Thoạt nghe tới mấy tiếng “vua Diêm La”
hẳn là mọi người ai nấy đều có cảm giác
sờ sợ! “Diêm La” là phiên âm từ chữ
“yama” của tiếng Ấn Ðộ; “vua Diêm La” là
vị vua cai quản loài quỷ.
Chúng ta thường nghe nói tới “thập điện
Diêm La,” tức là mười vị vua cai quản
mười điện ở địa ngục. Tuy nhiên, theo
văn nghĩa của bản kinh này thì ở đây
không phải chỉ đề cập đến “thập điện
Diêm La” của Nam Thiệm Bộ Châu, mà là
bao gồm hết thảy vua Diêm La trên toàn
vũ trụ. Mỗi thế giới đều có vua Diêm La,
do đó có đến vô lượng vô biên vị vua
Diêm La—vô cùng đông đảo. Có những vị
vua Diêm La đến từ các thế giới khác như
mặt trăng, các vì tinh tú ...; và cũng
có những vị đến từ các núi Thiết Vi của
những nơi khác.
Nói tóm lại, ở đâu có con người thì ở đó
có vua Diêm La, nơi nào không có con
người thì nơi ấy không có vua Diêm La;
vì sao? Bởi vì nếu không có loài người
thì sẽ không có loài quỷ, mà không có
quỷ thì cũng không có Phật, và đó chính
là “vô Phật thế giới”—thế giới không có
Phật. Mà, vì là thế giới không có Phật
cho nên cũng không có vua Diêm La!
Do đó, chủ yếu là ở con người, nếu không
có con người thì cái gì cũng không hiện
hữu cả. Trên thế giới này con người chi
phối mọi thứ, tạo dựng ra mọi thứ, có
nhu cầu về mọi thứ và sử dụng mọi
thứ—tất cả đều do con người mà ra. Nếu
không có con người thì thế giới này sẽ
không có Phật, không có Bồ Tát, và cũng
chẳng có ngạ quỷ, chẳng có địa ngục,
chẳng có súc sanh—hoàn toàn không có gì
cả! Cho nên, tất cả đều do con người mà
ra, vì con người mà có!
Thế thì, con người là do cái gì tạo
thành? Con người là do “tâm” tạo thành!
Tâm không chỉ tạo ra con người mà còn có
thể tạo ra mọi thứ—thiên đường, địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh ...; vì thế mà
nói rằng mười Pháp Giới đều do tâm tạo
thành. Song, tâm tạo ra mười Pháp Giới
thì tâm cũng có thể hủy diệt mười Pháp
Giới[1][1]!
Trong Kinh Hoa Nghiêm có chép:
“Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật,
Ưng quán Pháp Giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo.”
Nghĩa là:
“Nếu ai muốn rõ biết,
Tất cả Phật ba đời,
Nên quán tánh Pháp Giới,
Hết thảy do tâm tạo.”
Tất cả đều do cái “tâm” này tạo thành!
Trong tâm của chúng ta có rất nhiều tạp
niệm—những tạp niệm này thì nhiều như
sóng nước và được biểu hiện nơi sơn hà
đại địa trên thế giới. Mọi thứ đều do
tâm vọng tưởng của con người tạo ra—cái
tâm vọng tưởng ấy vốn nhiều như bụi bặm,
và chính vì trong thâm tâm chúng ta có
vọng tưởng cho nên bên ngoài mới có
nhiều bụi bặm. Nếu vọng tưởng bên trong
không còn thì bụi bặm bên ngoài cũng
chẳng hiện hữu, và ngay cả “lân hư trần”
cũng chẳng tồn tại. Phàm hễ nơi nào có
con người thì nơi đó cũng sẽ có quỷ, có
Phật, và do đó, có sự hiện diện của các
vua Diêm La.
Theo bản Hán văn, phẩm này có tựa đề là
“Diêm La Vương Chúng Tán Thán”; trong đó
chữ “chúng” là ám chỉ quyến thuộc của
các vua Diêm La. Lúc bấy giờ, trong Pháp
Hội không phải chỉ có các vua Diêm La mà
luôn cả bà con thân thuộc của họ cũng
đều hiện diện, và hết thảy đều đồng lòng
khen ngợi. Các vua Diêm La cùng quyến
thuộc của họ khen ngợi việc gì? Họ khen
ngợi đại oai thần lực, trí huệ bất khả
tư nghì, cảnh giới bất khả tư nghì của
Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. Và, đây là phẩm
thứ tám của bản kinh này.
Kinh văn:
Lúc đó, trong dãy núi Thiết Vi có vô
lượng Quỷ Vương cùng với Diêm La Thiên
Tử đồng lên cung trời Ðao Lợi, đến chỗ
của Ðức Phật. Ðó là:
Ác Ðộc Quỷ Vương,
Ða Ác Quỷ Vương,
Ðại Tranh Quỷ Vương,
Bạch Hổ Quỷ Vương,
Huyết Hổ Quỷ Vương,
Xích Hổ Quỷ Vương,
Tán Ương Quỷ Vương,
Phi Thân Quỷ Vương,
Ðiển Quang Quỷ Vương,
Lang Nha Quỷ Vương,
Thiên Nhãn Quỷ Vương,
Ðạm Thú Quỷ Vương,
Phụ Thạch Quỷ Vương,
Chủ Hao Quỷ Vương,
Chủ Họa Quỷ Vương,
Chủ Thực Quỷ Vương,
Chủ Tài Quỷ Vương,
Chủ Súc Quỷ Vương,
Chủ Cầm Quỷ Vương,
Chủ Thú Quỷ Vương,
Chủ Mỵ Quỷ Vương,
Chủ Sản Quỷ Vương,
Chủ Mạng Quỷ Vương,
Chủ Tật Quỷ Vương,
Chủ Hiểm Quỷ Vương,
Tam Mục Quỷ Vương,
Tứ Mục Quỷ Vương,
Ngũ Mục Quỷ Vương,
Kỳ Lợi Thất Vương,
Ðại Kỳ Lợi Thất Vương,
Kỳ Lợi Xoa Vương,
Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương,
A Na Tra Vương,
Ðại A Na Tra Vương.
Những vị Ðại Quỷ Vương như thế, mỗi
vị cùng với trăm ngàn tiểu quỷ vương,
toàn cư ngụ ở cõi Diêm Phù Ðề, ai nấy
đều có chức trách, đều có phần chủ trị
riêng.
Lược giảng:
Lúc đó, trong dãy núi Thiết Vi có vô
lượng Quỷ Vương cùng với Diêm La Thiên
Tử ...
Trong Hoa Tạng Thế Giới Hải, nơi
nhân loại chúng ta đang sống là tầng thứ
mười ba của Liên Hoa Tràng Thế Giới. Bên
ngoài Liên Hoa Tràng Thế Giới có bảy lớp
núi vàng bao bọc, bên ngoài bảy lớp núi
vàng lại có bảy lớp biển Hương Thủy, và
bên ngoài bảy biển Hương Thủy là núi
Thiết Vi. Núi Thiết Vi này là một hòn
núi do chất sắt tích tụ thành, trong núi
có vô lượng Quỷ Vương và Diêm La Vương.
Các vị vua Diêm La cũng tự xưng mình là
“thiên tử” (con của Trời), giống như
Chúa Giê-su vậy! Và, luôn cả các vị
hoàng đế ở nhân gian cũng xưng mình là
“thiên tử”! Ðều là con cái của Trời cả,
thế thì vị nào là lớn, vị nào là nhỏ?
Chẳng có vị nào lớn, cũng chẳng có vị
nào nhỏ cả. Ai gọi họ là “thiên tử”? Vua
Diêm La được Ðức Phật thừa nhận là
“thiên tử” Diêm La; và hoàng đế cũng
được Phật thừa nhận, có thể được gọi là
“thiên tử.” Duy chỉ có Chúa Giê-su là tự
đặt “quốc hiệu,” tự phong cho mình làm
“con của Trời” mà thôi!
Tôi cũng có thể tự xưng mình là “thiên
tử” mà chẳng sợ bị ai phản đối, nhưng
tôi lại chẳng thích làm thiên tử chút
nào cả, bởi đó là chuyện không đáng! Thế
thì tại sao vua Diêm La lại thích cái
danh xưng “không đáng” này? Bởi vì vua
Diêm La là kẻ có trách nhiệm quản lý
công việc đó! Theo quan điểm của Phật
Giáo, người xuất gia sau khi thọ giới Tỳ
Kheo là trở thành một vị sư phụ của nhân
thiên, là bậc thầy của cõi trời và cõi
người. Như thế, bậc Tỳ Kheo chẳng những
có thể làm thiên tử, mà còn có thể làm
“ông sư phụ” của thiên tử nữa; cho nên
tôi mới nói cái danh xưng “thiên tử” đối
với tôi là không đáng!
Ðồng lên cung trời Ðao Lợi, đến chỗ của
Ðức Phật.
Nhân dịp Ðức Phật đến Ðao Lợi thiên cung
thuyết Pháp cho Phật Mẫu, các Diêm La
Vương cùng các Quỷ Vương cũng tới đó để
nghe Phật giảng kinh thuyết Pháp.
1) Ðó là Ác Ðộc Quỷ Vương (chúa
loài quỷ ác độc).
Trong số các Quỷ Vương cùng đến cung
trời Ðao Lợi có một vị tên là Ác Ðộc Quỷ
Vương; và đây là vị Quỷ Vương xấu xa
nhất. Làm sao biết được vị Quỷ Vương này
là xấu xa nhất? Vì ông ta rất “ác độc”!
“Ác độc” tức là xấu xa đến cực điểm—vừa
ác lại vừa độc.
Ác Ðộc Quỷ Vương hễ trông thấy bất cứ
chúng sanh nào là chỉ muốn há miệng ra
nuốt chửng chúng sanh đó vào bụng ngay.
Quý vị thấy vị Quỷ Vương này có lợi hại
hay không? Lòng dạ thì ác, miệng lại độc
nữa—vậy sự ác độc ấy biểu thị cái gì? Sự
ác độc của Ác Ðộc Quỷ Vương không phải
để đối phó với người hiền lành lương
thiện, mà là để đối phó với kẻ xấu xa
độc ác. Người ác thì lòng dạ hung dữ,
miệng lưỡi hiểm độc; do đó, để đối phó
với họ thì chúng ta chỉ có cách “lấy độc
trị độc,” tức là dùng cái ác để chế ngự
cái ác mà thôi! Quý vị tàn ác, thì vị
Quỷ Vương này sẽ tàn ác hơn quý vị; quý
vị hiểm độc, thì ông ta càng hiểm độc
hơn cả quý vị nữa!
Tuy nhiên, quý vị chớ vội lầm tưởng rằng
Ác Ðộc Quỷ Vương là một kẻ ác độc mà
sanh lòng khiếp sợ. Quý vị đừng sợ vị
chúa quỷ này—chỉ cần quý vị thành tâm
niệm Phật thì ông ấy sẽ cung kính lễ bái
quý vị; còn nếu quý vị không niệm Phật
thì tâm sân hận của ông ta sẽ bộc phát!
Quý vị niệm Phật thì ông ta sẽ không
hung ác, quý vị tụng kinh thì ông ta lập
tức hướng thiện—do đó, chúng ta không
nên sợ vị Quỷ Vương này! Quý vị chỉ cần
tinh tấn niệm Phật, chí thành tụng kinh,
phát tâm Bồ Ðề, thì Quỷ Vương dù ác đến
đâu cũng không còn ác nữa, dù độc cách
mấy cũng chẳng thể độc nữa, mà sẽ trở
thành một vị Hộ Pháp đắc lực; vì sao?
Bởi Ác Ðộc Quỷ Vương vốn là:
“Ngoại hiện ác độc Quỷ Vương tướng,
Nội tồn Bồ Tát từ bi tâm.”
(Ngoài hiện tướng Quỷ Vương ác độc,
Trong giữ lòng Bồ Tát từ bi.)
Trong thâm tâm, Ác Ðộc Quỷ Vương muốn
dùng phương pháp “ác độc” để độ chúng
sanh (nếu không thì làm sao Quỷ Vương
lại có thể đi chung với Diêm La Thiên Tử
được!). Diêm La Thiên Tử cũng làm cùng
một công việc như Ác Ðộc Quỷ Vương
vậy—tuy mang danh là Ác Ðộc Quỷ Vương,
song thực chất thì vị Quỷ Vương này
không ác độc chút nào cả.
