Cùng các vị Bồ-tát Ma-ha-tát, chẳng
những có rất nhiều Bồ-tát mà còn có
nhiều vị đại Bồ-tát trong số các vị
Bồ-tát ấy nữa. Thế nào gọi là Bồ-tát?
-Hai chữ Bồ-tát là tiếng Phạn nói tắt,
nói cho đủ phải là "Bồ-đề-tát-đỏa", dịch
là Giác hữu tình, tức là làm cho tất cả
chúng sanh hữu tình đều được giác ngộ.
Còn có một cách nói khác, tức là một vị
giác ngộ trong hàng chúng sanh. Giác là
không mê. Mê là không giác. Nếu giác ngộ
thì là Phật. Nếu mê thì là chúng sanh.
Cho nên một niệm giác chính là một niệm
Phật, một niệm mê chính là một niệm
chúng sanh. Niệm niệm giác chính là niệm
niệm Phật, niệm niệm mê chính là niệm
niệm chúng sanh. Vì thế, Bồ-tát chính là
Hữu tình giác ở trong chúng sanh, có thể
tự mình giác ngộ, mỗi ngày giác ngộ thêm
một ít, chớ không phải mỗi ngày mê thêm
một ít, cho nên gọi là Bồ-tát. Các vị ấy
đều là những vị đại Bồ-tát đã giác ngộ
sắp đến bậc viên mãn.
Văn-thù Sư-lợi Pháp vương
tử...Văn-thù-sư-lợi còn gọi là
Mạn-thù-sư-lợi. Đó là do đọc âm trại mà
có sự sai khác. Mạn-thù-sư-lợi là tiếng
Phạn, dịch là Diệu Cát hay Diệu Đức. Vị
Bồ-tát này là người có trí huệ hơn hết
trong hàng Bồ-tát. Bồ-tát dịch là Giác
hữu tình, là một người giác ngộ trong
chúng sanh; chúng sanh là mê hữu tình,
chúng ta đây là một loài mê muội trong
loài hữu tình. Giác ngộ chính là giác
ngộ tất cả cảnh giới trước mặt nên có
câu nói thế này: "Thấy việc, biết việc,
thoát thế gian." Thấy việc gì có thể
giác ngộ được tất cả cảnh giới thì có
thể ra khỏi thế gian. Còn thấy việc gì
lại mê muội trong cảnh giới ấy thì sẽ
đọa vào trầm luân. Ra khỏi thế gian
chính là Bồ-tát, đọa lạc trầm luân chính
là chúng sanh. Chỗ khác nhau giữa chúng
sanh và Bồ-tát chính là mê và giác mà
thôi. Cho nên Phật là người giác ngộ,
tức là người giác ngộ trong chúng sanh.
Chúng ta cũng có thể nói Bồ-tát là người
giác ngộ, vì người giác ngộ là Bồ-tát,
kẻ mê muội là chúng sanh. Vị Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi này khi sanh ra có mười
việc cát tường, chứng tỏ rằng công đức
của vị Bồ-tát này đầy đủ bậc nhất trên
thế giới. Mười thứ cát tường ấy là:
1. Ánh sáng đầy nhà: Khi Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi được sanh ra thì ở trong
nhà có một thứ ánh sáng, ánh sáng này
không phải là ánh sáng mặt trời, ánh
trăng, ánh sao, hoặc ánh đèn. ánh sáng
này là biểu thị ánh sáng trí huệ Bát-nhã
của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, cũng chính là
để nói rằng: vị Bồ-tát này có đại trí
đại huệ, có thể diệt trừ tất cả màn tối
vô minh.
