Kinh A Di Đà là lập thể chỉ cho theo người, là
Kinh mà Đức Phật không ai thưa thỉnh, tự nói ra, lấy
Thật tướng làm Thể, Thật tướng tức Không tướng,
nhưng lại không chỗ nào chẳng có tướng. Nhơn không
tướng cho nên là Chơn không; lại không chỗ nào chẳng
có tướng, tức là Diệu hữu; tất cả tướng đều Thật
tướng, cho nên Thật tướng mới là Vô tướng mà không
chỗ nào chẳng có tướng. Vô tướng cũng chính là không
chỗ nào chẳng có tướng, tức là không có một tướng
hoặc không có tướng, cả hai đều không chấp trước.
Kinh này lấy Thật tướng làm bản thể. Thật tướng tức
Chơn như, cũng chính là Nhứt chơn pháp giới. Kỳ
thực, Như Lai tạng tánh cũng chính là Chơn như thật
tánh, chỉ có tên gọi khác nhau mà thôi.
Tín, Nguyện, Hạnh là ba thứ tư lương của
người tu theo pháp môn Tịnh độ, như người trước khi
đi xa cần phải dự bị lộ phí và lương thực. Bạn muốn
đi sang thế giới Cực Lạc cũng phải chuẩn bị ba thứ
tư lương; trước tiên phải có lòng tin, nếu không thì
sẽ không có duyên với thế giới Cực Lạc. Trừ việc tự
tin nơi chính mình, cũng phải tin ở người khác, tin
nhơn, tin quả, tin sự, tin lý.
Thế nào là tin ở chính mình? Đó là tin ở
tự mình quyết định có thể vãng sanh về thế giới Cực
Lạc phương Tây, đừng nên khinh thường tự ti mà nói:
"Tôi tạo rất nhiều tội, làm sao có thể sanh về thế
giới Cực Lạc ở phương Tây được?" Nghĩ như thế tức là
không tin ở chính mình. Không luận là mình đã gây
tạo ác nghiệp như thế nào đi nữa, đều có thể có cơ
hội đới nghiệp vãng sanh về thế giới Cực Lạc phương
Tây, nhưng mà nghiệp mang theo là nghiệp cũ chớ
không phải nghiệp mới. Tội nghiệp đời trước có thể
mang đi, nhưng chẳng thể mang đi ác nghiệp tương lai
được. Những ác nghiệp gây tạo trước đây hiện tại đều
cần phải sửa đổi; sau khi cải ác hướng thiện mới có
thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc phương Tây. Người
nào sau khi niệm Phật, lại không chịu sửa lỗi, vẫn
tiếp tục tạo nghiệp, chẳng những không thể đới
nghiệp vãng sanh, mà ngay cả thế giới Cực Lạc phương
Tây cũng không đi được. Cho nên niệm Phật, lạy Phật
là gieo trồng nhơn lành để tương lai có thể thành
Phật, chẳng phải là nói hiện đời mà được. Sở dĩ
người tin theo Phật, chẳng nên biết rồi mà cố phạm.
Khi chưa quy y Tam Bảo và tin Phật, đã lỡ tạo ác
nghiệp còn có thể tha thứ. Nhưng sau khi tin Phật và
quy y Tam Bảo rồi mà còn gây tạo tội nghiệp thì tội
ấy nặng thêm một bực, là do biết mà còn phạm. Cho
nên phải tin nơi chính mình có khả năng "cải hóa tự
tân", thì chắc chắn sẽ được vãng sanh thế giới Cực
Lạc phương Tây.
Tin người khác (tín tha) là tin theo lời
Phật nói, chắc chắn có thế giới Cực Lạc ở phương Tây
cách đây mười vạn ức cõi nước Phật. Cõi nước Phật
này là do Tỳ-kheo Pháp Tạng thuở xưa (tức Phật A Di
Đà bây giờ) phát nguyện mà thành tựu. Tất cả chúng
sanh ở mười phương nếu muốn sanh về Tịnh độ này thì
có thể vãng sanh như ý nguyện, đã không phí việc,
lại không tốn tiền, chẳng hao sức, dễ dàng lại đơn
giản, phương tiện mà viên dung, chỉ cần chuyên tâm
niệm "Nam mô A Di Đà Phật" mà thôi. Đây quả là một
pháp môn cao tột vô thượng. Tin như thế tức là tin
người khác.
