| ||||||
|
|
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Thiển
Thích
Tam Tạng
Pháp Sư Pháp Ðăng
Hòa Thượng Tuyên Hóa Giảng Thuật
-o0o-
Quyển Trung Phẩm Thứ Sáu: Như Lai Tán Thán
"Hoặc khuyên bảo người khác cùng chê." Hoặc kẻ ác ấy chẳng những chính mình chê bai mà còn rủ rê, xúi xiểm nhiều người khác đừng đi tụng Kinh: "Tụng Kinh có gì tốt đâu? Quý vị đừng đi lễ Phật, cũng đừng đi nghe Kinh nữa! Thay vì đi nghe giảng Kinh thì quý vị dùng thì giờ đó để uống một liều LSD, quý vị sẽ có cảm giác lâng lâng bay bổng, mơ màng tưởng chừng như mình đang ở thế giới Cực Lạc vậy; cần gì phải tin vào những việc kia?" Ðây chính là "khuyên bảo người khác cùng chê," xúi giục người khác làm sai giống mình, về cùng phe với mình. Ví dụ, trong đoàn thể Phật Giáo có một người nọ không tuân giữ quy củ; biết là mình yếu thế, cho nên ông ta muốn kiếm một người cũng không giữ quy củ như mình làm "đồng minh," để dễ biện hộ cho hành vi sai trái của mình. Bởi nếu bị chỉ trích, thì ông ta sẽ bào chữa rằng: "Thì người khác cũng như vậy cơ mà!" Có "đồng đảng" thì dù sao cũng có ưu thế hơn! "Hoặc một người chê, hoặc nhiều người chê." Hoặc chỉ đơn độc một người đi khắp nơi rêu rao phá hoại, hoặc nhiều người tụ tập lại một chỗ rồi cùng nhau chỉ trích, chê bai. "Cho đến sanh lòng chê bai trong chừng một niệm." Không cần phải lúc nào cũng chê bai mà chỉ trong một niệm, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tâm tư chợt dấy lên ý tưởng giễu cợt, phỉ báng.
"Những kẻ như thế, những kẻ nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng, hoặc một mình chê, hoặc cùng người khác chê, hoặc cùng nhiều người chê, và mặc dù chỉ sanh lòng chê bai trong một niệm ngắn ngủi mà thôi, thì sau khi một ngàn đức Phật trong Hiền Kiếp diệt độ cả, vì tội báo khinh chê nên vẫn còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu tội cực nặng." Kỳ kiếp hiện tại của chúng ta gọi là Hiền Kiếp; vì sao gọi là Hiền Kiếp? Bởi vì trong thời kỳ này có rất nhiều bậc Thánh Hiền—thánh nhân, hiền nhân—xuất hiện ở thế gian. Kỳ Hiền Kiếp có một ngàn (1.000) đức Phật xuất thế, trong đó, Phật Thích Ca Mâu Ni là đức Phật thứ tư; như vậy là còn chín trăm chín mươi sáu (996) đức Phật nữa sẽ xuất thế. Sau khi có một đức Phật xuất thế, phải qua một thời kỳ rất lâu rất dài mới lại có một đức Phật nữa xuất thế; do đó nếu phải đợi cho đến khi chín trăm chín mươi sáu đức Phật đều xuất thế và diệt độ cả, thì thời gian chờ đợi dài biết chừng nào! Vậy mà trải qua suốt kỳ kiếp dài đăng đẳng đó, những kẻ mắc tội báo khinh chê phá hoại Phật Pháp vẫn còn phải thọ tội ở địa ngục A Tỳ. Quý vị nên biết rằng một ngày một đêm của thế giới chúng ta đang sống thì lâu bằng sáu mươi (60) tiểu kiếp ở địa ngục A Tỳ. Lại nữa, năm mươi (50) năm ở nhân gian thì đối với cõi trời Tứ Thiên Vương chỉ là một ngày một đêm; và một trăm (100) năm ở nhân gian chỉ bằng một ngày một đêm ở cung trời Ðao Lợi. Thế thì, vì sao một ngày một đêm của chốn nhân gian lại tương đương với sáu mươi tiểu kiếp của địa ngục A Tỳ? Con người, nếu hôm nào trong lòng vui vẻ thì cảm thấy một ngày rất ngắn ngủi, thời gian trôi qua rất nhanh; trái lại, nếu ngày nào ưu tư lo lắng, gặp việc không ưng ý, phải chờ đợi một ai đó hoặc đang trông mong điều gì đó, thì lại cảm thấy ngày dài lê thê, thời gian sao đi quá chậm! Từ đó suy ra thì chúng ta cũng có thể biết được do đâu mà một ngày một đêm ở nhân gian lại bằng sáu mươi tiểu kiếp ở địa ngục—bởi ở địa ngục quá đau khổ; khi sống trong sự thống khổ thì người ta thường cảm thấy thời gian đi chậm quá, ngày dài quá, còn lúc hưởng thụ sung sướng thì lại thấy thời gian trôi qua vùn vụt! "Qua khỏi kiếp này xong, mới thọ thân ngạ quỷ." Sau khi đã chịu tội ở địa ngục A Tỳ trong suốt kỳ Hiền Kiếp một ngàn đức Phật xuất thế rồi, những kẻ ác mắc tội báo phá hoại Phật Pháp đó lại phải đi làm thân ngạ quỷ. "Rồi mãi đến một ngàn kiếp sau mới thọ thân súc sanh. Lại phải trải qua một ngàn kiếp nữa mới được thân người." Sau một ngàn kiếp làm ngạ quỷ thì họ được làm thân súc sanh. Làm súc sanh thì cứ sinh ra rồi chết, chết rồi lại sinh ra, luẩn quẩn trong suốt một ngàn kiếp như thế rồi mới được đầu thai làm người. Tuy nhiên, "dầu thọ thân người, nhưng là hạng bần cùng hạ tiện." Bấy giờ, mặc dù được mang thân người, nhưng lại thế nào? Lại thuộc hạng nghèo hèn, thấp kém trong xã hội. Hiện nay, nước Mỹ đang khởi xướng những hoạt động tế bần; thế mà khi vừa đặt chân đến nước này thì tôi liền phê bình công tác "cứu nghèo" này ngay. Sở dĩ tôi nói rằng công cuộc tế bần là không có công dụng gì mấy, bởi vì cái nghèo của con người trong đời này vốn do vô lượng nghiệp tội tạo tác từ vô lượng kiếp cho đến nay. Sự cứu giúp của quý vị chẳng qua là giải quyết vấn đề trong lúc nhất thời mà thôi, chứ không thể nào khiến cho họ vĩnh viễn thoát khỏi cảnh nghèo khó được cả. Nếu thật sự muốn tế bần thì cần phải đề xướng đủ loại công việc từ thiện, đề xướng kêu gọi mọi người làm việc tốt, bỏ ác làm lành, đừng tạo nghiệp tội nữa—như thế mới là chân chánh tế bần. Ngoài ra, cần phải đừng xúi người khác hủy báng Tam Bảo, mà nên đi khắp nơi đề xướng Phật Pháp. Như thế, có Tam Bảo, có Phật Pháp Tăng trụ thế, thì nhân loại có thể trồng phước được. Bởi người biết cúng dường Tam Bảo tất sẽ được phước báo; có phước báo thì về sau sẽ không phải nghèo nàn túng thiếu—đó mới là chân chánh tế bần vậy. Trong phần kinh văn này nói rõ là người hủy báng Tam Bảo sau khi đã trải qua thời kỳ Hiền Kiếp của một ngàn đức Phật rồi, còn phải đọa địa ngục suốt một ngàn kiếp, trầm luân trong cõi ngạ quỷ một ngàn kiếp, và luẩn quẩn trong cõi súc sanh thêm một ngàn kiếp nữa, rồi sau đó mới được đầu thai làm người. Làm người thì thế nào? Thì phải sống trong cảnh nghèo nàn túng quẫn, hèn kém vô cùng. "Các căn không đầy đủ." Những kẻ ác nói trên tuy được mang thân người song các căn không được đầy đủ. Họ có thể sanh làm người song phải mang khuyết tật như không có mắt, không có tai, không có mũi, không có lưỡi, không có tay, không có chân ...