Chết - Thân Trung Ấm - Tái Sinh
Dù chưa chết sự hiểu
biết về thân trung ấm có giá trị như thế nào?
Phương Pháp Cứu Độ Thân Trung Ấm
Phương Pháp Liễu Sanh Thoát Tử
Hay Cứu Độ Trung Ấm Thân
Sáu Thân Trung Ấm
Thân Trung Ấm
Thân Trung Ấm Là Gì?
Thân Trung Ấm Là Gì?
LỜI GIỚI THIỆU
Trước
đây 2512 năm, đức Phật đã từng dạy với các đệ tử
rằng: "Trong một bát nước có đến tám mươi bốn ngàn
vi trùng". Thời ấy, nếu ai đã nghe qua, chắc không
khỏi mỉm cười mà cho là hoang đường hay vô lý, rồi
đem lòng ngờ vực không tin. Những mặc dầu ai không
tin mà sự thật bao giờ cũng là sự thật: không phải
vì không tin mà kém mất phần giá trị của nó.
Tập sách "LIỄU SINH
THOÁT TỬ" hay "CỨU ĐỘ TRUNG ẤM THÂN" này chính do
LIÊU - ĐỊCH - NGUYÊN cư sĩ đã dày công sưu tầm trong
các kinh điển mà biên tập ra, Thầy THÍCH-QUANG-PHÚ
Giáo sư Phật học Đường BÁO - QUỐC, sau khi đã dịch
xong, thầy đưa cho tôi xem: tôi nhận thấy trong đó
có nhiều điểm rất hay đối với nhơn tâm thế đạo.
Không những thế, nó cũng có thể giúp ích một phần
nào cho những ai đang nghiên cứu về thần linh học".
Tôi thiết tưởng hàng
Phật tử xuất gia nên coi vào đấy mà lo trau dồi đức
hạnh, đào luyện thân tâm; hầu cứu vớt sinh linh được
thoát vòng đan khổ, để thực hành công việc lợi-tha
trong muôn một; và hàng Phật-tử tại-gia cũng nên xem
vào đấy mà thực hành cứu độ cho thân linh, trong
những phút cuối cùng "ngàn thu nhất biệt"; hầu mong
tỏ lòng hiếu thảo chơn chánh, và cải bỏ những tục lệ
phiền phức sai lầm trong khi tang lễ; hầu gây nên
một phong tục chánh tín Phật pháp ở tương lai. Như
thế hẳn là một tập sách đáng đem lưu truyền đây đó.
Còn nói về
Trung-Ấm-Thân, thì theo như lời Phật đã dạy: "Chỉ có
người nào chừng được đạo nhãn mới xem thấy, ngoài ra
những kẻ phàm phu chưa chứng thánh trí, thì không
thể nào trông thấy được". Thế thì nó có hoang đường
mê tín hay không sẽ có thời gian trả lời. Cũng như
ngày nay không cần phải giải thích, nhưng với sự
thật mọi người đều thấy trong nước có vô số vi
trùng.
Với thời gian hiện
tại, tôi rất mong rằng các hàng Phật-tử tại-gia cũng
như xuất-gia, ai nấy đều y theo trong đó mà thực
hành, thì người đã chết cũng như người còn sống sẽ
được hưởng thọ nhiều phần lợi ích. Thật ra, với đạo
Phật không phải chỉ chú trọng trong khi sắp chết,
nhưng vì muốn được an vui. Cho nên ngoài những
phương pháp cần phải thực hành khi đang sống, Đức
Phật còn chỉ cho ta những phương pháp cần phải thực
hành trong khi sắp chết hay đã chết.
Vậy thì chúng ta
không có quyền nói: "Đạo Phật chỉ chú trọng cái chết
mà bỏ quên cái sống". Cũng bởi lẽ ấy, nên tôi xin
kính lời giới thiệu cùng toàn thể Phật-tử.
P.L 2512 BÁO QUỐC
ngày mồng 10 tháng chạp năm Kỷ Sửu
Giám-đốc
Phật-học-Đường Báo - Quốc
THÍCH - TRÍ -
PHÚ
THAY LỜI
TỰA
Sống
trong vũ-trụ, đã là vật hữu-hình tất nhiên phải có
sanh diệt, có thành hoại. Đó là công lệ của muôn
pháp, mà cũng là định-luật bất di bất dịch của cuộc
đời. Thì sống, chết, chỉ là lẻ thường, cần gì mà ta
phải quan tâm đến?- Có lẽ cũng vì ý nghĩ ấy, nên
ngày xưa đức Khổng-phu-tử đã trả lời với học trò
mình bằng một câu tuy gọn gàng, nhưng đầy trách móc:
"Chưa biết được việc sống, thì đâu biết được việc
chết !". Nhưng sống ở đời. Trừ những hạng ngu mê vô
tri-thức, thiếu học hỏi, thiếu suy nghiệm và những
kẻ chỉ biết say đắm theo vật dục, mà không biết đến
đời sống của tinh-thần, ngoài ra những kẻ có
tri-thức, có học hỏi biết suy nghiệm thì: ngoài
những phút hoan lạc, những giờ lo sống, nếu họ muốn
nhận chân được ý nghĩa của cuộc đời và xây đấp một
hạnh phúc vĩnh viễn cho tương lai chắc họ không khỏi
băn khoăn tự hỏi: "Sanh từ đâu mà đến? Chết rồi sẽ
đi đâu và chết rồi đã hết khổ chưa? Muốn tránh thoát
những nỗi khổ ở đời thì phải làm thế nào? - Với
những câu hỏi ấy, sẽ làm cho họ phải thắc mắc trong
tâm trí; vì đấy là những vấn đề khó khăn chưa có ai
giải quyết được một cách rành mạch.
Gần đây ông
LIÊU-ĐỊCH-NGUYÊN cư-sĩ ra tập sách: "PHƯƠNG PHÁP
LIỄU SINH THOÁT TỬ" này, cũng không ngoài mục-đích
để trả lời những câu hỏi như trên. Tập sách nhỏ này,
với cái lượng của nó tuy hẹp hòi, nhưng chỉ ngần ấy
trang, bấy nhiêu điều mục, nhờ ở cái tài khéo sắp
đặt và diễn tả của tác-giả có thể cho ta thấy: về
mọi trạng thái, và mọi hành vi, và những ý nghĩ lạ
lùng của con người trong khi sắp chết, hay đã chết.
Hơn nữa tác giả còn vạch rõ cho ta một con đường để
xu-hướng là: áp dụng phương pháp niệm Phật để cứu độ
thân trung ấm. Như thế, thì cái lượng của nó tuy
nhỏ, nhưng cái phẩm của nó vẫn lớn vậy.
Với những điều đã
diễn tả sau đây, chính là những tài liệu mà tác giả
đã thu gặt được trong các kinh luận, thật không phải
ức thuyết hay bịa đặt. Đọc đến nó các bạn sẽ
thấy lắm chuyện ly-kỳ và không khỏi sanh tâm ngờ vực
là: hoang đường hay mê tín. Nhưng chúng ta nên biết
rằng những cảnh tượng lạ lùng ấy, chỉ là những huyễn
ảnh của tâm thức biến hiện, và do năng lực của
nghiệp duyên mà cảm thấy đó thôi. Điều đó dùng như
câu "Tuy chúng sinh làm, ứng sở tri lượng, tuần
nghiệp phát hiện" trong kinh THỦ-LĂNG-NGHIÊM đức
Phật đã dạy.
Thật là một quyển
sách có giá-trị, và rất cần cho những kẻ sơ cơ trên
bước đường tu tập.
Vì nhận thấy lợi ích
không phải ít và bổn phận lợi tha thúc dục, nên tôi
không quản lời lẽ vụng về, văn chương non nớt, tạm
dịch ra đây để cống hiến các chư vị thiện tín, hầu
mong ai nấy đồng hiểu đồng tu, đồng được siêu sinh
thoát tử.
NAM MÔ SIÊU-LẠC-ĐỘ
BỒ-TÁT MA-HA-TÁT
BÁO QUỐC ngày
15-11-2512 (Kỷ Sửu)
Dịch giả cẩn chi
THÍCH-QUANG PHÚ
Phương Pháp Liễu
Sanh Thoát Tử Hay
Cứu Độ Trung Ấm
Thân
Hiểu
được lẽ sống, thoát ly được sự chết, và sanh về
Cực-lạc, tức là bất sanh bất diệt. Nhưng hiểu được
lẽ sống và thoát được sự chết, đâu phải là việc dễ!
- Đối với Phật pháp, phải có một lòng tin chắc chắn,
phải tu-tri có sẵn, hay nhờ có thiện căn trước, đến
khi lâm chung gặp được thiện-tri-thức chỉ giáo cho
mà chăm lòng niệm Phật. Nhờ thần lực của Phật và
Bồ-tát dắt dìu, mà được sanh về thế-giới Cực-lạc
phương Tây, hay vãng-sanh về Tịnh-độ ở phương khác.
Như thế, vẫn không phải như lời sai lầm của kẻ si-mê
trong thế-tục đã nói: "chết rồi là xong".
Bởi vì chưa rõ được
việc sống, thì đâu biết được việc chết? Sống rồi
chết, chết rồi sống; sống với chết không bao giờ
thôi, xoay vần quanh quẩn thì làm sao xong được?
Những người tin Phật,
đối với thế tình xem bằng đôi mắt lãnh đạm, xét được
kỷ, nhận được sâu, thấu hiểu cuộc đời là khổ, nhân
sinh là đáng thương; vì đối thể tình nhận được rõ
ràng, mới gọi là hiểu được lẽ sống. Còn thế nào là
thoát được sự chết? Tức như chúng ta đang sống đây,
không làm việc công hay việc tư, thư nhàn hay bận
rộn. Đối với một câu danh hiệu Di-Đà, nếu đem toàn
thân mà nương tựa, niệm nào cũng cầu đến Lạc-bang,
tâm nào cũng chán nhàm uế-độ. Được thế, thì đến khi
chết quyết được vãng sinh; và được thế mới gọi là
thoát được sự chết.
Nhưng những kẻ chưa
được liễu sinh, chưa chứng thoát tử, thì như trong
kinh Phật đã dạy: "Họ phải đi vào giai đoạn
Trung-ấm". Thân Trung-ấm ấy sẽ tuỳ theo sự nghiệp
lực mà thọ sinh, thời gian thọ sinh có lâu mau không
quyết định. Những điều đã thuật lại trong tập nầy là
đem phương pháp niệm Phật mà cứu độ cho thân
trung-ấm ấy, được siêu sinh thoát tử, và được sinh
về cõi Cực-lạc.
Nay chia ra từng điều
mục và thuật lại như sau. Nếu ai xem rồi, chịu tuần
tự y theo pháp mà thực-hành cứu-độ, thì sẽ chứng
được vô-sinh pháp-nhãn và chắc chắn được liễu-sinh
thoát-tử vậy.
THUYẾT-MINH
VỀ TRUNG-ẤM
Trung-ấm cũng gọi là trung-hữu; tức như chúng ta khi
thân nầy đã chết, thì gọi là tử-ấm cũng gọi là
tử-hữu. Đến khi tái sinh thân sau, thì gọi là
sinh-ấm cũng gọi là sinh-hữu. Giữa khoảng đã chết và
chưa sinh, trải qua trong 49 ngày, riêng có một cái
thân thì gọi là Trung-ấm (thế tục gọi là linh hồn,
kỳ thật tên tuy đồng, nhưng ý nghĩa thì khác). Nói
một cách thiển cận hơn thì sau khi đã rời khỏi chỗ
nầy, chưa sinh vào chỗ khác, trong khoảng đã chết và
chưa sinh, không dính gì với hai bên, ở giai đoạn
trung-gian ấy, thì gọi là trung-hữu, hay thần-thức,
tức là trung-ấm vậy. Chỉ trừ những người đã sẵn có
tu-trì, và những người chí thiện thì liền thọ sinh;
hoặc sinh về Tịnh-độ hay lên thiên-giới. Còn những
người cực ác cũng như thế, tắt hơi thở liền đoạ vào
ác thú; không vào thân trung-ấm. Ngoài ra phải trải
qua giai đoạn trung ấm vậy.
(Đúng theo trong kinh
thì ý nghĩa của chữ Thân là tích tụ; nghĩa là chứa
nhóm; tức như cái thân của chúng ta là do nhiều
nguyên nhân chất hoà hiệp nhóm góp mà tạo hành, nên
gọi là tích tụ. Thế thì sau khi thân nầy đã chết và
chưa thọ thân sau, trong giai-đoạn ấy không thể gọi
là thân được. Vì trong đó chỉ có nghiệp-thức mà
thôi, chưa có tinh huyết của cha mẹ hoà hiệp, và
những nguyên chất để cấu tạo. Cho nên tuy trong
giai-đoạn ấy có thể tạm gọi là thân, vì đủ có sự
thấy, nghe, hay, biết, qua, lại v.v..., nhưng đó chỉ
là cái giá ảnh do nghiệp-thức biến hiện, trong kinh
Phật có chỗ gọi là SẮC-CÔNG-NĂNG: là cái sắc thân do
nơi chủng-tử của nghiệp-thức mà biến hiện. Cho nên
thân trung-ấm là một trạng thái tinh-tế, không phải
có mặt, tai thô tướng như thân nầy, mặc dầu nó vẫn
đủ tác dụng thấy nghe hay biết. Thế nên nó có thể
xuyên qua tất cả chướng ngại vật, và cũng bởi thế
nên ta không trông thấy được).