Tin quả, tin nhơn (tín nhơn tín quả).
Chúng ta cũng cần phải tin vào chính mình đã từng
gieo trồng nhơn lành từ quá khứ, nhờ có căn lành nên
đời này mới gặp pháp môn niệm Phật này. Ngoài ra,
đời này cần phải vun trồng Tín, Nguyện, Hạnh, thì
căn lành mới có thể thêm lớn mà thành tựu quả vị.
Cho nên tin có nhơn quả là tự tin mình thuở xưa đã
từng gieo trồng nhơn Bồ-đề và ở tương lai nhất định
sẽ thành tựu quả Bồ-đề. Nhưng kết quả đó muốn đạt
được thì phải kinh qua sự vun tưới và chăm sóc mới
có thể thêm lớn được. Có người nói: Tôi không biết
mình có căn lành gì?"
Bạn làm sao biết mình có hay không có
căn lành? Thường thường có người hỏi tôi: "Thầy xem
tôi có căn lành không?" Tôi trả lời: "Bạn xem tôi có
căn lành hay không?" Người ấy nói: "Tôi không biết!"
Tôi nói: "Bạn không biết mình có căn lành hay không
thì làm sao tôi biết được? Nhưng mà tôi có cách
biết. Nếu bạn không có căn lành thì đời này sẽ không
thể nào gặp được Phật, pháp, cho nên bạn phải tự
hiểu về đạo lý này".
Người không biết được Phật pháp, hoặc có
thể là không có căn lành, giả sử có gặp được, cũng
không thể có duyên. Chỉ vì căn lành là phải được
gieo trồng, nếu không gieo trồng thì hoàn toàn không
có căn lành; cho nên có căn lành hay không việc đó
không quan trọng. Quan trọng nhất là đời này mình
phải nương theo Phật pháp mà tu hành, vun bồi, chăm
sóc căn lành của chính mình. Chớ nói Phật pháp dạy
người không nên uống rượu mà mình lại đi uống rượu
bạt mạng, cho đến phạm cả những tội sát sanh, trộm
cắp, tà dâm, nói dối nữa. Sau khi tin Phật rồi, đã
biết rõ mà cố phạm, cho đó là những lỗi nhẹ không hề
chi. Chính vì ý nghĩ "không hề chi" đó mà người ta
phải sa vào địa ngục, làm ngạ quỷ, chuyển thân súc
sanh. Tất cả đều nhơn cái hại của câu nói "không hề
chi" này. Cho nên phải tin vào chính mình đời nay
gieo trồng căn lành, đời sau mới có quả lành.
Tin lý, tin sự. Tin rằng Đức Phật A Di
Đà cùng chúng ta có nhơn duyên lớn, tương lai nhất
định có thể tiếp dẫn chúng ta thành Phật. Đây tức là
Sự. Tại sao nói Đức Phật A Di Đà có nhơn duyên lớn
đối với chúng ta? Nếu không có nhơn duyên thì đời
nay chúng ta đâu gặp được pháp môn Tịnh độ. Tất cả
chúng sanh tức là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà tức là
tất cả chúng sanh. Phật A Di Đà nhơn niệm Phật mà
thành, tất cả chúng sanh nếu hay niệm Phật, cũng có
thể thành Phật, đây tức là Lý. Người nương Sự Lý mà
tu hành như tông Hoa Nghiêm đã lập, tức "Sự vô ngại
pháp giới, Lý vô ngại pháp giới, Lý Sự vô ngại pháp
giới, Sự sự vô ngại pháp giới".
"Lý sự vô ngại pháp giới" chúng ta cùng
Tự tánh Phật A Di Đà căn bản là một. Cho nên chúng
sanh đều có tư cách thành Phật. Sao gọi là Sự lý? -
Xin đưa ra một việc dễ hiểu, phàm sự tướng đều có sự
biểu hiện của nó, như cây gỗ có thể làm nhà, đây tức
là Lý; làm thành phòng nhà rồi, tức là Sự; đó là
nghĩa Sự Lý. Chúng ta hiện tại có Lý thành Phật này,
mà cũng có Sự thành Phật nữa. Chúng ta nếu có: Tín,
Nguyện, Hạnh, Trì danh, thì tương lai sẽ đạt đến sự
thành Phật.