Ác Ðộc Quỷ Vương rất kính trọng những
người tin theo Phật, vì vậy quý vị đừng
khiếp sợ ông ấy. Ðặc biệt là nếu khi gặp
ông ấy, quý Phật tử kể tên tôi ra và nói
rằng tôi là sư phụ của quý vị, thì Ác
Ðộc Quỷ Vương nhất định sẽ “nể” mặt quý
vị! Tại sao ư? Vì tôi và ông ấy đã ký
điều ước thỏa thuận với nhau, tôi căn
dặn ông ấy rằng: “Bất cứ đệ tử nào của
tôi đến chỗ ông, chỉ cần họ nhắc đến tên
tôi, thì xin ông hãy trút tất cả tội lỗi
của họ sang cho tôi!” Do đó, chỉ cần quý
vị nhắc tới tên tôi, tôi bảo đảm rằng
ông ta sẽ không tỏ ra ác độc với quý vị.
2) Ða Ác Quỷ Vương (chúa loài quỷ
nhiều hung ác). Ác Ðộc Quỷ Vương tuy là
ác độc nhưng cái ác của ông ta còn chưa
nhiều, cái độc của ông ta cũng chưa sâu
lắm; bởi Ða Ác Quỷ Vương mới đúng là
“tác ác đa đoan,” luôn luôn bận rộn làm
nhiều việc tàn ác. Ðây là vị Quỷ Vương
chuyên môn đối phó với những chúng sanh
quen thói ác, làm nhiều điều ác. Tôi tin
rằng mọi người hiện diện ở đây đều bỏ ác
làm lành hết rồi, không đến nỗi hung dữ,
độc ác lắm nữa. Ða Ác Quỷ Vương chuyên
trừng trị hạng người nào? Ðó là những kẻ
phạm các tội ác tày trời như giết cha,
giết mẹ, giết bậc A La Hán, phá sự hòa
hợp của Tăng đoàn, hoặc làm thân Phật
chảy máu.
3) Ðại Tranh Quỷ Vương (chúa loài
quỷ ưa tranh cãi). Ðây là vị Quỷ Vương
luôn luôn thích biện luận—chuyện không
có lý, ông ta vẫn có thể biện giải, lập
luận nghe rất hữu lý! Ðại Tranh Quỷ
Vương chuyên đối phó với những kẻ ưa
biện luận, thích tranh cãi, những kẻ tuy
làm chuyện không hợp đạo lý mà cứ nằng
nặc nói là có đạo lý, rõ ràng là phá
giới song lại khăng khăng nói là mình
không phạm giới, tự nói dối để lừa gạt
chính mình. Cho nên, quý vị cần phải cẩn
thận, hãy nhớ là đừng đi tìm gặp Ðại
Tranh Quỷ Vương, bởi hễ gặp vị Quỷ Vương
này thì có lý cũng thành vô lý, vì về
mặt tranh luận thì ông ấy là hơn ai hết!
4) Bạch Hổ Quỷ Vương (chúa loài
quỷ cọp trắng). Vị Quỷ Vương này tuy
thân mình là quỷ nhưng lại có đầu là đầu
cọp trắng.
5) Huyết Hổ Quỷ Vương (chúa loài
quỷ cọp huyết). Vị Quỷ Vương này có đầu
cọp, máu me đầm đìa.
6) Xích Hổ Quỷ Vương (chúa loài
quỷ cọp đỏ). Toàn thân của vị Quỷ Vương
này đều màu đỏ, và đầu là đầu cọp.
Thế thì, những Quỷ Vương này—Bạch Hổ Quỷ
Vương, Huyết Hổ Quỷ Vương, Xích Hổ Quỷ
Vương—vì sao lại mang đầu cọp? Vì họ
muốn dùng vẻ hung ác dữ dằn để khiến cho
những người phạm tội Ngũ Nghịch, Thập
Ác, nhác trông thấy đều phải khiếp vía,
run sợ.
7) Tán Ương Quỷ Vương (chúa loài
quỷ gieo rắc tai ương). “Ương” là tai
họa rủi ro, những việc không may mắn. Vị
Quỷ Vương này mang những sự không tốt
lành, không kiết tường, giáng xuống thân
người tội. Những tai bay vạ gió, cướp
bóc, hỏa hoạn, ... xảy ra đều là có nhân
quả cả—bất luận sự việc gì cũng đều có
nhân quả của nó—gieo nhân nào thì gặt
quả nấy.
8) Phi Thân Quỷ Vương (chúa loài
quỷ biết bay). Ðây là vị Quỷ Vương có
khả năng “phi thân,” có thể bay đến bất
cứ nơi nào mình muốn mà không phải mua
vé máy bay, cũng chẳng cần dùng tới hỏa
tiễn. Vị Quỷ Vương này phi thân còn
nhanh hơn cả hỏa tiễn, cho nên ai muốn
học phép “phi thân” thì hãy tìm tới Phi
Thân Quỷ Vương để thọ giáo, bởi ông ta
rất có bản lãnh về mặt này!
9) Ðiện Quang Quỷ Vương (chúa
loài quỷ điện chớp). Vị Quỷ Vương này có
mắt sáng loang loáng như ánh điện chớp.
10) Lang Nha Quỷ Vương (chúa loài
quỷ răng nanh). Vị Quỷ Vương này có răng
mọc chìa ra ngoài miệng, rất đáng sợ và
lợi hại như răng chó sói vậy.
11) Thiên Nhãn Quỷ Vương (chúa
loài quỷ ngàn mắt). Ðây là vị Quỷ
Vương có một ngàn con mắt; tuy nhiên,
một ngàn con mắt của Quỷ Vương này thì
không nằm trong một ngàn bàn tay như của
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát.
Cũng có một loài quỷ toàn thân mọc ra
tua tủa rất nhiều sừng giống như sừng
trâu vậy, và trên mỗi cái sừng bén nhọn
ấy đều có một con mắt.
Thế thì, những con mắt của Thiên Nhãn
Quỷ Vương nằm ở vị trí nào? Mỗi con mắt
của Quỷ Vương nằm trong một hốc xương,
ngay chỗ xương lõm vào và hoàn toàn
không có thịt; cho nên toàn thân Quỷ
Vương là những con mắt lọt thỏm vào
trong, khiến quý vị thoáng nhìn thì thấy
chớp sáng nhấp nháy như ánh đèn pin vậy.
12) Ðạm Thú Quỷ Vương (chúa loài
quỷ ăn thịt thú vật). Vị Quỷ Vương này
chuyên môn ăn gì? Chuyên môn ăn thịt thú
vật! Ăn thịt của loại thú vật nào? Loài
thú nào hung dữ, lợi hại—như loài cọp
chẳng hạn—thì Ðạm Thú Quỷ Vương ăn thịt
của loài thú đó!
13) Phụ Thạch Quỷ Vương (chúa
loài quỷ vác đá). Vị Quỷ Vương này phô
trương sức lực của mình bằng cách vác
trên lưng một tảng đá lớn, nặng tới mấy
vạn pounds, và khi thấy tội nhân
đến thì liền đem tảng đá này đè lên mình
tội nhân, khiến toàn thân người tội bị
dẹp lép như cái bánh chiên!
14) Chủ Hao Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về tin xấu). “Hao” nghĩa là hao tán,
hao tổn; “ách hao” là tin buồn, tin xấu.
Chủ Hao Quỷ Vương chỉ đưa toàn những tin
không tốt tới cho quý vị. Ví dụ trong
lúc quý vị ngủ, Quỷ Vương có thể báo
mộng, hỏi rằng quý vị có biết rằng ngày
mai mình sẽ chết hay không, và cho biết
quý vị chỉ còn sống ngày hôm nay nữa mà
thôi. Chủ Hao Quỷ Vương chuyên mang đến
cho quý vị những tin xấu, khiến quý vị
gặp ác mộng, chiêm bao thấy những điều
không tốt.
15) Chủ Họa Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về tai họa). Vị Quỷ Vương này chẳng
những chuyên đưa tin xấu mà còn mang lại
cho quý vị những tai họa rủi ro, như bị
xe đụng, đắm thuyền, hoặc rớt máy bay...
16) Chủ Thực Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về ăn uống). Mỗi ngày quý vị ăn
những thức ăn gì đều có sự quy định
trước cả. Những điều mà trước kia tôi đã
giảng liên quan đến vị “chủ thực” đều là
có thật! Hôm nay quý vị sẽ được ăn món
gì, dùng những thức gì để nấu, rồi ngày
mai đáng phải ăn món gì thức gì ... tất
cả đều được quy định—trong sự âm thầm
lặng lẽ, đều có sự phân phối, sắp đặt
cho quý vị.
17) Chủ Tài Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về tài lộc).
Như hôm nay có người đến cúng dường cho
tôi, đó là do Chủ Tài Quỷ Vương đã âm
thầm mách bảo người ấy—những điều này
đều có liên quan với nhau. Thật đấy!
Ðiều này không mảy may sai chạy. Những
việc ở thế gian chẳng có việc gì là có
“quả” mà không có “nhân”; do đó, hiện
nay quý vị làm đệ tử của tôi cũng là do
trước kia đã trồng cái nhân này, chứ
không ai có thể ép buộc chuyện nhân quả
được cả. Bác bỏ nhân quả, không thừa
nhận nhân quả—đó là điều vô cùng nguy
hiểm. Vì vậy, quý vị chớ nên không tin
nhân quả!
18) Chủ Súc Quỷ Vương (chúa quỷ
cai quản súc vật). Vị Quỷ Vương
này cai quản hết thảy các loài vật nuôi
trong nhà.
19) Chủ Cầm Quỷ Vương (chúa quỷ
cai quản loài chim). Vị Quỷ Vương
này cai quản tất cả chim muông.
20) Chủ Thú Quỷ Vương (chúa quỷ
cai quản loài thú). Ở trên có đề cập tới
Chủ Súc Quỷ Vương, vị chúa quỷ chuyên
cai quản súc vật. “Súc” là súc vật và
gồm có súc vật nuôi trong nhà (gia súc),
và súc vật sống ở đồng hoang (dã súc).
Còn bây giờ là nói về Chủ Thú Quỷ Vương,
tức là vị chúa quỷ chuyên cai quản thú
vật. “Thú” thì đa số là thú vật sống ở
nơi hoang dã (dã thú), chứ không có thú
vật nuôi trong nhà (gia thú).
Ở phương Ðông có núi Lưu Ly, trên núi
này có vị Chủ Thú Quỷ Vương—thế ông ta
cai quản những loài thú nào? Ðó là loài
cọp, thỏ và rồng. Ở phương Nam thì có
núi Pha Lê, và vị Chủ Thú Quỷ Vương ở
đây cai quản loài rắn, ngựa và dê. Ở
phương Tây thì có núi Bạch Ngân, vị Quỷ
Vương của núi này cai quản loài khỉ, gà
và chó. Ở phương Bắc thì có núi Huỳnh
Kim, trên núi toàn là vàng huỳnh kim,
thế nhưng quý vị chớ nên đến đó khai
thác mỏ vàng. Núi đó không phải là nơi
người ta có thể đào lấy vàng như núi
vàng Cựu Kim Sơn hoặc Tân Kim Sơn được,
bởi núi vàng ấy là “bất động,” không ai
có thể đến được; và trên núi có vị Chủ
Thú Quỷ Vương chuyên cai quản các loài
heo, chuột và trâu bò.
Như vậy, Chủ Thú Quỷ Vương và Chủ Cầm
Quỷ Vương cai quản các phương khác nhau,
mỗi vị đều có khu vực giới hạn riêng và
đều làm chủ tể các loài khác nhau.
21) Chủ Mỵ Quỷ Vương (chúa quỷ
cai quản loài yêu mỵ). “Mỵ” tức là lỵ
mỵ, vọng lượng. Chủ Mỵ Quỷ Vương là vị
chúa quỷ chuyên cai quản loài lỵ mỵ,
vọng lượng thường tác oai tác quái ở
chốn núi rừng.