2. Cam lộ đầy sân: Cam lộ là loại nước
thuốc bất tử, chỉ trên trời mới có. Cam
lộ có thể làm cho người ta no ấm, không
ăn cơm cũng không đói. Người ta không ăn
cơm sẽ đói. Tại sao lại đói? Vì không có
cam lộ để nuôi dưỡng nên cảm thấy đói,
không có tinh thần làm việc. Cam lộ có
thể khiến người được no ấm, được trong
sạch mát mẻ. Cho nên ngạ quỷ một khi
được Cam lộ rưới lên đầu, tức khắc được
tiêu trừ tội nghiệp. Cam lộ đầy sân biểu
thị Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dùng pháp cam
lộ để cứu độ chúng sanh. Vì cứu độ tất
cả chúng sanh nên cửa cam lộ mở ra thì
ngạ quỷ tiến vào sẽ được no ấm.
3. Đất trồi lên bảy báu: Từ đất sanh ra
bảy thứ châu báu: Vàng, bạc, lưu ly, pha
lê, xa cừ, xích châu, mã não. Bảy thứ
này sao gọi là báu? Trên thế giới này,
những vật gì ít có mới được coi là quý
báu, còn nhiều thì sẽ không còn quý báu
nữa. Ví như đất cũng là một thứ bảo bối,
người ta nếu không có đất thì sẽ không
sống được, nhưng ai cũng thấy nó dẫy đầy
nên không coi là quý báu nữa. Nếu đem
một cục đất tặng cho ai, người ta nhất
định sẽ không nhận mà vứt xuống đất. Tại
sao thế? Vì đất chỗ nào cũng có. Nước
cũng là một thứ bảo bối, người ta không
có nước thì không sống được, cho đến mọi
sinh vật, nếu thiếu nước thì cũng không
thể sống được. Cho nên Lão Tử nói: "Bậc
thượng thiện giống như nước. Nước thiện
lợi đối với vạn vật mà không tranh." Ví
như đối với hoa, nước không thể nói:
"Đóa hoa này nhờ tôi tưới mỗi ngày hoa
mới lớn và đẹp như thế; nếu không có tôi
thì hoa làm sao có được như ngày nay ư?"
— chỗ mọi người ghét bỏ, ở chỗ thấp
trũng, chỗ mà ai cũng không muốn ở thì
nước sẽ ở nơi đó; "Cho nên gần với đạo",
vì thế đạt được đạo vậy.
Xưa nay, kim mộc thủy hỏa thổ đối với
nhân loại đều có chỗ lợi ích, nhưng tại
sao người ta không quý trọng? Tại vì
chúng quá nhiều, như cây gỗ đi đâu cũng
thấy nó. Còn vàng, tại sao lại được trân
quý? Vì ít có. Như ở thế giới Cực Lạc
vàng ròng làm đất, nắm đất kia sẽ có giá
trị vì ở cõi ấy không có đất. Nếu đem
cho người ở thế giới Cực Lạc một cục đất
cũng chẳng khác nào như mang một cục đất
từ mặt trăng trở về. Dù là một cục đá,
nhưng đem về từ mặt trăng, vì ít có nên
được coi là quý.
Tại sao gọi là thất bảo? Tại vì hiếm
có, không phải ai ai cũng có được, cho
nên gọi là bảy báu vật. Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi có vô lượng kho báu, cho
nên lúc ngài sanh ra, bảy thứ báu cũng
ngay lúc ấy từ đất trồi lên. Trồi lên
nhiều ít? Lấy hoài không hết, dùng hoài
không cạn, lấy xong lại có nữa. Bảy báu
ở đâu? — chỗ mà Bồ-tát Văn-thù sanh ra.
Có người nói: "Vậy thì tôi đến đó lấy
nhé!" Chớ sanh lòng tham, e rằng tổn phí
còn lớn hơn số bảy báu lấy được cho nên
đừng có vọng tưởng.
4. Thần mở kho tàng ẩn giấu: Chuyển
Luân Thánh vương có bảy báu, trong đó có
một thứ là Tạng thần bảo, chính là vị
thần cai quản kho báu. Bảy báu từ dưới
đất lộ ra là bảy báu từ dưới đất trồi
lên, kho báu này là của người trước chôn
giấu, bây giờ vị thần giữ cửa kho khui
mở ra, nên từ dưới đất lộ ra. Báu vật
này cũng đều có thể dùng được.