TUẦN TỰ VÀ TRẠNG THÁI KHI BỐN ĐẠI PHÂN LY
Trong
thân người, chất cứng rắn thuộc về đất, chất lưu
động thuộc về nước, hơi ấm thuộc về lửa, sự chuyển
động thuộc về gió, bốn nguyên chất nầy cùng khắp cả
thế-giới nên gọi là đại.
1.- Trạng thái địa
đại lấn áp thuỷ đại. - Lúc đó khắp trong thân người,
cho đến một lỗ lông; đều có cái cảm-giác nặng nề mỏi
mệt xâm lấn vào trong tạng phủ, cho đến trong các
lóng đốt, đều cảm thọ sự áp bức chướng ngại đau đớn
xâm ngất, không thể tả được. Thế nên biểu hiện
những trạng thái: tay chân co rút gân mạch run-rẩy.
Đây là những triệu chứng về địa đại lấn áp thuỷ đại
vậy.
2.- Trạng thái thuỷ
đại lấn áp hoả đại. - Lúc đó, hơi lạnh truyền khắp
trong thân thể rồi thấm vào cốt tuỷ thì nội tạng
rung động, gan ruột đều giá lạnh, khi lạnh trong
ngoài xâm lấn nhau, dù cho lửa lò khó trừ được sự
khổ ấy. Tuy nằm trên băng tuyết cũng không thể sánh
nỗi một phần trong muôn phần! Bấy giờ bề ngoài nhan
sắc nhợt nhạt, hơi thở khò khè, thân mình run rẩy;
Đấy là triệu chứng của thuỷ đại áp lấn hoả đại vậy.
3.- Trạng thái hoả
đại lấn áp phong đại.- Lúc đó, sinh cơ đã lui mất
hai phân nữa, sức chống chọi đã yếu dần, sự khổ lại
thêm nhiều, nên phong đại thổi hoả đại, nóng như lửa
đốt. Trong thì ngũ tạng, ngoài thì tứ chi, khác nào
nung nướng, thứa lòng đốt như bị cắt chặt đau đớn
quá nên cứng chơ như lê gỗ. Khi đó hiện ra ngoài
nhan sắc ửng đỏ, tinh thần tối tăm, hơi thở ra thì
nhiều nhưng hít vào thì ít. Đấy là triệu chứng của
hoả đại lấn áp phong đại.
4.-Trạng thái phong
đại phân ly.- Lúc đó, thân thể của người bệnh bỗng
nhiên cảm thọ một thứ gió mãnh liệt thổi bạt thân
thể tan nát như vi-trần, hết sức đau đớn rã rời. Khi
ấy bốn đại đều phân ly, sáu căn bại hoại, chỉ còn
nghiệp thức (trong nầy nói là nghiệp thức cũng như
thông thường nói là thần thức) tuỳ theo nghiệp lực
đã tạo lúc sống còn mà thọ sanh.
Xét ra nếu được sanh
về Tịnh-độ ở phương Tây thì được nhờ oai thần của
Phật A-di-Đà, Ngài đến dẫn đi. Nếu sanh lên
thiên-giới thì có chư thiên nghinh tiếp, nhờ ở thiện
nghiệp của mình nên khi nghiệp thức bỏ thân được
nhiều khoái cảm và không bị những khổ cảnh như trên.
Chỉ có một điều rất cần là: gia nhân quyến thuộc
phải dè dặt chớ khóc lóc rộn ràng. Vì sợ làm cho kẻ
chết bị tình thương lôi quấn, tham đắm theo cảnh
thế-gian, chướng ngại cho sự vãng-sinh vậy; cũng
không nên gấp rút động đậy như dọn dẹp mền nệm, chùi
rửa thay đổi áo quần, cần phải để yên độ 8 tiếng
đồng hồ, rồi sẽ tắm rửa thân thể, thay đổi quần áo
và nhập liệm. Nếu không như thế, thì khi nghiệp thức
chưa hoàn toàn bỏ thân, bị xúc-động phải cảm-thọ sự
đau đớn nhân đó mà sinh ra sân hận, tức phải đoạ vào
ác đạo.
Lại nên xét kỷ lúc
sinh thời của người chết, hoặc tuy rằng tin Phật,
nhưng biếng nhác không tu trì. Hoặc chưa đủ tín
nguyện thâm thiết, vì nghiệp chướng nặng nề, thì khi
lâm chung bị mê mờ, tức là hiểu được người đó chưa
được vãng-sinh. Khi ấy nên mời các vị Thiện-tri-thức
tu Tịnh-độ tôn đối trước thi thể của người chết, hay
đối trước linh sàng của người chết, vì vong linh mà
khai thị. Còn gia quyến phải mỗi ngày ba phen luân
phiên niệm Phật cứu độ, để dắt dìu cho nghiệp-thức
của người chết chăm chú về Cực-lạc, vì khi đó chỗ
thọ sinh chưa quyết định, có thể chuyển đổi, nên nếu
dùng như pháp mà cứu độ thì có thể trở vọng về chân,
chuyển phàm thành thánh một cách dễ dàng.
BAN ĐẦU
VÀO CẢNH TRUNG - ẤM
Sau
khi người đó hơi thở đã tắt, thần thức rời khỏi
thân, nếu chưa liền được giải thoát, thì phần nhiều
phải trải qua một trạng thái tối tăm mờ mịt trong
một thời hạn lâu đến ba ngày rưỡi hoặc đến bốn ngày
rồi sau mới có cái cảm giác minh mẫn, đó là bắt đầu
vào cảnh trung ấm. Nhờ ở sự minh mẫn ấy nên có thể ở
trong một khoảnh khắc mà thấy được gia nhân quyến
thuộc...
Lại nữa, thông thường
người chết khi nghiệp thức đã rời thân, thường hay
mê muội, nên cứ đắn đo mà tự hỏi: Ta đã chết hay
chưa chết? Người đó cũng hay mơ màng mà thấy được
thân thuộc, mỗi mỗi đều hiện ra trước mắt, in như
gặp nhau trong cảnh mộng.
Xét ra thì trong lúc
đó, người chết không tự biết rằng mình đã chết hay
chưa chết, thì những thân thuộc nên mỗi ngày ba phen
vì họ mà luân phiên niệm Phật, để nhờ oai lực của
Phật dắt dìu họ được sinh về Cực-lạc. Như thế dù có
có nghiệp duyên cũng không trở ngại được; Ví như mặt
trời đã mọc lên, thì phá tan đêm tối. Cũng như thế,
trí-tuệ thanh tịnh sáng suốt của Phật có thể tiêu
diệt nghiệp lực tăm tối của chúng sinh vậy.
Vả lại trong lúc ấy,
nghiệp thức của người chết hoặc đi vào thế giới mới,
chính họ cũng đương ngơ ngác, chưa biết mình sẽ đi
vào đâu là phải. Thế nên phải nhờ phương pháp niệm
Phật để cứu độ cho họ. Phải mời những bậc
thiện-tri-thức khai thị cho họ biết xu-hướng về nước
Cực-lạc.
Thiện-tri-thức sẽ
dùng những lời như sau đây mà khai thị, "Nguyễn mỗ
... nếu người đến trên mặt nước hay trước bức gương
mà soi thì người sẽ không thấy được diện tượng của
người hiện vào nữa, vì thân trung-ấm nầy đã rời sắc
thân tứ-đại do huyết nhục tạo nên trong nhân gian.
Người nên biết, khi đã vào giai đoạn trung-ấm thân,
chỉ có một điều cần thiết là: lúc nầy người không
nên nhớ nghĩ việc gì nữa, chỉ nên chuyên tâm niệm
Phật A-Di-Đà và Bồ-tát Quan-thế-âm đến cứu độ. Khi
đó Phật A-Di-Đà cùng Bồ-tát Quan-thế-âm sẽ cảm ứng
mà đến. Mong ngươi phải khéo tự phát ý niệm Phật".
Thiện tri-thức phải
theo như trên đọc ba phen cho rõ ràng mà khai thị.
Gia-quyến phải một ngày ba phen luân phiên niệm Phật
để cứu độ.
SỰ XUI DỤC CỦA NỖI LÒNG QUYẾN
LUYẾN
Thân-trung-ấm trước khi chưa được giải quyết, hay
chưa trải qua giai-đoạn đầu thai thì nghiệp thức ấy
khi mê muội, khi minh mẫn. Có khi bỗng thấy bà con
bạn bè ở vào một nơi nào đó, giống như gặp nhau
trong cảnh mộng. Cho nên họ sẽ đến trước các người
trong cảnh mộng đó mà nói năng kể lể; nhưng các
người đó hoàn toàn không hiểu được. Khi ấy họ buồn
rầu không thể tả xiết, giận dữ khác thường. Bỗng
nghe người ta gọi đến tên mình mà than khóc; thì
liền thấy được bà con bạn bè: Đến một bên thấy xác
của mình than khóc, hay thấy được các phẩm vật đã
sắp bày trên bàn thờ. Rồi họ sẽ tự lẩm bẩm rằng: "Ta
đã chết rồi! Làm thế nào? làm thế nào?" Khi đã sinh
ra một niệm ấy, thì tự biết hết sức đau khổ, khác
nào con cá bị nướng trong cái lò lửa đỏ! Nhưng đây
còn là ở trong sự mờ tối, cho nên khi thấy vợ con
than khóc liền đến vỗ về an ủi: "Ta còn đây, không
nên khóc!" Nhưng các người than khóc kia cũng vẫn
không thôi nghỉ. Khi đó trong lòng họ giận dữ phẩn
uất, cho nên vội vàng bỏ đi. Nhưng trong chừng
khoảnh khắc, vì lòng ái kiến vọng chấp chưa trừ cho
nên vội vàng trở lại, để mong đáp lại sự tức giận
khi trước trước đã gặp. Nhưng rồi cũng vẫn không vừa
ý những cảnh tượng đã gặp và đã cảm thọ; cho nên vẫn
có thái độ như trước. Cứ thế mãi, trải qua đôi ba
phen gặp gỡ như thế, nên sự buồn bực dập dờn; càng
trải qua càng thêm mãnh liệt. Vì lòng phiền muộn xui
dục càng thêm mạnh mẽ, đến nỗi học không muốn suy
xét đến cảnh giới lành dữ là thế nào, dù cho có mất
giá-trị thế nào, ta cũng không cần mến tiếc. Chỉ cần
được thác sinh, để cởi bỏ cái khổ bơ vơ không nơi
nương tựa. Những kẻ đầu thai vào ác đạo thường
thường đều bởi duyên cớ ấy cả.
“Thân trung-ấm tuy
còn luyến ái bà con bạn bè, nhưng ngặt nỗi đã bị
cách đời, nên không làm thế nào được, cho nên chớ có
một mảy may luyến ái; và dù cho trở lại được sắc
thân tứ đại, thì cũng chẳng qua trở lại chịu khổ
sinh tử mà thôi. Vậy nên phải dẹp bỏ cái vọng tưởng
được sống trở lại; hãy tự yên ổn, chăm lòng niệm
Phật A-Di-Đà và Bồ-tát Quán-thế-Âm, để cầu Ngài cứu
độ.”
Thiện-tri-thức phải
theo như lời đã nói trên mà khai thị. Gia thuộc phải
vì họ mà niệm Phật để cứu độ cho họ.
NHỮNG CẢNH TƯỢNG RÙNG RỢN DO ÁC
NGHIỆP CHIÊU CẢM
Khi
nghiệp-thức đã ở vào giai đoạn Trung-ấm, thì mê rồi
lại tỉnh, tỉnh rồi lại mê, phải cảm thọ những điều
không yên ổn, không tự tại. Và có một thứ nghiệp
phong mãnh liệt, thổi đưa nghiệp thức đi vào phương
hướng vô định; cũng như mảy lông bị gió cuốn: Qua,
lại, lên, xuống đều tuỳ theo chiều gió thổi. Cái
thân ấy không do ở ý mình, phải phiêu lưu không nhất
định. Bỗng nhiên lại gặp một thứ ánh sáng vô cũng
mãnh liệt, vùn vụt chớp loè, tia sáng chói loà,
không thể mở mắt mà xem được. Ánh sáng ấy, chuyển
biến giống như ánh mây mùa thu, hiện ra những hình
thái lạ lùng để hăm doạ người đã chết. Và ở trong
những chỗ ánh sáng mạnh mẽ và lớn lao ấy đã xuyên
qua, phát ra một thứ tiếng rất dữ dội, không có gì
sánh kịp. Nó có thể mạnh gấp ngàn lần sấm sét. Một
khi nghe đến càng thêm ghê rợn; có thể tan gan nát
mật.
Lại có một loại quỷ
Dạ-xoa thật là đáng sợ, nắm cầm rất nhiều bình
trượng, hầm hét dậm đạp đua nhau mà đến; muốn giết
tính mạng của người chết. Bọn ấy rất đông, đánh
trước dựt sau, nhảy nhót mà đi đến. Hoặc hiện ra vô
số loài ác thú hung tợn rượt đuổi theo sau; hoặc
biến làm người tàn ác để áp bức, hoặc làm cuồng
phong bão vũ, sấm, chớp, sương mù phủ kín; đem kẻ
chết nhốt vào trong đó. Hoặc làm núi lở, bể dậy sấm.