Trong phần đệ tam hội của Chú Lăng
Nghiêm có những câu: “Ra Xà Bà Dạ, Chủ
Ra Bạt Dạ, A Kỳ Ni Bà Dạ, Ô Ðà Ca Bà Dạ,
Tỳ Sa Bà Dạ, Xá Tát Ða Ra Bà Dạ, Bà Ra
Chước Yết Ra Bà Dạ, Ðột Sắt Xoa Bà
Dạ”—đó đều là tên của các vị Quỷ Vương
coi sóc loài lỵ mỵ, vọng lượng.
22) Chủ Sản Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về sự sinh sản). Ðây là vị
Quỷ Vương chủ tể, trông coi việc sanh nở
của con người. Nếu sản phụ là người hiền
lành lương thiện thì khi lâm bồn, Chủ
Sản Quỷ Vương sẽ khiến cho việc sanh nở
của người ấy được bình yên thuận lợi;
còn nếu là người hung ác thì sẽ bị Quỷ
Vương gây khó dễ, làm cho đau đớn, hoặc
sanh không được. Trong sự vô hình, Quỷ
Vương âm thầm răn dạy và khiến cho người
sản phụ sanh tâm giác ngộ, biết hướng
thiện và sửa đổi tánh nết.
23) Chủ Mạng Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về sanh mạng). Tất cả những sanh
mạng có khí huyết đều do vị Quỷ Vương
này trông coi.
24) Chủ Tật Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về tật bệnh). Bất cứ bệnh tật gì mà
con người mắc phải đều do vị Quỷ Vương
này cai quản.
25) Chủ Hiểm Quỷ Vương (chúa quỷ
chủ về sự nguy hiểm). Vị Quỷ Vương này
làm chủ tể, trông coi những việc nguy
hiểm đáng sợ.
26) Tam Mục Quỷ Vương (chúa loài
quỷ ba mắt). Vị Quỷ Vương này có ba con
mắt; ba con mắt này nằm ở vị trí như thế
nào? Con mắt này thì khác với “con mắt
trời” (thiên nhãn) của Ngũ Nhãn Lục
Thông. Quỷ Vương này có một con mắt nằm
ngang ở giữa, còn hai con mắt kia thì
nằm hai bên; ba con mắt này hợp lại
thành một hình tam giác—quý vị đã từng
trông thấy lần nào chưa?
27) Tứ Mục Quỷ Vương (chúa loài
quỷ bốn mắt). Vị Quỷ Vương này có bốn
con mắt nằm ở bốn phía, làm thành một
hình vuông. Nói chung, những con mắt này
sắp xếp rất kỳ quái, khiến người ta nhác
trông thấy là khiếp sợ ngay, chứ không
giống như Ngũ Nhãn của bậc Bồ Tát.
28) Ngũ Mục Quỷ Vương (chúa loài
quỷ năm mắt). Lại có loài Quỷ Vương có
đến năm con mắt.
29) Kỳ Lợi Thất Vương. Kỳ Lợi
Thất Vương thì ở phương Nam, và trông
coi về lửa.
30) Ðại Kỳ Lợi Thất Vương. Ðây là
vị Quỷ Vương cai quản những ngọn lửa lớn
(đại hỏa). Kỳ Lợi Thất Vương thì ở phía
Nam; xa hơn nữa về phía Nam có một ngọn
núi và Ðại Kỳ Lợi Thất Vương làm Quỷ
Vương ở núi đó.
31) Kỳ Lợi Xoa Vương.
32) Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương.
33) A Na Tra Vương. A Na Tra vốn
là con trai của Tứ Ðại Thiên Vương. A Na
Tra Vương cũng là một vị Hộ Pháp, tuy ở
trong loài quỷ song không thuộc về quỷ,
cho nên gọi là A Na Tra Vương.
Ngoài ra còn có 34) Ðại A Na Tra
Vương.
Những vị Ðại Quỷ Vương như thế, mỗi vị
cùng với trăm ngàn tiểu quỷ vương...
Lúc trước, khi giảng về “tiểu quỷ” tôi
đã nói rằng có “quỷ lớn” thì cũng có
“quỷ nhỏ,” và chúa quỷ cũng có bà con
quyến thuộc như quỷ mẹ, quỷ con, quỷ
cháu, quỷ chắt...
Những vị Ðại Quỷ Vương kể trên, mỗi vị
đều có dẫn theo đông đảo tiểu quỷ vương;
họ toàn cư ngụ ở cõi Diêm Phù Ðề, ai
nấy đều có chức trách, đều có phần chủ
trị riêng.
Tất cả có đến cả trăm ngàn vị, họ
đều trú ngụ ở cõi Nam Diêm Phù Ðề, và vị
quỷ nào cũng đều có phận sự và quyền làm
chủ tể của vị quỷ đó. Mỗi người đều có
quyền lực riêng của con người thì quỷ
cũng có quyền lực riêng của loài quỷ!
Kinh văn:
Các vị Quỷ Vương đó cùng với Diêm La
Thiên Tử, nương oai thần của Ðức Phật và
oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát,
đồng lên đến cung trời Ðao Lợi và đứng
qua một phía.
Bấy giờ, Diêm La Thiên Tử quỳ gối chắp
tay bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức
Thế Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỷ
Vương nhờ nương oai thần của Ðức Phật và
oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
mới được đến đại hội nơi cung trời Ðao
Lợi này, mà cũng là chúng con được thiện
lợi vậy. Nay con có chút việc nghi ngờ,
dám bạch hỏi Ðức Thế Tôn, cúi xin Ðức
Thế Tôn từ bi tuyên thuyết.”
Lược giảng:
Các vị Quỷ Vương đó cùng với Diêm La
Thiên Tử, nương oai thần của Ðức Phật và
oai lực của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
...
Nhờ vào oai đức và sức thần thông
của Phật, cùng oai lực của Bồ Tát Ðịa
Tạng (oai lực của vị Ðại Bồ Tát này cũng
chính là sức thần thông diệu dụng), mà
tất cả những Quỷ Vương kể trên cùng với
vua Diêm La có thể đồng đến cung trời
Ðao Lợi, tức cõi trời Ba Mươi Ba,
và đứng qua một phía.
Bấy giờ, Diêm La Thiên Tử quỳ gối chắp
tay bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức
Thế Tôn! Nay chúng con—vua Diêm La
và quyến thuộc—cùng các vị Quỷ Vương
nhờ nương oai thần của Ðức Phật và oai
lực của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát mới
được đến đại hội nơi cung trời Ðao Lợi
này, mà cũng là chúng con được thiện lợi
vậy.” Ðây cũng là dịp để vua Diêm La
và hết thảy Quỷ Vương đạt được phước
lành và lợi ích lớn lao.
“Nay con có chút việc nghi ngờ, dám bạch
hỏi Ðức Thế Tôn, cúi xin Ðức Thế Tôn từ
bi tuyên thuyết.”
Diêm La Thiên Tử bạch tiếp: “Hiện nay
con có một nghi vấn rất nhỏ, chẳng hay
con có được phép hỏi Ðức Thế Tôn chăng?
Chẳng hay con có tư cách, quyền lợi để
thỉnh vấn Ðức Thế Tôn chăng? Con chỉ
trông mong Ðức Thế Tôn mở lòng từ bi mà
giảng nói, xua tan mọi thắc mắc trong
lòng con.”
Kinh văn:
Ðức Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Cho phép
ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói rõ.”
Bấy giờ, Diêm La Thiên Tử chiêm lễ Ðức
Thế Tôn và ngoái nhìn Bồ Tát Ðịa Tạng,
rồi bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức
Thế Tôn! Con xem xét Bồ Tát Ðịa Tạng ở
trong sáu đường dùng trăm ngàn phương
chước để cứu độ những chúng sanh mắc
phải tội khổ, chẳng từ mệt nhọc. Vị Ðại
Bồ Tát này có những sự thần thông bất
khả tư nghì như thế, nhưng chư chúng
sanh vừa được thoát khỏi tội báo, chẳng
bao lâu lại phải đọa vào ác đạo nữa.
“Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đã có
thần lực bất khả tư nghì như thế, cớ sao
hàng chúng sanh chẳng chịu nương về
thiện đạo để được giải thoát mãi mãi?
Cúi xin Ðức Thế Tôn dạy rõ việc đó cho
chúng con.”
Lược giảng:
Ðức Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Cho phép
ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói rõ.
Ông muốn hỏi gì thì cứ hỏi đi, Ta nhất
định sẽ giải đáp thỏa đáng!”
Bấy giờ, Diêm La Thiên Tử chiêm lễ Ðức
Thế Tôn và ngoái nhìn Bồ Tát Ðịa Tạng.
Vì Phật thì đang ngồi trước mặt, cho nên
Diêm La Thiên Tử chiêm ngưỡng Ðức Phật
xong rồi bèn ngoái đầu ngắm nhìn Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát. Ðây là biểu thị lòng
cung kính đối với Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát—vua Diêm La không chỉ cung kính Phật
mà còn cung kính cả Bồ Tát Ðịa Tạng nữa.
Vua Diêm La nhìn Bồ Tát Ðịa Tạng mà lòng
cứ thắc mắc: “Lòng từ bi cùng thần thông
diệu dụng của vị Ðại Bồ Tát này thật là
bất khả tư nghì, nhưng sao Ngài không có
cách nào bảo chúng sanh đừng gây tội ác
nữa?”
Vua Diêm La nghĩ ngợi như thế, rồi
bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế
Tôn! Con xem xét Bồ Tát Ðịa Tạng ở trong
sáu đường—trời, người, A-tu-la, địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh—dùng trăm
ngàn phương chước để cứu độ những chúng
sanh mắc phải tội khổ, chẳng từ mệt nhọc,
chẳng ngại khó khăn. Vị Ðại Bồ Tát
này có những sự thần thông bất khả tư
nghì như thế, nhưng chư chúng sanh vừa
được thoát khỏi tội báo, chẳng bao lâu
lại phải đọa vào ác đạo nữa.” Những
chúng sanh có tội được Bồ Tát cứu vớt,
được miễn tội báo, nhưng không bao lâu
sau họ lại tạo tội và bị đọa địa ngục
trở lại.
“Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đã có
thần lực bất khả tư nghì như thế,
lớn lao như thế, cớ sao hàng chúng
sanh chẳng chịu nương về thiện đạo để
được giải thoát mãi mãi? Vì sao
chúng sanh không chịu nghe lời Bồ Tát
Ðịa Tạng dạy bảo? Vì sao họ không giữ
giới, không theo đường ngay nẻo phải mà
tu hành? Vì sao họ cứ muốn tạo nghiệp
tội? Vì sao họ không được giải thoát,
không được tự do mãi mãi, mà cứ bị
nghiệp chướng bủa vây, trói buộc? Cúi
xin Ðức Thế Tôn dạy rõ việc đó cho chúng
con. Con trông mong Ðức Thế Tôn vì
chúng con mà giảng rõ việc này.”
Kinh văn:
Ðức Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Chúng
sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề tánh tình
cang cường, khó điều khó phục. Ðại Bồ
Tát đây trong trăm ngàn kiếp đã từng cứu
vớt những chúng sanh đó, làm cho họ sớm
được giải thoát.
“Những người bị tội báo cho đến bị đọa
vào đường đại ác, Bồ Tát dùng sức phương
tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, làm
cho họ hiểu được các việc đời trước.
Nhưng vì chúng sanh trong cõi Diêm Phù
Ðề kết ác tập nặng, vừa ra khỏi lại trở
vào, làm nhọc cho Bồ Tát phải trải qua
nhiều số kiếp để độ thoát.
“Ví như có người quên mất nhà mình, đi
lạc vào đường hiểm; trong con đường hiểm
đó có rất nhiều quỷ Dạ-xoa, cùng cọp,
sói, sư tử, rắn độc, bò cạp. Người mê
muội đó ở trong đường hiểm chỉ chừng
giây lát là sẽ gặp các thứ độc.”
Lược giảng:
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Diêm
La Thiên Tử: “Chúng sanh trong cõi Nam
Diêm Phù Ðề tánh tình cang cường, khó
điều khó phục.” Chúng sanh ở Nam
Thiệm Bộ Châu tánh tình đều rất ương
ngạnh bướng bỉnh, chứ không được nhu hòa
hiền dịu, cho nên rất khó điều phục, khó
uốn nắn. Do đó, muốn dạy dỗ, khiến cho
họ chịu tuân theo quy củ phép tắc hoặc
giữ gìn giới luật, là một việc không dễ
dàng chút nào!