Phật A Di Đà là Phật A Di Đà trong tâm
chúng sanh, chúng sanh cũng là chúng sanh trong tâm
Phật A Di Đà, sự quan hệ này cũng có sự và lý, nhưng
đạo lý này cần phải có lòng tin và sự thực hành
không được biếng trễ. Ví như niệm Phật phải mỗi ngày
một tăng lên, không nên mỗi ngày một ít đi. Khi
chúng ta niệm "Nam mô A Di Đà Phật", thì trong nước
Bát công đức của ao thất bảo nơi thế giới Cực Lạc
phương Tây sẽ mọc lên một hoa sen. Niệm Phật càng
nhiều thêm thì hoa sen càng lớn dần, nhưng vẫn chưa
nở. Đợi đến lúc chúng ta mạng chung thì đương nhiên
chúng ta sẽ sanh vào trong hoa sen ở thế giới Cực
Lạc. Sở dĩ chúng ta muốn biết phẩm vị của mình cao
hay thấp, là Thượng phẩm thượng sanh, Trung phẩm
trung sanh hay hạ sanh, thì phải xem công phu niệm
Phật của chúng ta nhiều hay ít. Mình càng niệm Phật
nhiều thì hoa sen càng nở lớn ra. Mình niệm Phật ít
đi thì hoa sen nở nhỏ lại. Nếu không niệm, hoặc có
lúc niệm rồi không niệm nữa, thì hoa sen kia sẽ khô
rụi đi. Cho nên điều cần thiết là bạn phải tự tranh
thủ lấy quả vị của chính mình: Niệm Phật càng nhiều,
trì danh, tin sâu không dời đổi, nguyện thiết tha,
thực hành mãi không biếng lười. Không nên nói ngày
nay ngủ nhiều một tí, ngày mai sẽ tu tiếp. Việc này
không thể nào chấp nhận được. Tu hành thì không thể
biếng lười, mà phải siêng năng tinh tấn thì mới có
thể thành công.
Thế nào gọi là Nguyện? - Nguyện là ý
nguyện, tức là chỗ ý hướng đến, tâm nghĩ điều gì đó
rồi phát ra lời nguyện. Nguyện có bốn thứ tức là:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Chư Phật cùng Bồ tát thuở quá khứ, chư
Phật, Bồ tát ở hiện tại; chư Phật, Bồ tát trong
tương lai cũng đều y theo bốn hoằng thệ nguyện này
mà tu hành chứng quả. Bốn hoằng thệ nguyện này là y
theo bốn đế mà phát ra. Bốn Đế là: Khổ Đế, Diệt Đế,
Tập Đế và Đạo Đế.
Y theo Khổ đế thì phát ra lời nguyện:
"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ"; y theo Tập đế
thì phát lời nguyện "Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn"; y theo Đạo đế thì phát ra lời nguyện "Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học"; y theo Diệt đế thì
phát ra lời nguyện "Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành." Hơn nữa, bốn hoằng thệ nguyện cũng là chiếu
theo ba khổ: Khổ khổ, Hành khổ, Hoại khổ của chúng
sanh mà phát ra. Khổ khổ chính là những nghèo cùng
khốn khổ của chúng sanh. Hoại khổ chính là chúng
sanh dù được giàu sang, nhưng sự giàu sang đó hư
hoại đi. Hành khổ chính là đã không phải bị khổ sở
vì nghèo thiếu, cũng không phải là giàu sang bị hư
hoại, mà là hành khổ của vô thường biến đổi. Từ nhỏ
đến lớn, từ lớn đến già, từ già đến chết, suốt cả
một đời niệm niệm đổi dời, cho nên có ba khổ.
Tám khổ: Sanh, già, bệnh, chết, ái biệt
ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh. Sanh
là khổ, già là khổ, có bệnh là khổ, lúc chết lại
càng khổ, sanh già bệnh chết đều là khổ; Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni nhơn nhìn thấy khổ sanh già bệnh
chết liền phát tâm xuất gia, tu hành. Ái biệt ly khổ
là nỗi khổ đối với người mình yêu thích mà vì hoàn
cảnh nào phải xa lìa. Yêu mà phải xa lìa là một thứ
khổ, mà không yêu lại thường hội tụ ở một chỗ cũng
là một thứ khổ, đó gọi là Oán Tắng hội khổ. Ví dụ:
Mình không thích người ấy, ở một nơi nào đó lại chạm
mặt với người ấy và cùng làm việc chung với họ, nỗi
ấy gọi là Oán tắng hội khổ. Lại có một thứ gọi là
Cầu bất đắc khổ, nghĩa là không toại lòng mong muốn,
mong muốn được mà không thể được. Khi chưa được thì
lo lắng cho được, khi đã được rồi thì sợ mất mát.