Hoặc biến thành luồng lửa mạnh bay đi thiêu đốt. Tất
cả những cảnh tượng đã thấy, tiếng tăm đã nghe, làm
cho thân trung-ấm khiếp sợ muốn ngất, hoảng hốt
không chỗ nương tựa, lại không có đường để tránh
thoát, chỉ có cách là mong chờ cuồng phong đưa đẩy
để lánh thân mà thôi. Trong thấm thoát lại bị đuổi
theo bức áp, rồi chạy đến trên chót núi nhìn xuống
thấy có ba cái hố: Một trắng, một đen và một đỏ; hết
sức sâu thẳm và lại bị thúc dục, loan nhào đầu
xuống, khi đó thân trung-ấm không thể không quay
mình tìm nơi ẩn núp. Thế nên chuyển sinh đầu thai
làm: Thân rắn, muông, lang, beo, cọp... luôn luôn
phải ở trong khổ thú.
Như trên đã thuật nên
khai thị: "Biến thành nghiệp phong mãnh liệt, biến
làm ánh sáng mênh mông, biến làm tiếng tăm rùng
rợn... đều do nghiệp lực mà chiêu cảm. Nếu biết thân
trung-ấm không phải là thân huyết nhục, mà chính là
cái thân do một thứ vi-tế tứ-đại tạo thành; thì tuy
có cuồng phong, lửa cháy, sấm sét... vẫn không thể
hại được. Tức như ba cái hố: một đen, một trắng, một
đỏ kia, cũng là do ba độc tính căn bản là: Tham dục,
sân khuể, ngu si từ nhiều đời nhiều kiếp mà hiện ra
đó thôi. Trong khi ấy nên thật nhận rằng: Bao nhiêu
ác tướng kia đều do nghiệp-thức biến hiện, nhưng nay
vì không may phải trải qua cảnh giới ấy thì chỉ có
cách yên lòng không rối loạn chuyên cần niệm Phật
A-Di-Đà và Bồ-tát Quán-thế-Âm để cầu Ngài đến cứu
độ".
Thiện-tri-thức phải
theo như trên mà khai thị, đại chúng phải niệm Phật
để giúp cho họ được tiêu trừ nghiệp-chướng, thì sẽ
được sinh về Cực-lạc luôn luôn khỏi các khổ não.
PHÂN
PHÁN MÀU SẮC HƠN KÉM CỦA HỒ QUANG
Thân
trung-ấm vì trải qua cảnh khổ, nên tự nghĩ rằng:
Thương thay! Chỗ cảm thọ của ta vì sao mà khổ thế!
Ta sẽ đi tìm chỗ nào có thân thể để sống. "Nhân đó
bèn chạy khắp bốn phương, tâm ý tán loạn không chịu
dừng nghỉ. Có khi thì ở nơi cầu cống, có khi thì ở
nơi miếu vũ yên lặng, và có khi ở nơi các lăng
tháp... Nhưng đó chỉ nghỉ tạm trong một lúc chẳng
được lâu dài, vì cái sắc thân tứ đại trung-ấm rất
nhẹ nhàng, khác hẳn cái sắc thân lúc sống còn thường
làm trở ngại. Cho nên khi đó không khỏi buồn rầu tự
kết mình bấp bênh, mất chỗ nương tự. Buồn lo quá
đỗi, nên tự nghỉ rằng: "Ta nay chỉ muốn được thân
người, dù cho phải đổi mất giá thế nào cũng không
tiếc". Cho nên lần lửa tìm lại cái thi thể của mình
trước kia, nhưng thi thể ấy, đã bị bà con bạn bè đem
bỏ vào hòm, hay đã chôn xuống đất, hoặc đã dùng lửa
mà đốt rồi. Vì thế không có thây nào mà nhập vào,
nên buồn rầu không xiết. Tâm hồn người lạnh như tro
tàn; lo buồn rối rắm. Khi đó liền có những luồng ánh
sáng yếu ớt của lục phàm (nhân, thiên, A-tu-la,
địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh) bỗng nhiên biểu hiện
trong đó tuỳ theo nghiệp lực của kẻ chết cảm-ứng với
Đạo nào thì luồng ánh sáng của đạo ấy sẽ càng rực rỡ
hơn lên, ánh sáng của đạo người thì hơi vàng, ánh
sáng của đạo Địa-ngục thì như khói đen, ánh sáng của
đạo Ngạ-quỉ thì hơi đỏ, ánh sáng của đạo Súc-sinh
thì hơi xanh.
Lại nữa, các cõi Phật
trong năm phương cũng phóng ra những hoá-quang rực
rỡ và mạnh như: hào quang sắc xanh chói loà, hào
quang sắc trắng trong sạch, hào quang sắc vàng trong
bóng như ngọc, hào quang sắc đỏ mãnh liệt. Như thế
có rất nhiều thứ hào quang của chư Phật chói loà lẫn
nhau. Nhưng vì nghiệp-lực nên kẻ chết sợ hãi những
hào quang mãnh liệt của chư Phật đã soi đến, mà chỉ
ưa thích những thứ hào quang yếu ớt trong sáu đạo:
thiên, nhơn, a-tu-la, địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh đã
soi đến mà thôi. Cho nên họ đã đầu thai vào lục đạo,
luôn luôn chịu các khổ não.
“Như trên đã thuật,
những ánh sáng của lục đạo dịu dàng dễ chịu, nên làm
kẻ chết có những cảm giác vừa ý nhưng ánh sáng ấy
chính là những ánh-sáng lục-đạo, không nên tham đắm,
cần phải tránh xa. Chỉ nên chăm lòng thành kính tự
mình phát tâm, phấn khởi tinh-thần mà niệm Phật
A-Di-Đà và Bồ-tát Quán-thế-Âm. Phải bỏ cái dễ mà đi
đến cái khó, không nên khiếp nhược, phải đi đến chỗ
hào-quang mãnh liệt, vì hào-quang mãnh-liệt ấy, là
hào-quang chư Phật, hào-quang ân-huệ, hào-quang
giải-thoát, là hào-quang vượt phàm thành Thánh. Nếu
đem toàn thân mà nương vào trong đó, tức là bước lên
cõi Phật, thường thường an vui, xa lìa cái khổ não
đắm chìm trong lục đạo.”
Thiện-tri-thức, phải
theo như trên mà khai thị, gia thuộc ở trong 49 ngày
ấy, theo tuần tự luân phiên mỗi ngày ba phen niệm
Phật để cứu độ. Bởi vì thông thường người chết,
nghiệp của họ phải trải qua 49 ngày biến vào
giai-đoạn trung-ấm. Nếu ở trong 49 ngày đó mà niệm
Phật cứu độ, thì quyết định có một ngày nào trong
những số ngày ấy, chắc được như pháp mà giải thoát.
SỰ PHÂN PHÁN CỦA CẢNH GIỚI MINH
PHỦ
Người
ta lúc sống còn làm lành hay làm dữ, đều có quỷ thần
xem xét. Nếu việc làm lành, thì có thiên thần coi về
việc lành. Nếu làm việc dữ, thì khi đó cũng có ác
thần coi về việc dữ ghi lại những việc dữ của mình
đã làm. Cho nên thân trung-ấm một phen thấy vị thầy
kia, không khỏi hết sức lo sợ khủng khiếp, toàn thân
run rẩy, nhưng cứ ngu si mà nói dối rằng: "Tôi chưa
từng làm những việc dữ như thế". Khí đó có quỷ-vương
chủ mạng bảo với người chết rằng: "Thì đây, ta có
cái gương chiếu nghiệp nầy, ngươi nên soi vào đấy".
Khi ấy tức thì trong gương, nghiệp lành hay dữ đều
hiển hiện rõ ràng; cho nên dù có chối cãi cũng không
ích gì. Khi đó có kẻ ngục chủ hình dáng dữ tợn, lấy
giây buộc vào cổ người tội mà dắt đi, và dùng những
cực hình để hình phạt như: Chặt đầu, mổ bụng, moi
bụng, hút não, ăn huyết thịt, nhai xương ... hết sức
đau đớn những vẫn không chết, và sau khi thân thể đã
tan nát rồi, dần dần đầy đủ trở lại như cũ và lại
chịu cực hình tiếp luôn không ngớt.
“Trong khi các vị
thần chủ việc lành hay chủ việc dữ hiện ra trước đó
đẻ sát hạch tội lỗi, thì không nên sợ hãi, cũng
không nên chối cãi, vì phải biết rằng: thân trung-ấm
dù phải trải qua bao nhiêu phen tan nát đi nữa cũng
không thể chết được, huống chi thật tính của tự thân
là không thật có, thì cần gì phải sợ? Tức như bọn
ngục tốt kia cũng là nghiệp-thức biến hiện, tự thể
của nó là không, cái không mà phá hoại được cái
không, thì không đúng với lẽ phải. Nếu khi thấy có
quỷ-vương chủ-mạng đến, thì ngươi nên tự xưng với
quỷ-vương chính-trực ấy rằng: "Tôi, pháp-danh...
quy-y với...". Thì khi đó dù ngươi có chịu cực hình
đi nữa, cũng không tổn hại.”
Thiện-tri-thức phải
theo như trên mà khai thị. Đại phải niệm Phật để
cứu-độ, thì dù phải trải qua 49 ngày mà chưa được
vãng-sinh đi nữa, cũng vẫn có cái khả-năng đắc độ
vậy.
NHỮNG PHƯƠNG THỨC LÚC CHUYỂN SINH
Nếu
người chết lúc sống còn đối với Phật-pháp chưa đủ sự
tín-ngưỡng thâm thiết, thì thân trung-ấm phải trải
qua đường lối quanh co, dần dà không quyết định. Vì
vọng niệm bồng bột, cho nền dù đã trải qua nhiều
phen khai thị, vẫn chưa được vãng-sinh. Bấy giờ thân
trung-ấm hoặc gặp phải cuồng phong bão vũ, giá
tuyết, mưa đá..., làm cho họ tối tăm mù mịt và có
các loài ác thú xua đuổi theo sau, trong nhất thời
sắp đến; nếu người nào nghiệp chướng nặng nề, thì sẽ
bị hăm doạ, và vì trốn tránh mà đi vào cảnh khổ; còn
ai có đủ nghiệp lành thì đi đến chỗ an vui, trong
một khoảnh khắc quan-hệ và mau chóng ấy, nếu đời
trước họ chưa có công phu tu tập đoạn tâm, thì cảm
thấy được hai thân nam, nữ giao-hội, khi đó tà niệm
dấy động, sinh lòng yêu ghét, nên tức thì thác sinh.
Hoặc thác thai vào các loại súc vật, hoặc thác thai
lại làm thân người, tuỳ theo nghiệp lực sai khác của
người chết mà cảm thọ. Nếu người nào về nghiệp đàn
ông nhiều thì thấy đàn bà liền sinh lòng yêu mến.
Còn người nào nghiệp đàn bà nhiều, thì thấy đàn ông
liền sinh lòng yêu mến. Khi đó vì cảm thọ sự dục
lạc, nên bị tối tăm mà mất cả tri giác. Đấy là thân
trung-ấm đã diệt, mà sinh vào thai-sinh hay noãn
sinh vậy. Sau khi đã thác-thai vào một loài nào, thì
phải trải đủ những thời gian tương đương với loài ấy
rồi mới được sinh nở. Nếu phải thác sinh làm thân
chó, thì tìm ổ mà nương tựa cho đến lúc khôn lớn.
Nếu làm thân một con lợn thì đi đến trong chuồng mà
nương tựa cho đến khi khôn lớn. Nếu làm thân một con
kiến, thì bò vào trong hang mà ở, cho đến khi khôn
lớn. Nếu làm thân một con trùn, một con giòi, một
con nghé, một con dê... đều tuỳ theo nghiệp lực sai
khác, đáng sinh về loài nào thì phải sinh về loài
ấy, và đều phải trải qua ngày tháng và thọ mạng được
bao nhiêu, mỗi mỗi đều được tương đương với loài ấy.
Khi đã thọ sinh những thân hình ấy, thì dù muốn
tránh thoát, cũng không sao thoát được. Và còn có
những nỗi khổ kịch-liệt như đui, điếc, câm ngọng,
ngu si, nhơ bẩn, và mặc dầu cho người ta giết hại,
sự đau đớn kịch liệt kia không thể kể xiết được.
(Còn có những khổ sở
phải sa vào trong ngạ-quỉ, địa-ngục v.v... rộng như
trong kinh đã nói. Nếu được may mắn thì sinh lên cõi
Trời, cõi Người, và A-tu-la, tức là ba đạo lành.
Nhưng các cõi đó đều phải chịu khổ sinh tử luân hồi,
không bao giờ thôi nghỉ. Cho nên thiện-tri-thức phải
theo những lời sau đây mà khai thị:
“Thương thay! Người
làm những ác-nghiệp gì mà bị kết xâu khổ sở như thế.
Người từ nhiều kiếp đến nay, phải đắm chìm trong
sinh-tử mà chưa được ra khỏi, đều do bệnh căn của
ác-tập nầy vậy. Nay đây, nếu không tự cứu-độ, cứ
chất-chứa những lòng ghen-ghét thương yêu, thì có
khác chi tự mình vào trong bể khổ; trải qua nhiều
kiếp không thể ra khỏi đó sao?! Ngươi phải mạnh mẽ
mà phấn khởi lên; phải luôn luôn từ bỏ tà niệm
thương ghét rất đê-tiện ấy đi, đừng để sinh khởi làm
nhơ-nhớp tâm niệm, người phải tự trách, tự răn mình
như thế, phải lập thời thệ-nguyện mạnh mẽ, quyết
định không dối mình. Cho nên trong kinh đã nói: "Chí
có lời thệ-nguyện mới có thể đóng bít được thai-môn
mà thôi".”