Hiện nay có nhiều người nói rằng việc
tuân thủ quy củ là không hay, không tốt;
vì sao họ nói như thế? Bởi vì bản thân
họ không muốn tuân giữ quy củ, nên họ
mới “xướng” lên như vậy. Kỳ thật, không
có khuôn tròn và thước vuông thì không
thể nào vẽ được hình tròn, ô vuông; cũng
vậy, con người nếu không có quy luật
phép tắc thì chẳng thể nào thành mẫu mực
được!
Ở phần trước, Quỷ Vương và Diêm La Thiên
Tử thắc mắc rằng Bồ Tát Ðịa Tạng đã có
sức thần thông lớn lao đến thế, cớ sao
chúng sanh không nghe theo lời khuyên
răn, dạy bảo của Ngài; thậm chí có kẻ đã
được ra khỏi ác đạo rồi nhưng sau đó lại
bị đọa vào ác đạo lần nữa. Cho nên, bây
giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giải thích
rằng:
“Ðại Bồ Tát đây trong trăm ngàn kiếp đã
từng cứu vớt những chúng sanh đó, làm
cho họ sớm được giải thoát.” Trải
qua thời gian lâu dài có đến trăm ngàn
vạn kiếp, Ðại Bồ Tát Ðịa Tạng cứ hết lần
này sang lần khác, lần nọ đến lần kia
mải miết cứu độ chúng sanh—cứu xong một
lần này rồi lại cứu lần nữa. Hạng chúng
sanh như thế đã sớm được Bồ Tát Ðịa Tạng
giúp cho giải thoát từ lâu lắm rồi!
“Những người bị tội báo cho đến bị đọa
vào đường đại ác, Bồ Tát dùng sức phương
tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, làm
cho họ hiểu được các việc đời trước.”
Những chúng sanh có ác nghiệp tội báo,
thậm chí do khởi hoặc, tạo nghiệp mà thọ
báo, thì sẽ bị đọa vào đường đại ác.
“Ðường đại ác” tức là ba ác đạo—địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bồ Tát Ðịa Tạng
dùng vô số pháp môn phương tiện, cùng
sức phương tiện, để trừ sạch nguyên nhân
căn bản của sự gây tạo nghiệp tội của
các chúng sanh ấy, tức là nhổ bật gốc rễ
của nhân duyên “khởi hoặc, tạo nghiệp,”
khiến cho họ trở nên giác ngộ, hiểu rõ
việc đời trước của mình.
“Nhưng vì chúng sanh trong cõi Diêm Phù
Ðề kết ác tập nặng.” “Kết” tức là dồn
lại, kết dính lại với nhau. Nghiệp từ
đời trước liên kết với nghiệp của đời
này, nghiệp của đời này lại dây dưa liên
lụy tới đời sau—đời đời kiếp kiếp, các
nghiệp báo này nối kết nhau liên miên
không dứt, giống như sợi dây kết liền
thành một mối vậy; nên gọi là “kết ác
tập nặng.” Những “ác tập” (thói quen xấu
ác) này là những gì? Có mười tập khí xấu
ác gọi là Thập Ác Tập:
1) Dâm dục. Thói xấu thứ nhất là dâm
dục. Tất cả chúng sanh đều như nhau—ai
nấy đều có lòng dâm dục. Ðây là mối
phiền toái thứ nhất, cũng là điều rất
khó đoạn trừ. Việc đoạn dứt dâm dục còn
khó hơn lên trời nữa! Do đó, nếu chúng
ta điều phục được lòng dâm dục—tức là
người nữ thấy người nam thì không khởi
tâm ham muốn, và người nam thấy người nữ
thì chẳng sanh lòng tà vạy—thì gọi là
“hàng hổ” hoặc “phục hổ,” tức là đã đánh
thắng loài cọp dữ, khiến chúng phải đầu
hàng quy phục. Lại thêm, nếu chúng ta
cũng không còn phiền não, thì có thể nói
rằng chúng ta đã hàng phục được cả loài
rồng rồi vậy. Phiền não vô minh thì
giống như con rồng vậy—rồng có khả năng
biến hóa vô cùng, không thể đoán trước
được lúc nào nó sẽ thình lình xuất hiện.
Vậy, việc phải làm trước nhất là đoạn
trừ lòng dâm dục. Qua sự việc này có thể
thấy được quý vị có công phu tu hành, có
đạo đức, có thật sự dụng công hay không.
Quý vị có thể tự thử nghiệm chính mình,
tự tìm hiểu chính mình. Nếu quý vị đã
đoạn trừ được dâm tâm rồi tức là quý vị
có công phu tu tập; lòng dâm chưa dứt
thì quý vị vẫn còn lậu thoát. Cho nên,
tu “vô lậu” tức là dứt bỏ lòng dâm
dục—còn dâm tâm là còn “hữu lậu,” hết
dâm tâm mới là “vô lậu.”
2) Tham. Ác tập thứ hai là tham lam. Vì
sao có lòng dâm dục? Chính là vì có lòng
tham—ham muốn cảm giác, khao khát thỏa
mãn dục niệm của chính mình.
3) Mạn. “Mạn” tức là kiêu mạn, và đây là
thói xấu thứ ba. Thế nào gọi là “kiêu
mạn”? Bản thân mình vốn chưa hẳn là
thông minh hơn người, nhưng lúc nào cũng
cho rằng mình thông minh xuất chúng,
khinh thường tất cả những người khác,
đến đâu cũng muốn mình là “số một”; đó
chính là lòng kiêu mạn đang tác quái!
4) Sân. Ðây là thói xấu thứ tư. Kẻ mang
lòng sân hận thì đối với bất cứ ai cũng
sanh tâm oán ghét, lúc nào cũng hằn học:
“Mày không tốt với tao, tao phải tìm
cách giết mày để báo thù!”
5) Trá. Ác tập thứ năm là “trá,” tức là
xảo trá, lường gạt, làm những việc giả
dối hư ngụy.
6) Cuống. “Cuống” tức là nói dối, vọng
ngữ. “Trá” tức là bản thân vốn là người
xấu, song bề ngoài lại làm ra vẻ người
tốt, khéo che đậy khiến kẻ khác không
nhận ra được. Còn “cuống” tức là nói
dối, bịp bợm, nói sai sự thật, bất cứ
chuyện gì cũng nói dối một cách trơn
tru, trót lọt được cả.
7) Oán. “Oán” tức là việc gì cũng oán
trách người khác; rõ ràng là mình sai,
là lỗi của mình, nhưng lại đổ lỗi cho
người khác: “Nếu hắn không bảo tôi làm
như thế thì tôi đâu có làm. Chuyện này
không thể trách tôi được. Ðó là lỗi của
hắn. Hắn mới là người có lỗi.” Cho nên,
kẻ ôm lòng hờn oán thì bất cứ tội lỗi gì
cũng trút lên đầu lên cổ người khác cả!
8) Tà kiến. Ðây là thói xấu thứ tám. “Tà
kiến” tức là tà tri tà kiến, cái nhìn
sai lầm hoặc sự hiểu biết lệch lạc, dẫn
dắt con người đi vào con đường bất
chánh, tà vạy.
9) Uổng. “Uổng” có nghĩa là cong vạy,
không ngay thẳng.
10) Tụng. Ác tập thứ mười là tố tụng,
tức là thích kiện cáo, tranh cãi hơn
thua. Có những kẻ vốn sai quấy, có lỗi,
thế mà lại muốn kiện cáo, thưa với quan
tòa là lỗi của người khác, rồi buộc đối
phương phải bồi thường tiền bạc cho
mình. Nói tóm lại, bản thân mình vốn là
vô lý mà lại vu khống, tìm cách làm cho
người khác bị hàm oan, đó gọi là “tụng.”
Mười thói quen xấu hay Mười Ác Tập này
trong Kinh Lăng Nghiêm (quyển
tám) gọi là Mười Tập Nhân, tức là mười
nguyên nhân tập khí xấu dẫn đến các quả
báo khổ sở trong sáu đường (Lục Giao
Báo). Chính vì chúng sanh tiêm nhiễm
mười tập khí này nên nói là “kết ác tập
nặng.”
“Vừa ra khỏi lại trở vào.”
Chính vì ác nghiệp của Mười Tập Nhân mà
chúng sanh gây ra vô số tội lỗi, nên mới
vừa thoát khỏi ba ác đạo chưa được bao
lâu thì liền bị đọa về lại. Ðời này được
ra khỏi ba ác đạo thì đời sau lại trở
vào lần nữa; đợi đến đời sau nữa được ra
khỏi ba nẻo ác rồi thì đời kế sau đó nữa
cũng quay về lại—đó gọi là “vừa ra khỏi
lại trở vào” vậy. Chúng sanh cứ lẩn quẩn
như vậy, được thoát ra rồi lại trở vào,
“làm nhọc cho Bồ Tát phải trải qua nhiều
số kiếp để độ thoát.” Các chúng sanh
như thế làm cho Bồ Tát Ðịa Tạng vô cùng
vất vả, phải nhọc nhằn lo việc cứu độ
trong rất nhiều kiếp.
“Ví như có người quên mất nhà mình, đi
lạc vào đường hiểm; trong con đường hiểm
đó có rất nhiều quỷ Dạ-xoa.”
Ðến đây, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đưa ra
một tỷ dụ. Ðức Phật ví dụ rằng có một
người bị lạc đường, tìm không ra nhà của
mình; người đó vì không thông thạo đường
sá nên lạc bước vào một con đường đầy
dẫy những sự nguy hiểm—trong con đường
ấy có rất nhiều quỷ Dạ-xoa đang rình
rập. “Dạ-xoa” ở đây là dụ cho mối “nghi”
trong Ngũ Ðộn Sử. “Nghi” tức là không có
lòng tin, việc gì cũng hoài nghi, ngờ
vực cả.
“Cùng cọp, sói, sư tử, rắn độc, bò
cạp.”
Trong con đường ấy, ngoài quỷ Dạ-xoa ra
còn có cả cọp, sói, sư tử, rắn độc, bò
cạp cũng đang rình chờ nữa. “Cọp” là dụ
cho lòng tham, tham lam như cọp. Do đó,
điều phục được lòng dâm dục tức là thuần
phục được cọp; điều phục không nổi lòng
dâm dục tức là chưa hàng phục được cọp
vậy.
“Sói” là dụ cho cái gì? Ðó là dụ cho
lòng sân hận. Loài sói rất lợi hại; lòng
sân hận và loài lang sói thì đều đáng sợ
như nhau.
“Sư tử” là dụ cho sự ngu si.
“Rắn độc, bò cạp” là dụ cho tánh kiêu
mạn.
“Tham, sân, si, mạn, nghi,” gọi chung là
Ngũ Ðộn Sử.
“Người mê muội đó ở trong đường hiểm chỉ
chừng giây lát là sẽ gặp các thứ độc.”
Hạng người mê muội thì chẳng mấy chốc sẽ
bị Ngũ Ðộn Sử—tham, sân si, mạn,
nghi—tác hại, khiến họ tạo ra nhiều
nghiệp tội, phải đọa vào ba đường ác.
Kinh văn:
“Có một vị Tri Thức hiểu nhiều phép
thuật, khéo ngăn trừ thứ độc đó, cho đến
quỷ Dạ-xoa cùng các loài ác độc v.v...,
chợt gặp người mê muội kia đang muốn đi
vào đường hiểm, bèn vội bảo rằng: ‘Ô
hay, ông kia! Vì cớ gì mà vào con đường
này? Ông có phép thuật lạ gì có thể ngăn
trừ các thứ độc chăng?’
“Người lạc đường chợt nghe lời ấy mới
biết là đường nguy hiểm, liền lùi lại,
muốn ra khỏi con đường đó. Vị Thiện Tri
Thức kia nắm tay dìu dắt, dẫn ra khỏi
đường hiểm, tránh khỏi các sự ác độc, và
đến con đường tốt lành, làm cho được an
lạc; rồi bảo rằng: ‘Này người lạc đường!
Từ nay về sau chớ đi vào con đường đó
nữa. Ai mà vào con đường đó ắt khó ra
được, lại còn bị tổn tánh mạng!’
Người lạc đường đó cũng sanh lòng cảm
trọng. Lúc từ biệt nhau, vị Tri Thức lại
căn dặn thêm: ‘Nếu gặp người thân quen,
cùng những người đi đường hoặc trai hoặc
gái, thì hãy bảo với họ rằng con đường
đó có nhiều sự ác độc, vào đó có thể mất
cả tánh mạng. Ông chớ để cho những người
ấy tự vào chỗ chết.”