—nói chung là sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý không đầy đủ trọn vẹn. Vừa rồi tôi có nói là "không có lưỡi"; làm sao lại không có lưỡi được? "Không có lưỡi" ở đây ngụ ý là không nói được. Họ có thể là không có mắt hoặc là chỉ có một con mắt mà thôi. Mọi người đều có hai con mắt, nay có kẻ chỉ có một con mắt, quý vị thử tưởng tượng xem như thế trông có khó coi lắm không? Hoặc người chỉ có một lỗ tai thì thế nào? Trên đây là ví dụ cho những trường hợp sáu căn không toàn vẹn, "các căn không đầy đủ." "Thường hay bị nghiệp ác kết buộc vào tâm." Nói chung, tuy những kẻ ác ấy được làm người song mọi việc đều không được thuận lợi, suông sẻ như ý muốn—không thiếu ăn thiếu mặc thì cũng thiếu chỗ ở hoặc gặp phải những sự việc xảy ra ngoài ý muốn. "Nghiệp ác" này cũng chính là "các tai vạ bất ngờ" như đã đề cập ở trên. Những kẻ ấy cứ gặp các "hoạnh sự," bị những việc bất như ý, những việc không tốt lành ràng buộc, làm não loạn tâm trí; rồi "chẳng bao lâu lại phải đọa vào ác đạo." Những người ấy làm người chưa được bao lâu thì lại bị đọa vào ba đường ác lần nữa. Trong phẩm trước có kể rõ rằng bà mẹ của cô Quang Mục đầu thai vào nhà của con gái và đến mười ba tuổi thì phải chết, đọa lạc ác đạo, cũng là một thí dụ điển hình của trường hợp này vậy. Kinh văn: "Cho nên, Phổ Quảng, khinh chê sự cúng dường của người khác mà còn mắc phải tội báo như thế, huống là tự sanh ác kiến hủy diệt!" Lược giảng: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Cho nên, Phổ Quảng, khinh chê sự cúng dường của người khác mà còn mắc phải tội báo như thế..." Khinh chê và hủy báng những người cúng dường Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thì phải nhận lãnh những ác báo nào? Ðó là quả báo phải trải qua một ngàn kiếp đày đọa ở chốn địa ngục, một ngàn kiếp trôi nổi trong đường ngạ quỷ, một ngàn kiếp luẩn quẩn trong chốn súc sanh, rồi sau đó mới được đầu thai làm người mà lại là người bần cùng hạ tiện và các căn không toàn vẹn. Có người thắc mắc: "Có nhất định là phải trải qua đủ số mấy ngàn kiếp như thế rồi mới được làm người không?" Chính thế! Nhất định là như thế! Ðây là luật pháp của địa ngục do chính Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên nói. Tuy nhiên, trong đó vẫn có sự ngoại lệ đối với những nhân duyên đặc biệt, cho nên có khi lại không nhất định là phải như thế. Nhân duyên đặc biệt như thế nào? Ví dụ có kẻ đáng lẽ phải làm ngạ quỷ suốt một ngàn kiếp, song trong lúc đang mang thân ngạ quỷ thì kẻ ấy phát tâm từ bi, tự nguyện trợ giúp những người đang tu Ðạo, hoặc thấy người khác lạy Phật, lạy Bồ Tát thì kẻ ấy cũng tùy hỷ phát tâm lễ bái theo và hoan hỷ bảo vệ người tu Ðạo; như vậy là trong thời gian thọ tội, kẻ ấy đã lập được công đức thiện lành, nhờ đó kẻ ấy có thể không cần phải đợi hết một ngàn kiếp mới được đi đầu thai làm súc sanh hoặc làm người. Hoặc là có người trong lúc đang mang thân súc sanh thì được may mắn sống gần gũi với những người tin Phật, như được nuôi trong chùa hoặc trong nhà của các cư sĩ Phật tử, ngày ngày được huân tập huân tu cho nên vô hình trung, cũng sanh tín tâm đối với Phật Pháp. Tin Phật rồi thì tội chướng cũng giảm dần, cho nên người ấy không nhất thiết phải mang thân súc sanh đủ một ngàn kiếp như đã định nữa, mà có thể được thác sanh làm người sớm hơn! Lúc Hư Vân Lão Hòa Thượng ở Vân Nam (Trung Hoa), có một con gà được mang đến thả nuôi trong chùa, và hằng ngày nó thường lẽo đẽo đi theo những người tu hành ở đó. Khi chư Tăng lên chánh điện niệm Phật thì nó cũng đi theo, và cùng mọi người nhiễu Phật, niệm Phật. Như thế được ba năm thì có một hôm con gà đó đến đứng trước tượng Phật mà vãng sanh. Ðây là một trong những trường hợp nhân duyên đặc biệt vậy. Như vậy, nếu có nhân duyên đặc biệt, thì kẻ đang mang thân súc sanh nói trên không cần phải trải qua một ngàn kiếp nữa mới được làm người. Lại nữa, nếu trong lúc thọ thân làm người bần cùng hạ tiện, kẻ ấy biết được rằng sở dĩ đời này mình phải chịu quả báo nghèo hèn thấp kém, các căn không đầy đủ như thế, là do vô lượng kiếp về trước mình đã từng hủy báng Tam Bảo, không nghe Phật Pháp, không cung kính Ðịa Tạng Vương Bồ Tát; nên bèn dũng mãnh tinh tấn tu tâm dưỡng tánh, ăn chay niệm Phật hoặc chăm chỉ tu Ðạo, thậm chí xuất gia làm Tỳ Kheo, thì kẻ ấy sẽ không phải đọa vào ác đạo lại nữa. Nói tóm lại, tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên cá biệt của từng chúng sanh. Nếu gặp trường hợp có nhân duyên đặc biệt thì thời gian thọ báo không nhất thiết là phải lâu dài như đã định. Cho nên Phật Pháp rất linh động, uyển chuyển và rất hữu lý. Không phải là đã biết sám hối và sửa đổi rồi, mà sau đó vẫn phải chịu khổ báo lâu dài như thế. Không phải như vậy! Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (Kinh Hoa Nghiêm) có nói rằng tội lỗi nghiệp chướng của chúng sanh thì không có hình tướng, chứ nếu có hình tướng cụ thể thì nghiệp tội của mỗi một kẻ trong chúng ta đã choán đầy hết cõi hư không từ lâu rồi. May mà nghiệp chướng không có hình tướng, không nhìn thấy được, không cần chuẩn bị nơi để chứa nó, do đó có nhiều đến bao nhiêu đi nữa thì cũng chẳng hề gì! Nếu quý vị biết ăn năn hối cải thì bao nhiêu tội chướng cũng đều có thể tiêu diệt, vì vậy mới có câu: "Phật tiền đảnh lễ, tội diệt hà sa." Quý vị đối trước Phật mà lễ bái, chân thành sám hối, thì bao nhiêu tội chướng (dù nhiều như cát sông Hằng) cũng đều được tiêu tan, không còn nữa. Có câu: "Xả tiền nhất văn, tăng phúc vô lượng." Trước Tam Bảo xả bỏ tiền của, dốc lòng bố thí, có bao nhiêu thì hoan hỷ bố thí bấy nhiêu, thì phước báo của quý vị sẽ vô lượng vô biên; song cần phải dốc hết chân tâm, đem lòng chí thành mà cúng dường mới được. Mọi việc đều không có gì là nhất định cả; bởi Pháp không nhất định nên nghiệp chướng của con người cũng không nhất định. "Huống là tự sanh ác kiến hủy diệt!" Khinh chê người khác cúng dường mà còn phải bị quả báo đọa lạc trong ba đường ác suốt mấy ngàn kiếp, thế thì nếu chính mình nảy sanh ác kiến hủy diệt Tam Bảo, phá hoại Tam Bảo, tội ấy hẳn càng lớn, càng nặng biết bao nhiêu! Kinh văn: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Nếu trong đời sau có người nam hay người nữ nào nằm liệt mãi trên giường gối, cầu sống hay cầu chết đều không được, hoặc đêm mộng thấy ác quỷ cho đến kẻ thân thích trong nhà, hoặc đi trên đường hiểm, hoặc nhiều lần bị bóng đè, hoặc cùng quỷ thần dạo chơi..." Lược giảng: "Lại nữa, này Phổ Quảng!" Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi Bồ Tát Phổ Quảng mà bảo rằng: "Bồ Tát Phổ Quảng ơi, bây giờ Ta sẽ nói cặn kẽ hơn nữa cho Ông rõ. Nếu trong đời sau có người nam hay người nữ nào nằm liệt mãi trên giường gối ..." Giả sử trong đời vị lai, có thiện nam tín nữ nào đó đã thọ Ngũ Giới và biết hành Thập Thiện mà cứ phải nằm một chỗ suốt một thời gian dài. Tại sao người ấy cứ nằm mãi trên giường? Ðiều này không cần nói thì quý vị cũng biết được ngay rằng đó là vì người ấy bị bệnh. Chính vì ốm đau lâu ngày không ngồi dậy được, nên bị chứng tê bại. Vì sao người ta bị bệnh tê liệt? Nguyên do của căn bệnh này là bởi lòng dâm dục quá nặng nề. Triệu chứng của bệnh liệt là không đi đứng được. Bởi chân thuộc về thận, nếu dâm dục quá nhiều thì chân bị yếu, đi đứng khó khăn; cũng như quý vị thường thấy ở ngoài đường phố, có rất nhiều người chân bị sưng vù lên, bước đi không được vững vàng, cần phải chống gậy rồi lê từng bước. Tất nhiên, ở đây không phải nói tới những người không đi đứng được bởi chân bị thương tích hoặc què quặt do tai nạn hay bom đạn chiến tranh. Những người được đề cập đến trong phần kinh văn này là những kẻ bẩm sinh lành lặn, không hề bị thương tật cũng không bị tai nạn xe cộ, song không thể đi đứng được. Ðây là hạng người có lòng dâm dục quá nặng nề, dâm dục quá nhiều! Quý vị cũng thấy đó, ở nước Mỹ có rất nhiều người mắc phải bệnh liệt; vì sao ư? Vì họ không biết gì về những tác hại của vấn đề sắc dục, cho nên nay họ phải chịu khổ sở bởi chứng bệnh này; e rằng cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, họ cũng chẳng biết do đâu mà chân của họ lại bị như thế!