CHUYỂN
SINH LÊN THIÊN GIỚI
Vì cái
niệm cầu sinh của người chết quá bồng bột, dù đã
trải qua nhiều phen khai thị, cũng vẫn không trừ
được lòng huyễn-vọng ấy, cho nên vẫn chưa được
vãng-sinhTịnh-độ. Khi đó thân trung-ấm vì nhờ sức
thiện nghiệp mà thấy được cảnh giới chư Thiên (các
cõi trời) bào là kỹ-nữ trang-nghiêm chơi bời vui
thú, biết bao cảnh-tượng đẹp tươi. Khi đó sinh lòng
ưa thích, vội-vàng đi đến. Vả có thiên-thần đem
thiên-y (áo của trời) và kỹ nhạc đến rước. Bấy giờ
bà con tống-táng, dù có than khóc thảm-thiết đến đâu
cũng không thể làm lay chuyển lòng họ; trái lại ta
thấy người chết vẫn mỉm cười hớn-hở, nhan sắc tươi
vui. Vì tâm của Trung-ấm thân đã duyên vào cảnh giới
vui-vẻ của chư Thiên, cho nên người đời dù than-khóc
thảm-thiết, họ cũng không nghỉ đến. Nhưng nếu
sinh-ấm (thân sau) chưa thành, thì thân-thuộc khóc
than còn có thể lôi kéo được lòng họ.
(Sinh lên Thiên giới
tuy là vui sướng hơn ở nhân-gian, nhưng cũng vẫn còn
trong vòng tam-giới: Dục-giới, sắc-giới và
vô-sắc-giới, chưa khỏi luân-hồi, thì cũng không khỏi
được cái khổ hoả-trạch (ví dụ sự khổ trong ba cõi
cũng như lửa nung nấu, nên gọi là hoả-trạch) sao
bằng sự vui vô-lậu hoàn-toàn ở Tây-phương Cực-lạc!)
CHUYỂN
SINH VỀ BỐN CHÂU
Thân
trung-ấm đủ có cái thông-linh không thể nghỉ ngợi,
thông-linh ấy, chính do nghiệp lực của trung-ấm mà
cảm được, có thể ở trong một chốc lát, đi khắp cả
bốn đại châu: hoặc quanh núi Tu-Di mau chóng hơn
trong khoảng một phen cánh tay co duỗi. Tuỳ theo ý
muốn, mống niệm liền đến; cho đến đủ có những huyễn
pháp biến hiện.
1) Sinh về Đông-thắng
thần-châu. Nếu thân trung-ấm được cảm sinh về
Đông-thắng thần-châu, thì liền thấy biến thành một
cái hồ, trong đó có những chim hồng, chim nhạn, kết
thành bầy lũ, trống mái đuổi nhau dạo chơi trên mặt
nước. Nếu kẻ chết đi đến chỗ ấy, tức là sinh về
Đông-thắng thần-châu.
(Cần phải cẩn thận
chỗ khởi tâm, phải cương quyết chở đi đến châu ấy;
vì đến châu ấy, dù được an vui, nhưng đắm trước theo
sự an vui đó, làm xao lãng chỗ tấn tu, thì không thể
siêu sinh thoát tử được, cho nên không nên đến).
2) Sinh về Nam-thiệm
bộ-châu. (Nghĩa của nó là thắng-kim; vì ở châu nầy
có thứ kim-sắc đặc biệt), thân trung-ấm nếu được cảm
về Nam-thiệm bộ-châu, thì cảm thấy hiện ra những
cung điện huy hoàng của châu ấy, thấy như vậy tức là
sẽ sinh về Nam-thiệm bộ-châu.
(Nếu ai chưa hết
ý-niệm cầu sinh thì nên cầu sinh về châu nầy; vì ở
đây hiện có Phật pháp lưu hành, vẫn có thể tu trì mà
siêu thoát).
3) Sinh về Tây-ngưu
hoá-châu. (Cõi nầy buôn bán đổi chác đều dùng bằng
trâu, không dùng đến tiền tệ), thân trung-ấm nếu sắp
được cảm sinh về Tây-ngưu hoá-châu thì sẽ thấy có
một cái hồ, hai bên bờ có trâu gặm cỏ, thấy như vậy
tức là sẽ sinh về Tây-ngưu hoá-châu.
Châu nầy tuy là giàu
có thật, nhưng cũng không nên đến; vì sự giàu có hay
làm tăng trưởng tham tâm, mà phế bỏ đạo nghiệp; cho
nên không nên đến).
4) Sinh về
Bắc-cu-lô-châu. (Châu nầy gọi là thắng-xứ; vì ở đây
sung sướng như cõi Trời). Thân trung-ấm nếu được cảm
sinh về Bắc-cu-lô-châu, thì sẽ thấy có một cái hồ,
và trên bờ cũng có các loài súc vật và cây cối...
thấy như vậy tức là sẽ sinh về Bắc-cu-lô-châu.
(Châu nầy tuy sống
lâu và sung-sướng nhưng ở đây không có Phật Pháp lưu
hành thì càng không nên đi đến, mà cần phải trở lại
gấp).
Thiện-tri-thức, nên
đối trước linh-sàng, theo như trên mà khai thị, để
cho họ biết mà lựa chọn thân sau.
Trung-ấm-thân mặc dầu
rong ruổi ở chốn xa xôi, nhưng một khi kêu gọi thì
lập tức trở lại; vì họ đủ có thần-thông nghiệp lực
hữu lậu, và những khả-năng đặc-biệt có thể ghi nhớ
những điều đã trải qua và hiểu rõ được sự lý. Lúc
sống còn, tuy là tay mắt không minh mẫn, nhưng lúc
nầy thì tính thấy, tính nghe đều minh mẫn hơn, ngặt
nỗi nghiệp duyên lôi cuốn nên không khỏi trở vào
sinh tử. Lại nữa, thân trung-ấm đã thoát khỏi sắc
thân huyết nhục không còn là sắc thân thô ngại nữa;
cho nên dù là đất, đá, gò, nhà cửa cho đến lớn như
núi Tu-Di cũng không qua được. Chỉ có Pháp toạ
kim-cang của Phật và tử-cung trong thân mẹ thì không
thể qua khỏi; vì một khi đã vào trong tử cung, tức
thành thân sau vậy.
Xét trong Mật-giáo có
nói về cách thức chọn thai rất hay, cho nên
thiện-tri-thức phải theo như sau đây mà khai-thị cho
kẻ chết: "Ngươi hãy lắng nghe! vì ngươi cũng có ít
nhiều thần thông, thì nên đi khắp trong các châu mà
xem xét; nếu thấy châu nào có Phật pháp lưu hành thì
nên đến đó thọ sinh. Nếu sẽ do nơi vật bất-tịnh
giao-cấu mà xuất sinh (bất tịnh: chỉ chỗ tinh huyết
của mẹ cha) thì ngươi liền cảm giác được một thứ
hương vị, nghe rồi sinh lòng ưa đắm; tức là bị nó
hấp dẫn vào trong thể chất bất-tịnh mà thác thai.
Cho nên trong khi đó, dù có sắc tướng gì hiện ra
trước mắt ngươi (đây chỉ chong trạng thái trong
thai) thì ngươi không nên khởi lên cảm giác để phân
biệt về sắc tướng của vật đó. Như thế đã không nên
có tham tưởng, cũng không nên sinh lòng ghen ghét vì
thông thường thiện-thai hay nhận lầm là ác-thai, và
ác-thai nay nhận lầm là thiện-thai. Thấy thiện-thai
cũng không nên sinh lòng ưa đắm, thấy ác thai cũng
không nên sinh lòng chán nhàm, chỉ phải một lòng an
trú nơi cảnh vô phân biệt. Nếu trái lại thì bị hoặc
nghiệp tà niệm mà phải đoạ vào súc sinh. Bởi vậy
trong khi có thai tạng nào hiện ra trước mắt ngươi
thì ngươi cứ yên tâm không nên lo lắng, cần phải
chăm lòng quy-y Tam-bảo (Phật Pháp Tăng), phải khởi
lên ý niệm như sau nầy: tôi nay phát nguyện, nguyện
làm vị thế vương hay làm Bà-la-môn hoặc làm con vị
trưởng-giả vĩ-đại, hoặc làm con bậc Tất địa thành
tựu là giòng giõi trong sạch không nhơ bẩn đủ có
chính tín về Phật Pháp và có đại phúc đức có thể làm
lợi ích chính sinh, bởi thế cho nên tôi nguyện sinh
vào những giòng giõi ấy.
Phát nguyện xong, đợi
đến khi thấy được hào quang sắc trắng của chư Thiên
hay hào quang sắc vàng của loài người; trong đó
những cung điện quý báu nhà cửa đồ sộ, cho đến vườn
tược v.v... thì ngươi hãy buông lòng mà đi thẳng vào
trong đó chớ có đoái hoài. Được vậy, thì được sinh
vào thiên đạo.
Thiện-tri-thức phải
theo như trên mà khai thị bảy phen.
(Nếu phải thác sinh
vào nhà hạ tiện, thì người chết sẽ nghe có bao nhiêu
tiếng tăm rộn ràng ức hiếp, và thấy thân mình đi vào
trong cảnh bụi rừng lau sậy, những cảnh không vừa ý.
Như sinh vào nhà tôn-quý thì sẽ thấy hoàn toàn yên
lặng, hoặc nghe thấy mình được bước lên cung điện ở
vào những cảnh tượng vừa ý vậy).
TÌNH
HÌNH KHI SINH VÀO ÁC ĐẠO
Người
chết thường vì nghiệp duyên nên gặp phải rất nhiều
cảnh tượng nguy hiểm như: tối tăm, bảo táp, sấm sét,
sương mù v.v... khi đó khiếp sợ quá đỗi nên phải tìm
phương trốn tránh bỏ thân mạng mà tuông chạy, thì
lại thấy ở trước mắt: núi, đèo, hang hố, cây cối bụi
rừng. Vì muốn vội vàng tránh thoát cho khỏi, nên
không rảnh rang để lựa chọn chỗ nào; chỉ biết được
núp vào chỗ nào tức không muốn ra khỏi. Vì sợ rằng
nếu ra khỏi tức là bị khổ. Chỉ vì tỵ nạn nên không
muốn ra, nên rốt cuộc không ngờ mình đã trở lại thọ
thân hèn hạ và chịu rất nhiều đau khổ. Nay hãy đem
tình trạng khi đã trở vào ác thú mà lược thuật như
sau:
Nghiệp-thức của kẻ
chết, nếu sắp sinh vào đạo A-tu-la thì sẽ thấy: có
những vườn cây khả ái và những vầng lửa lẫn lộn
chuyển xoay. Nếu thấy cảnh tượng ấy mà sinh lòng vui
vẻ đi đến đó, tức là đầu thai vào đạo A-tu-la.
Nếu nghiệp cảm của kẻ
chết sắp sinh vào đạo súc sinh thị họ tự cảm thấy có
những núi non hang hố, hay có những vực sâu hiện ra
trước mắt; nếu muốn đi vào trong đó, tức là đầu thai
vào đạo súc-sinh.
Nghiệp cảm của kẻ
chết nếu sắp sinh vào đạo Ngạ quỷ thì họ tự thấy có
một bãi sa-mạc không cây cối, hoặc có những hang hố
cỏ cây khô héo... đấy là cảnh tượng của ngạ-quỷ, nếu
sinh vào trong đó thì luôn luôn đói khát và hết sức
khổ sở.
Chủng loại của quỷ
thú rất nhiều, không thể kể xiết được. Nhưng đại
khái có thể chia làm hai loại là: quỷ có oai-đức và
quỷ không có oai-đức. Quỷ có oai-đức, cũng gọi là
quỷ có thế lực; vì đã có thần-thông lại giàu của
cải. Tuy ở trong loài quỷ nhưng không bị đói khát.
Như quỷ Dạ-xoa quỷ Cưu-bàn-trà. Loài không có oai
đức thì đại khái chia làm ba loại: a/ loại ít đói
như quỷ hy-tự (mong cầu người ta thờ cúng), quỷ
hy-khí (mong cầu đồ vật người ta vất bỏ để mà ăn).
b/ Loại đói nhiều, như quỷ chàm-mao (lông hôi thối),
quỷ đại-anh (thân đầy lở lói). c/ Loại hoàn-toàn đói
như quỷ cự-khẩu, quỷ châm-yết: cổ như kim, xú-khẩu:
miệng rất hôi thối). Đến như loại quỷ có oai-đức, vì
đời trước có làm việc bố-thí cho nên khi chết cảïm
được đón rước long trọng và hưởng thọ cảnh vui, như
khi ở đời được làm quan tước, lấn áp nhân dân, trị
dân không đúng phép, nhưng biết đem của cải mà
bố-thí; thì chết rồi đoạ vào loài quỷ mà làm quỷ
Cưu-bàn-trà. Quỷ ấy có thể biến làm cảnh giới
ngũ-trần vui sướng để hưởng thọ. Còn những kẻ tính
tình hay giận hờn, say đắm rượu thịt, nhưng lúc sống
còn hay làm việc bố-thí thì sau khi chết rồi, đoạ
vào loài quỷ Địa-hành doạ-xa (địa hành: đi đất) luôn
luôn được nghe những âm-nhạc vui vẻ và được ăn uống
(như trong kinh Chính-pháp niệm-xứ đã nói rõ, ở đây
không thể chép hết được).