5. Gà sanh trứng phụng: Gà vốn sanh ra
gà, nhưng hiện tại, gà lại sanh ra phụng
hoàng. Phụng hoàng là một thứ chim cát
tường, người thấy được phụng hoàng nhất
định sẽ gặp chuyện tốt lành. Đức Khổng
Tử từng nói: "Chim Phụng không đến, hà
đồ không hiện ra, ta không còn muốn
truyền đạo nữa." Ý ngài nói: "Chim Phụng
hoàng cũng không đến, cũng không có Hà
đồ lạc thư xuất hiện, ta muốn dừng lại
không còn tuyên dương đạo đức nữa.
6. Heo sanh con vảy rồng: Gà sanh ra
phụng còn chưa lạ lùng bằng heo sanh ra
con có vảy rồng. Xưa nay, rồng sanh ra
rồng, nhưng bây giờ heo sanh ra rồng, vì
heo con trên mình có vảy, cho nên gọi là
rồng.
7. Ngựa sanh kỳ lân: Xưa nay ngựa sanh
ra ngựa, bây giờ ngựa lại sanh ra kỳ
lân. Kỳ lân là một loại thú báo hiệu
điềm tốt, ở Trung Quốc vào thời Đường
Nghiêu, kỳ lân, phụng hoàng rất nhiều,
ai cũng có thể thấy được. Về sau, nhơn
vì chúng sanh nghiệp báo nặng, tạo ra
tội nghiệp rất nhiều, nên những loài
chim thú cát tường ấy không xuất hiện
nũa. Trong bài Khổng Tử Hoài Lân có nói:
"Thời Đường Ngu hề, lân phụng nhởn nhơ.
Nay không phải thời ấy mầy đến tìm gì?
Lân hề lân hề, lòng ta ưu tư." Vào thời
đường Nghiêu, Ngu Thuấn, những loại kỳ
lân, phụng hoàng thường dạo chơi trên
thế giới này, ai cũng đều thấy được. Còn
bây giờ không phải là thời đại Đường
ghiêu, kỳ lân, phụng hoàng rất nhiều, ai
cũng có thể thấy được. Về sau, nhơn vì
chúng sanh nghiệp báo nặng, tạo ra tội
nghiệp rất nhiều, nên những loài chim
thú cát tường ấy không xuất hiện nũa.
Trong bài Khổng Tử Hoài Lân có nói:
"Thời Đường Ngu hề, lân phụng nhởn nhơ.
Nay không phải thời ấ những loại kỳ lân,
những loại kỳ lân, phụng hoàng thường
dạo chơi trên thế những loại kỳ lân,
phụng hoàng thường dạo chơi trên thế
giới này, ai cũng đều thấy được. Còn bây
giờ không phải là thời đại Đường ghiêu,
kỳ lân, phụng hoàng rất nhiều, ai cũng
có thể thấy Trâu sanh bạch trạch: Trâu
sanh ra một loại thú màu trắng. Bạch
trạch là một loại thú ít có, đã không
giống trâu, ngựa, lại không giống lừa,
ấy gọi là Tứ bất tượng, là con thú hình
dáng ngựa mà lại có móng trâu, sừng
trâu, đó cũng là một loại thú hiện điềm
lành.
9. Lúa biến thành vàng: Lúa, xưa nay có
thể làm gạo, bây giờ biến thành vàng thì
làm sao ăn được? Có người nói: "Có thể
đem nó bán đi rồi mua rất nhiều gạo về."
Đó thật là một người thông minh. Người
ấy lại hỏi: "Ai có tâm tham?" Tôi nói:
"Tôi cũng có tâm tham, tham muốn mọi
người mau thành Phật."