"Cầu sống hay cầu chết đều không được." Giả sử có người ốm đau phải nằm một chỗ đến liệt giường liệt chiếu, không nhúc nhích được, muốn sống nhưng chẳng được sống yên vui, mà muốn chết thì lại không được chết liền ngay! Quý vị thấy như thế có đau khổ không chứ? Bệnh nhân đớn đau khổ sở, sống không ra sống, chết không ra chết—thật là dở sống dở chết! "Hoặc đêm mộng thấy ác quỷ." Bệnh nhân đêm ngủ thường chiêm bao thấy ác quỷ và thấy mình đi theo các ác quỷ đó làm những việc không tốt, và làm càng nhiều thì bệnh càng nặng. Người bệnh ấỵ nằm mộng thấy ác quỷ và biết rõ ràng đó là ác quỷ, song vẫn cứ đi theo chúng mà ăn những đồ bất tịnh và làm những việc xấu xa, thậm chí hành dâm cả trong mộng nữa. "Cho đến kẻ thân thích trong nhà." Hoặc là bệnh nhân chiêm bao thấy những người thân đã quá vãng, chẳng hạn như nếu cha đã qua đời thì mộng thấy cha, hoặc mẹ đã qua đời thì mộng thấy mẹ, ... nói chung là thường nằm mộng thấy những bà con thân thuộc đã chết—và đó là hiện tượng không tốt. Bởi vì người bà con đã chết này có quen biết người bệnh, nên có thể dẫn dắt loài quỷ ở ngoài vào nhà của người ấy, rồi kẻ đã chết đó lại bỏ đi. Bấy giờ, loài quỷ được dẫn vào nhà rồi bèn dùng các phép thuật độc hại để làm cho bệnh tình của bệnh nhân càng ngày càng trầm trọng hơn. "Hoặc đi trên đường hiểm." Hoặc là bệnh nhân nằm mơ thấy mình đi lạc vào con đường hiểm trở—như chạy lên đỉnh núi cheo leo, hễ sẩy chân té xuống là tan xương nát thịt—khiến trong lòng sanh ra hoảng sợ. Trong giấc mơ, người bệnh thường thấy nhiều sự việc không tốt lành, khiến cho mình luôn có cảm giác phập phồng lo sợ, hễ nhớ tới tình cảnh đó là trong lòng vô cùng hoảng hốt, sợ hãi. Cũng có khi người bệnh nằm mơ thấy mình đang đi thì gặp phải hổ, sói hay yêu quái ... hiện ra chận đường. Nói tóm lại là người bệnh cứ chiêm bao thấy xảy ra những việc rất đáng sợ. "Hoặc nhiều lần bị bóng đè." Hoặc trong giấc mơ, bệnh nhân thấy loài yểm mỵ quỷ Cưu Bàn Trà thường xuyên lui tới, một đêm có khi đến ba lần hoặc năm lần, không nhất định. Nếu đến một lần rồi song cảm thấy nhân duyên của chúng với người bệnh chưa hết, thì chúng lại đến lần nữa, rồi lại thêm lần nữa, và đè người ấy đến nỗi thốt không ra tiếng và cũng không thở, không động đậy gì được cả. Người bệnh bấy giờ hai mắt trợn trừng như nhập "ma định" vậy, và đó là thứ "tà định" chứ không phải là Chánh Ðịnh. "Ðịnh" cũng có chánh có tà; chúng ta không nên nhập loại "tà định" này. "Hoặc cùng quỷ thần dạo chơi..." Hoặc là người bệnh chiêm bao thấy mình kết bạn với quỷ thần; mặc dù biết rõ ràng đó là quỷ nhưng vẫn cứ theo chúng đi du ngoạn. Trong giấc mơ thì không thấy sợ quỷ, thức dậy rồi mới cảm thấy sợ hãi. Kinh văn: "Trải qua nhiều ngày nhiều tháng nhiều năm, trở nên gầy mòn, lao sái; trong giấc ngủ kêu gào khổ sở, thảm thiết không vui. Ðây đều là do nơi nghiệp đạo còn đang luận đối, chưa quyết định là khinh hay trọng, nên hoặc là khó chết, hoặc là khó lành. Mắt phàm tục của kẻ nam, người nữ không thể biện rõ việc đó, chỉ nên đối trước tượng của chư Phật, chư Bồ Tát, lớn tiếng đọc tụng Kinh này một biến; hoặc lấy những vật ưa thích của người bệnh như y phục, đồ quý báu, nhà cửa, ruộng vườn..., đối trước người bệnh mà lớn tiếng xướng rằng: ‘Chúng con, tên đó họ đó, xin vì người bệnh này mà đối trước kinh, tượng, thí xả những vật này để hoặc cúng dường kinh tượng, hoặc tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, hoặc xây dựng chùa tháp, hoặc sắm đèn dầu thắp cúng, hoặc cúng vào Thường Trụ.’ Xướng lên như vậy ba lần để cho người bệnh được nghe biết. Giả sử các thức của người bệnh đã phân tán, đến hơi thở đã dứt, thì hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch như trên và lớn tiếng tụng Kinh này. Sau khi người bệnh đó mạng chung, thời dẫu cho từ trước có tội nặng, thậm chí năm tội Vô Gián, cũng được thoát khỏi hẳn, thọ sanh nơi nào cũng thường nhớ biết việc đời trước. Huống nữa là người thiện nam, người thiện nữ nào tự mình biên chép Kinh này, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát, cho đến bảo người khác đắp vẽ, thì quả báo mà người đó thọ nhận tất được lợi ích lớn. Vì thế, Phổ Quảng, nếu thấy có người nào đọc tụng Kinh này, cho đến chỉ trong một niệm tán thán Kinh này hoặc tỏ lòng cung kính, thì ông phải dùng trăm ngàn phương tiện khuyến hóa người đó phát lòng siêng năng, chứ đừng thối thất, thì sẽ được trăm ngàn vạn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai." Lược giảng: "Trải qua nhiều ngày nhiều tháng nhiều năm, trở nên gầy mòn, lao sái." "Sái" tức là "ngũ lao thất thương vị chi sái" (suy nhược, lắm bệnh gọi là "sái."). Bệnh lao thì rất khó trị; bệnh lao có tới năm loại, và cả năm thứ bệnh lao này đều không có thuốc gì trị lành được. Bệnh nhân không phải chỉ ốm đau trong một hai hôm là khỏi, mà là suốt một thời gian rất lâu dài, đến nỗi thân thể gầy mòn, chẳng còn bao nhiêu sức lực. Chẳng những thế, mà "trong giấc ngủ kêu gào khổ sở, thảm thiết không vui." Có nhiều lúc đang ngủ say, bệnh nhân bỗng vùng vẫy la hét, giật mình thức dậy. Ðó là vì người bệnh đang bị loài quỷ truy đuổi, đánh đập, hoặc bị chúng tóm bắt được, cho nên trong giấc ngủ người ấy mới gào thét kêu van và mặt mày lúc nào cũng đượm vẻ buồn rầu ủ dột, không được thanh thản. "Thảm thiết" tức là có vẻ đau thương, như muốn khóc vậy. Tại sao lại như vậy? "Ðây đều là do nơi nghiệp đạo còn đang luận đối, chưa quyết định là khinh hay trọng, nên hoặc là khó chết hoặc là khó lành." Bởi lúc bấy giờ ở địa ngục đang thảo luận, xét xử nghiệp tội của bệnh nhân, và còn đang cân nhắc xem những nghiệp tội ấy là nặng hay nhẹ, chứ chưa có phán quyết dứt khoát; do đó người bệnh tuy rằng chưa chết, song sống mà thoi thóp lây lất, chẳng thấy vui vẻ gì cả. Người bệnh cũng tự biết rằng mình đã trót gây ra tội lỗi, tất sẽ có ngày bị đọa địa ngục, nên trong lòng cứ buồn bã, không vui. "Khó chết" nghĩa là muốn chết mà chết không được, cái chết không đến nhanh như ý mình mong đợi. "Khó lành" tức là cứ ốm đau bệnh hoạn dây dưa, không được thuyên giảm một cách nhanh chóng. "Mắt phàm tục của kẻ nam người nữ không thể biện rõ việc đó." Người thế gian, cả nam lẫn nữ, bởi chưa đắc Thiên Nhãn Thông, cũng chưa chứng Túc Mạng Thông, nên không hiểu được vì sao bệnh nhân lại ra nông nỗi như thế. Người đời không thể hiểu được, thế thì có biện pháp gì có thể cứu giúp bệnh nhân không? Có chứ! Bấy giờ, những người thân thuộc của bệnh nhân "chỉ nên đối trước tượng của chư Phật, chư Bồ Tát, lớn tiếng đọc tụng Kinh này một biến..." Nếu không có tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thì cứ đối trước tượng của Bồ Tát khác mà cất cao giọng tụng Kinh Ðịa Tạng đủ một biến cũng được. "Hoặc lấy những vật ưa thích của người bệnh như y phục, đồ quý báu, nhà cửa, ruộng vườn..., đối trước người bệnh lớn tiếng xướng rằng: ‘Chúng con, tên đó họ đó, xin vì người bệnh này—nêu rõ họ tên của bệnh nhân—mà đối trước kinh, tượng, thí xả những vật này ..." "Những vật này" tức là những của cải của riêng người bệnh, những thứ mà người bệnh yêu chuộng nhất, luyến tiếc nhất—nhà cửa, ruộng vườn, áo quần, vàng bạc..., nói chung là của cải vật chất của người bệnh. Thân nhân của người bệnh nên lớn tiếng khấn nguyện rằng: "Chúng con (họ, tên) nay thay mặt người bệnh (họ, tên) mà đối trước Kinh Ðịa Tạng và tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng (hoặc tượng của Ðức Phật hay Bồ Tát khác), xin được cúng dường những của cải này để hoặc cúng dường kinh tượng, hoặc tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, hoặc xây dựng chùa tháp, hoặc sắm đèn dầu thắp cúng, hoặc cúng vào Thường Trụ." Những người thân thuộc có thể bán đi gia sản của bệnh nhân để lấy tiền mà đúc tượng Phật, tượng Bồ Tát, bởi công đức này là to lớn nhất. Lại nữa, họ cũng có thể dùng tiền ấy để xây chùa dựng tháp, mua dầu đốt đèn thắp cúng trước tượng Phật, hoặc cúng dường cho chùa chiền, tự viện. "Xướng lên như vậy ba lần cho người bệnh được nghe biết." Cứ thế mà lập đi lập lại ba lần trước mặt bệnh nhân, và mỗi lần phải chắc chắn là bệnh nhân đều lắng nghe và đều hiểu rõ. "Giả sử các thức đã phân tán, đến hơi thở đã dứt..." "Các thức" tức là thức mắt (nhãn thức), thức tai (nhĩ thức), thức mũi (tỷ thức), thức lưỡi (thiệt thức), thức thân (thân thức), cùng thức thứ sáu, thức thứ bảy, và thức thứ tám. Ðặt trường hợp các thức của bệnh nhân lúc bấy giờ đều đã phân tán, bệnh nhân đang hấp hối, sắp trút hơi thở cuối cùng, "thì hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch và lớn tiếng tụng Kinh." Trong bảy ngày, ngày nào cũng đều lớn tiếng đọc tụng kinh điển cho người bệnh nghe. Ðược như thế thì "sau khi người đó mạng chung, thì các tội nặng từ đời trước cho đến năm tội Vô Gián, cũng được thoát khỏi hẳn." Sau khi người bệnh này chết, thì hết thảy tai ương, hết thảy tai nạn bởi trọng tội trong đời trước của người ấy, thậm chí cả năm tội ác tày trời đáng phải đọa địa ngục Vô Gián cũng đều được tiêu tan, người ấy vĩnh viễn được giải thoát. Chẳng những thế, người ấy "thọ sanh nơi nào cũng thường nhớ biết việc đời trước." "Huống nữa là người thiện nam, thiện nữ tự mình biên chép Kinh này, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát, cho đến bảo người khác đắp vẽ, hoặc là trả tiền để mướn người giúp mình đắp vẽ tượng của Bồ Tát, thì quả báo thọ nhận tất được lợi ích lớn, quả báo công đức mà người ấy thu hoạch được thì vô cùng to lớn." "Vì thế, Phổ Quảng, nếu thấy có người nào đọc tụng Kinh này—Kinh Ðịa Tạng—cho đến chỉ trong một niệm tán thán Kinh này hoặc tỏ lòng cung kính đối với Kinh, thì Ông phải dùng trăm ngàn phương tiện khuyến hóa người đó phát lòng siêng năng, tinh tấn dõng mãnh, chứ đừng thối thất, thì sẽ được trăm ngàn vạn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai." Kinh văn: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Như những chúng sanh ở đời vị lai, hoặc trong mộng trong mị, trông thấy các quỷ thần cùng các hình bóng khác, hoặc buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ sệt; đây đều là cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, quyến thuộc từ một đời, mười đời, trăm đời, hay ngàn đời trong quá khứ, còn đang bị đọa lạc trong ác đạo, chưa được ra khỏi, lại không trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt, nên mới mách bảo với kẻ có tình cốt nhục trong đời trước, khiến làm phương tiện hầu mong được thoát khỏi ác đạo. Này Phổ Quảng! Ông nên dùng thần lực khiến hàng quyến thuộc đó đối trước tượng của chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc Kinh này, hoặc thỉnh người khác đọc, đủ số ba biến hoặc bảy biến. Như vậy, kẻ quyến thuộc đang ở trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số mấy biến đó xong, sẽ được giải thoát, cho đến trong mộng trong mị không thấy hiện về nữa." Lược giảng: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi Bồ Tát Phổ Quảng mà bảo rằng: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Như những chúng sanh ở đời vị lai, hoặc trong mộng trong mị..." "Mộng" là giấc mộng xảy đến khi chúng ta ngủ say rồi; còn "mị" là lúc chúng ta mới chập chờn, chưa thật sự đi vào giấc ngủ. Không phải là tỉnh hẳn mà cũng không phải là ngủ hẳn, thì gọi là "mị"; nếu hoàn toàn tỉnh táo thì gọi là "ngộ" (thức, tỉnh ngủ) chứ không phải là "mị." "Giả mị" tức là lúc mắt nhắm lại, lim dim sắp ngủ. "Mộng" thì có rất nhiều loại: 1) Vô minh tập khí mộng (giấc mộng do tập khí vô minh gây ra). Bởi vô minh nên có thói quen hồ đồ, rồi vì thế mà những việc thấy trong mộng cũng lộn xộn, không mạch lạc rõ ràng, đến khi ngủ dậy thì chẳng còn nhớ gì cả. 2) Thiện ác tiên trưng mộng (giấc mộng báo trước việc lành hay dữ), cũng gọi là "kiết hung dự cáo mộng" (giấc mộng dự đoán việc may hoặc rủi). Ðây là loại mộng báo điềm, mách cho người nằm mộng biết trước là sẽ có chuyện tốt hay xấu, lành hay dữ, may hay rủi, sắp xảy ra. Có lần, Hư Vân Lão Hòa Thượng mộng thấy Ðức Lục Tổ dạy rằng: "Ông hãy trở về đi! Hãy về bên đó làm một vài công việc!" Lão Hòa Thượng nghe nói như thế thì cứ đinh ninh là mình sắp chết tới nơi rồi, cho nên Lục Tổ mới bảo "trở về"; về sau mới vỡ lẽ là Lục Tổ dặn Ngài đến Nam Hoa Tự để tu bổ chùa chiền! Ðây là thuộc loại mộng báo điềm lành; sự việc chưa xảy ra song Ngài Hư Vân được Ðức Lục Tổ báo mộng, mách bảo cho biết trước. Có người mộng thấy được mách bảo rằng: "Anh cần phải cẩn thận một chút, coi chừng ngày mai bị đụng xe mà chết đấy!" Anh ta chẳng tin, thế nhưng ngày hôm sau quả nhiên anh ta bị đụng xe mà chết thật! Ðây gọi là "kiết hung tiên trưng mộng," hoặc "thiện ác tiên trưng mộng," tức là giấc mộng báo trước việc may rủi, lành dữ sắp xảy ra. 3) Tứ Ðại thiên tăng mộng (giấc mộng do Tứ Ðại chênh lệch). "Tứ Ðại" là địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió). Theo các sách y học của Trung Hoa thì có bốn trăm bốn mươi (440) chứng bệnh, và tám trăm tám mươi (880) phương thuốc để chữa trị. Kỳ thật, con người có tới tám vạn bốn ngàn (84.000) chứng bệnh, cho nên Ðức Phật mới nói ra tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp môn để đối trị tám vạn bốn ngàn chứng bệnh đó. Khi Tứ Ðại—địa, thủy, hỏa, phong—chênh lệch, tăng giảm không đồng nhau, thì cơ thể sẽ sanh bệnh. Chẳng hạn, nếu "địa" nhiều ("địa" thuộc về "thổ") thì xung khắc với "thủy," thế là sanh bệnh; "hỏa" nhiều thì khắc "thủy," thế là cũng sanh bệnh; "phong" nhiều thì khắc "địa," thế là cũng sanh bệnh. Những loại bệnh này được gọi là "Tứ Ðại thiên tăng bệnh" (bệnh do Tứ Ðại chênh lệch) hoặc "Tứ Ðại bất điều bệnh" (bệnh do Tứ Ðại không điều hòa). Người bị bệnh do Tứ Ðại mất quân bình cũng có thể nằm mộng, và đó gọi là "Tứ Ðại thiên tăng mộng.". 