Nghiệp cảm của người
chết nếu sẽ sinh vào địa-ngục thì bấy giờ bỗng nghe
có những khúc ca hết sức bi ai buồn bã; nếu họ đi
vào trong cảnh ấy, thì thân không được tự do, hoặc
bị xua đuổi vào trong đó mà không có cách gì ngăn
cản được. Trong cảnh ấy (địa-ngục) mịt mù tối tăm,
nhà cửa hoặc sắc đen hay sắc trắng. Dưới đất thì có
hang hố sâu thẳm, đường xá mịt mờ, hoặc là bị những
luồng lửa nung đốt, hoặc bị giá lạnh ngâm thân; có
vô số điều khổ sở, chịu khổ ở trong ấy cũng trải qua
nhiều kiếp nhiều đời, chẳng biết đến bao giờ ra khỏi
được.
Nếu nghiệp cảm của
người chết sẽ sinh vào địa-ngục, thì cảm thấy trong
thân mình như bị gió lạnh lùng áp bức. Và họ tự
thấy: Những ngọn lửa bồng bột của địa-ngục bốc lên,
vì ưa sự ấm áp nên vội đi vào trong đó. Nếu kẻ chết
sẽ sinh vào cảnh dịa-ngục đại hàn, thì trước hết cảm
thấy trong thân mình như chạm phải luồng gió nóng,
hay bị lửa hồng nung đốt, cho nên khi hơi mát trong
địa-ngục Đại-hàn bốc lên, thì họ cảm thấy sảng khoái
dễ chịu. Vì ưa mát mẻ vội vàng đi vào trong cảnh ấy,
tức là bị bó buộc không thể nào tránh thoát được
nữa.
Lại nữa, nếu lúc đang
sống còn, trong khi gây nghiệp, thường có bạn bè
giúp đỡ; thì khi lâm chung sẽ thấy bạn bè đồng
nghiệp với mình ngày trước hiện ra trước mắt. Khi đó
vì xúc động đến cảm-hứng ngày xưa nên vội vàng chạy
đến trong cảnh đó. Nhưng khi đã đến rồi thì cảnh ấy
hoàn-toàn thay đổi và phải chịu mọi điều khổ sở.
“Trong khi thấy những
cảnh tượng như trên, phải tự giữ vững tâm chí, chớ
nên vội vàng đi đến, cần phải chăm lòng cung kính
đức Phật A-di-Đà bên thế-giới Cực-lạc để cầu ngài
đến cứu-độ cho mình là hơn.”
Thiện-tri-thức phải
theo như trên mà khai thị bảy phen, để cho họ được
vãng-sinh Cực-lạc. Bởi vì thân trung-ấm có được tính
ghi nhớ phi thường, so với lúc sống còn có thể mạnh
hơn gấp mười. Tuy khi đang sống còn chỉ là tầm
thường ngu độn, nhưng khi đã vào giai đoạn trung-ấm
thì nhờ nghiệp lực mà có cái sáng suốt phi thường.
Cho nên Thiện-tri-thức nên theo như những lời trên
mà khai thị, thì quyết định có công hiệu. Nhưng hoặc
thời họ chưa đủ tín nguyện để xu hướng về
Tây-phương, song nhờ ở sức niệm Phật, cũng có thể
cải tạo được ác thú mà sanh lên nhân-đạo hay
thiên-đạo. Cho nên công đức niệm Phật quyết không
luống uổng.
CHUYỂN
SINH VÀO LOÀI BÀNG SINH
Nghiệp
cảm của kẻ chết nếu sẽ sinh vào loài bàng sinh, thì
đại-khái có thể chia ra bốn loài là: Thai, noãn,
thấp, hoá.
1.- Đoạ vào thai sinh
và noãn sinh - nếu người nào lòng xan-tham tật-đố
nặng nề, thì sẽ đầu thai làm thân các loài như: chó
đói... (thai sinh). Còn ai lòng sân-hận quá nặng,
thì đoạ làm loài rắn rết bò cạp... (trong các loài
nầy hoặc thai-sinh hoặc noãn-sinh không nhất định).
Còn người nào lòng dâm dục nặng nề, thì đoạ làm loài
uyên ương chim tước, chim cáp v.v... (Vì những loài
nầy dục tính nặng nề lắm). Cho đến người nào tính
hay ưa chơi bời lung lạc, thì đoạ làm loại vượn loài
khỉ v.v... (thuộc về thai sinh).
Tóm lại, cội gốc của
tội lỗi là do ở ngu si mà ra.
Lại nữa, có khi đối
với chỗ mình sẽ sinh đến, thì bỗng thấy những loài
hữu tình đồng loại vừa ý, nên vội vàng chạy đến. Tuy
trong các loài nầy cũng nương theo nhân duyên hoà
hiệp của cha mẹ mà đầu thai, nhưng những điều-kiện
câu thúc so với nhân đạo thì có phần giản dị hơn
nhiều; cho nên rất dễ đoạ vào.
2.- Thấp sinh. - Loài
thấp-sinh (là nương vào chỗ thấp khi mà được sinh
thân) thì có khi vì ngửi được hương vị của chỗ mình
sắp đến thọ sinh, sinh lòng ưa đắm, mà liền đến
nương vào đó để thọ sinh (Hương vị: đại khái như chỗ
ẩm thấp, bùn lầy nhơ nhớp, lấy cái đó làm tự thể.
Trong đó không có tính huyết của cha mẹ hoà hiệp).
Đi đến nương vào chỗ ẩm thấp để thác sinh hoặc là bạ
vào vật gì mục nát, hoặc là phân bón v.v... tuỳ theo
nghiệp lực của mình mà đến gần gủi ưa đắm thác sinh.
3.- Hoá-sinh.- Tức
như loài rồng và loài chim kim-si, cũng là gốc ở
trong bốn loài: thai, noãn, thấp, hoá mà ra; nhưng
nó là loài hoá-sinh đặc biệt. Sự hưởng thọ của nó
sung sướng như các cõi Trời.
Trung-ấm-thân nếu
thác sinh trong loài nầy, thì được cảm-thọ cảnh giới
sung sướng, đồng như cõi trời không khác. (những
loài nầy còn thuộc về súc sinh, nó là một trong ba
ác đạo; vẫn không khỏi sinh tử luân-hồi và chịu
nhiều khổ não khác).
NHỮNG
ĐIỀU KIỆN CẦN PHẢI ĐỦ TRONG KHI TIẾN BẠT
Y theo
trong Mật-giáo (Các kinh điển về Mật-tông) để nói,
thì thành tựu Bồ-đề có thể chia ra ba bực: 1. THƯỢNG
CĂN, thì tức thời thủ-chứng (thành Phật) 2.- TRUNG
CĂN, thì sau khi chết rồi mới được siêu thăng. 3.-
HẠ CĂN, thì đi vào giai đoan trung-ấm mới được thành
tựu. Cho nên nếu thân thuộc biết vì họ mà làm những
việc công-đức thì chắc chắn có công hiệu, nhưng phải
lấy niệm Phật làm chủ. Vì thân trung-ấm đủ có thần
thông hữu lậu, cho nên sau khi đã trải qua nhiều
cảnh tượng hãi hùng hăm doạ, áp bức; họ sẽ tự nghỉ
rằng: "Có những pháp lành gì để cứu ta được ra
khỏi?". Bởi thế nếu lúc đó có người chỉ bảo cho họ
niệm Phật để cầu siêu thăng, thì họ sẽ hết lòng vâng
lãnh vui thích ưa nghe, cho nên hiệu lực không thể
tưởng tượng. Nhưng cần phải đúng ba điều kiện sau
đây:
1.- TRAI GIỚI, cả nhà
ai nấy đều phải nhất luật giữ gìn trai giới, dù có
khách khứa cũng không được thiết đãi rượu thịt;
ngoài ra các thứ ô uế khác đều phải dè dặt giẵ gìn.
2.- THÀNH KHẨN, đối
với kẻ chết phải hết lòng thành kính, nghỉ nhớ để
cầu cảm thông, không nên chỉ trang sức bề ngoài mà
thôi, và cũng không nên giao phó công việc ấy cho kẻ
khác làm. Theo như trong bộ bút ký của ông đồ
Trường-Khanh đời Tống có chép: "Ở Thông-châu có ông
Tư-Mã Dưỡng-Khiêm, đã từng vì vong Phu-nhân (tức là
người vợ chính đã chết) mà làm rất nhiều Phật-sự.
Nhưng vài năm sau người tiểu thiếp của ông, một hôm
bỗng chết, cách một đêm mới tỉnh lại, mà than khóc
bảo với Tư-Mã rằng: "Thiếp chết đi vào nơi Minh-phủ,
thấy vong phu-nhân bị giam trong một ngục tối,
phu-nhân nói với thiếp rằng: "Ở đây khổ sở không thể
nói được. Vậy xin gấp gấp vì tôi mà làm việc
công-đức để cứu độ". Thiếp hỏi: "Vậy sau khi
phu-nhân đã chết rồi, Tướng-công đã từng vì Phu-nhân
làm nhiều Phật-sự, đều là vô ích cả sao?" Phu-nhân
đáp: "Chính thế. Vì việc tụng kinh sám-hối vẫn phải
chọn những nhà sư hữu-đạo, gia chủ phải trai giới
chí thành thì mới có thể diệt tội thêm phúc được.
Nhưng đây thì trái lại; trước kia thầy Sa-môn thì
tụng kinh nhà trên, mà Tướng-công thì đánh cờ nhà
dưới, như vậy thì có ích gì?" Tư-Mã nghe nói cũng
khóc oà lên. Và sau đó mới chọn những danh sư có
giới đức, sửa sang rất chỉnh đốn, làm Đạo-tràng luôn
ba đêm ngày".
Đấy chính là những
việc Trường-khanh đã mục kích. Mà cũng là việc của
kẻ con hiền chảu thảo phải nên biết vậy.
3.- TUYỂN TRẠCH, đối
với Pháp-sư phải chọn những bậc đạo hạnh chân chính
mà cầu thỉnh; ngoài ra những hạng phóng đãng phá
giới và chỉ biết nhìn đến tài lợi mà thôi thì đều
không nên cầu thỉnh vậy.
Những hạng Pháp-sư
đối với giới luật tịnh hạnh cong thiếu phạm, hoặc
hoài nghi không đứng đắn và ngông cuồng... thì
trung-ấm thân vì đã có thần-thông, cho nên họ biết
đó là lừa gạt họ; tức là họ sẽ thất vọng mà sinh ra
hối hận. Vì hối hận nên sinh ra tức giận rồi phải
đoạ vào khổ thú. Cho nên Thiện-tri-thức phải dùng
những lời sau đây mà khai thị:
“Phải biết rằng thân
của bậc Tăng-Già tên... tức là thân của Phật. Người
phải khởi ý tưởng rằng chỉ nương theo pháp chứ không
nương theo người. Mặc dầu người tác pháp đó có lầm
lẫn thế nào, đều là do cái lỗi của ý thức nơi ta
chưa được trong sạch đó thôi. Tỷ như người soi
gương, vì mặt mình không sạch, nên cái bóng trong
gương cũng nhơ bẩn. Vậy thì biết chắc rằng sở dĩ khi
tác pháp có sai lầm, đều do tâm niệm của ngươi chưa
trong sạch vậy. Ngươi nên khởi tưởng như thế, và
phải hết lòng cung kính ái mộ thì làm phúc gì cũng
đều biến thành Phật sự thanh-tịnh và vẫn không mất
lợi của chúng mình.”
Trong gia quyến nếu
muốn rước Pháp-sư để làm Phật sư, thì nên đối trước
bàn linh mà chỉ giáo bảy phen như thế thì dù trong
khi làm Phật sự có đôi chút sai lầm, cũng vẫn được
lợi-ích.
VÃNG-SINH VỀ TỊNH-ĐỘ
Những hạng
đã sẵn có tu theo Tịnh-nghiệp, thì khi lâm-chung họ
liền đi đến chỗ họ muốn đến, tức là vãng-sinh
Tịnh-độ. Không còn phải trải qua những cảnh giới như
trước đã nói. Nhưng trong khoảng 49 ngày, nếu ta
biết vì họ mà niệm Phật thế, thì cũng có thể tăng
thêm phẩm-vị không đến nỗi uổng công.
Đến như việc
vãng-sinh Tịnh-độ, thật ra thì Tịnh-độ trong mười
phương đều nên vãng-sinh; nhưng chỉ có thế-giới
Cực-lạc là có cơ duyên đặc biệt với chúng-sinh...
xưa nay số người được vãng sinh không thể kể xiết.
(Trong khi vãng-sinh
thì chỗ cảm thấy có nhiều cách, nay nương theo kinh
Quan-vô-lượng-thọ mà chia làm chín phẩm, để thuật
lại như sau:
1.- THƯỢNG PHẨM
THƯỢNG SINH, thì cảm thấy có Tam-thánh (Di-Đà,
Quán-Âm, Thế-Chí) và vô số hoá Phật, trăm ngàn
đại-chúng Tỳ-Kheo, và vô số chư Thiên cùng cung điện
thất-bảo hiện ra trước mắt; dùng đài Kim-cang
đem đến để đón tiếp. Khi đó liền sinh về Cực-lạc,
được nghe Phật nói pháp, chứng được
Vô-sinh-pháp-nhẫn. Sau đó tuỳ theo ý mình mà đi khắp
mười phương Phật-độ, và theo thứ tự được Phật
thọ-ký.