Lược giảng:
“Có một vị Tri Thức hiểu nhiều phép
thuật, khéo ngăn trừ thứ độc đó, cho đến
quỷ Dạ-xoa cùng các loài ác độc v.v...”
Vị Thiện Tri Thức đó là ai? Chính là Bồ
Tát Ðịa Tạng—Ngài có sức thần thông, trí
huệ vi diệu không thể nghĩ bàn, và Ngài
cũng biết rất nhiều phép thuật. Ngài còn
có thể ngăn trừ các thứ độc hại; đó là
những thứ độc hại nào? Ðó là các độc hại
của sư tử, cọp, sói, Dạ-xoa và tất cả
các độc hại khác trong con đường hiểm
trở.
“Dạ-xoa” chính là “tiệp tật quỷ,” tức là
loài quỷ có khả năng chạy nhanh và vô
cùng độc ác.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Vị
Thiện Tri Thức này chợt gặp người mê
muội kia, và thấy rằng người ấy bị
lạc đường,
đang muốn đi vào đường hiểm, bèn vội bảo
rằng: ‘Ô hay, ông kia! Vì cớ gì mà vào
con đường này? Ông có phép thuật lạ gì
có thể ngăn trừ các thứ độc chăng?
Ðó là một con đường nhiều bất trắc, đầy
các sự độc hại; chẳng hay ông có việc gì
cần mà phải đi con đường ấy? Phải chăng
ông có phép lạ hoặc có thuật thần thông
gì có thể khống chế, thuần phục được các
loài cọp, beo, chó sói, sư tử đang rình
rập trong con đường đó?’”
Bấy giờ,
“người lạc đường chợt nghe lời ấy mới
biết là đường nguy hiểm.” Kẻ bị đi
lạc đó bỗng nhiên nghe vị Thiện Tri Thức
hỏi như thế thì lấy làm kinh ngạc, bấy
giờ mới biết rằng con đường mình định
theo là một con đường đầy hiểm nạn, và
mới nhận ra rằng mình đã lầm lẫn, đã đi
sai đường, cho nên “liền lùi lại,
muốn ra khỏi con đường đó.”
“Vị Thiện Tri Thức kia—Ðịa Tạng
Vương Bồ Tát—nắm tay dìu dắt, dẫn ra
khỏi đường hiểm, tránh khỏi các sự ác
độc.” Bồ Tát Ðịa Tạng ân cần cầm tay
người lạc đường, thận trọng dẫn người ấy
ra khỏi con đường nhiều hiểm nạn, tránh
khỏi các thú vật nguy hiểm ở nơi đó như
sư tử, cọp beo, lang sói, quỷ Dạ-xoa,
rắn độc, bò cạp...
“Và đến con đường tốt lành, làm cho được
an lạc; rồi bảo rằng: ...”
Sau khi ra tới được con đường bình an—ra
khỏi ba ác đạo rồi—và người lạc đường
kia đã được yên lành vui vẻ, vị Thiện
Tri Thức mới thiết tha căn dặn rằng: “Này
người lạc đường! Từ nay về sau chớ đi
vào con đường đó nữa—đừng để cho
mình bị đọa vào ba ác đạo nữa. Ai mà
vào con đường đó ắt khó ra được, lại còn
bị tổn tánh mạng! Những người bị đọa
lạc trong ba ác đạo đều không dễ gì mà
thoát ra được. Trót sa chân vào con
đường nguy hiểm như thế thì rất dễ bị
mất mạng!”
“Người lạc đường đó cũng sanh lòng cảm
trọng.” Nghe vị Thiện Tri Thức—Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát—trân trọng dặn dò như
thế, người lạc đường vô cùng cảm kích,
trong lòng nghĩ rằng người này thật tốt
với mình quá!
“Lúc từ biệt nhau, vị Tri Thức lại căn
dặn thêm: ‘Nếu gặp người thân quen, cùng
những người đi đường hoặc trai hoặc gái,
thì hãy bảo với họ rằng con đường đó—ba
ác đạo—có nhiều sự ác độc, nhiều độc
trùng mãnh thú vô cùng nguy hiểm, vào đó
có thể mất cả tánh mạng. Ông chớ để cho
những người ấy tự vào chỗ chết. Ông đừng
để cho chúng sanh tự đi vào ba ác đạo,
tự dấn thân vào chỗ chết, bởi đi vào đó
nếu không mất mạng thì cũng phải chịu
nhiều khổ sở.’”
Kinh văn:
“Vì thế nên Bồ Tát Ðịa Tạng đầy đủ đức
đại từ bi, cứu vớt những chúng sanh mắc
tội khổ, khiến cho họ được sanh trong
cõi trời, cõi người, hưởng sự vui sướng
vi diệu.
“Những kẻ có tội đó rõ biết sự khổ trong
nghiệp đạo rồi, khi đã được ra khỏi,
vĩnh viễn chẳng còn trở vào nữa; như
người lạc đường đi lầm vào con đường
hiểm, gặp vị Thiện Tri Thức dẫn cho ra,
không bao giờ còn lạc vào nữa, gặp gỡ
người khác lại khuyên chớ vào đường ấy,
còn tự nói rằng: ‘Tôi bị mê lầm, nay
được thoát ra rồi, không còn trở vào đó
nữa. Nếu đi vào nữa và còn mê lầm, không
biết đó là con đường hiểm nạn mà mình đã
từng lạc vào, thì có thể đến phải mất
mạng.’
“Như có những chúng sanh bị đọa vào ác
đạo, Bồ Tát Ðịa Tạng dùng sức phương
tiện khiến họ được giải thoát, sanh
trong cõi trời, cõi người, nhưng rồi họ
lại trở vào lần nữa; nếu kết nghiệp nặng
nề thì họ phải ở mãi chốn địa ngục,
không lúc nào được giải thoát.”
Lược giảng:
“Vì thế nên Bồ Tát Ðịa Tạng đầy đủ đức
đại từ bi...” Bồ Tát Ðịa Tạng có đức
đại từ đại bi rộng lớn vô biên—lòng từ
của Ngài có thể làm cho chúng sanh được
an lạc vui vẻ, tâm bi của Ngài có thể
giải trừ các nỗi thống khổ của chúng
sanh.
Giống như vị Thiện Tri Thức, Ðịa Tạng
Vương Bồ Tát
“cứu vớt những chúng sanh mắc tội khổ,
khiến cho họ được sanh trong cõi trời,
cõi người, hưởng sự vui sướng vi diệu.”
Ngài cứu vớt hết thảy tội khổ chúng
sanh, làm cho tất cả chúng sanh đều được
thoát khỏi khổ báo trong ba ác đạo, và
được sanh vào cõi người hoặc cõi trời để
thọ hưởng sự vui sướng vô cùng vi diệu.
“Những kẻ có tội đó rõ biết sự khổ trong
nghiệp đạo rồi, khi đã được ra khỏi,
vĩnh viễn chẳng còn trở vào nữa.”
Những chúng sanh có tội lỗi này đã rõ
biết tường tận những nỗi thống khổ trong
ba ác đạo—bởi họ đã từ đó mà được thoát
ra—cho nên một khi được giải thoát khỏi
ba ác đạo, họ vĩnh viễn không bao giờ
muốn bị đọa lạc vào đó lại nữa.
Vì thế, trường hợp của những chúng sanh
này cũng tương tự “như người lạc
đường đi lầm vào con đường hiểm, gặp vị
Thiện Tri Thức dẫn cho ra, không bao giờ
còn lạc vào nữa.”ø Sau khi được bậc
Thiện Tri Thức có oai lực lớn dẫn ra
khỏi ba ác đạo đầy thống khổ rồi, các
chúng sanh này mãi mãi không bao giờ trở
lại đó nữa.
Lại nữa, người đã bị lạc đường nói trên
khi “gặp gỡ người khác—bạn bè,
thân thuộc, và ngay cả những kẻ xa lạ—lại
khuyên chớ vào đường ấy, còn tự nói
rằng: ‘Tôi bị mê lầm, nay được thoát ra
rồi, không còn trở vào đó nữa. Tôi
trước kia do u mê lầm lẫn nên mới lạc
bước vào con đường đầy sự bất trắc nọ.
Giờ đây, tôi đã ra khỏi con đường đó,
thoát khỏi mọi hiểm nạn rồi; tôi nhất
định sẽ không bao giờ đi vào đó nữa!
Nếu đi vào nữa và còn mê lầm, không biết
đó là con đường hiểm nạn mà mình đã từng
lạc vào, thì có thể đến phải mất mạng.
Giả sử tôi lại cứ đi vào con đường nguy
hiểm ấy và vẫn còn bị lẩn quẩn trong đó,
không tài nào tìm được lối ra—cũng không
hiểu tại sao mình lại dại dột quay về
lại con đường nguy hiểm này nữa—thì chắc
chắn tánh mạng tôi sẽ không còn!’”
“Như có những chúng sanh bị đọa vào ác
đạo, Bồ Tát Ðịa Tạng dùng sức phương
tiện khiến họ được giải thoát, sanh
trong cõi trời, cõi người, nhưng rồi họ
lại trở vào lần nữa.” Có những chúng
sanh bị đọa vào ác đạo lần nữa, thì Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát sẽ dùng trí huệ thần
lực và phương tiện thiện xảo để khiến
cho họ được giải thoát và được sanh trở
lại vào cõi người hoặc sanh lên cõi
trời; tuy nhiên, sau khi họ được sanh
vào cõi người hoặc cõi trời rồi thì thế
nào? Thì họ lại bị đọa vào ba ác đạo
thêm lần nữa! Những chúng sanh như thế,
“nếu kết nghiệp nặng nề, thì họ phải ở
mãi chốn địa ngục, không lúc nào được
giải thoát.” Nếu ác nghiệp mà các chúng
sanh đó trót gây tạo đã quá sâu dày, quá
thâm trọng, thì họ phải mãi mãi chịu đọa
lạc trong chốn địa ngục, không bao giờ
được giải thoát, không bao giờ được “ly
khổ, đắc lạc.”
Kinh văn:
Bấy giờ, Ác Ðộc Quỷ Vương chắp tay cung
kính bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức
Thế Tôn! Hàng Quỷ Vương chúng con số
đông vô lượng, ở cõi Diêm Phù Ðề hoặc
làm lợi ích cho người, hoặc làm tổn hại
cho người, mỗi mỗi không giống nhau.
Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc
chúng con đi khắp thế giới làm ác nhiều,
làm thiện ít.
“Ði qua sân nhà người ta, hoặc thành
phố, xóm làng, trang trại, vườn cây,
buồng nhà, trong đó như có người nam kẻ
nữ nào tu được thiện sự bằng mảy lông
sợi tóc; cho đến treo một tràng phan,
một bảo cái và dâng chút hương, chút hoa
cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ Tát,
hoặc chuyển đọc tôn kinh,
đốt hương cúng dường cho một bài kệ,
một câu kinh; thì hàng Quỷ Vương chúng
con sẽ kính lễ người đó như kính lễ các
đức Phật thuở quá khứ, hiện tại cùng vị
lai.
“Chúng con ra lệnh cho các tiểu quỷ có
oai lực lớn và thần Thổ Ðịa đều phải bảo
vệ, che chở, chẳng để cho các việc dữ,
các tai nạn bất kỳ, hoặc bệnh nan y,
bệnh hiểm nghèo bất kỳ, cho đến những
việc không vừa ý đến gần chỗ của các nhà
đó, huống là để cho vào cửa!”
Lược giảng:
Bấy giờ, Ác Ðộc Quỷ Vương ...
Vị Quỷ Vương này tuy rất độc ác, chuyên
trừng trị những người ác độc, song giờ
đây, đến trước mặt Ðức Phật thì dù có ác
cách mấy cũng không còn ác, có độc đến
đâu cũng không còn độc nữa!
Vậy, Ác Ðộc Quỷ Vương đến trước mặt Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni, rồi chắp tay
cung kính bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch
Ðức Thế Tôn! Hàng Quỷ Vương chúng con số
đông vô lượng.” Mỗi thế giới đều có
vô lượng vô biên Quỷ Vương, mà thế giới
thì nhiều đến vô lượng vô biên, cho nên
sĩ số Quỷ Vương cũng đông đảo đến vô
lượng vô biên.