Nhưng cái thứ khổ lo được lo mất không kể gì lợi
hại, chính là Ngũ ấm xí thạnh khổ. Ngũ ấm là Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Năm thứ này giống như là
ngọn lửa cháy bừng bừng. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức, năm ấm này giờ giờ khắc khắc đều đi theo trên
thân thể chúng ta gây nên vô vàn sự thống khổ.
Ngoài tám khổ ra còn có vô lượng vô biên
khổ nữa. Tại sao có quá nhiều khổ như vậy? Đó là vì
chúng ta trong đời quá khứ gieo trồng quá nhiều nhơn
khổ, cùng làm bạn bè với chúng mà không muốn xa lìa,
vì thế gieo trồng nhơn duyên của khổ này mà nhận lấy
khổ quả.
Cho nên nói:
Muốn biết nhơn đời trước, hãy xem đời
nay nhận quả gì.
Muốn biết quả đời sau, hãy xem đời này
gieo nhơn gì.
Vì thế gieo trồng nhơn lành thì sẽ hưởng
kết quả lành, gieo trồng nhơn ác thì sẽ nhận kết quả
ác, lúc quả thành thục thì lòng rất sợ hãi. Bồ tát
thì sợ nhơn chớ không sợ quả; còn chúng sanh thì sợ
quả chớ không sợ nhơn. Sợ tức là sợ hãi. Bồ tát thì
sợ nhơn chớ không sợ quả, cho nên cẩn thận, dè dặt,
không trồng nhơn khổ, vì thế các Ngài không có quả
khổ. — thời quá khứ, khi chưa rõ đạo lý, các Ngài
cũng gieo trồng nhơn khổ; hiện tại quả khổ đến, các
Ngài vui vẻ tiếp nhận, vì hiểu rõ rằng thọ khổ thì
hết khổ, hưởng phước thì hết phước. Nhưng chúng sanh
sợ quả mà không sợ nhơn, khi gieo trồng nhơn bất kể
là nhơn tốt hay xấu, nhơn thiện hay ác, cứ cho là
việc nhỏ không ăn thua gì, cho nên mặc tình gây tạo,
không để tâm cẩn thận một tí nào. Nhơn gì cũng gieo,
nên khi họ khổ thì thọ hoài không hết, rồi than van
rằng: "Sao mà gặp cái thứ hoàn cảnh trớ trêu như
vậy?" Đã sợ nhận lấy quả khổ, thế thì trước kia đừng
gieo trồng nhơn khổ có hơn không? Sanh về thế giới
Cực Lạc ở phương Tây thì không có nổi khổ, chỉ thọ
các điều vui. Không có một chút khổ nào là vì người
ở đó đều thanh tịnh, không có tâm tranh đua, tham
dục, si mê và ba ác đạo. Vì không có ba độc tham sân
si cho nên không có ba thứ ác đạo. Ba ác đạo là do
ba độc biến hiện ra.
Phật độ tất cả chúng sanh mà không thấy
một chúng sanh nào được diệt độ, đó chính là phát
tâm khiến cho tất cả người tu Bồ tát đạo, khiến tất
cả người lìa khổ được vui, khiến tất cả người đều
được thành Chánh giác. Dầu độ chúng sanh nhưng không
có tướng độ chúng sanh. Độ sanh lìa tướng, lìa tướng
độ sanh, không dính mắc vào tướng mà nói: "Chúng
sanh này là của tôi độ, chúng sanh kia cũng của tôi
độ, độ một người, cho đến mười người, tôi độ được
mười chúng sanh". Độ chúng sanh phải là không tính
số, có tính số thì có chấp trước, không tính số thì
không chấp trước. Độ mà không độ, không độ mà độ, đó
mới thiệt là độ chúng sanh. Chúng sanh bên ngoài dĩ
nhiên là đáng độ. Chúng sanh trong tự tánh cũng phải
đáng độ. Trong tự tánh có tám mươi bốn ngàn chúng
sanh, càng cần phải độ cho nó tu hành thành Phật,
nhập Niết bàn. Độ chúng sanh, có độ là độ phiền não
của chúng sanh, không độ thì chúng sanh vẫn còn
phiền não, mà phiền não có tám mươi bốn ngàn thứ.