10. Voi đủ sáu ngà: Xưa nay voi chỉ có
hai ngà, nhưng khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi
sanh ra thì voi của nhà ngài mọc đủ sáu
ngà.
Trên đây là mười việc cát tường như ý
xuất hiện khi Bồ-tát Văn-thù sanh ra,
đại biểu cho mười độ Ba-la-mật của hàng
Thập địa Bồ-tát Đại trí Văn-thù-sư-lợi,
không giống với các vị Bô-tát khác. Nếu
mình muốn quen biết với Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi, muốn thấy Bồ-tát
Văn-thù-sư-lợi, thì trước tiên phải nhớ
mười việc cát tường này. Tuy Bồ-tát
không có tâm phân biệt, nhưng nếu mình
biết được nhiều điểm của ngài thì mới
gần được ngài thêm. Tại sao chúng ta
phải biết càng nhiều càng tốt về cảnh
giới của mỗi vị Bồ-tát? Vì có như thế
mỗi vị Bồ-tát đều có thể làm thiện tri
thức hoặc anh em bè bạn của chúng ta
được. Trong tương lai, mỗi người chúng
ta đều có thể là thiện tri thức của
Bồ-tát, cho nên không nên tự mình coi
thường mình.
A-dật-đa Bồ-tát, chính là Bồ-tát Di
Lặc. A-dật-đa là tiếng Phạn, dịch là Vô
Năng Thắng, cũng tức là Từ Thị. Vị
Bồ-tát này chuyên tu Từ Tâm Tam-muội,
đối với bất cứ ai ngài đều dùng tâm Từ
bi. Ai mắng ngài, ngài cũng dùng lòng từ
bi đáp lại; ai đánh ngài, ngài cũng đáp
lại bằng lòng từ bi. Bất luận là người
nào đối xử không tốt với ngài, hoặc là
ức hiếp ngài, làm nhục ngài, giận dữ la
hét ngài, sanh ra vô minh, ngài đều dùng
lòng từ bi đối xử với họ. Tất cả mọi
việc, ngài đều dùng lòng từ bi đối đãi
hết. Chẳng những ngài dùng từ bi đối xử
với người, mà ngài còn thương xót cứu
giúp tất cả chúng sanh nữa. Ngài xem tất
cả chúng sanh giống như là con cái của
chính mình, thậm chí còn thân thiết hơn
con cái nữa. Ngài thương mến giúp đỡ tất
cả chúng sanh đủ cả mọi mặt với tâm từ
bi vô lượng vô biên. Tu Từ Tâm Tam-muội
cần phải tu cả hạnh Nhẫn nhục, cho nên
ngài có một bài kệ như thế này:
Lão hèn mặc áo vá
Cơm hẩm đủ no lòng
áo vá qua cơn lạnh
Vạn sự chỉ tùy duyên
Có người mắng lão hèn
Lão hèn cho là hay
Có người đánh lão hèn
Lão hèn ngủ quên mất
Phun nước miếng lên mặt
Cứ để nó khô thôi
Ta cũng bớt sức lực
Anh cũng khỏi giận hờn
Kiểu Ba-la-mật ấy
Chính là báu thêm mầu
Nếu biết được như thế
Lo gì đạo chẳng thành.
Lão hèn mặc áo vá: Lão hèn chính là
một người tuổi già rất ngu si, áo vá
chính là áo rách phải dùng kim chỉ để vá
lại. Cơm hẩm đủ no lòng: Cơm hẩm chính
là thức ăn không thêm các gia vị dầu,
muối, tương, xì dầu, dấm..., rất nhạt
nhẽo, không có mùi vị gì, chỉ có thể lót
đầy bụng trống thôi. áo vá qua cơn lạnh:
áo rách được vá lành thì có thể dùng để
ngăn cái lạnh lẽo từ bên ngoài. Vạn sự
chỉ tùy duyên: Bất cứ sự tình gì cũng
tùy tiện mà giải quyết ổn thỏa. Việc đến
thời ảnh hiện, việc đi kể như không,
cũng chính là "Đáo xứ tùy duyên qua ngày
tháng, Thủ thường an phận mặc thời
gian." Bất cứ sự tình gì hễ đến, đi thì
kể như không, đó gọi là tùy duyên. Tùy
duyên cũng chính là "Tùy duyên mà bất
biến, bất biến tùy duyên"; cũng chính là
trong động có tĩnh, trong tĩnh có động;
vừa tĩnh vừa động, vừa động vừa tĩnh.