Các Quỷ Vương này đều cư ngụ “ở cõi
Diêm Phù Ðề, hoặc làm lợi ích cho người,
hoặc làm tổn hại cho người, mỗi mỗi
không giống nhau.” Ở cõi Nam Diêm
Phù Ðề thì tuy có những Quỷ Vương thường
làm lợi ích cho loài người, song cũng có
các Quỷ Vương chỉ gây tổn hại cho nhân
loại mà thôi—mỗi vị Quỷ Vương đều coi
sóc mỗi công việc khác nhau. Có vị thì
chuyên làm những việc hại người, có vị
thì chỉ làm các việc lợi người; tại sao
lại như thế? Ở đây, Quỷ Vương nói “hại
người” ngụ ý là điều phục người có lòng
dạ ác độc, và “lợi người” tức là đem sự
lợi ích đến cho người hiền lương.
Ác Ðộc Quỷ Vương bạch tiếp: “Nhưng vì
nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con
đi khắp thế giới làm ác nhiều, làm thiện
ít.”
Tại sao các Quỷ Vương phải làm những
công việc này? Chính vì nghiệp báo mà họ
đã trót gây tạo trong quá khứ khiến nay
họ phải làm Quỷ Vương, và cũng do nghiệp
báo mà loài quỷ quyến thuộc của họ đi
khắp nơi gieo rắc phần lớn là điều xấu,
việc ác.
Tuy rằng loài quỷ thường “làm ác nhiều,
làm thiện ít,” nhưng khi họ “đi qua
sân nhà người ta, hoặc thành phố, xóm
làng, trang trại, vườn cây, buồng nhà,
trong đó như có người nam kẻ nữ nào tu
được thiện sự bằng mảy lông sợi tóc; cho
đến treo một tràng phan, một bảo cái và
dâng chút hương, chút hoa cúng dường
tượng Phật cùng tượng Bồ Tát, hoặc
chuyển đọc tôn kinh—đọc tụng Kinh
Ðịa Tạng
hoặc các kinh điển Ðại Thừa khác như
Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh
Hoa Nghiêm, Kinh Kim Cang—hoặc đối
trước tượng Phật mà đốt hương cúng
dường cho một bài kệ, một câu kinh; thì
hàng Quỷ Vương chúng con sẽ kính lễ
người đó như kính lễ các đức Phật thuở
quá khứ, hiện tại cùng vị lai.”
Cho nên, hàng Quỷ Vương “chúng con ra
lệnh cho các tiểu quỷ có oai lực lớn—tuy
gọi là “tiểu quỷ” nhưng đã là loài quỷ
thì đều có sức đại thần thông—và thần
Thổ Ðịa đều phải bảo vệ, che chở
những người như thế! Ngoài ra,
còn phải
chẳng để cho các việc dữ, các tai nạn
bất kỳ, hoặc bệnh nan y, bệnh hiểm nghèo
bất kỳ, cho đến những việc không vừa ý
đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để
cho vào cửa!”
Thế nào gọi là “việc dữ”? “Việc dữ” tức
là những việc không như ý, chẳng hạn như
cháy nhà, hoặc bỗng dưng lại xảy ra
những việc ngoài ý muốn.
“Tai nạn bất kỳ” (hoạnh sự) là những sự
rủi ro mà mình không ngờ tới, như bị xe
đụng, máy bay rớt, xe lửa trật đường rầy
...
“Bệnh nan y” là những căn bệnh không trị
lành được.
“Bệnh hiểm nghèo bất kỳ” (hoạnh bệnh) là
thình lình mắc bệnh nặng, lây lất chưa
được một tiếng đồng hồ là chết.
“Những việc không vừa ý” tức là những
việc không may mắn, không kiết tường như
mình hằng mong đợi. Các Quỷ Vương còn
chẳng để cho những việc không may xảy ra
ở gần những nhà có người tu hành như
thế, huống chi là các việc dữ, các tai
nạn rủi ro, hoặc các bệnh tật hiểm nghèo
đột ngột! Cho nên, các Quỷ Vương cùng
quyến thuộc của họ thường bảo hộ những
người như thế, khiến cho mọi việc của
những người ấy đều được kiết tường. Vì
sao tất cả mọi việc của những người đó
đều được tốt lành? Bởi họ đã cúng dường
Tam Bảo, biết tu hành, làm nhiều thiện
sự, do đó những việc dữ không thể xảy
đến cho họ được!
Kinh văn:
Ðức Phật khen ngợi Quỷ Vương rằng: “Lành
thay! Lành thay! Các ông cùng với Vua
Diêm La có thể ủng hộ các thiện nam
thiện nữ như thế! Ta cũng bảo Phạm
Vương, Ðế Thích hộ vệ các ông!”
Ðức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp Hội
có một vị Quỷ Vương tên là Chủ Mạng bạch
cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn!
Nghiệp duyên căn bản của con là chủ về
nhân mạng ở cõi Diêm Phù Ðề, khi sanh
khi tử đều do con làm chủ. Bổn nguyện
của con thì rất muốn làm lợi ích, nhưng
vì chúng sanh không hiểu ý con nên đến
nỗi khi sanh khi tử đều không được an
ổn; tại sao thế?
“Người cõi Diêm Phù Ðề lúc mới sanh
xong, không kể là con trai hay con gái,
hoặc khi sắp sanh, chỉ nên làm thiện sự
để thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thì tự
nhiên Thần Thổ Ðịa sẽ vô cùng hoan hỷ,
ủng hộ cho cả mẹ lẫn con đều được sự an
lạc lớn, hàng quyến thuộc cũng được lợi
ích.
“Hoặc khi đã sanh rồi thì nên cẩn thận,
chớ giết hại để lấy những vị tươi ngon
cung cấp cho người sản mẫu, cùng nhóm
họp hàng quyến thuộc lại để uống rượu,
ăn thịt, ca hát, đánh đàn, thổi sáo; vì
có thể khiến cho cả mẹ lẫn con chẳng
được an lạc.”
Lược giảng:
Ðức Phật khen ngợi Quỷ Vương rằng: “Lành
thay! Lành thay!
Thật là phi thường! Thật là tốt đẹp!
Các ông—các Quỷ Vương—cùng với
Vua Diêm La có thể ủng hộ các thiện nam
thiện nữ như thế
thì thật là tốt đẹp biết bao! Ta
cũng bảo Phạm Vương—Ðại Phạm Thiên
Vương, Ðế Thích—thiên chủ cung
trời Ba Mươi Ba—hộ vệ các ông!”
Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói lời ấy xong,
trong Pháp Hội có một vị Quỷ Vương tên
là Chủ Mạng (đây là vị chúa quỷ cai
quản mạng sống, tuổi thọ của con người)
bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức
Thế Tôn! Nghiệp duyên căn bản của con là
chủ về nhân mạng ở cõi Diêm Phù Ðề, khi
sanh khi tử đều do con làm chủ. Do
quan hệ nghiệp lực của đời trước mà con
nay trông coi về sanh mạng của con người
trong cõi Nam Diêm Phù Ðề. Bất luận là
lúc sanh hay lúc tử, sanh mạng của họ
đều do con cai quản.”
Chủ Mạng Quỷ Vương bạch tiếp: “Bổn
nguyện của con thì rất muốn làm lợi ích,
nhưng vì chúng sanh không hiểu ý con nên
đến nỗi khi sanh khi tử đều không được
an ổn. Cứ theo bổn nguyện của con
thì con vốn rất sẵn lòng làm lợi ích cho
hết thảy chúng sanh, nhưng các chúng
sanh lại không hiểu được ý con, khiến
cho khi sanh khi tử tất cả đều không
được thanh thản, an lạc. Tại sao thế?
Người cõi Diêm Phù Ðề lúc mới sanh xong,
không kể là con trai hay con gái, hoặc
khi sắp sanh, chỉ nên làm thiện sự để
thêm sự lợi ích cho nhà cửa.”
Thế nào gọi là “thiện sự”? Ðó là những
việc phước lành, những việc hữu ích, có
lợi cho người khác. Làm việc thiện thì
sẽ gia tăng sự lợi ích cho nhà cửa; gia
tăng như thế nào? Nếu quý vị làm việc
thiện thì sẽ có một luồng hào quang tốt
lành (tường quang) chiếu sáng bảo hộ quý
vị; bấy giờ
“thì tự nhiên Thần Thổ Ðịa sẽ vô cùng
hoan hỷ, ủng hộ cho cả mẹ lẫn con đều
được sự an lạc lớn, hàng quyến thuộc
cũng được lợi ích.” Bởi vì quý vị
làm việc phước lành tức là làm tăng thêm
sự lợi ích cho nhà cửa, nên Thần Thổ Ðịa
vui mừng khôn xiết, bèn đến để che chở
phù hộ, khiến cho đứa trẻ sơ sinh cùng
người mẹ đều được nhiều sự an vui, mà
ngay cả bà con thân thuộc cũng được
hưởng nhiều phước lợi.
“Hoặc khi đã sanh rồi, thì nên cẩn thận,
chớ giết hại để lấy những vị tươi ngon
cung cấp cho người sản mẫu, cùng nhóm
họp hàng quyến thuộc lại để uống rượu,
ăn thịt, ca hát, đánh đàn, thổi sáo.”
Nếu người sản phụ đã sanh nở bình yên
rồi, thì thân nhân phải nhớ kỹ đừng bao
giờ giết hại chúng sanh, hoặc mua nào
gà, nào vịt, nào cá còn sống về làm thịt
để lấy những vị tươi ngon, bổ dưỡng cho
người đó ăn. Ngoài ra, cũng đừng mời
khách khứa, tiệc tùng linh đình để phô
trương, hoặc tụ tập bạn bè thân thuộc
lại bày rượu thịt ra rồi cùng nhau ăn
uống nhậu nhẹt, đàn ca hát xướng ồn ào
náo nhiệt; vì sao?
“Vì có thể khiến cho cả mẹ lẫn con chẳng
được an lạc.”
Bởi vì làm như thế sẽ khiến cho cả người
mẹ và đứa bé sơ sinh đều không được yên
ổn.
Kinh văn:
“Vì sao thế? Bởi vì lúc sanh nở khó khăn
đó, có vô số ác quỷ cùng vọng lượng,
tinh mỵ, muốn tới ăn huyết tanh. Chính
con sớm đã sai các thần linh của nhà cửa
đất đai phải bảo hộ người mẹ và đứa con,
làm cho họ được an vui mà hưởng nhiều sự
lợi ích.
“Những người này thấy sự an ổn vui vẻ
thì nên tạo phước để báo đáp các thần
Thổ Ðịa, thế mà trái lại, họ còn giết
hại, tụ tập quyến thuộc; vì lẽ này, hễ
phạm tội tất phải tự gánh chịu, người mẹ
và đứa con đều bị tổn hại!
“Lại ở cõi Diêm Phù Ðề, những người sắp
mạng chung, bất luận là thiện hay ác,
con đều muốn cho họ không bị đọa lạc
vào đường ác; huống chi là kẻ tự tu
thiện căn, làm tăng oai lực của con!
“Những người làm thiện ở cõi Diêm Phù
Ðề, đến lúc lâm chung cũng còn có trăm
ngàn quỷ thần trong ác đạo hoặc biến làm
cha mẹ, cho đến hàng quyến thuộc, dẫn
dắt người chết khiến cho lạc vào ác đạo;
huống chi là những kẻ vốn đã tạo ác!”
Lược giảng:
Chủ Mạng Quỷ Vương lại bạch: “Vì sao
thế?
Nguyên nhân nào khiến cho cả người mẹ và
đứa bé sơ sinh đều không được yên ổn?
Vì lúc sanh nở khó khăn đó, có vô số ác
quỷ cùng vọng lượng, tinh mỵ, các
loài sơn yêu thủy quái, muốn tới ăn
huyết tanh. Chúng thường nhân lúc
người sản phụ đang sanh nở, máu me lênh
láng, bèn tìm đến để ăn huyết tanh.
Chính con—Chủ Mạng Quỷ Vương—sớm
đã sai các thần linh của nhà cửa đất đai
phải bảo hộ người mẹ và đứa con, làm cho
họ được an vui mà hưởng nhiều sự lợi
ích.” “Thần linh” ở đây tức là Thần
Thổ Ðịa.