4) Tầm hữu cựu thời mộng (giấc mộng tìm gặp bạn cũ). Thế nào gọi là "tầm hữu cựu thời mộng"? Thí dụ trước kia quý vị có quen một người nào đó song đã lâu rồi không gặp mặt, đến lúc chiêm bao thấy người đó tới chơi thì tay bắt mặt mừng, rất là vui vẻ; nhưng sau khi tỉnh giấc mới vỡ lẽ ra tất cả đều là giả—đó gọi là "tầm hữu cựu thời mộng" vậy. Trên đây là nói về một vài loại "mộng." Như vậy, nếu có người nào trong mộng, trong mị, hoặc trong lúc mơ màng sắp ngủ, "trông thấy các quỷ thần cùng các hình bóng khác, hoặc buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ sệt..." Các quỷ thần này hiện ra với đủ thứ hình tướng kỳ dị—mặt xanh, tóc đỏ, miệng to, răng nanh dài như ngà voi chìa ra khỏi miệng... Ngoài ra, trong cơn mộng mị, người này còn trông thấy vô số hình bóng ma quái đáng sợ khác hiện ra, và khi vừa trông thấy người này thì các bóng ma ấy liền òa khóc tức tưởi, nước mắt nước mũi đầm đìa. Các bóng ma đó dáng điệu rất thiểu não, vừa nhìn là thấy ngay vẻ u ám ủ dột, rầu rĩ không vui, hoặc khiến cho người khác vô cùng kinh hãi. Có bóng ma lại cứ thở dài não nuột: "Ôi chao! Than ôi! Ôi!" "Ðây đều là cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, quyến thuộc từ một đời, mười đời, trăm đời, hay ngàn đời trong quá khứ." Những quỷ thần hoặc hình bóng lạ mà quý vị thường gặp trong mộng hoặc trong mị có thể là cha mẹ của quý vị trong các đời trước. Cho nên, quý vị phải xem tất cả chúng sanh như là cha mẹ của mình trong đời quá khứ và là chư Phật trong đời vị lai. Và chính vì thế, quý vị cần phải chu toàn hiếu đạo, chớ nên quấy nhiễu, não loạn chúng sanh. Như vậy, trong mộng hoặc trong mị quý vị có thể thấy vong linh của cha mẹ, anh em, chị em, vợ chồng, hoặc thân bằng quyến thuộc từ nhiều đời trước "còn đang bị đọa lạc trong ác đạo, chưa được ra khỏi." Vì đã trót gây ra tội lỗi nên họ bị đọa vào các ác đạo—địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—và cho đến nay vẫn chưa được thoát ra. Thêm vào đó, họ "lại không trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt." Các vong linh này lại chẳng có nơi nào để bám víu với hy vọng là sẽ có người lo tụng Kinh và làm việc công đức để giúp cho họ được siêu độ, "nên mới mách bảo với kẻ có tình cốt nhục trong đời trước, khiến làm phương tiện hầu mong được thoát khỏi ác đạo." Theo Phật Giáo, tại sao lại có lệ tụng Kinh cho người đã quá vãng và ngay cả người còn sống? Bởi vì trong Kinh Ðịa Tạng đã dạy như thế! "Phước lực" ở đây tức là công đức tụng Kinh. Thế thì, vì những vong linh đó không có nơi nào để kỳ vọng là mình sẽ được cứu vớt, nên họ bèn báo mộng, nói cho những kẻ có tình cốt nhục với họ từ đời trước được biết; cầu mong rằng những người ấy sẽ vì họ mà dùng nhiều phương tiện để làm việc công đức, giúp họ thoát khỏi các ác đạo. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi: "Này Phổ Quảng! Ông nên dùng thần lực—sức thần thông—khiến hàng quyến thuộc đó đối trước tượng của chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc Kinh này. Ông hãy làm cho thân nhân đời trước của các vong linh đó đem lòng chí thành khẩn thiết mà tự đọc tụng Kinh Ðịa Tạng, hoặc thỉnh người khác đọc." Nếu hàng quyến thuộc vì lý do nào đó nên không thể tự đọc tụng được, thì họ có thể bỏ tiền ra nhờ người khác tụng Kinh Ðịa Tạng giúp cho vong linh. Bất luận là ai, người đó đều phải tụng "đủ số ba biến hoặc bảy biến." "Ba" và "bảy" đều là số dương. Những số 1, 3, 5, 7, 9 đều thuộc dương và là số lẻ; còn những số 2, 4, 6, 8 thì thuộc âm và là số chẵn. Số dương là biểu hiện của sự phá trừ nghiệp tội địa ngục. "Như vậy, kẻ quyến thuộc đang ở trong ác đạo kia, khi tiếng tụng Kinh đủ số mấy biến đó xong, sẽ được giải thoát, cho đến trong mộng trong mị không thấy hiện về nữa." Khi tụng xong Kinh Ðịa Tạng, đủ số ba biến hoặc bảy biến, tiếng tụng Kinh vừa dứt thì những vong linh quyến thuộc đang trầm luân trong ác đạo kia cũng đều được giải thoát, và trong mộng lẫn trong mị, quý vị đều vĩnh viễn không còn thấy họ hiện về như thế nữa. Kinh văn: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Như đời sau có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái, cho đến những kẻ không được quyền tự do, rõ biết là do túc nghiệp, cần phải sám hối, bèn chí tâm chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng, rồi trong một ngày cho tới bảy ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát đủ một vạn biến; những người như thế sau khi mãn báo thân này, trong ngàn vạn đời về sau thường sanh vào nhà tôn quý, không phải trải qua nỗi khổ nơi ba đường ác nữa." Lược giảng: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi Bồ Tát Phổ Quảng: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Như đời sau có những hạng người hạ tiện..." Ðều là con người với nhau tại sao lại có người tôn quý, có người hạ tiện? Do nguyên nhân gì mà người này thì tôn quý, người kia lại hạ tiện? Có năm con đường dẫn tới quả báo hạ tiện; đó là: 1) Kiêu mạn. "Kiêu mạn," thì kiêu mạn đối với người ngoài là chuyện thường tình, hầu như ai cũng mắc phải; song, ở đây là nói về sự kiêu mạn đối với cha mẹ của mình, không biết kính trọng cha mẹ. 2) Cang cường. "Cang cường," tức là cứng đầu, bướng bỉnh. Chúng sanh có thói cang cường là những kẻ thiếu lòng thành kính, không kính trọng các bậc sư trưởng, không kính trọng sư phụ; mặc dù các bậc sư trưởng nhọc lòng dạy dỗ, song vẫn không chịu vâng lời. 3) Phóng dật. "Phóng dật" tức là buông tuồng, không tuân giữ quy củ phép tắc. Có nhiều người chẳng những sống phóng dật, không giữ quy củ phép tắc, lại còn không cung kính cả Tam Bảo nữa. Ðây là nhân duyên thứ ba khiến người ta phải sanh vào hàng hạ tiện. "Hạ tiện" (thấp hèn) thường đi đôi với sự nghèo nàn túng thiếu; nếu giàu có thì không hạ tiện, vì nghèo nên mới hạ tiện; cho nên người ta thường nói là "bần cùng hạ tiện." 4) Thâu đạo (trộm cắp). Nguyên nhân thứ tư là đời trước thường hay trộm cắp. Có hạng người chuyên lấy việc trộm cắp làm kế sinh nhai, hết tiền thì đi ăn trộm ăn cướp—cướp tiền bạc, hoặc cướp đồ đạc, của cải châu báu,... của người khác đem đi bán; bán được bao nhiêu tiền thì cũng chỉ tiêu xài trong một thời gian ngắn là hết. Họ không làm một công việc gì cả, hằng ngày chỉ rượu chè say sưa, chơi bời lêu lổng, cờ gian bạc lận, nhậu nhẹt hút sách... ; tiêu xài sạch túi rồi thì lại đi cướp nữa, không cần phải làm gì cả; và họ cứ lấy việc trộm cắp để duy trì cuộc sống như thế. 5) Phụ trái (mắc nợ). Còn nhân tố thứ năm dẫn tới quả báo hạ tiện là gì? Là mắc nợ—mượn tiền của người ta rồi trốn tránh, không chịu trả. Không cần nhiều, cho dù chỉ nợ nần một đồng bạc, chúng ta cũng không được thiếu. Tiền bạc là giả tạm, song có thể được dùng để làm những việc chân thật, thiết thực và hữu ích; do đó chúng ta không nên hoang phí hoặc chi tiêu bừa bãi. Ví dụ, quý vị mượn tiền của người khác rồi không muốn trả, bèn lánh sang nơi khác để trốn nợ, và cho rằng hành động như thế là khôn ngoan, có lợi cho mình. Thật ra, không có lợi chút nào cả, bởi quý vị quỵt tiền của thiên hạ thì sau này, chính mình phải chịu quả báo bần cùng hạ tiện. Trên đây là năm nhân duyên dẫn tới quả báo làm người hạ tiện. "Hoặc tớ trai, hoặc tớ gái, cho đến những kẻ không được quyền tự do..." "Không được quyền tự do" có nghĩa là cái thân thể này của mình bị lệ thuộc, mình là kẻ nô lệ và phải nghe theo sự sai khiến của chủ nhân, không được tùy tiện muốn đi đâu thì đi hoặc muốn làm gì thì làm nữa. "Rõ biết là do túc nghiệp, cần phải sám hối..." Những người mà hiện đời phải thuộc hàng hạ tiện, bị mất tự do, hoặc phải đem thân làm nô tỳ tôi tớ cho kẻ khác, đều là do đời trước họ đã gây ra nghiệp tội rất lớn rất nặng, vì vậy bây giờ họ cần phải thành tâm ăn năn hối cải. Họ có thể lạy Sám Ðại Bi, Sám Tịnh Ðộ, hoặc các loại sám khác, để sám hối các tội lỗi của mình. Tại sao hằng ngày chúng ta đều lạy Sám Ðại Bi? Bởi chúng ta cũng không biết rõ được đời trước mình đã gây ra bao nhiêu nghiệp tội, cho nên lúc nào cũng phải sám hối hết thảy mọi tội lỗi.