2.- THƯỢNG PHẨM TRUNG
SINH, cũng cảm thấy có Tam-thánh và vô số Đại-chúng
làm quyến thuộc doanh-vây, dùng đài Tủ-kim đến đón
rước. Thấy rồi liền được sanh về trong ao thất-bảo
bên cõi ấy; trải qua một đêm thì hoa mới nở, và được
thấy Phật.
3.- THƯỢNG PHẨM HẠ
SINH cũng cảm thấy có Tam-thánh và các vị Bồ-tát năm
hoa sen vàng chung cùng với các vị hoá Phật đi đến
đón rước. Thấy rồi liền được sinh về trong ao
thất-bảo bên cõi kia; trải qua một ngày một đêm hoa
sen mới nở, và phải nở trong thời hạn bảy ngày mới
được thấy Phật.
4,- TRUNG PHẨM THƯỢNG
SINH, được cảm thấy Phật A-Di-Đà và các vị Tỳ-Kheo
làm quyến thuộc doanh-vây; phóng ra hào-quang sắc
vàng, hiện ra trước người đó để tỏ lời khen ngợi.
Người ấy sẽ ngồi trên đài Liên-hoa mà sinh về
Cực-lạc. Sinh rồi hoa sen liền nở, được nghe pháp-âm
nhiệm-mầu, chứng được quả A-la-hán (A-la-hán: Nghĩa
là Bất sinh: Không còn luân-hồi sinh-tử).
5.- TRUNG PHẨM TRUNG
SINH, cũng thấy có Phật A-Di-Đà cùng các quyến thuộc
phóng ra hào quang sắc vàng; nắm hoa sen thất-bảo đi
đến đón rước. Người chết thấy rồi liền sinh về trong
ao Thất-bảo trong cõi ấy; trải qua bảy ngày hoa sen
mới nở, khi đó khen ngợi đức Di-Đà Thế-tôn, nghe
pháp sinh lòng vui vẻ và chứng được quả Tu-đà-hoàn
(Tu-đà-hoàn: Nhập-lưu, tức là đã được vào hạng
Thánh).
6.- TRUNG PHẨM HẠ
SANH, căn-cơ của hạng này rất kém, chỉ nhờ nghe lời
Thiện-tri-thức chỉ giáo, mà vui vẻ tin và thực hành;
cho nên khi lâm-chung chỉ nhờ ở nguyện lực mà thôi,
chứ không thấy được cảnh gì. Nhưng khi đã sinh về
cõi ấy, trải qua bảy ngày mới được gặp hai vị
Bồ-tát: Quán-thế-âm và Đại-thế-Chí, được nghe pháp
âm, rồi cũng chứng được quả Tu-Đà -Hoàn.
7. HẠ PHẨM THƯỢNG
SINH, thì cảm thấy hoá-thân của Phật, và hoá-thân
của đức Quán-thế-Âm và Đại-thế-Chí đến rước mà thôi;
nhưng cũng được nương trên hoa sen Thất-bảo, theo
hoá-thân mà sinh về trong ao Thất-bảo bên cõi ấy.
Trải đến 49 ngày hoa nở và được hai vị Bồ-tát ấy nói
pháp cho nghe. (Hoá phật: tức là hoá thân của Phật;
là một trong ba thân của Phật).
8. HẠ PHẨM TRUNG
SINH, thì trước hết thấy có lửa dữ trong địa ngục
bốc lên sau lại bỗng hoá thành luồng gió mát để nâng
đưa Thiên-hoa; trên hoa ấy có hoá Phật và Bồ-tát đi
đến đón rước người ấy. Khi đã sinh về trong ao
thất-bảo bên cõi ấy rồi, phải trải qua 6 kiếp mới
được hoa nở, và thấy hai vị Bồ-tát nói pháp cho
nghe. (Kiếp, nói cho đủ là kiếp-ba; 6 kiếp tức là 6
thời hạn).
9. HẠ PHẨM HẠ SINH,
thì thấy có hoa vàng như vầng mặt nhật hiện ra trước
mắt, khi đó liền được vãng-sinh. Sinh rồi phải ở
trong hoa sen đủ 12 kiếp, mới được hoa nở và được
thấy hai vị Bồ-tát nói pháp cho nghe.
Ba loại vừa nói trên
đây (tức là HẠ PHẨM THƯỢNG SINH) đều do
Thiện-tri-thức chỉ giáo mà phát tâm niệm Phật và tự
mình biết sám-hối mà cảm thấy được.
Nói tóm lại, tuỳ theo
trình-độ và năng-lực mà chia ra có chín phẩm cao
thấp không đồng nhưng khi đã được sinh về Tịnh-độ;
thì đều được khỏi sinh-tử luân-hồi và hoặc chậm hoặc
mau đều thành Phật quả vậy.
NHỮNG
TIÊN TRIỆU ĐƯỢC SINH VỀ TỊNH-ĐỘ
Bậc đã
được vô-sinh pháp-nhẫn (tức là chứng được thực tính
bất diệt của muôn pháp) thì đới với Tịnh-độ trong
10 phương, đều có thể tuỳ theo ý muốn của mình mà
vãng-sinh. Còn những kẻ phàm-phu hoặc nhờ nguyện lực
của mình, hay nhờ thần lực của Phật gia bị mà được
sinh về Tịnh-độ; thì đều thuộc về hạn "ĐỚI NGHIỆP
VÃNG-SINH" (Nghĩa là nhờ ở nguyện lực của Phật mà
được sinh về Tịnh-độ, nhưng chưa trừ sạch hoặc
nghiệp; nên gọi là ĐỚI NGHIỆP VÃNG-SINH). Hai cảnh
giới nầy tuy có cao thấp không đồng nhau nhưng chỗ
siêu-việt cảnh giới Ta-bà thì vẫn là một.
Những tiên triệu
trong khi lâm chung tuỳ theo mỗi người mà cảm thấy
có khác nhau; nhưng không ngoài tịnh-cảnh hiện ra
trước mắt. Hạng thù thắng thì thấy có y-báo,
chánh-báo trang-nghiêm đều đầy đủ. Hạng kém hơn thì
chỉ thấy Phật và Bồ-tát. Hạng kém hơn nữa, thì chỉ
thấy hoa sen. Nhưng những tiên triệu ấy, đều không
dính dấp gì với mọi người chung quanh, nên họ không
thấy được. Nếu nói đến những tiên triệu mà mọi người
chung quanh cũng được cảm thấy; thì những di-tích
vãng-sinh của các bậc thánh-hiền xưa nay ta có thể
khảo-cứu mà chia làm 10 món thoại ứng:
1/ NHẤT TÂM BẤT LOẠN:
Tâm niệm được chăm chú vào một cảnh.
2/ BIẾT TRƯỚC THỜI
CHIẾT ĐÃ ĐẾN.
3/ TỊNH NIỆM KHÔNG
MẤT, tức là tâm niệm chỉ ưa cõi Tịnh-độ và quyết chi
bỏ cõi Tu-bà.
4/ BIẾT TRƯỚC MÀ LO
TẮM RỬA VÀ THAY ÁO QUẦN.
5/ TỰ MÌNH HAY NIỆM
PHẬT HOẶC NIỆM CÓ TIẾNG HAY NIỆM THẦM.
6/ NGỒI NGAY THẲNG VÀ
XẤP TAY MÀ CHẾT.
7/ CÓ MÙI THƠM LẠ
KHẮP NHÀ.
8/ CÓ HÀO-QUANG SÁNG
SOI VÀO THÂN THỂ.
9/ NHẠC TRỜI TRỖI
SÁNG SOI VÀO THÂN THỂ.
10/ TỰ NÓI RA BÀI KỆ
ĐỂ KHUYÊN ĐỒ-CHÚNG (đệ-tử).
Nếu cả 10 món điềm
tốt trên đây đều được đầy đủ, thì phẩm vị chắc chắn
là cao. Còn ai chỉ đủ một vài điềm tốt cho đến 5
điềm tốt mà thôi, thì cũng được vãng-sinh.
Đến như khi
nghiệp-thức rời bỏ thân này, thì không phải đồng
thời toàn thân đều lạnh, có khi ở trên thân lạnh
trước, rồi dần dần lạnh lên. Như có bài kệ đã nói:
"Nghiệp lành, dưới lạnh trước; nghiệp dữ trên lạnh
trước. Tim còn lưu chút hơi ấm rất lâu, các chỗ khác
hơi ấm dần dần hết. Người được xuất-thế thì trên
trán lạnh rốt sau. Sinh lên trời, thì nơi mặt lạnh
rốt sau. Sinh lên trời, thì nơi mặt lạnh sau. Sinh
vào cõi người thì nơi rốn lạnh sau. Sinh vào Ngạ-quỷ
thì hai bên bụng lạnh sau. Sinh vào loài Bàng-sinh
thì đầu gối lạnh sau ; (Bàng-sinh : Những loài thân
thể nằm ngang như trâu, bò v.v... Sinh vào Địa ngục
thì dưới chân lạnh rốt sau".
Cứ theo đây chứng
nghiệm thì quả báo tương lai của người chết, ta cũng
có thể dự đoán mà biết được trước vậy.
(Theo ý-nghĩa trong
bài kệ trên đây để giải-thì người nghiệp lành ở dưới
thân lạnh trước, là vì nghiệp thức lưu chuyển ở trên
; cho nên dưới thân lạnh trước, trên thân lạnh sau.
Còn kẻ ác nghiệp thì nghiệp thức lưu chuyển ở dưới ;
cho nên trên thân lạnh trước, dưới thân lạnh sau.
Đến như hàng xuất-thế, thì trên trán lưu hơi ấm rất
lâu; tức là triệu chứng sinh về Tây-phương vậy).
Về tiên-triệu của các
thú, sở dĩ có khác nhau, là vì nghiệp nhân lành, dữ
của chúng-sinh gây ra từ trước mà cảm được. Đến khi
lâm-chung, thì nghiệp nhân ấy sôi nổi trong tâm
thức. Nghệp nào mạnh, thì sẽ lôi vào cảnh-giới khác
tương đương với nó để thọ báo. Như nghiệp lành mạnh,
thì sẽ hiện ra cảnh-giới sung sướng ; nghiệp dữ
mạnh, thì hiện ra cảnh-giới khổ sở.
Cảnh-giới sung sướng
là tiên-triệu sinh lên Thiên-thú ; cảnh-giới khổ sở
là tiên-triệu sinh vào Ác-thú. Nếu tới trong hai
cảnh-giới khổ, vui đó để phân-biệt, nó sẽ lôi ta đi
đến đâu, để chia làm từng điều mục mà nói ; thì
nương vào kinh THỦ-HỘ-QUỐC-GIỚI-CHỦ để thuật lại
những điều cốt yếu như sau đây:
A) Nếu nghiệp-duyên
sẽ lôi cuốn vào Địa-ngục, thì sẽ thấy có 15 món
tiên-triệu : 1.- Gặp phải con trai, con gái và bà
con đều nhìn kẻ chết bằng cặp mắt hung dữ ghét bỏ.
2.- Người chết đưa hai tay lên mà rờ mò giữa
hư-không, 3.- Thiện-tri-thức dầu có chỉ bảo, họ cũng
không chịu tuỳ thuận. 4- Kẻ chết kêu gào than khóc.
5.- Đi ra đại-tiện và tiểu-tiện mà vẫn không hay
biết gì. 6.- Nhắm nghiền đôi mắt không mở. 7.-
Thường hay che úp mặt mày. 8- Nằm nghiên mà ăn uống.
9.- Mình mẩy miệng mồm đều hôi hám. 10.- Gót chân
đầu gối luôn luôn rung rẩy. 11.- Sống mãi xiên xẹo.
12.- Mắt bên trái hay động đậy, ta gọi là máy mắt.
13.- Hai mắt đỏ ngầu. 14.- Úp mặt mà nằm. 15.- Thân
hình go rút và tay bên trái chắm xuống đất mà nằm.
B) Nếu phải bị lôi
vào trong Ngạ-quỷ, thì có 8 mòn tiên-triệu : 1.- Ưa
liếm môi miếng. 2.- Thân nóng như lửa. 3.- Thường lo
đói khát và hay nói đến việc ăn uống. 4.- Mắt thường
trương lên mà không nhắm. 5.- Hai mắt khô khan như
mắt chim gỗ. 6.- Không có tiểu-tiện nhưng đại-tiện
thì nhiều. 7.- Đầu gối bên phải lạnh trước. 8.- Tay
bên phải thường nắm lại, tức là biểu hiện ôm lòng
bỏn sẻn.
C) Người chết nếu bị
lôi vào bàng-sinh, thì có 5 môn tiên-triệu : 1.- Yêu
mến vợ con, đắm đuối không bỏ. 2.- Ngón tay và ngón
chân co quắp. 3.- Khắp trong thân mình toát ra mồ
hôi. 4.- Tiếng nói ra khò khè. 5.- Miệng thường ngậm
đồ ăn.