Hàng Nhị thừa dứt được Kiến hoặc và Tư hoặc, nhưng
vẫn còn Trần sa hoặc. Bồ tát có Vô minh hoặc. Vô
minh là thứ nặng nề nhứt. Chúng sanh trừ được Kiến
tư hoặc, Trần sa hoặc, nhưng vẫn còn Vô minh hoặc.
Bồ tát Đẳng giác dứt được Trần sa hoặc, khi sắp
thành Phật, hãy còn một phần Sanh tướng vô minh rốt
sau, cũng giống như tám mươi bốn ngàn sợi lông chỉ
còn thừa lại một sợi, chỉ cần nhổ được sợi lông đó
là xong. Bồ tát Đẳng giác dứt được Sanh tướng vô
minh, liền chứng Diệu giác, tức thành Phật.
Sao gọi là Kiến hoặc? - Kiến là đối cảnh
khởi tâm tham ái. Đối cảnh giới khởi tâm tham cùng
tâm ái, không thấy rõ cảnh giới này mà nhận rằng tất
cả là thật có. Vì nhận cho là thật nên ăn cơm cũng
là thật, ngủ nghỉ cũng là thật, không có bạn bè cũng
cho là thật, đó chính là không rõ ràng. Thấy (kiến),
cho là tốt đẹp, rồi sanh ra tham ái vô cùng vô tận,
không bao giờ biết đủ biết chán, đó chính là Kiến
hoặc, đối cảnh khởi tâm tham ái.
Sao gọi là Tư hoặc? - Tư hoặc chính là
mê lý khởi tâm phân biệt, đối lý không thấu suốt mà
khởi ra phân biệt. Không biết vị Pháp sư đó giảng có
đúng không? Có chỗ nào hay không? Có lợi ích gì cho
mình không? Không lợi ích thì không muốn làm. Việc
mình làm nhất định phải có lợi ích, chỉ thấy trước
mặt ba tấc, mà chẳng thấy được trước mặt bốn tấc.
Chỉ thấy cảnh trước mắt mà chẳng thấy được nơi chốn
xa xôi kia. Đó đều là Tư hoặc.
Tư hoặc chính là những tư tưởng không rõ
ràng, mơ mơ hồ hồ. Không đúng cho là đúng. Vừa rồi
tôi nói nhận cho ăn cơm là thật, mặc áo cũng là
thật, nếu không bạn xem phải là giả thì cái gì là
thật chớ? Mặc áo, ăn cơm, ngủ nghỉ đều là quá trình
của đời người. Bạn không cần chấp trước phải nhận
chân là thế nào. Nếu bạn không chấp trước thì có thể
nhẹ nhàng tự tại. Còn nếu chấp trước thì sẽ bị thống
khổ. Nếu cho là tất cả đều không thật, thì sẽ không
có tham ái, giống như trong chiêm bao làm những việc
lung tung. Nghĩ ra như thế bạn sẽ buông bỏ hết, mọi
sự tình rồi sẽ qua đi. Nếu bạn bỏ không được thì có
chấp trước, mọi sự tình sẽ không qua được. Đó là
Kiến hoặc. Có tám mươi tám phẩm Kiến hoặc và tám
mươi mốt phẩm Tư hoặc. Phá được Kiến hoặc trong ba
cõi thì chứng được Sơ quả A-la-hán. Kiến hoặc không
phá được thì không thể nào chứng quả được. Đối với
tất cả cảnh giới bạn có tâm ái không? Có tâm tham
không? Đối với cảnh có khởi tâm tham ái không? Đối
với cảnh giới vừa lòng có khởi tâm tham ái không?
Đối với cảnh giới không vừa lòng có khởi tâm giận
ghét không? Bạn có thể trừ bỏ được tâm tham ái
không? Nếu bạn thiệt không có, thì rốt cuộc nó sẽ
không còn tồn tại. Làm sao biết "bạn không có tham
ái?" Bởi vì bạn còn biết mình không có cho nên bạn
nói tôi không tham không ái, nhưng đó là còn có cái
"Tôi." Vì chưa chứng Sơ quả nên chưa phá được. Việc
đó không phải nói không là không một cách dễ dàng.