"Bèn chí tâm chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng, rồi trong một ngày cho tới bảy ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát đủ một vạn biến..." Các chúng sanh khốn khổ đó nhờ biết lỗi nên đem lòng thành khẩn thiết tha mà chiêm ngưỡng lễ lạy hình tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát; và trong suốt quãng thời gian từ một ngày cho đến bảy ngày, chuyên tâm trì niệm danh hiệu của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát được đủ một vạn biến; thì "những người như thế sau khi mãn báo thân này, trong ngàn vạn đời về sau thường sanh vào nhà tôn quý, chẳng phải chịu đựng bao nỗi thống khổ trong ba ác đạo nữa." Bần cùng hạ tiện có năm nguyên nhân, thì giàu sang tôn quý cũng có năm nguyên nhân: -Nguyên nhân thứ nhất là bố thí cúng dường rộng khắp, ban phát ân huệ cho muôn loài; đồng thời đối với người nào cũng bố thí với tâm từ bi bao la rộng lớn. -Thứ hai, là cung kính cha mẹ, sư trưởng. Chúng ta không được nói những lời phụ bạc như: "Cha tôi sanh ra tôi làm gì? Tôi căm ghét ông ấy!"; cũng không được mắng chửi, trách móc cha mẹ: "Tại sao tôi lại sinh ra trong gia đình này? Thật là khốn nạn mà!" Ngoài ra, chúng ta cũng không nên có lòng hờn oán hoặc bất mãn đối với những bậc thầy của mình, như nói: "Ông Thầy này thật quá đáng! Ổng cấm đoán tôi đủ thứ, chẳng còn cái gì gọi là tự do cả! Chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng phải nghe theo ổng, thật là bất công!" Trước mặt thầy thì răm rắp cúi đầu đảnh lễ, nhưng thầy vừa quay lưng là liền nói xấu, chê trách đủ điều; như thế gọi là bất kính với thầy cô, sư trưởng, và đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến quý vị sẽ không được sanh trưởng trong một gia đình dòng dõi tôn quý. Quý vị nói thử xem, có nghiêm trọng hay không chứ? Vì vậy, quý vị chớ nên xét nét xem ông sư phụ này là tốt hay không tốt, rồi lại xầm xì nhỏ to bàn tán; bởi hễ nói ra tức là quý vị có lỗi rồi, sau này tất sẽ không được sanh vào nơi cao sang quyền quý. Vậy, nhân duyên thứ hai dẫn tới quả báo được sanh vào gia đình tôn quý là biết cung kính cha mẹ và cung kính sư trưởng. -Thứ ba, là cung kính lễ bái Tam Bảo. Ở trên có nói là do không cung kính Tam Bảo, không lễ bái Tam Bảo nên phải sanh vào hàng hạ tiện; bây giờ nếu biết cung kính Tam Bảo, lễ bái Tam Bảo và cung kính hết thảy các bậc Trưởng Lão, thì sẽ được sanh vào hàng tôn quý. -Thứ tư, là nhẫn nhục, hòa nhã, khiêm tốn, không sân hận. Nếu bị ai mắng chửi thì quý vị nên tươi tỉnh, bình thản và cần phải nhẫn nại, chớ phiền não gì cả; còn nếu bị người ta đánh đập thì quý vị lại càng phải nhẫn nhục hơn nữa. Quý vị cần phải tu hạnh nhẫn nhục, không nên nuôi lòng sân hận, và cũng đừng nổi nóng. Do đó, muốn đạt được quả báo tốt không phải là chuyện dễ. -Nguyên nhân thứ năm là gì? Ðó là nghe Kinh Luật nhiều—chăm chỉ nghe Kinh, nghe Pháp, siêng năng học tập Giới Luật. Do năm nguyên nhân trên mà được sanh làm người thuộc hàng tôn quý, vừa có tiền lại vừa có thế lực. Nếu quý vị hội đủ cả năm nhân tố này thì càng tốt; còn nếu chỉ có được một nhân tố thôi thì cũng được khỏi phải sanh vào gia đình bần cùng hạ tiện. Nói tóm lại, người ta sở dĩ được giàu sang phú quý là nhờ phước báo do sự tu tập từ nhiều đời nhiều kiếp về trước, chứ không phải là đơn thuần nội trong một đời này mà thôi đâu! "Không phải trải qua nỗi khổ nơi ba đường ác nữa." Như vậy, người nào hội đủ năm nhân duyên kể trên thì sẽ được trực tiếp sanh vào những gia đình tôn quý và cũng thoát khỏi bao nỗi thống khổ trong ba ác đạo—địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Kinh văn: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Như trong đời vị lai, nơi cõi Diêm Phù Ðề, trong hàng Sát Lợi, Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, tất cả các hạng người và những chủng tộc dòng họ khác, có người nào mới sinh được con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ đó mà tụng Kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Bồ Tát đủ một vạn biến; thì đứa trẻ mới sinh đó, hoặc trai hoặc gái, nếu đời trước có ương báo thì đều được giải trừ, lại thêm an ổn, vui vẻ, dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng, còn nếu là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thì đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn." Lược giảng: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Như trong đời vị lai, nơi cõi Diêm Phù Ðề..." Cõi Diêm Phù Ðề còn có tên là Nam Thiệm Bộ Châu, và là một trong bốn châu thuộc Tứ Ðại Bộ Châu. Con người ở Bắc Câu Lô Châu được sinh ra dưới gốc cây, và người mẹ sinh nở rất dễ dàng, giống như con gà đẻ trứng vậy, không đau đớn gì cả; khác hẳn với cõi Nam Diêm Phù Ðề là người mẹ phải chịu nhiều đau đớn. Còn ở Ðông Thắng Thần Châu và Tây Ngưu Hóa Châu thì người ta hoàn toàn không chú trọng đến việc sinh đẻ, mức sanh sản ở đây rất thấp. Ðó là vì lòng dâm dục của con người ở hai châu này rất nhẹ; bởi dục niệm ít cho nên mức độ sanh sản cũng rất thấp. Duy chỉ có chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề là muốn con cái đông đúc, cho rằng con đàn cháu đống là tốt, mặc dù việc sinh nở vô cùng đau đớn cho người mẹ. "Trong hàng Sát Lợi, Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, tất cả các hạng người và những chủng tộc dòng họ khác..." "Sát Lợi" hay "Sát Ðế Lợi" là một dòng dõi quý tộc ở Ấn Ðộ. "Bà La Môn" cũng là dòng dõi quý tộc, và được gọi là "Tịnh Duệ," có nghĩa là dòng dõi thanh tịnh, trong sạch. "Trưởng giả" là người giàu có lớn. Ở đây, trưởng giả và cư sĩ là những người có tiền của mà không có lộc vị, vì họ không ra làm quan nên họ có "phú" (giàu) mà không có "quý" (sang). Còn dòng Bà La Môn và Sát Ðế Lợi thì vừa có "quý" lại vừa có "phú." Như vậy, ở đời sau, trong toàn thể nhân loại, bao gồm tất cả những người thuộc mọi quốc gia và mọi chủng tộc, giả sử "có người nào mới sinh được con trai hoặc con gái..." Ở cõi Diêm Phù Ðề của chúng ta thì người mẹ phải chịu nhiều đau đớn khi sinh nở, lắm lúc còn nguy hiểm tới tánh mạng, đặc biệt là trong các trường hợp sanh khó như đẻ ngang, đẻ ngược. "Ðẻ ngang" tức là đứa bé ra đời trong tư thế nằm ngang (mông đít ra trước); còn "đẻ ngược" tức là đứa bé được sanh ra trong tư thế lộn ngược (hai chân ra trước). Lại có một trường hợp sanh nở khác cũng rất khó khăn, đó là một chân của đứa bé thò ra trước. Ngoài ra, có trường hợp sanh khó gọi là "bàn tràng" (nhao quấn), tức là khi đứa bé lọt lòng mẹ thì kéo cả dạ con của người mẹ ra theo. Các trường hợp sanh khó thì rất nhiều, tuy nhiên, cho dù khó khăn trắc trở thế nào chăng nữa, nếu trước khi sanh, "nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ đó mà tụng Kinh điển không thể nghĩ bàn này—Kinh Ðịa Tạng, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Bồ Tát—Nam mô Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—đủ một vạn biến, thì đứa trẻ mới sinh đó, hoặc trai hoặc gái, nếu đời trước có ương báo—nghiệp tội, quả báo xấu ác—thì đều được giải trừ, lại thêm an ổn, vui vẻ, dễ nuôi, thọ mạng tăng trưởng." "Còn nếu là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thì đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn." Giả sử đứa bé sơ sinh đó không có tội báo, được sinh ra là nhờ ở phước báo, thì đời của đứa bé đó càng được an lạc và thọ mạng càng lâu dài hơn. Cho nên, cái khổ cái sướng của đời người thì không nhất định, tuổi thọ của con người cũng chẳng có gì nhất định cả. Như có người được thầy tướng số đoán là chỉ sống đến ba mươi tuổi, thế mà đến bốn mươi tuổi anh ta vẫn còn sống nhăn; vì sao? Bởi vì thọ mạng của con người thì linh động, chứ không cứng nhắc cố định—nếu quý vị làm việc tốt thì thọ mạng của quý vị được lâu dài hơn, còn làm việc xấu thì tuổi thọ bị thu ngắn lại. Do đó, hết thảy mọi việc đều không có gì là nhất định cả. Như trong Kinh đã nói, một người vốn đã gây nhiều tội lỗi, sanh ra trong đời này đáng phải gánh chịu nhiều đau khổ, thế nhưng, nhờ được người khác đọc tụng Kinh Ðịa Tạng và niệm danh hiệu của Bồ Tát Ðịa Tạng để trợ giúp cho, nên bao nhiêu thống khổ người ấy đáng phải nhận lãnh đều được tiêu tan. Chẳng những thế, người ấy sẽ là một đứa bé vui vẻ, dễ nuôi, tuổi thọ cũng gia tăng. Từ những điều này, quý vị có thể suy biết rằng đời người chẳng có gì là nhất định—tất cả đều tùy theo cách hành xử của chính mình mà thôi! Kinh