Có người mắng lão hèn: Có người mắng ta
là lão già ngu si. Lão hèn cho là hay:
Ta tự nói là hay quá, hay quá! Có người
đánh lão hèn: Có người đánh ta, cho ta
là kẻ ngu si vô dụng, đoán xem điều gì
sẽ xảy ra? Lão hèn ngủ quên mất: Có
người đánh ta một cái, ta nằm xuống ngủ
quên ngay. Mình nói ngài là ngu si, tại
sao lại làm thế? Thông thường người ta
bị đánh thì trừng mắt nhướng mày nói:
"Tại sao anh đánh tôi?" Nhưng ngài chẳng
những không trợn mắt, mà lại nằm lăn
trên đất ngủ khì nữa. Như vậy có quá hay
hay không? Nếu ai có thể dùng được
phương pháp này thì thật là không đến
nỗi tệ, thật là có hạnh tu đấy. Phun
nước miếng lên mặt, có người phun nước
miếng lên mặt mình thì lửa vô minh bốc
lên hằng ba ngàn trượng: "Tại sao anh
làm nhục tôi?!" Nhưng Bồ-tát Di Lặc thì:
Cứ để nó khô thôi, để cho nó tự khô đi,
tôi cũng không cần lấy tay lau sạch. Ta
cũng bớt sức lực, lau sạch nước miếng dù
không hao phí sức lực bao nhiêu, nhưng
cũng là phải dùng sức, bây giờ không lau
thì sức lực đó cũng bớt phải xử dụng.
Anh cũng khỏi giận hờn, một khi mình
thấy một người bị mình phun nước miếng
lên mặt mà người ấy hình như coi như
không, thì nghĩ rằng: "Cái người này!
Mình không quen biết họ", thế thì giận
hờn của mình không còn nữa. Kiểu
Ba-la-mật ấy, sao gọi là Ba-la-mật? Đó
là có người đánh, mình có thể ngủ thì
được; có người phun nước miếng lên mặt,
mình cứ để nó tự khô đi; đó chính là
Ba-la-mật, cũng gọi là Nhẫn nhục
Ba-la-mật. Giả như ngay đến Nhẫn nhục
Ba-la-mật mà cũng không biết, thì mình
học Phật pháp để làm chi? Chẳng cần phải
suốt ngày từ sáng tới tối học đi học lại
mãi mới gọi là học được nhiều Phật pháp,
mà có khi cảnh giới đến lại không biết
áp dụng một tí nào. Chính là báu thêm
mầu, đó là mầu nhiệm trong mầu nhiệm,
quý báu trong quý báu. Nếu biết được như
thế, lo gì đạo chẳng thành? Nếu biết
được những điều như trên thì lo gì không
thành đạo được? Nếu tu học Nhẫn nhục
Ba-la-mật như thế, thì đạo nghiệp của
mình nhất định sẽ thành tựu; chư Phật,
Bồ-tát không bao giờ dối gạt người đâu.
Nếu mình học được như Bồ-tát Di Lặc thì
nhứt định sẽ thành tựu đạo quả.