Ngũ lợi sử là: Thân kiến, Biên kiến, Tà
kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến. Sao gọi là
Lợi? -Lợi là đến nhanh chóng, trái với Độn là đến
chậm chạp.
1. Thân kiến: Chấp trước đây là thân thể
của ta. Thân thể của ta gầy đi, cảm thấy ăn không
ngon, mặc không vừa ý, ở không thoải mái. Thân thể
ta như thế thì làm sao an toàn được? Suốt ngày từ
sáng tới tối cứ lo nghĩ về mình.
2. Biên kiến: Chính là chấp đoạn chấp
thường. Chấp đoạn thì cho rằng người ta chết đi trở
về với hư không, không còn gì nữa, như dầu hết đèn
tắt. Chấp thường thì cho là con người chết đi, thì
sao? Vẫn làm người nữa; chó mãi mãi làm chó, mèo cứ
làm mèo hoài; người luôn luôn làm người, chớ không
đổi làm chó mèo được. Những kiến chấp như trên lạc
vào nhị biên nên gọi là Biên kiến, không hợp với
Trung đạo. Đời này làm người, đời sau vẫn làm người.
Cỏ vẫn là cỏ, cây vẫn là cây, người không thể làm
súc sanh, cũng không thể làm quỷ. Đó chính là Biên
kiến.
3. Tà kiến là thế nào? - Tà kiến là cho
rằng làm lành không có quả báo lành, làm ác cũng
không có quả báo ác. Họ bác không nhơn quả, hoàn
toàn không nhơn không quả. Họ không tin làm lành
được phước, làm ác phải tội.
4. Giới cấm thủ kiến: Dạy người giữ giới
bò, giới chó. Giữ giới bò là bắt chước theo bò ăn
cỏ. Tại sao thế? Nhơn vì họ thấy biết sai lầm, thấy
bò được sanh lên trời cho nên bắt chước theo bò,
thấy chó được sanh lên trời cho nên bắt chước theo
chó.
Giới kiến: Không phải nhơn chấp là nhơn,
cũng là giới thủ. Người xuất gia giữ giới có tâm
chấp trước này, họ chấp rằng ta hay giữ giới, giới
này là giới của ta giữ, có một thứ tâm hay giữ giới
và những giới được giữ. Họ không biết rằng bản thể
của giới xưa này vốn là rỗng không, không nên chấp
trước. Hễ có chấp trước thì biến thành Giới thủ.
5. Kiến thủ kiến: Không phải quả chấp là
quả. Không phải là quả rốt ráo, họ cho đó là quả rốt
ráo. Họ cho Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Xứ là Niết
bàn, đó gọi là "không phải quả chấp là quả".
Tứ Thiền: Sơ thiền thiên, Nhị thiền
thiên, Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên.
Người tọa thiền lên đến cảnh giới Sơ
thiền có thể không còn thở nữa, không có sự hô hấp.
— cảnh giới này tuy không còn hô hấp nhưng vẫn có
một niệm động, một khi phát sanh niệm động này thì
hô hấp sẽ trở lại. Đó là Sơ thiền.
Nhị thiền là mạch ngừng lại, khi hô hấp
không còn nữa thì mạch cũng ngừng luôn, giống như
người chết. Tuy mạch ngừng đập nhưng không phải
chết. Đó là cảnh giới của Nhị thiền.
Tam thiền là ngồi cho đến ý niệm cũng
ngừng bặt. — Sơ thiền, Nhị thiền không còn hô hấp
nữa, mạch cũng ngừng đập, nhưng lại còn ý niệm, đến
Tam thiền thì ý niệm đó cũng không còn nữa vì thường
ở trong định.
Đến Tứ thiền thì chỉ còn thức mà thôị
Tam thiền không có ý niệm là không có ý niệm thô,
nhưng ý niệm tế vẫn còn; đến Tứ thiền cả ý niệm tế
cũng dứt luôn. Cảnh giới này chỉ là con đường cần
phải kinh qua của người tu Thiền, chớ không phải là
quả chứng. Không chỉ nói Tứ thiền, mà ngay cả Tứ
không xứ: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở
hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng chẳng qua
chỉ là một thứ định, chớ không phải là quả chứng;
nếu có chấp lấy (Kiến thủ) thì có thể cho cảnh giới
này là Niết bàn và cho là chứng đắc quả A-la-hán thứ
tư. Như Vô Văn Tỳ-kheo cho Tứ thiền là Tứ quả, đó là
vì y không thông hiểu. Những Kiến hoặc...ở trên là
Ngũ lợi sử.