D) Nếu được sinh vào
nhân-đạo thì có 10 món tiên-triệu : 1.- Đến khi chết
hay khởi niệm lành, tức là lông dịu-dàng, lòng
phúc-đức, lòng vui-vẻ, lòng vô tư. 2.- Thân không
đau khổ. 3.- Ít sự nói phô, chăm lòng nhớ nghĩ cha
mẹ. 4.- Con trai, con gái đều đem lòng thương mếm và
gần gũi, coi như việc thường, không ưa không ghét.
Tai thường muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bầu
bạn. 5.- Đối với việc lành hay việc dữ, lòng không
lầm loạn. 6.- Tâm tính chính-trực, không đua nịnh.
7.- Rõ biết bà con bạn bè giúp đỡ cho ta. 8.- Thấy
bà con chăm sóc sinh lòng vui mừng. 9.- Di-chúc việc
nhà, có cất đặt của cải ở đâu thì mách bảo. 10.-
Sinh lòng tịnh-tín, thỉnh Phật, Pháp, Tăng đến, để
đối diện quy-y.
E) Nếu nghiệp
duyên sẽ lôi lên thiên-thú cũng có 10 món
tiên-triệu:
1.- Khởi lòng thương mến. 2.- Phát khởi thiện niệm.
3.- Lòng thường vui vẻ. 4.- Chánh niệm được rõ ràng.
5.- Không có những điều hôi hám. 6.- Sống mũi không
xiên xẹo. 7. Lòng không giận dữ. 8. Của cải vợ con
bà con lòng không lưu-luyến. 9.- Mắt được trong
sáng. 10.- Ngửa mặt lên mỉm cười mà nghĩ tưởng thiên
cung đến rước ta.
Năm khoảng vừa kể
trên đây, không phải nhất định mỗi mỗi đều phải hiển
hiện; chỉ có những điều-kiện thiết yếu sẽ được hiển
hiện mà thôi. Ta nên xét cho kỹ-lưỡng : Như hai thú
Nhân và Thiên, thì ý-thức của họ đều trong sạch, nên
gọi là khởi Thiện-niệm. Nhưng một bên chỉ nghĩ đến
Thiên-cung mà lãng bỏ việc đời ; một bên thì thương
nhớ bà con mà dặn dò việc nhà. Như thế thì rất khác
nhau vậy. Còn hai thú Địa-ngục và Ngạ-quỷ, thì
ý-thức của họ đều mê man nên hiển hiện ra cảnh khổ.
Nhưng một bên thì rất trái với từ hoà, thay đổi
thái-độ ; một bên thì nóng nẩy đói khát đáng thương,
như thế cũng rất khác nhau vậy. Đến như thú
bàng-sanh thì thân thể đã ra mồ-hôi, tiếng tăm khàn
nghẹt ; vẫn còn thương tiếc bà con. Như trong […]
.Nếu sắp sinh vào loài người, thì có trạng-thái thế
này : Đưa tay ra giữa hư-không mà bắt nắm, hoặc để
kháng-cự vật gì chướng-ngại, so với tiướng trạng
thác sinh vào Địa-ngục thì họ cũng đưa tay lên mà rờ
mò giữa hư-không, hai triệu-chứng ấy vẫn là giống
nhau. Lại có người đến khi chết thì tâm hồn thành
vô-ký (vô-ký : không hiểu lành dữ là thế nào) thì
tình hình khổ vui không thể thấy được. Hạng này vẫn
là số đông, nếu muốn dự đoán hạng ấy sẽ sinh vào chỗ
nào, thì ta phải đợi đến khi bỏ hơi ấm trong thân,
mới có thể quyết đoán được. (Nên coi theo bài kệ ở
trên kia)
CÁCH LÀM
VIỆC PHÚC
Cái
yếu điểm của việc phúc, phải lấy hạnh bố-thí làm gốc
; hoặc đem di-sản của kể chết thì tốt hơn hết, nếu
không thì lấy của cải của bà con bạn bè mà giúp vào
cũng được, để làm việc phúc đức ; thì người chết
chắc chắn được ích lợi. Như trong kinh VÔ-THƯỜNG đã
nói : "Nếu như sau khi tính mạng đã lâm-chung, thì
nên lấy y-phục mới […] chết, hoặc lấy những vật thụ
dụng của kẻ còn sống ; chia làm ba phần, vì người
chết đó mà cúng dường Phật-đà, Đạt-ma, và Tăng-già
(Tam-bảo); Nhờ đó mà người chết dù cho nghiệp nặng
cũng trở thành nhẹ và được công-đức phúc lợi
thù-thắng. Không nên đem những y-phục tốt đẹp mà mặc
cho người chết, để đem đi tống táng. Vì sao? - Vì
không có lợi ích vậy".
Đấy là cái lệ thường
làm ngày xưa bên Ấn-độ, đến như hiện-đại, thì nên
đem di-sản ấy mà đổi lấy tiền tệ ; để dùng
trang-nghiêm Phật-tượng, ấn-tống kinh-điển, cúng
dường Tăng-già. Và làm những việc như : Tế-bần,
phóng sinh, hoặc làm việc gì có ích cho xã-hội.
Nhờ những công-đức
làm việc phúc đó, thì người chết dù đọa vào Ngạ-quỷ,
cũng được hưởng rất nhiều lợi-ích. Trong kinh
Ưu-bà-Tắc có nói : "Nếu người cha chết rồi bị đọa
vào trong Ngạ-quỷ, mà người con vì họ làm những việc
phúc đức, nên biết người cha liền được hưởng thọ.
Nếu được sinh lên trời, thì họ không nghĩ đến vật
dụng trong cõi người nữa sao? - Vì trên cõi trời đã
được đầy đủ bảo vật thù-thắng vậy. Nếu phải đọa vào
Địa-ngục, thì thân họ phải chịu bao nhiêu khổ não,
cũng không được rảnh rang để nhớ nghĩ, vậy nên không
được hưởng thọ. Đọa vào súc sinh, nên biết cũng như
thế. Nếu hỏi tại sao ở trong ngạ-quỷ liền được hưởng
thọ lợi ích ; thi vì người ấy sẵn có lòng tham lam
bỏn sẻn, cho nên phải đọa vào Ngạ-quỷ. Những khi đã
làm Ngạ-quỷ, thường hay hối hận tội lỗi ngày trước,
suy nghĩ muốn được lợi ích, bởi thế cho nên được
hưởng".
Đấy là nói rõ chỗ lợi
của quỷ thú, còn đối với công phu làm việc phúc thật
không luống uổng ; vì không những kể chết được
hưởng, mà bà con hiện tại cũng chung phần được
hưởng. Như trong kinh nói : "Nếu như kẻ chết đã thác
sinh vào các đạo khác, nhưng còn bao nhiêu bà con
còn đọa trong Ngạ-quỷ ; nếu có làm việc phúc, tức
thì cũng đều được lợi ích. Vậy nên, người có trí,
nên vì Ngạ-quỷ mà siêng năng làm công việc
công-đức".
(Trong khi lấy di sản
của kẻ chết mà làm việc phúc đức, để cứu độ cho họ ;
trước hết phải xét rõ người ấy lúc còn sống, tính họ
có bỏn sẻn hay không. Nếu lúc sốn còn, tính họ hay
bỏn sẻn, thì khi thấy được bà con đem di-sản mà làm
Phật-sự hay bố-thí, tất họ thấy vật dụng của họ bấy
giờ thành sở-hữu của kẻ khác, liền sinh lòng giận
hờn tiếc nuối. Nhân đó mà khởi lên tà niệm, liền bị
nghiệp lực dắt vào ác-đạo. Cho nên Thiện-tri-thức
hay là gia-quyến của họ phải khai-thị cho họ những
lời như sau đây.
"Ngươi tên... Nay ta
vì ngươi mà đem di-sản của ngươi làm Phật-sự, hay
làm việc phúc đức, làm như thế, tức là đem của cải
hữu-lậu làm việc vô-lậu; nhờ ở công đức này, sẽ được
siêu sinh Tịnh-độ. Ngươi phải chăm lòng thành kính
niệm Phật A-Di-Đà cầu Ngài đến cứu - độ cho. Đối với
di-sản cần phải rời bỏ chớ nên bận lòng, phải hoàn
toàn không mến tiếc tham đắm đê-tiện mới được. Vì
những thế-tài (Tài sản thế-gian) dù có hoàn toàn để
lại cho ngươi, ngươi cũng không thể […]
được nữa. Như thế đối với ngươi nó đã thành vô dụng
rồi vậy"
CÁCH SẮP
ĐẶT CÚNG TẾ
Về cách sắp
đặt cúng tế, thì rất kỵ việc sát sinh, vì việc sát
sinh càng làm liên lụy khổ quả cho người chết. Cho
nên thân trung-ấm nếu một phen thấy được việc ấy tức
thì bảo thôi ; như ngặt nỗi âm, dương cách trở, nên
không thể nào nghe được. Vì thế kẻ sống còn, vẫn trở
lại làm sát sinh như thường. Đối với kẻ chết không
thể ngăn nỗi sân niệm khởi lên. Đã thế nếu một phen
sâu tâm khởi lên, liền phải đọa vào địa-ngục ; cho
nên người sắp đặt cùng tế cần phải chú ý. Nếu muốn
cúng tế, thì nên dùng đồ chay, hương, hoa, sữa, bánh
và đồ trái, chờ dùng những đồ nế-tạp và sát hại sinh
vật. Như trong kinh Địa-tạng đã nói : "Làm những
việc sát hại, cho đến bái tế quỷ thần ; đã không có
một mảy may phúc đức, có thể lợi cho kẻ chết, mà còn
kết thêm tội lỗi càng sâu nặng. Dù cho kẻ chết về
đời sau của họ, hoặc trong đời này có thể chứng […]
hoặc sinh lên Trời ; nhưng khi làm chung bị bà con
làm ác-nhân ấy (tức là nhân sát hại) cũng làm cho họ
phải liên lụy nhiều bề, chậm sinh về chỗ lành. Huống
chi kẻ chết đó khi sống còn chưa từng làm một chút
việc lành, chỉ một bề nương theo gốc nghiệp mà tạo
tác, lẽ ra phải chịu ác thú, nỡ nào bà con lại gây
thêm nghiệp cho họ ?
Trong luật
Thuận-chánh-lý quyển thứ ba cũng có nói : "Có con
quỷ tên là Hy-tư, nó hành-động được tự-do, có thể đi
khắp các phương dễ dàng cũng như chim bay giữa trời,
qua lại không ngăn ngại. Sở dĩ nó phải đọa làm thân
quỷ, duyên cớ có hai : 1.- Là lúc bình sinh của nó,
mê say theo lối bàn luận của thế tục, chấp rằng :
chết rồi quyết phải thành quỷ. Cho nên luôn luôn
mong mỏi sau khi chết rồi, sẽ được con cháu đem đồ
ăn đến cúng tế. Vì chấp chặt tà-kiến ấy, và nhờ có
căn lành đời trước, nên mới đọa vào loài quỷ này,
luôn luôn mong mỏi thờ cúng, bởi thế nên gọi là quỷ
Hy-tự. 2.- Là lúc bình sinh hay ưa gần gủi giao
thiệp và vì muốn được giàu có, cho nên chỉ biết tích
trữ của cải cho mình, ôm lòng bẩn chật, dù cho dư
dật cũng không chịu bố-thí. Vì ác nghiệp ấy, nên
phải đọa vào loài quỷ này. Luôn luôn vì lòng ưa mến
của cải ở đời, cho nên thường hay nương náu chung
quanh nhà cửa hoặc những nơi nhơ nhớp. Bởi thế, nếu
bà con bạn bè có cúng tế, thì sinh lòng cảm khái và
hối hận, sự bẩn chật của mình ngày trước. Do cái
niệm lành ấy, nên được cái phúc hưởng thọ cúng tế.
Trong kinh Quán-Đãnh
quyền thứ sáu cũng có nói : "Những kẻ trong lúc bình
sinh không làm lành, cũng không làm dữ ; thì sau khi
chết rồi, không có quả báo gì xuất hiện, cho nên sẽ
làm loài quỷ và được tự do. Nhưng loài quỷ này
thường hay nương náu nơi mồ mả của mình, hoặc mồ mả
của kẻ khác ; dựa theo cái dư khi của cốt tuỷ mà
cũng được hưởng thụ. Đến khi xương tuỷ đã mục nát,
thì mất chỗ nương tựa tức là tìm đến chỗ nào xương
tuỷ chưa mục nát và vô chủ để nương tựa. Trong kinh
Chính-pháp-niệm-xứ,[…] thứ 16 cũng nói : "Có một
loài quỷ tên là Hy-vọng, vì trong lúc sống còn, hay
ưa buôn bán tính toán, chẳng kể gì đến phải chăng ;
gạt người lấy của, làm như thế mà tự cho là vừa ý.
Còn những việc bố-thí, thành tín, phúc đức, giới cấm
v.v... thì không bao giờ nói đến. Luôn luôn ôm lòng
bỏn sẻn ganh tị, không ưa gần gủi bạn lành. Cho nên
đến khi lâm-chung phải đọa vào làm quỷ này. Loài quỷ
này mặt mày đen xém, luôn luôn rơi lụy, tay chân lở
loi, tóc tai bù xù, đói khát áp bức; phải chịu bao
nỗi đắng cay, kêu gào thảm thiết. Nếu như con cháu
có lòng nghĩ đến tiên-linh mà cúng tế, thì quỷ này
mới được uống ăn. Ngoài ra không bao giờ được hưởng
thọ.