Càn-đà-ha-đề Bồ-tát, Thường Tinh Tấn
Bồ-tát. Càn-đà-ha-đề là tiếng Phạn, dịch
là Bất Hưu Tức. Bất Hưu Tức chính là
Thường Tinh Tấn, Thường Tinh Tấn cũng
chính là Bất Hưu Tức. Càn-đà-ha-đề cùng
với Thường Tinh Tấn, hai vị Bồ-tát này
cùng đi đôi với nhau, tinh tấn bước tới,
cũng chính là không ngừng nghỉ. Một
người là bất hưu tức (không ngừng nghỉ),
tức là có thường tinh tấn; một người
thường tinh tấn, tức là bất hưu tức; hai
vị này nhìn ngắm lẫn nhau, anh bất hưu
tức thì tôi sẽ thường tinh tấn; anh
thường tinh tấn, tôi đây sẽ bất hưu tức.
Hai vị này ngày đêm sáu thời hành đạo,
người này làm Hộ pháp cho vị kia; vị kia
cũng làm Hộ pháp cho người này; cũng
giống như là cùng chạy đua vậy, anh nếu
chạy tới một bước thì tôi cũng chạy thêm
một bước, ai cũng không tuột hậu cả. Cho
nên Thường Tinh Tấn cũng chính là Bất
Hưu Tức, Bất Hưu Tức cũng chính là
Thường Tinh Tấn. Hai vị Bồ-tát này từ vô
lượng kiếp đến nay cùng đồng tham tu như
nhau. Thế nào gọi là đồng tham tu? Nghĩa
là hai người cùng đồng tu hành. Anh dụng
công ư? Tôi sẽ dụng công hơn anh. Anh
dụng công bằng tôi, tôi lại càng dụng
công nhiều hơn nữa. Họ cùng tranh đua
lẫn nhau, cho nên một người tên là
Thường Tinh Tấn, một người tên là Bất
Hưu Tức. Hai vị Bồ-tát này thật là những
vị tu hành chơn chánh, tất cả đều là
Thường Tinh Tấn, tất cả đều là Bất Hưu
Tức.
Cùng các vị Bồ-tát lớn v.v... như thế,
"v.v... như thế" là trừ những vị Bồ-tát
đã nói ở trên còn có rất nhiều vị Bồ-tát
lớn hơn nữa.
Và những hàng Thích Đề Hoàn Nhơn v.v...,
vô lượng chư thiên, đại chúng đồng câu
hội. Thích Đề Hoàn Nhơn chính là Đế
Thích, Đế Thích chính là chúa của từng
trời Tam thập tam, cũng chính là vị
Nhơn-đà-la-da trong chú Lăng Nghiêm, cho
nên người hiểu Phật pháp mới biết trong
chú Lăng Nghiêm có chư Thiên, có tất cả
vua quỷ thần, có các vị Bồ-tát lớn.
Người không hiểu Phật pháp thì nói trong
Phật giáo không có chư thiên, không có
Nhị thập bát tú, không có v.v..., vì họ
không biết. Trong chú Lăng Nghiêm cũng
có Nhị thập bát tú, cũng có chư Thiên
quỷ thần. Vô lượng chính là không có số
lượng. Trời, nói chung có ba mươi ba,
nếu phân tích kỹ thì trong mỗi cõi trời
lại có vô lượng cõi trời, cũng giống như
thế giới của chúng ta đây, có thế giới
này, thế giới kia, vô lượng các thế
giới; cõi nước này, cõi nước kia, vô
lượng các cõi nước; từng Trời cũng giống
như thế, cũng có vô lượng chư Thiên. Đại
chúng đồng câu hội nghĩa là rất nhiều
rất nhiều người cùng tụ hội lại một chỗ.
Bấy giờ Phật bảo Trưởng lão Xá-lợi-phất:
Từ đây qua phương Tây cách mười vạn ức
cõi Phật có một thế giới tên là Cực Lạc,
nước ấy có Phật hiệu là A Di Đà hiện
đang thuyết pháp ở đó.