Tư hoặc... là Ngũ độn sử. Độn tức là đến
chậm chạp. Ngũ độn sử là tham, sân, si, mạn, nghi.
Tại sao người ta có phiền não? - Đó là vì có vô
minh. Sau khi Vô minh sanh ra thì có Trần sa hoặc.
Trần sa hoặc còn gọi là Vô minh hoặc, tức là không
có hiểu biết đứng đắn. Tư hoặc cũng có thể gọi là Vô
kiến hoặc, tại vì sau khi Vô minh sanh ra bèn có
tham, nghĩ rằng phải có được cái gì đó, bèn sanh ra
tâm tham, rồi sanh ra các thứ phiền não; phiền não
một khi sanh ra, sẽ sanh ra tâm Sân; tâm Sân một khi
sanh ra thì chỉ biết về mình mà chẳng biết có người
khác. Vì chỉ biết có mình, cho nên khi tâm sân hận
sanh ra thì muốn hạ thấp giá trị của người khác. Có
thứ tâm này chính là ngu si, không phân biệt được
phải quấy trắng đen, bất kể tất cả. Nguyên do chính
là không biết đạo lý, ngay đến ngu si, phải quấy,
cong ngay, đen trắng đều không nhận ra. Vì ngu si
mới sanh ra tâm kiêu mạn. Vì có tâm kiêu mạn nên lại
sanh ra nghi ngờ, không tin đạo lý do bất cứ ai
giảng giải. Thiệt cũng không tin, giả càng không tin
nữa. Sanh ra mọi thứ hoài nghi, đó chính là Tư hoặc.
Do Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần sa hoặc mà thành các thứ
Vô minh phiền não. Cho nên các thứ phiền não vô cùng
vô tận không có lúc nào hết. Trước tình hình này
người tu hành phải nương vào Tứ đế mà phát lời thệ
nguyện: "Phiền não vô tận thệ dứt trừ".
"Pháp môn vô lượng thệ nguyện học",
nghĩa là người tu hành cần phải hiểu rõ các thứ pháp
môn. Các thứ pháp môn nhiều vô lượng vô biên, cũng
chính là một thứ pháp môn để tu hành. Nếu không rõ
biết phương pháp thì không thể tu hành được, vì muốn
tu hành thì phải hiểu rõ phương pháp. Phương pháp
này rất nhiều, nhiều đến vô lượng vô biên, cho nên
phải nương theo Đạo đế mà phát nguyện lực: "Pháp môn
vô lượng thệ nguyện học".
Sao gọi là pháp môn vô lượng? Vô lượng
pháp môn từ đâu mà có? - „y là: Phật nói tất cả pháp
nhơn vì tất cả tâm của chúng sanh. Nếu không tất cả
tâm, thì cần gì tất cả pháp? Tất cả pháp đều do tâm
chúng sanh mà có, vì tâm chúng sanh có ngàn sai muôn
khác, các thứ không giống nhau, tâm của mỗi con
người đều không giống nhau, cho nên pháp môn cũng có
nhiều thứ không đồng. Tóm tắt lại pháp có ba thứ:
Phật pháp, tâm pháp và chúng sanh pháp. Ba pháp này
sanh ra Tứ đế, Lục độ, mười hai nhơn duyên, ba mươi
bảy phẩm Trợ đạo... Cho nên nói: "Pháp môn vô lượng
thệ nguyện học".
Pháp môn có rất nhiều, giống như chúng
ta giảng bộ kinh này xong lại giảng đến bộ kinh
khác, đó không phải là do vô lượng hay sao? Chúng ta
hiện tại giảng kinh cũng như một giọt nước trong
biển cả mà thôi! Chớ không là tất cả nước trong biển
cả đều được hết. Chúng ta học Phật pháp để làm gì?
Tại sao phải học Phật pháp? Nhơn vì học Phật pháp
chính là muốn được thành Phật.
Nhưng thành Phật có phải là vọng tưởng
không?