“Những người này thấy sự an ổn vui vẻ
thì nên tạo phước để báo đáp các thần
Thổ Ðịa.” Những người chung quanh thấy
cả mẹ lẫn con đều được an ổn vui vẻ thì
lẽ ra nên tu phước, làm những việc công
đức hầu đáp tạ hết thảy các thần Thổ Ðịa
mới phải; “thế mà trái lại, họ còn giết
hại, tụ tập quyến thuộc.” Họ chẳng những
không đáp tạ công ơn của chư vị thần
linh mà còn sát hại sinh vật, tụ họp bạn
bè thân quyến lại để ăn uống vui chơi,
tiệc tùng đình đám; “vì lẽ này, hễ phạm
tội tất phải tự gánh chịu, người mẹ và
đứa con đều bị tổn hại!” Một khi đã phạm
tội thì nhất định phải tự lãnh lấy quả
báo, do đó, luôn cả người mẹ cùng đứa bé
sơ sinh đều bị tổn hại.
Chủ Mạng Quỷ Vương bạch tiếp: “Lại ở
cõi Diêm Phù Ðề, những người sắp mạng
chung, bất luận là thiện hay ác, là
người hiền lành hay kẻ hung dữ, con
đều muốn cho họ không bị đọa lạc vào
đường ác, chẳng phải sa vào ba ác
đạo; huống chi là kẻ tự tu thiện căn,
làm tăng oai lực của con! Nếu kẻ sắp
chết là người đã từng tự mình tu thiện
căn, thì con không cần phải hao tổn sức
lực gì để bảo hộ cho người ấy cả!”
“Những người làm thiện ở cõi Diêm Phù
Ðề, đến lúc lâm chung cũng còn có trăm
ngàn quỷ thần trong ác đạo hoặc biến làm
cha mẹ, cho đến hàng quyến thuộc, dẫn
dắt người chết khiến cho lạc vào ác
đạo.”
Con người, cho dù quý vị là người thường
hay làm việc thiện, thì lúc hấp hối gần
kề cái chết thế nào cũng có loài ác quỷ
đến dụ dỗ, muốn làm cho quý vị bị đọa
lạc vào đường ác. Bấy giờ, các ác quỷ đó
có thể biến ra hình dạng giống hệt cha
mẹ hoặc bạn bè thân thuộc của quý vị, và
hiện đến để đón quý vị, khiến cho quý vị
bị đọa vào đường ác.
Vậy, những người làm thiện sự mà còn bị
ác quỷ đến lừa gạt, dụ dỗ vào ác đạo như
thế, thì
“huống chi là những kẻ vốn đã tạo ác,
chẳng làm mảy may thiện sự nào?”
Cho nên, nếu gặp những người đã quen
làm ác thì các ác quỷ lại càng muốn lôi
kéo họ vào đường ác hơn nữa!
Kinh văn:
“Bạch Ðức Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ
ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thì
thần thức hôn ám mê muội, không phân
biệt được thiện ác, cho đến mắt và tai
đều không còn thấy nghe gì nữa.
“Hàng quyến thuộc phải nên thiết đại
cúng dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm
danh hiệu của Phật cùng Bồ Tát; những
thiện duyên như thế có thể khiến cho
người chết thoát khỏi các đường ác, và
các ma quỷ, ác thần đều phải rút lui
hoặc giải tán.
“Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh lúc
lâm chung nếu được nghe đến danh hiệu
của một đức Phật, danh hiệu của một vị
Bồ Tát, hoặc một câu hay một bài kệ
trong kinh điển Ðại Thừa, con xem xét
thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián
và tội sát hại, còn những nghiệp ác nho
nhỏ đáng phải đọa vào đường ác thì chẳng
bao lâu đều được thoát khỏi cả.”
Ðức Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương rằng:
“Ông vì lòng đại từ nên có thể phát ại
nguyện, ở trong sanh tử cứu hộ chúng
sanh như thế. Như trong đời sau có kẻ
nam người nữ nào đến thời điểm sanh tử,
thì ông chớ rút lại lời nguyện đó, mà
nên làm cho họ thảy đều được giải thoát,
mãi mãi được an vui.”
Lược giảng:
Chủ Mạng Quỷ Vương lại bạch với Ðức Phật
rằng:
“Bạch Ðức Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ
ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thì
thần thức hôn ám mê muội.” Lúc
con người sắp chết thì khí ấm (noãn),
hơi thở (tức) và các thức (sự hiểu biết)
đều lìa khỏi cơ thể—xác thân không còn
hơi ấm, hô hấp ngừng bặt và Thức Thứ Tám
(thức A-lại-da) cũng lìa khỏi thân, đây
gọi là “mạng chung” (sanh mạng hết). Khi
vừa mới chết thì thần thức (tức là Thân
Trung Ấm) rơi vào trạng thái hôn trầm mê
muội, không còn sáng suốt tỉnh táo,
không còn rõ biết gì nữa cả; đó là vì
thần thức mới vừa tách rời khỏi cơ thể,
chính mình vẫn chưa biết là mình đã
chết.
“Không phân biệt được thiện ác, cho đến
mắt và tai đều không còn thấy nghe gì
nữa.”
“Không phân biệt được thiện ác” tức
là không còn khả năng biện biệt, không
thể biết được rõ ràng thế nào là thiện,
thế nào là ác nữa. Lúc bấy giờ, kẻ lâm
chung không còn nhìn thấy và cũng chẳng
thể nghe thấy gì cả—tri giác về thấy và
nghe đều không còn.
Vì thế,
“hàng quyến thuộc phải nên thiết đại
cúng dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm
danh hiệu của Phật cùng Bồ Tát.” Tất
cả bà con thân thích bấy giờ nên vì
người sắp chết mà làm những việc công
đức tạo phước lành lớn, như thỉnh chư
Tăng đến tụng kinh, hoặc tự mình tụng
kinh cho người ấy.
Do đó, ở Trung Hoa khi trong gia đình có
người vừa qua đời, hàng quyến thuộc
thường thỉnh cầu chư Tăng tụng kinh
trong suốt bảy thất (bốn mươi chín
ngày), là cũng vì lẽ ấy. Như lúc Lão Hòa
Thượng Hư Vân viên tịch (1959), Phật
Giáo Giảng Ðường tại Hương Cảng đã làm
công đức tụng Kinh Ðại Bát Nhã
trong suốt một trăm sáu mươi ngày ròng
rã. Ðây là việc xưa nay chưa từng xảy
ra—từ thời Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cho
đến nay, chưa có vị Tổ Sư nào viên tịch
mà được tụng Kinh Ðại Bát Nhã cả.
Tổ chức một pháp hội lớn lao như vậy gọi
là “thiết đại cúng dường.”
“Chuyển đọc tôn kinh” tức là trì tụng bộ
kinh này—Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện.
“Những thiện duyên như thế có thể khiến
cho người chết thoát khỏi các đường ác,
và các ma quỷ, ác thần đều phải rút lui
hoặc giải tán.”
Bởi hàng quyến thuộc vì người chết mà
làm các việc công đức, cho nên những
nhân duyên thiện lành đó có thể hỗ trợ,
giúp cho người chết xa lìa các ác đạo.
Lại nữa, “đức đại tắc oan nghiệt
tiêu”—kẻ có công đức lớn thì tội nghiệt
cũng được giảm nhẹ hoặc tiêu tan; do đó
tất cả ma quỷ và ác thần thảy đều thối
lui, bỏ chạy hết, không còn đeo đuổi
người ấy nữa.
Chủ Mạng Quỷ Vương lại bạch tiếp:
“Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh
ở Nam Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung nếu
được nghe đến danh hiệu của một đức
Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát—không
cần nhiều, chỉ cần được nghe vỏn vẹn
danh hiệu của một vị Phật hoặc một vị Bồ
Tát mà thôi—hoặc một câu hay một bài
kệ trong kinh điển Ðại Thừa, con xem xét
thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián
và tội sát hại, còn những nghiệp ác nho
nhỏ đáng phải đọa vào đường ác thì chẳng
bao lâu đều được thoát khỏi cả.”
Theo phần kinh văn trên, nếu có những
người lúc lâm chung được nghe danh hiệu
của một đức Phật hay của một tôn Bồ Tát,
một câu hoặc một bài kệ của kinh điển
Ðại Thừa mà thôi, thì có thể được tiêu
trừ tất cả mọi nghiệp tội, ngoại trừ năm
tội Vô Gián và tội sát hại. Năm tội Vô
Gián (năm tội nghịch đáng phải đọa địa
ngục Vô Gián) và tội sát hại thì vốn
chẳng thể tiêu trừ được. Trong trường
hợp những chúng sanh đó chỉ gây các
nghiệp ác nho nhỏ, nhẹ hơn năm tội Vô
Gián và tội sát hại một chút, song vẫn
đáng phải đọa ác đạo, thì chẳng bao lâu
Chủ Mạng Quỷ Vương cũng sẽ khiến cho họ
được giải thoát, khỏi phải chịu tội.
Tuy nhiên, phần kinh văn trên cũng có
thể được hiểu là cho dù các người đó có
mắc năm tội Vô Gián hoặc tội sát hại thì
cũng đều được giải trừ cả. Bởi nếu trong
lúc cận kề cái chết, những người ấy có
thể khởi lòng thành tâm đến cực điểm,
thì mọi nghiệp chướng đều có thể rũ
sạch; tuy nhiên, vấn đề là rất khó mà
giữ được chánh niệm trong giờ phút tối
hậu đó!
Ðức Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương rằng:
“Ông vì lòng đại từ nên có thể phát đại
nguyện, ở trong sanh tử cứu hộ chúng
sanh như thế. Ông quả thật là có lòng
đại từ bi nên mới lập thệ nguyện lớn lao
này, chịu ở trong sự sanh tử của chúng
sanh mà bảo hộ hết thảy chúng sanh! Như
trong đời sau có kẻ nam người nữ nào đến
thời điểm sanh tử, thì ông chớ rút lại
lời nguyện đó, mà nên làm cho họ thảy
đều được giải thoát, mãi mãi được an
vui.”
Kinh văn:
Quỷ Vương bạch cùng Ðức Phật rằng: “Xin
Ðức Thế Tôn chớ lo! Trọn đời con luôn
luôn ủng hộ chúng sanh ở cõi Diêm Phù
Ðề, làm cho lúc sanh lúc tử đều được an
vui. Chỉ mong các chúng sanh trong lúc
sanh cùng lúc tử đều tin theo lời con,
thì không ai là không được giải thoát và
được lợi ích lớn cả!”
Bấy giờ, Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng
rằng: “Vị Ðại Quỷ Vương chủ về sanh mạng
đây, đã từng trải qua trăm ngàn đời làm
vị Ðại Quỷ Vương, ủng hộ chúng sanh
trong lúc sanh và lúc tử. Bậc Ðại Sĩ này
vì lòng từ bi phát nguyện hiện thân đại
quỷ, chớ thật ra không phải quỷ.
“Quá một trăm bảy mươi kiếp sau, ông ấy
sẽ được thành Phật hiệu là Vô Tướng Như
Lai, kiếp tên là An Lạc, thế giới tên là
Tịnh Trụ, thọ mạng của Ðức Phật đó đến
số kiếp không thể tính đếm được.
“Này Ðịa Tạng Bồ Tát! Những việc của vị
Ðại Quỷ Vương đó thì không thể nghĩ bàn
như thế; hàng trời, người được độ thoát
cũng đến số không thể hạn lượng.”
Lược giảng:
Quỷ Vương bạch cùng Ðức Phật rằng ...
Chủ Mạng Quỷ Vương rất tự tại, cho nên
làm chúa quỷ cũng không đến nỗi tệ
lắm—ông ta muốn cho ai sống thì người đó
sống, muốn cho ai chết thì người đó phải
chết. Chính vì sanh mạng của tất cả mọi
người đều nằm trong tay Chủ Mạng Quỷ
Vương, cho nên nếu ông ta là kẻ tham
lam, chịu ăn hối lộ như bọn quan lại
tham ô ở thế gian, thì nhất định ông ta
sẽ rất giàu có và thế giới này sẽ đông
đúc hơn nhiều!