Bấy giờ, chính là ngay lúc ấy, lúc mà vô
lượng chư Thiên, Bồ-tát, Thanh văn,
La-hán, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di cùng nhóm họp ở một chỗ, Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni bảo vị Trưởng lão
trí huệ bậc nhất tên là Xá-lợi-phất. Từ
đây -Từ đây là chỗ nào? Đó chính là Kỳ
Hoàn tịnh xá ở Vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc
của nước Xá Vệ. Từ đây bắt đầu tính về
hướng Tây, qua mười vạn ức cõi Phật, ở
đó có một thế giới tên là thế giới Cực
Lạc. Thế giới Cực Lạc này là thế giới
hết sức vui vẻ, vui vẻ đến cực điểm,
không còn gì vui bằng, lại cũng không có
thế giới nào vui hơn đây nữa. Thế giới
này có một vị Phật tên là A Di Đà. A Di
Đà là tiếng Phạn, có nghĩa là Vô lượng
quang, cũng có nghĩa là Vô lượng thọ. Vô
lượng quang là ánh sáng của ngài chiếu
soi mười phương thế giới không bị chướng
ngại. Vô lượng thọ là sanh mạng của ngài
trải qua trăm ngàn vạn ức đại kiếp cũng
không cùng tận. Đức Phật này sau khi
thành Phật cũng là bất hưu tức (không
ngừng nghỉ) cho nên mới nói như thế.
Hiện đang thuyết pháp, nghĩa là hiện
đang nói pháp cho mọi người nghe. Ngài
là vị Phật đang làm việc, chứ không phải
là vị Phật không làm việc. Công việc của
Phật chính là thuyết pháp. Ai có thể
thuyết pháp, chính là làm việc của Phật.
Ai không thể thuyết pháp, chính là làm
việc của ma. Nếu không thể thuyết pháp
độ chúng sanh thì đời này tới lui vô
ích, giống như đi hoài mà không tới
được, chỉ phí công mà thôi!
Này Xá-lợi-phất! Vì sao gọi nước kia tên
là Cực Lạc? - Đây là Phật tự đặt vấn đề
để hỏi ngài Xá-lợi-phất; dù là bậc đại
trí, nhưng ngài cũng không biết phải hỏi
thế nào mới đúng. Điều này cũng giống
như có lần tôi hỏi quý vị: "Trời mưa tốt
hay không?" Quý vị cũng không biết phải
trả lời như thế nào. Nhưng tôi có thể
đưa ra một ví dụ: Làm thổ phỉ không
thích trời mưa, vì đi lại rất khó khăn,
lấy cắp đồ vật của người ta cũng không
phải dễ. Còn người đi trên đường cũng
không thích trời mưa, vì mưa xuống đường
đi trơn trợt lại tối mù, khó nhìn rõ mọi
vật chung quanh. Chỉ có người làm ruộng
thì rất thích thú; hoa quả, gạo thóc
được nước mưa thấm nhuần thì nhất định
thu hoạch cao. Vì thế quý vị nói: Trời
mưa tốt hay không? Cũng có quý vị nói:
Giảng kinh thuyết pháp tốt hay không?
Nếu người thích nghe Phật pháp thì nói:
Tốt! Còn người không thích nghe Phật
pháp thì nói: Không tốt! Hiện tại Phật
nói Kinh A Di Đà, thật ra đáng lẽ do
ngài Xá-lợi-phất hỏi, nhưng ngài
Xá-lợi-phất chẳng biết hỏi như thế nào,
cho nên Đức Phật tự đặt ra vấn đề rồi
giải đáp luôn. Chúng ta có thể giả thiết
tình huống lúc đó như thế này - Trước
hết Đức Phật hỏi: "Này Xá-lợi-phất! Vì
sao cõi nước kia tên là Cực Lạc?" Rồi
đợi Xá-lợi-phất trả lời. Lúc ấy, đợi
chừng năm phút mà ngài Xá-lợi-phất cũng
chưa có thưa hỏi, dù ngài có trí huệ bén
nhạy đến như thế nào cũng không biết
phải nói sao cho đúng, đối trước Phật
không thể nói ra lời nào được. Nhưng
thời gian này thật là quý giá, cho nên
Phật cũng không đợi được, bèn bảo ngài:
Chúng sanh của nước ấy không có các khổ
não, chỉ hưởng những điều vui, cho nên
gọi là Cực Lạc.