văn: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Trong mỗi tháng, ngày mùng một, mùng tám, mười bốn, mười lăm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi là những ngày kết tập các nghiệp tội, thẩm định nặng nhẹ. Tất cả mọi cử chỉ, động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề không chi là không nghiệp, không chi là không tội, huống hồ là buông lung giết hại, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, trăm ngàn tội trạng. Nếu sau này trong đời vị lai, có chúng sanh nào trong mười ngày trai này có thể đối trước hình tượng của Phật, Bồ Tát, cùng chư Hiền Thánh mà đọc tụng Kinh này một biến, thì chung quanh chỗ người đó ở, bốn hướng Ðông Tây Nam Bắc, trong khoảng một trăm do-tuần, sẽ không có các tai nạn. Còn ở chính nhà của người đó, hoặc già hoặc trẻ, về hiện tại và vị lai, trong trăm ngàn năm được vĩnh viễn xa lìa ác đạo. Nếu trong mười ngày trai này có thể mỗi ngày đều tụng một biến thì ngay đời hiện tại, những người trong nhà không bị tai ương hoặc bệnh tật, đồ ăn đồ mặc lại được dư dật." Lược giảng: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Trong mỗi tháng, ngày mùng một, mùng tám, mười bốn, mười lăm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi là những ngày kết tập các nghiệp tội, thẩm định nặng nhẹ." Mỗi tháng, cứ vào mười ngày—mùng một, mùng tám, mười bốn, mười lăm (rằm), mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi là tất cả quỷ thần đều tụ họp lại để điều tra tội lỗi của chúng sanh, cho nên mười ngày này chính là những ngày xét xử nghiệp tội. "Kết tập các nghiệp tội" tức là đắn đo cân nhắc tội lỗi của mỗi người, xét xem người này phạm bao nhiêu tội, người kia gây bao nhiêu lỗi. "Thẩm định nặng nhẹ" tức là đưa ra phán quyết, định tội người này nặng như thế nào hoặc tội người kia nhẹ ra sao. "Tất cả mọi cử chỉ, động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề không chi là không nghiệp, không chi là không tội, huống hồ là buông lung giết hại, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, trăm ngàn tội trạng." "Cử chỉ động niệm"—"cử" tức là "động," và "chỉ" tức là "tĩnh"—trong cả "động" lẫn "tĩnh" đều sanh khởi cái niệm nghĩ suy, mà những niệm này không có cái nào không là tội lỗi cả. Tất cả mọi cử chỉ động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề (tức Nam Thiệm Bộ Châu) đều là tội lỗi—dấy động cái niệm này là nghiệp tội, dấy động cái niệm kia cũng là nghiệp tội—không gì là không nghiệp, không gì là không tội cả. Dù cho quý vị không có hành động sát sanh hại mạng, nhưng chỉ khởi tâm động niệm, dấy lên cái ý muốn sát hại thôi thì cũng đủ để tạo nghiệp tội rồi, huống chi là lại tự ý làm càn, cố tình giết hại chúng sanh? Trộm cắp đồ vật và tà dâm đều là những hành vi bất chánh. Ðối với đa số người Tây phương thì tà dâm không phải là một vấn đề nghiêm trọng lắm, nhưng trong kinh sách nhà Phật thì đã nói ngay từ đầu: Phạm tà dâm thì mang tội rất lớn, bởi "vạn ác dâm vi thủ" (trong vạn điều xấu thì dâm dục đứng hàng đầu). "Vọng ngữ" là nói những lời huênh hoang, dối trá, không thật. Trên đây chỉ kể ra một vài tội trạng đại khái như thế thôi, nếu kê khai cho tường tận thì có đến cả trăm ngàn vạn thứ. "Nếu sau này trong đời vị lai, có chúng sanh nào trong mười ngày trai này có thể đối trước hình tượng của Phật, Bồ Tát, cùng chư Hiền Thánh mà đọc tụng Kinh này—Kinh Ðịa Tạng—một biến, thì chung quanh chỗ người đó ở, bốn hướng Ðông Tây Nam Bắc, trong khoảng một trăm do-tuần, sẽ không có các tai nạn." "Trai" có nghĩa là "tịnh," tức là chay tịnh. "Mười ngày trai" tức là vào những ngày này thì chỉ ăn những thứ thanh tịnh, sạch sẽ; tuyệt đối không ăn những thức ăn có mùi tanh như thịt, cá ... và những thứ có mùi hôi nồng như hành, hẹ, tỏi, nén ... "Do-tuần" là đơn vị đo chiều dài của Ấn Ðộ; và được phân làm đại, trung và tiểu do-tuần. Một đại do-tuần tương đương với tám mươi dặm (lý), một trung do-tuần là sáu mươi dặm (lý), và một tiểu do tuần là bốn mươi dặm (lý). "Còn ở chính nhà của người đó, hoặc già hoặc trẻ, về hiện tại và vị lai, trong trăm ngàn năm được vĩnh viễn xa lìa ác đạo." Ngoài ra, tất cả những người đang sống trong nhà người tụng Kinh Ðịa Tạng đó, bất luận là người lớn hay trẻ con, người già hay người trẻ, ngay trong đời này hoặc trăm ngàn năm về sau, sẽ thoát khỏi hẳn mọi quả báo của các chốn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A Tu La. "Nếu trong mười ngày trai này có thể mỗi ngày đều tụng một biến thì ngay đời hiện tại, những người trong nhà không bị tai ương hoặc bệnh tật, đồ ăn đồ mặc lại được dư dật." Trong suốt mười ngày trai của mỗi tháng kể trên nếu quý vị đều đặn tụng mỗi ngày một biến Kinh Ðịa Tạng, thì ngay đời này có thể khiến cho gia đình của quý vị được đồ ăn đồ mặc sung túc, không ai bị gặp chuyện rủi ro, cũng không ai bị ốm đau bệnh hoạn. Kinh văn: "Vì thế Phổ Quảng, nên biết rằng Ðịa Tạng Bồ Tát có bất khả thuyết trăm ngàn vạn ức sự đại oai thần lực lợi ích như thế. Chúng sanh trong cõi Diêm Phù có đại nhân duyên với vị Ðại Sĩ này. Nếu những chúng sanh đó được nghe danh của Bồ Tát, thấy tượng của Bồ Tát, cho đến được nghe chừng ba chữ hoặc năm chữ trong Kinh này, hoặc một bài kệ hay một câu, thì hiện tại được sự an vui thù thắng vi diệu, và trăm ngàn vạn đời về vị lai thường được đoan chánh, sanh vào nhà tôn quý." Lược giảng: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng: "Vì thế Phổ Quảng, nên biết rằng Ðịa Tạng Bồ Tát có bất khả thuyết trăm ngàn vạn ức sự đại oai thần lực lợi ích như thế." Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát có sức oai thần vĩ đại, có thể đem lại trăm ngàn vạn ức sự lợi ích cho chúng sanh, số nhiều đến không thể kể xiết.
Ðức Phật nói tiếp: "Chúng sanh trong cõi Diêm Phù có đại nhân duyên với vị Ðại Sĩ này." Tất cả chúng ta đều có nhân duyên rất lớn với Ðại Sĩ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. Quý vị thử nghĩ xem, Phật Giáo Trung Quốc được truyền bá đến nước Mỹ, thì Bồ Tát Ðịa Tạng cũng đến theo và hiện giờ Ngài là bạn đồng tu của quý vị, trợ giúp quý vị trong việc tu tập; đây quả là một nhân duyên vô cùng lớn lao. Thứ "đại nhân duyên" này không phải là đại nhân duyên mới kết trong đời hiện tại, mà là đại nhân duyên đã có sẵn từ nhiều đời nhiều kiếp về trước. "Nếu những chúng sanh đó được nghe danh của Bồ Tát, thấy tượng của Bồ Tát, cho đến được nghe chừng ba chữ hoặc năm chữ trong Kinh này..." Tất cả chúng sanh chúng ta đều có nhân duyên với Bồ Tát Ðịa Tạng, cho nên nếu chúng ta được nghe đến danh hiệu của Ngài, hoặc được thấy hình tượng của Ngài, thậm chí chỉ được nghe tới ba tiếng "Kinh Ðịa Tạng" mà thôi, thì cũng phá trừ được Tam Hoặc rồi! Tam Hoặc là gì? Ðó là ba loại mê hoặc—thô hoặc, tế hoặc, trần sa hoặc; và cũng chính là kiến hoặc, tư hoặc, vô minh hoặc. "Kiến hoặc" tức là "thô hoặc"; "tư hoặc" tức là "tế hoặc"; và "vô minh hoặc" chính là "trần sa hoặc." Chỉ cần nghe được ba tiếng "Kinh Ðịa Tạng" thì quý vị có thể phá được ba mối "hoặc" này, và cũng có thể tiêu trừ được ba mối chướng ngại—nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng. Nghe giảng đến đây thì thế nào cũng có người thắc mắc: "Tôi đã nghe kinh nghe kệ lâu rồi, nhiều lắm rồi, nhưng vẫn chưa dẹp trừ được mối chướng ngại nào cả. Tôi vẫn còn nhiều phiền não, tánh tình vẫn còn nóng nảy, vẫn chứng nào tật nấy như hồi chưa hề nghe kinh vậy. Tôi cảm thấy các chướng ngại của mình vẫn còn nguyên vẹn!" Nếu quý vị cảm thấy các chướng ngại của mình chưa được tiêu trừ, đó là dấu hiệu cho thấy rằng quý vị có ý muốn trừ khử chúng; bởi nếu quý vị cảm thấy chưa muốn tiêu trừ chúng tức là quý vị hoàn toàn không biết rằng mình có nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng hay không! Trước kia, lúc còn phiền não chướng, quý vị coi phiền não như là báu vật vậy, không hề có ý muốn vứt bỏ; thế mà bây giờ quý vị cảm thấy không bị mất mát, như vậy tức là quý vị đã bắt đầu không còn phiền não nữa rồi! Ngoài ra, nghe được "ba chữ" trong Kinh Ðịa Tạng, quý vị có thể thành tựu được Tam Trí—Ðạo Chủng Trí, Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí; và cũng có thể chứng được Tam Ðức—Pháp Thân Ðức, Bát Nhã Ðức và Giải Thoát Ðức. Lại nữa, nếu quý vị được nghe chừng "năm chữ" của Kinh Ðịa Tạng thì có thể phá được Ngũ Trụ Phiền Não của mình. Ngũ Trụ Phiền Não là gì? Ðó là: 1) Kiến ái trụ phiền não. Do "kiến" (cái thấy) mà nảy sanh lòng yêu thích (ái tâm)—thấy cái gì thì sanh tâm yêu thích và chấp trước vào cái đó. 2) Dục ái trụ phiền não. Hễ có dục vọng là có phiền não, do vậy có yêu thích là có phiền não; nếu không có yêu thì cũng không có ghét, và như thế thì sẽ không có phiền não. Ðó là "vô ái, vô tằng, vô phiền não." 3) Sắc ái trụ phiền não. "Sắc ái trụ" là đối với sắc trần còn sanh tâm chấp trước. 