-Thành Phật không phải là vọng tưởng
đâu, tại vì vị Phật là quả vị xưa nay sẵn có của
chúng ta, mọi người đều có thể thành Phật, vì thế
chúng ta phải nhanh một bước để sớm thành quả Phật,
và y theo Diệt đế mà phát lời nguyện: "Phật đạo vô
thượng thệ nguyện thành".
Diệt đế chính là đạt đến Niết bàn, đạt
đến quả vị rốt ráo thanh tịnh bất sanh bất diệt, cho
nên nói là "Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành".
Chúng ta đối với sự kiện thành Phật không cần phải
hoài nghi nữa; nhưng nếu có hoài nghi, cũng có thể
thành Phật, duy có điều chậm một chút mà thôi. Nếu
không có tâm hoài nghi thì sẽ thành Phật sớm hơn.
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể làm
Phật, nhưng không thể nói: "Tất cả chúng sanh đều là
Phật". Nếu chịu tu hành thì mới có thể thành Phật,
nếu không chịu tu hành thì tất cả chúng sanh vẫn chỉ
là chúng sanh mà thôi, không thể thành Phật được.
Làm Phật là lý, nhưng cũng có một cái "Đạo thành
Phật", với điều kiện là phải nương theo pháp tu
hành. Nếu không nương theo pháp tu hành thì các tâm
tham, sân, si, mạn, nghi đều không từ bỏ được, không
thể nào mau thành Phật được. Vì thế nên phải phát
bốn hoằng thệ nguyện. Chúng ta bất luận là làm việc
gì cũng cần phải phát lời nguyện trước, rồi sau mới
theo lời nguyện mà thực hành. Có thế mới đạt đến mục
đích, hy vọng mới có thể thành tựu được.
Nói đến đây, tôi nhớ lại một công án: Có
một lần Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mang theo rất nhiều
đệ tử đến một nước nọ để giáo hóa chúng sanh. Người
trong nước này thấy Phật đến liền đóng cửa lại,
không có ai chịu bố thí, cũng không ai đến cung kính
chào hỏi. Phật đã đến nước ấy rồi, không có ai ra
đón rước, vì không có duyên với các đại thần và nhơn
dân ở đó. Nhưng khi ngài Mục Kiền Liên đến thì cả
quốc vương, đại thần và nhơn dân đều hướng về Ngài
cung kính đảnh lễ, tranh nhau đến cúng dường. Các đệ
tử Phật thấy thế, nhưng không biết tại sao, bèn hỏi
Phật: "Tại sao Phật đến nước này không ai chịu cúng
dường cả, mà Ma Ha Mục Kiền Liên, đệ tử Phật, đi đến
đây lại được mọi người tranh nhau cúng dường?" Phật
đáp: "Đó là do nhơn duyên đời trước".
Từ vô lượng kiếp về trước, Mục Kiền Liên
cùng Phật ở chung một chỗ, Mục Kiền Liên lên núi đốn
củi, còn Đức Phật xuống dưới núi sửa đường và rất
ghét bầy ong, mà Mục Kiền Liên lại rất thích chúng.
Đức Phật Thích Ca lúc ấy, khi còn tu nhơn, thường
lấy khói hun đốt chúng, mà Mục Kiền Liên lại bị
chúng đốt đau nhức. Tuy bị đau nhức, nhưng Mục Kiền
Liên không dùng lửa để hun đốt, trái lại còn phát
nguyện: "Về sau tôi đắc đạo sẽ độ trước bầy ong có
nhiều tánh A-Tu-la này". Đời đời kiếp kiếp về sau,
bày ong này biến thành ra người trong một nước. Ong
chúa là vua, các ong thợ là dân. Ngày xưa Phật Thích
Ca nhơn vì ghét chúng, từng dùng khói hun đốt chúng,
nên bây giờ đến nước ấy không có ai ra đón tiếp,
quốc vương, đại thần, nhơn dân cũng không chịu cúng
dường Ngài. Trái lại, Ngài Mục Kiền Liên đã có phát
nguyện sau khi đắc đạo sẽ độ bầy ong này, cho nên
đời này gặp lại nhau thì quốc vương và nhơn dân nước
ấy tranh nhau đến cúng dường. Do đây chúng ta biết
rằng nhơn quả rất trọng yếu, vì thế nhất định phải
phát nguyện.