống kim quan Trưởng lão Hoà thượng Giác Chiến đến đài hoá thân An Viên Gia Lai trà tỳ.
Một số hình ảnh được ghi nhận:
Nguồn: www.daophatkhatsi.vn
---oOo---