4) Vô sắc ái trụ phiền não. Sanh đến cõi trời Vô Sắc Giới Thiên thì vẫn còn một thứ phiền não—vô sắc ái trụ phiền não. 5) Vô minh trụ phiền não. Nếu được nghe Kinh Ðịa Tạng thì có thể phá Ngũ Trụ Phiền Não, ra khỏi năm ngả luân hồi. Luân hồi vốn có sáu ngả, nhưng vì loài A Tu La ở tản mác trong các ngả đường kia cho nên nói là năm ngả luân hồi (Ngũ Ðạo). Lại có thể vun trồng Ngũ Căn, rồi từ Ngũ Căn mà sinh trưởng Ngũ Lực. Ngũ Căn tức là Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Ðịnh Căn và Huệ Căn—Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ. Ngũ Lực là gồm có Tín Lực, Tấn Lực, Niệm Lực, Ðịnh Lực và Huệ Lực. Quý vị nghe Kinh Ðịa Tạng lại cũng có thể thành tựu được Ngũ Phần Pháp Thân. Ngũ Phần Pháp Thân là gì? Ðó là Giới, Ðịnh, Huệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Một khi ngay cả "tri kiến" cũng giải thoát được rồi thì có thể đắc Ngũ Phần Pháp Thân này. "Hoặc một bài kệ hay một câu." Nếu nghe và thâm nhập được các đạo lý của một bài kệ thì có thể "nhất môn siêu xuất," bước vào con đường trang nghiêm, kỳ diệu. Nếu lãnh hội được đạo lý của một câu kinh, thì quý vị có thể "nhất tánh viên minh," tánh hải tròn sáng viên dung. Những đạo lý này ý nghĩa rất dông dài, có rất nhiều điều cần phải giải thích, cho nên tôi chỉ nêu ra những danh từ để quý vị nghe cho biết thôi, khi nào có cơ hội thì tôi sẽ giảng cặn kẽ hơn. "Thì hiện tại được sự an vui thù thắng vi diệu, và trăm ngàn vạn đời về vị lai thường được đoan chánh, sanh vào nhà tôn quý." Ngay trong đời hiện tại, quý vị sẽ được hưởng sự yên vui, sung sướng lạ thường. Chẳng những như thế mà ngay cả về sau, trong suốt cả trăm ngàn vạn đời, quý vị sẽ luôn luôn có được tướng mạo đoan chánh, trang nghiêm. Có rất nhiều người tướng mạo không được đoan chánh. "Không đoan chánh" tức là những trường hợp có đầu như đầu khỉ, mặt như mặt ngựa, mắt như mắt chuột. Người Trung Hoa có câu nói: "Thố đầu, xà nhãn, thử nhĩ, ưng tai." (Ðầu thỏ, mắt rắn, tai chuột, má ưng.) Có nghĩa là người mà đầu có hình thù giống như đầu thỏ, mắt như mắt rắn, tai giống tai chuột, má giống má của chim ưng—những người như thế là có tướng mạo không đoan chánh. Con người mà có nhiều tướng súc sanh tập trung lại, biến thành một cái tướng mạo, thì đó là không tốt, không đoan chánh. Như thế, nhờ được nghe tới Kinh Ðịa Tạng mà đời sau tướng mạo của quý vị sẽ được đoan chánh, và được sanh trưởng trong những gia đình nếu không là quan quyền chức tước thì cũng là phú hộ giàu có. Ở đây nói tới "quan quyền, phú hộ" thì đó chẳng phải là một thứ chủ nghĩa phong kiến sao? Không hẳn như thế! Những người giàu sang phú quý đề cập ở đây là những người có đức hạnh—nhờ có đức hạnh mới được giàu sang. Những người không có đức hạnh thì bị bần cùng hạ tiện, và đó là do họ đã từng chê bai, hủy báng Tam Bảo; còn những người có đức hạnh thì được sanh vào nhà tôn quý. Kinh văn: Lúc đó, Bồ Tát Phổ Quảng nghe Ðức Phật Như Lai xưng dương tán thán Bồ Tát Ðịa Tạng xong, liền quỳ xuống chắp tay mà bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Từ lâu con đã biết vị Ðại Sĩ này có bất khả tư nghì thần lực cùng đại thệ nguyện lực như thế rồi, song vì muốn cho chúng sanh đời sau rõ biết sự lợi ích, nên con mới thỉnh vấn Ðức Như Lai. Vâng, con xin cung kính lãnh thọ. Bạch Ðức Thế Tôn! Kinh này đặt tên là gì và định cho con lưu bố thế nào?" Ðức Phật bảo Ngài Phổ Quảng: "Kinh này có ba danh hiệu: Một là Ðịa Tạng Bổn Nguyện, cũng gọi là Ðịa Tạng Bổn Hạnh, cũng gọi là Ðịa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh. Do vì Bồ Tát này từ thuở kiếp lâu xa đến nay từng phát đại trọng nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên các Ông phải y theo tâm nguyện mà lưu bố." Ngài Phổ Quảng nghe xong liền cung kính chắp tay làm lễ mà lui ra. Lược giảng: Lúc đó, Bồ Tát Phổ Quảng nghe Ðức Phật Như Lai xưng dương tán thán Bồ Tát Ðịa Tạng xong, liền quỳ xuống ... "Hồ quỵ" (có kinh viết là "hỗ quỵ") tức là tư thế "hữu tất trước địa"—đầu gối chân phải khuỵu xuống sát đất, gối trái không quỳ. Chúng ta bây giờ quỳ cả hai đầu gối xuống đất mà tụng Kinh, tư thế này gọi là "trường quỵ" (quỳ dài). "Trường quỵ" thì không đến nỗi khó khăn lắm. "Hồ quỵ" thì tương đối khó khăn hơn; do đó Ðức Phật cho phép người nữ được "trường quỵ" còn người nam thì phải "hồ quỵ." Hiện nay, Phật Giáo Tiểu Thừa ở Thái Lan, Miến Ðiện, khi tân Tỳ Kheo gặp Lão Tỳ Kheo thì đều phải "hồ quỵ," đầu gối chân phải quỳ xuống chạm đất. Còn Sa Di trông thấy Tỳ Kheo thì không được ngước nhìn mà phải cúi đầu xuống. Theo lệ, trong khi "hồ quỵ" thì đầu phải cúi thấp, không được tùy tiện nhìn ngó bậc Trưởng Lão. Bất luận là nam hay nữ, tất cả đều phải như vậy, không được nhìn ngó đăm đăm. Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Quảng quỳ xuống rồi cung kính chắp tay mà bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Từ lâu con đã biết vị Ðại Sĩ này có bất khả tư nghì thần lực cùng đại thệ nguyện lực như thế rồi, song vì muốn cho chúng sanh đời sau rõ biết sự lợi ích, nên con mới thỉnh vấn Ðức Như Lai. Con nay bạch hỏi Phật chính là vì muốn giáo hóa chúng sanh trong đời vị lai, làm cho tất cả đều biết đến lợi ích do Ðịa Tạng Vương Bồ Tát ban bố. "Vâng, con xin cung kính lãnh thọ. Nay con khao khát mong được nghe lời giáo huấn của Phật. Bạch Ðức Thế Tôn! Kinh này đặt tên là gì và định cho con lưu bố thế nào? Ðức Thế Tôn định cho con cùng các Bồ Tát khác lưu thông phân bố bộ Kinh Ðịa Tạng này như thế nào?" Thế nào gọi là "lưu bố"? Nếu bây giờ chúng ta đem bộ Kinh này in ra thành nhiều bản rồi đem phổ biến khắp nơi để cho mọi người đều biết đến, thì đó gọi là "lưu bố" vậy. Ðức Phật bảo Ngài Phổ Quảng: "Kinh này có ba danh hiệu: Một là Ðịa Tạng Bổn Nguyện, cũng gọi là Ðịa Tạng Bổn Hạnh, cũng gọi là Ðịa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh." Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng bộ Kinh này có ba danh hiệu: 1) Ðịa Tạng Bổn Nguyện Kinh, nghĩa là bộ Kinh nói về nguyện lực vốn sẵn có từ trước của Ðịa Tạng Bồ Tát; 2) Ðịa Tạng Bổn Hạnh Kinh, đây là tên thứ hai của bộ Kinh và có nghĩa là Kinh nói về hạnh lực tu hành từ trước của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát; 3) Ðịa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh, đây là tên thứ ba của bộ Kinh và có nghĩa là Kinh nói về thệ nguyện lực mà Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đã phát trước đây. "Do vì Bồ Tát này từ thuở kiếp lâu xa đến nay từng phát đại trọng nguyện làm lợi ích cho chúng sanh." Tại sao bộ Kinh này có những danh hiệu như trên? Bởi vì từ rất lâu xa về trước, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đã lập trọng nguyện rộng lớn, muốn làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Vì thế, tôi nói cho quý vị biết, thực hành Bồ Tát Ðạo tức là việc gì có lợi cho chúng sanh thì mình cần phải làm, còn việc gì có hại cho chúng sanh thì mình dứt khoát không nên làm. Nếu gặp việc hữu ích thì cho dẫu có kẻ cần đến cái đầu của mình, mình cũng sẵn sàng tặng cho họ; trái lại, nếu là việc có hại cho kẻ khác thì xin chỉ một sợi lông mình cũng tuyệt đối không cho! Cho nên, chúng ta cần phải theo đúng nguyện lực mà làm. Ðức Phật dạy tiếp: "Cho nên các Ông phải y theo tâm nguyện mà lưu bố. Các Ông phải y theo nguyện lực của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát để lưu hành, truyền bá rộng rãi bộ Kinh Ðịa Tạng, đồng thời cũng y theo nguyện lực của riêng mỗi vị Bồ Tát trong các Ông mà lưu thông phân bố bộ Kinh này đến khắp nơi." Ngài Phổ Quảng nghe xong liền cung kính chắp tay làm lễ mà lui ra. Sau khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dứt lời, Bồ Tát Phổ Quảng bèn chắp tay, mắt hướng nhìn về phía Ðức Phật mà cung kính đảnh lễ, rồi đứng sang một bên. Duyên Khởi || Phẩm 01 || Phẩm 02 || Phẩm 03 || Phẩm 04 || Phẩm 05 || Phẩm 06 || Phẩm 07 || Phẩm 08 || Phẩm 09 || Phẩm 10 Phẩm 11 || Phẩm12 || Phẩm 13 || Phần Phụ Lục |
|
| ||||||