CÁCH VẬN
CHƯỞNG ĐỂ GIÚP ĐỠ SIÊU THĂNG
Sau
khi hơi thở đã tắt, nhưng thân thể chưa toàn lạnh
hẳn, thì cần phải đến gần một bên tai kẻ chết mà kêu
gọi ; và chuông, khánh phải đánh luôn luôn chớ cho
dừng nghỉ. Nếu như bản thân đã đều lạnh, chỉ có đầu
và […] chỉ có thể biết chắc người chết đó được sinh
về Tây-phương, không phải ngờ vực, và không nên kêu
gọi nữa. Cho nên chỉ vì họ đánh chuông niệm Phật,
mãi cho đế khi hơi ấm ở trên trán đã tản hết, đấy là
điều cần mà thôi.
(Hơi ấm dồn vào dưới
bàn chân, ấy là sa vào địa-ngục. Hơi ấm dồn xuống
đầu gối, tức sinh vào súc-sinh ; hơi ấm dồn vào bụng
là đọa vào ngạ-quỷ ; hơi ấm dồn vào ngực, là chuyển
sinh vào nhân-đạo ; hơi ấm dồn lên giữa chân mày là
sinh lên cõi Trời ; hơi ấm dồn lên trán là siêu sinh
về Cực-Lạc).
Xét biết trên đầu và
trán lạnh trước, còn ngực, bụng, đầu gối và các chỗ
khác hãy còn hơi ấm, thì biết nghiệp thức của kẻ
chết còn ở chỗ dương ấm. Khi đó phải tiếng niệm
Phật, tiếng chuông cứ luôn luôn không ngớt, và nên
mời người dùng phương-pháp vận chưởng (dùng tay mà
vần chuyển) để giúp đỡ cho nghiệp-thức của kẻ chết
được từ nơi chỗ ấm đó mà đi dần lên đến đỉnh-môn
(trán) vì kẻ được sinh về Tây-phương […]
nơi đỉnh-món mà ra.
Phương-pháp vận
chưởng phải đưa hai tay ngang nhau mà chuyển lần, và
phải úp hở trên chỗ ấm, không nên cho động đến thân,
phải cách thân độ nửa tấc. Rồi dùng hai bàn tay xây
trở lên trán mà vận chuyển, thẳng lên cho đến tráng.
Tinh thần của hai con mắt mình phải chăm chú nơi hai
tay và thầm tưởng tượng nghiệp-thức của kẻ chết phải
theo tay mình mà trở kên trên trán để đi. Khi dó
trong miệng thầm khấn rằng: "Nam-mô đại-từ đại-bi
A-Di-Đà Phật, xin ngài đến tiến dẫn cho vong-linh
tên... sẽ từ trên đảnh môn mà ra, mà sinh về thế
giới Cực-Lạc phương Tây ; quyết định vãng-sinh !"
Phải luôn luôn vần chuyển hai tay, và luôn luôn khấn
khứa như thế, và niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà và danh
hiệu Quán-thế-Âm.
Như vậy tinh-thần
chăm chú, tay vần, miệng niệm, cả ba nghiệp đều thi
hành, nếu mỏi, thì đổi người khác luân phiên tiếp
tục. Hoặc nửa ngày hay một ngày, không nên nửa chừng
mà thôi nghỉ. Phải là cho đến khi khắp các chỗ trong
thân đền lạnh hết, […] một chút hơi ấm trên
đỉnh mới thôi. Như thế nghiệp-thức của kẻ chết đã
được hiệu Phật và tiếng chuông […] tỉnh không thôi ;
lại được kẻ vận chưởng […] -thần chăm chú trợ niệm
không nghỉ, thì hoặc chậm hoặc mau, chắc chắn phải
xoay trở lên trên đỉnh-môn, mà được thấy Phật
A-Di-Đà và vãng sinh về Cực-Lạc vậy. Nhưng người chú
nguyện và vận chưởng đó, cần phải mời được những
người tu niệm Phật đã lâu, và sẵn lòng từ-bi thì tốt
hơn cả.
HỒI
HƯỚNG
Nguyện đem
công dức này
Hồi hướng cho tất cả,
Tôi và các
chúng-sinh,
Đều được thành Phật
quả.
Dịch xong ngày mồng
10 tháng 11 Kỷ-sửu, P.L.2512
(Nếu
không sai, thì có lẽ các bạn đang còn bỡ ngỡ với
danh từ Trung-ấm-Thân, mặc dầu với nội dung của cuốn
sách này đã cung cấp cho các bạn thấy rõ trạng thái
và năng lực của Trung-ấm-Thân.
Trong Đạo Phật thường
dùng danh từ Trung-ấm-Thân để chỉ cho năng lực động
tác của con người - hay một sinh vật cũng thế -
trước khi đầu thai và sau khi đã chết (ở giữa thân
trước và thân sau, nên gọi là Trung-ấm-Thân)
Đấy, chúng ta thấy
tương tự như quan-niệm LINH-HỒN của người đời thường
hiểu. Bởi thế cho nên dưới đây chúng tôi xin trích
đoạn văn nói về "CÁI-HỒN" đăng trong báo VIÊN-ÂM có
4 năm thứ nhất. Mong rằng với đoạn văn ngắn ngủi
này, có thể giúp ích nhiều cho các bạn trong khi
nghiên cứu đến vấn-đề Trung-ấm-Thân hay là LINH HỒN
cũng vậy).
Mùa Đông năm Kỷ-Sửu
Dịch giả cẩn-chí
CÁI HỒN
TÍNH
CÁCH - Tính cách của cái hồn cũng như tính cách của
ngàn muôn pháp (sự hay vật) khác, theo chỗ hiểu mỗi
người, ý nghĩa không y nhau ; nên trước khi bàn về
cái hồn, cần phải định rõ tính cách của cái hồn, rồi
mới có thể bàn được. Định tính cách, chỉ định theo
ý-tưởng của đại đa số người mà thôi, xin chớ nhận
lầm rằng đó là tính cách nhất định của cái hồn theo
lý-nghĩa đạo Phật.
Trong thế-gian, khi
chết thì nói hồn ra khỏi xác, khi ngủ thì nói hồn đi
chơi, khi dậy thì hồn nhập xác, cho đến khi
chiêm-bao có làm việc gì, cũng nghĩ là hồn mình làm,
thậm chí có nhà Thôi-miên-thuật, đem riêng một cái
hình lờ mờ ra ngoài cho là cái hồn, khi chích kim
vào, hồn ấy cũng biết đau nữa. Xét như vậy, thì theo
ý-tưởng thông thường, cái hồn cũng đủ mắt, mũi, tay,
chân, biết thấy, biết nghe, biết thương, biết ghét
như người thường, chỉ khác vì người sống không thể
thấy hồn được, hoặc chỉ thấy lờ mờ mà thôi.
DUYÊN CỚ - Mấy lâu
nay, vì không định rõ tính cách cái hồn, nên các nhà
học Phật đã thường cãi nhau về vấn-đề ấy, cãi nhau
mãi là vì mỗi người hiểu mỗi cách.
Chúng tôi làm bài
này, chẳng phải muốn bênh vị ai, nhưng cốt để cùng
tin-đồ Phật-giáo giải quyết vấn-đề trọng yếu kia một
cách chánh đáng.
LỜI LUẬN - Như nói
rằng, riêng một phần hồn cũng thấy, cũng nghe, thì
tôi xin hỏi : Đương khi mình sống, cái thấy, cái
nghe của mình là hồn thấy, hồn nghe hay là thân thấy
thân nghe ? Nếu như nói thân thấy, thân nghe, thì
người chết vẫn có mắt, còn tai, sao lại không thấy
không nghe được ? Còn như nói hồn thấy, hồn nghe,
thì cái thấy cái nghe kia phải nương theo xác thịt
mới có, hay riêng một phần hồn cũng có ? Như nói
nương theo xác thịt mới có thì cái hồn ra ngoài xác
chắc không còn thấy nghe nữa, sao người đời lại tin
rằng […] hồn cũng thấy cũng nghe ? Vả chăng nếu hồn
cần phải nương theo xác mới thấy mới nghe được thì
chỉ nên nói người sống (hồn và xác) thấy, người sống
nghe mà thôi, chớ không thể nói riêng phần xác hay
là riêng phần hồn cũng thấy cũng nghe được. Còn như
nói chỉ một phần hồn cũng thấy cũng nghe, không cần
đến xác, thì hồn ấy ra thế nào? Khi mình đứt một
cánh tay hồn có đứt cánh tay không ? Nếu hồn cũng
đứt cánh tay thì hồn với xác là một sao lại chia làm
hai ? Nếu hồn như hư-không không thể đứt được, thì
làm sao hồn những người mắc bệnh đui không tự thấy
đường mà đi, lại phải nhờ người dắt ? Dầu cho rằng
hồn chỉ có tính biết, không phải là nghe thấy, không
phải là cái cảm-xúc cũng không được ; vì ngoài
cảm-xúc và di-ảnh của xác thịt, chúng ta thật không
còn cái gì gọi là tính biết nữa.
Đến như chiêm-bao thì
không thể nói là hồn hay là xác được ; chiêm-bao do
tư-tưởng của mình biến ra mọi sự, tư-tưởng trong
sạch thì thấy những điềm lành, tư-tưởng trong sạch
thì thấy những điềm lành, tư tưởng độc ác thì thấy
những điềm dữ chớ không chi khác. Nếu như nói thân
trong chiêm-bao là hồn của mình, thì còn cả
cảnh-giới trong chiêm-bao là ai ? Cảnh giới ấy thật
có hay không thật có ? Nếu như thật có, thì làm sao
những người chung quanh mình lại không thấy ? Nếu
như do tư-tưởng mình mà thành ra, thì tất cả
cảnh-giới trong chiêm bao đều là mình, riêng chi một
cái thân kia đâu, mà lại nhận là hồn là xác.
Xét như vậy thì đủ
biết cái hồn biết thấy biết nghe, biết có mình có
người, biết thương ghét buồn vui kia, không thật có.
LỜI QUYẾT NGHI -
Không thật có... làm sao nhiều người thấy ma
chán-chường, lại có người đánh đồng-thiếp thấy rõ
ông bà cha mẹ? Muốn trả lời câu này, tôi xin hỏi
thêm một câu nữa, là nhân-vật trong chiêm-bao thật
có hay không có ? Chắc ai cũng trả lời rằng không,
vì nếu thật có, sao khi tỉnh dậy thì không thấy.
- Nhân vật trong
chiêm-bao không thật có, nhưng vì chiêm-bao nên in
tuồng là có, cũng như con ma vẫn không thật có,
nhưng vì lòng mê-tín và lòng khiếp sợ nên hoá ra có.
Đánh đồng-thiếp thấy cái hồn ông bà dưới âm-phủ, nào
khác chi những người xem múa rối, mắt phải
thôi-miên-thuật, thấy có trâu đi qua ống tre, đó là
do tư-tưởng của mình hoá ra, chớ không chi khác.
Có người lại nghi
rằng : Không có hồn thì sao ngày nay chúng ta lại
sống được. Nghĩ như vậy là chưa hiểu, chớ tôi nói
không có hồn là không có cá hồn theo như lối thông
thường, nghĩa là cái hồn có mắt, có mũi, có tay, có
chân, biết người, biết mình, biết thương, biết ghét
kia, chớ không phải tôi nói không có cái gì làm cho
chúng ta sống đâu. Cái làm cho chúng ta sống, khi
nào cũng vẫn có, sau khi thân chết rồi cũng vẫn có,
vì nếu cái ấy không có, thì cái sống cũng không có,
làm sao mà sống được ? Nhưng cái ấy, là cái ấy, chớ
không phải như cái hồn theo lối thông thường đâu.
Trong khi cái ấy làm cái thân chúng ta sống ; thân
chúng ta mới theo cảm-giác của loài người mà phân
biệt ; Này là thân, này là cảnh, này là mình, này là
người ; rồi tưởng-tượng cái ấy có mắt, mũi, tay,
chân. Thật ra thì không phải thế ; cái ấy vẫn làm
cho thân sống, vẫn làm cho mắt […] nghe, vẫn làm cho
ta có tư-tưởng. Nhưng thật ra cái ấy không riêng một
thân nào, không riêng một đời nào cả ? Ví như điện
khí vẫn khắp cả vũ-trụ, không nơi nào là không có,
mà tuỳ theo chỗ dùng của mình, có luồng điện mạnh,
có luồng điện yếu, có đèn sáng, có đèn lu ; cái ấy
cũng vậy, cái ấy cùng khắp mọi nơi, mà cũng tuỳ theo
chỗ hành động của không khí làm cho thân này, khi
làm sống một thân khác, rồi tuỳ theo thân mình mà in
[…] như có mình, có người, có sống, có chết.
LỜI KẾT LUẬN - Muốn
cho có đèn sáng, cần phải làm ra luồn điện mạnh, làm
ra cái đèn tốt, cũng như muốn được thân trong sạch,
muốn được cảnh vui vẻ, cần phải hành động một cách
chánh đáng, đó là lẽ tất nhiên ; chớ cái làm cho
chúng ta sống đây không thể kêu bằng chi được, gượng
mà phải gọi là "TÂM" ; một điều chắc-chắn là không
phải cái hồn tự một mình biết thương biết thương
biết ghét, biết thấy, biết nghe đâu.
(Trích
trong báo VIÊN-ÂM số 4 năm thứ 1)
-Hết-