Thuở trước, lúc Pháp Sư Ðạo Sanh giảng
kinh thì có một con quỷ thường đến lắng
nghe rất chăm chú. Một hôm, Ngài Ðạo
Sanh bảo quỷ hãy đi đầu thai làm người,
thì quỷ trả lời rằng:
“Ngã kim tác quỷ tam thiên thu,
Dã vô phiền não, dã vô sầu,
Sanh Công giáo ngã vi nhân khứ,
Chỉ khủng vi nhân bất đáo đầu.”
(Ba ngàn năm nay tôi làm quỷ,
Ðã không phiền não cũng không sầu,
Sanh Công bảo tôi đi làm người,
Chỉ sợ làm người làm chẳng xong!)
Ý quỷ nói rằng: “Tôi làm quỷ tính đến
nay đã hơn ba ngàn năm rồi, tôi chẳng có
phiền não và cũng chẳng phải lo âu,
phiền muộn gì cả. Nay Ngài Ðạo Sanh bảo
tôi đi làm người, song tôi chỉ ngại rằng
mình làm không được chu tất thì sẽ tạo
tội, cho nên tôi thà cứ làm quỷ mà hơn!”
Quý vị xem, kẻ làm quỷ thì cho rằng làm
quỷ cũng không đến nỗi nào! Người Trung
Hoa có câu nói đại ý rằng những kẻ ăn
mày mà đã đi xin ăn được ba năm rồi, thì
có cho họ lên làm vua họ cũng chẳng muốn
làm, bởi vì họ sống tự do quen rồi! Gã
hành khất đi ăn xin được ba năm, thì cho
dù được mời lên làm hoàng đế, gã cũng
không ham; kẻ làm quỷ được hơn ba ngàn
năm, quý vị bảo đi làm người, kẻ ấy cũng
chẳng muốn, bởi vì quỷ ta cảm thấy làm
quỷ thì không có phiền não, cũng chẳng
phải lo âu phiền muộn gì cả!
“Sanh Công” tức là chỉ Pháp Sư Ðạo Sanh,
quỷ gọi Ngài là “Sanh Công” (ngài Sanh).
Cho nên, khi quý vị sang đến Ðài Loan để
thọ Giới (1969), nếu gặp các Lão Giới Sư
như Pháp Sư Ấn Thuận chẳng hạn, quý vị
có thể gọi Ngài là “Ấn Công” (ngài Ấn),
tức là chỉ dùng một chữ trong tên hiệu
của Ngài để gọi thôi. Trong hai chữ “Ấn
Thuận,” quý vị cảm thấy chữ nào thuận
miệng thì gọi bằng chữ đó, không hạn
định chữ trên hay chữ dưới, chữ trước
hay chữ sau.
Lại như Pháp Sư Ðạo Nguyên, lẽ ra quý vị
phải gọi Ngài là “Ðạo Công” hoặc “Nguyên
Công”; song hiện nay quý vị đi thọ Giới,
Pháp Sư Ðạo Nguyên sẽ là “đắc Giới Hòa
Thượng” của quý vị, thì quý vị không thể
gọi Ngài như thế được nữa; vậy thì phải
xưng hô như thế nào? Vì quý vị sẽ thọ
Giới với Ngài, cho nên quý vị phải gọi
Ngài là “đắc Giới Hòa Thượng”! Bởi Ngài
là “đắc Giới Hòa Thượng,” nếu quý vị đến
thọ Giới với Ngài mà lại gọi Ngài là
“Ðạo Công” hay “Nguyên Công,” tức là
thiếu cung kính. Quý vị phải gọi Ngài là
“đắc Giới Hòa Thượng,” như thế là tỏ
lòng kính trọng, rất mực cung kính đối
với Ngài.
Còn đối với các Giới Sư khác thì thế
nào? Thì quý vị đều gọi các ngài bằng
một chữ trong tên hiệu của họ, đừng dùng
cả hai chữ, và phải nhớ kèm thêm chữ
“công” ở đằng sau.
Ngoài ra, nếu gặp những người xuất gia
khác, trong lúc nói chuyện quý vị đều
phải chắp hai tay lại, mắt không được
nhìn người ta chằm chằm, mà phải “mắt
quán mũi” (mắt nhìn xuống chót mũi), nói
chuyện với bất cứ ai cũng phải nhớ thâu
nhiếp thân tâm. Vì quý vị sắp sửa đi thọ
Giới, do đó nay tôi truyền dạy giới luật
Phật Giáo cho người phương Tây quý vị,
quý vị cần phải hết sức chú ý mới được!
Sang đến bên đó (Ðài Loan), nếu quý vị
hành trì đàng hoàng, nghiêm túc, thì sẽ
khiến cho người ta có ấn tượng tốt về
người Tây phương, và ai nấy sẽ phải trầm
trồ: “Ồ! Thì ra người Tây phương giữ
Giới Luật cũng rất tinh nghiêm!” Nếu quý
vị đến đó mà còn không chịu tuân giữ quy
củ, thì người ta sẽ lắc đầu ngao ngán:
“Ôi! Ông này không xong rồi, tu hành
chẳng ra gì cả!”; và như thế là quý vị
đã làm mất thể diện của toàn thể người
Tây phương, khiến cho sau này nếu có
người Tây phương nào muốn xuất gia, e
rằng chẳng có ai dám thâu nhận: “Không
được! Mấy người đó không tu hành được
đâu! Ðừng thâu nhận họ!”
Vì thế, tất cả quý vị, bất luận là Tỳ
Kheo hay Tỳ Kheo Ni, đến bất cứ nơi nào
thì cũng phải nêu gương tốt, phải thận
trọng tuân giữ quy củ phép tắc, không
được bê bối, chểnh mảng!
Quý vị hiện nay có năm người đi chung
với nhau, khi sang đến Ðài Loan thì
trước hết quý vị hãy thỉnh cầu một việc;
thỉnh cầu việc gì? Quý vị hãy xin phép
được ghi âm! Bởi vì trong số quý vị thì
có người hiểu tiếng Trung Hoa mà cũng có
người không hiểu được, do đó, khi đi quý
vị hãy mang theo máy ghi âm và máy chụp
hình, có sự việc gì quan trọng thì có
thể chụp hình để mang về.
Lại nữa, trong suốt thời gian thọ Giới,
bất cứ vị Pháp Sư nào khai thị, quý vị
đều có thể đặt máy ghi âm để thâu. Sau
đó, năm người quý vị họp nhau lại, người
nào hiểu tiếng Trung Hoa thì phiên dịch
(sang Anh ngữ) cho những người không
hiểu nghe, sau mỗi buổi giảng đều nên
làm như vậy. Trong lúc mọi người nghỉ
ngơi thì quý vị chớ nên nghỉ; quý vị cần
phải giúp đỡ lẫn nhau—hôm nay có những
việc gì thì nên nói rõ cho những người
không hiểu tiếng Trung Hoa đều được
biết. Nếu quý vị làm được như thế, thì
sẽ có được sức mạnh của sự đoàn kết.
Ðừng nên sang đến đó, học xong rồi mà
cái gì cũng vẫn không biết cả!
Có thể nói đây là lần đầu tiên có nhiều
người Tây phương đi thọ Giới như thế
này—trước đây chưa từng có! Quý vị sang
Ðài Loan thọ Giới, hãy học tinh tường
các quy củ phép tắc để trở về có thể
truyền đạt lại cho người Mỹ sau này. Năm
nay quý vị đi thọ Giới trở về rồi, thì
sang năm hoặc năm tới nữa, chúng ta cũng
có thể tổ chức truyền Giới tại đây, khai
mở một Giới Ðàn ngay tại Mỹ Quốc. Muốn
mở một kỳ truyền Giới thì cần phải thỉnh
được mười vị Hòa Thượng để có được “tam
sư thất chứng” (ba vị làm Giới Sư, bảy
vị làm tôn chứng), nếu thỉnh được nhiều
vị hơn thì càng tốt. Quý vị chính là
nhân tài cơ bản trong công cuộc khai
sáng Phật Giáo tại Mỹ Quốc, cho nên,
chuyến đi này hết sức quan trọng!
Vậy, lúc bấy giờ Chủ Mạng Quỷ Vương bạch
cùng Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng:
“Xin Ðức Thế Tôn chớ lo! Cúi xin Ðức
Phật chớ bận tâm về việc đó nữa! Trọn
đời con luôn luôn ủng hộ chúng sanh ở
cõi Diêm Phù Ðề, làm cho lúc sanh lúc tử
đều được an vui. Con nay làm quỷ,
con nguyện cho đến hết thời kỳ phải làm
quỷ của con, trong từng ý niệm, trong
mỗi khoảnh khắc, con đều lo cứu hộ chúng
sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề. Dù là khi họ
sanh ra hoặc lúc chết đi, con đều khiến
cho họ sanh được bình yên, chết được an
ổn, không xảy ra những việc rủi ro,
ngoài ý muốn.”
“Chỉ mong các chúng sanh trong lúc sanh
cùng lúc tử đều tin theo lời con, thì
không ai là không được giải thoát và
được lợi ích lớn cả!
Tuy nhiên, con có một yêu cầu là hết
thảy chúng sanh, trong lúc sanh cũng như
lúc tử đều phải triệt để nghe và làm
theo lời con căn dặn; được như thế thì
con sẽ khiến cho họ đạt được nhiều sự
lợi ích lớn lao.”
Như quý vị là đệ tử của tôi, thì đều
phải vâng lời tôi; nếu đệ tử mà không
nghe theo lời dạy bảo của sư phụ thì đó
không phải là một đệ tử ngoan. Cho nên,
những chúng sanh không tuân theo lời dặn
dò của Quỷ Vương thì không phải là những
chúng sanh “ngoan,” Quỷ Vương cũng sẽ
không bảo hộ cho những kẻ ấy!
Bấy giờ, Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng
rằng: “Vị Ðại Quỷ Vương chủ về sanh mạng
đây, đã từng trải qua trăm ngàn đời làm
vị Ðại Quỷ Vương, ủng hộ chúng sanh
trong lúc sanh và lúc tử. Bậc Ðại Sĩ này
vì lòng từ bi phát nguyện hiện thân đại
quỷ, chớ thật ra không phải quỷ.”
Chủ Mạng Quỷ Vương quả thật là một vị
Ðại Bồ Tát—tuy mang thân Quỷ Vương, song
đó là vị Ðại Bồ Tát phát nguyện muốn làm
Quỷ Vương, do nguyện lực từ bi mà Bồ Tát
hiện thân làm Ðại Quỷ Vương, chứ sự thật
thì không phải là quỷ.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại thọ ký cho
Chủ Mạng Quỷ Vương rằng: “Quá một
trăm bảy mươi kiếp sau, ông ấy sẽ được
thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai,
kiếp tên là An Lạc, thế giới tên là Tịnh
Trụ, thọ mạng của Ðức Phật đó đến số
kiếp không thể tính đếm được.”
Từ hiện tại cho đến đời vị lai về sau,
trải qua một trăm bảy mươi đại kiếp, Chủ
Mạng Ðại Quỷ Vương sẽ được thành Phật,
hiệu là Vô Tướng Như Lai. “Vô tướng”
nghĩa là không có các tướng. Kiếp của
Ðức Phật Vô Tướng có tên là An Lạc Kiếp,
cõi nước tên là Thế Giới Tịnh Trụ; và
Ðức Phât này có thọ mạng rất lâu dài.
(Thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay
là Thế Giới Ta Bà, và kiếp tên là Hiền
Kiếp.)
Ðức Phật lại bảo Ngài Ðịa Tạng rằng:
“Này Ðịa Tạng Bồ Tát! Những việc của vị
Ðại Quỷ Vương đó thì không thể nghĩ bàn
như thế.
Ông nên biết rằng những nhân duyên trong
quá khứ, hiện tại, cùng vị lai của Chủ
Mạng Quỷ Vương là như vậy—đều là những
việc không thể nghĩ bàn. Hàng trời,
người được vị ấy độ thoát cũng đến số
không thể hạn lượng. Số lượng chúng
sanh ở cõi trời và cõi người do Chủ Mạng
Quỷ Vương cứu độ thì nhiều đến vô lượng
vô biên, không thể nào tính đếm cho xuể
được.
__________________________
Chú Thích:
[1] Mười Pháp Giới gồm có bốn Pháp Giới
của bậc Thánh là Phật, Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác, và sáu Pháp Giới của
phàm phu là trời, người, A-tu-la, súc
sanh, ngạ quỷ, địa ngục.