Tại sao cõi nước ấy tên là Cực Lạc? -
Tại vì chúng sanh của nước ấy đều hóa
sanh từ hoa sen, cũng chính là từ trong
chỗ thanh tịnh mà sanh ra, chẳng phải từ
nơi dục ái mà sanh ra, cho nên họ không
có các khổ não. Tại sao chúng ta lại
khổ? Bởi vì thân thể của chúng ta sanh
ra từ các thứ ô trược của tinh cha huyết
mẹ, từ sáng đến tối, nam thì nghĩ đến
nữ, nữ thì nghĩ đến nam, suốt ngày ăn no
rồi không làm chi, cho nên trước nhất là
nghĩ đến việc ấy. Vì thế trai gái vừa
mới lớn đương nhiên nghĩ đến việc kết
hôn, không kết hôn thì hình như là chưa
làm xong một việc quan trọng. Đó đều là
do chủng tử bất tịnh, nhơn chủng tử bất
tịnh mà tâm niệm cũng bất tịnh; tâm niệm
đã bất tịnh nên sanh ra các thứ khổ não.
Bây giờ giảng kinh thuyết pháp, không
luận nói nhiều hay ít, đều là nói đến
chỗ ấy. Những kinh điển của Phật nói ra
cũng đều là dạy ta không có tâm dâm dục.
Không có tâm dâm dục chính là đại hải
chúng Bồ-tát thanh tịnh; có tâm dâm dục
thì là quỷ. Chúng sanh ở đời ác ngũ
trược, cho nên tu hay không tu chính là
ở điểm này. Thanh tịnh được tâm mình thì
công đức vô lượng; không thanh tịnh được
tâm mình thì tội lỗi vô biên. Tội lỗi là
do tâm không thanh tịnh, do cái nhân ở
tự tánh, mà thành quả ở hình tướng tạo
ra các tội lỗi. Tự tánh mình thanh tịnh
thì bên ngoài không có quả báo ác
nghiệp. Cho nên chúng ta học Phật pháp,
nếu không rõ đạo lý chơn chánh thì học
đến vạn vạn đại kiếp đi nữa cũng không
thể thành Phật được. Nếu hiểu đúng yếu
điểm của Phật pháp, nói gì thì nói,
chính là bảo người ta phải tự thanh tịnh
ý chí của mình. Khi mình được khai ngộ
thì không còn có tư tưởng không thanh
tịnh nữa. Tại sao chúng ta có khổ não? -
Chỉ vì ý nghĩ của chúng ta không thanh
tịnh. Tại sao thế giới Cực Lạc không có
khổ? - Không khổ vì ý nghĩ của họ thanh
tịnh, cho nên không có các điều khổ, chỉ
hưởng các điều vui. Không có tất cả nỗi
khổ mà hưởng tất cả điều vui, vì thế mới
gọi là thế giới Cực Lạc.
Chúng ta niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đó
là chúng ta bắt đầu trang nghiêm và
thành tựu thế giới Cực Lạc của chính
mình. Thế giới Cực Lạc dù nói là xa cách
đến mười vạn ức cõi Phật, nhưng cũng
chẳng phải nhứt định là xa cách đến mười
vạn ức cõi Phật đâu, vì nó vẫn không ra
ngoài một tâm niệm của chúng ta, cũng
chính là nói thế giới Cực Lạc tức là ở
trong tâm chúng ta vậy. Thế giới Cực Lạc
tức là chơn tâm sẵn có của chính mình.
Khi mình đến được chơn tâm sẵn có của
mình thì sẽ sanh về thế giới Cực Lạc.
Nếu không rõ chơn tâm sẵn có của mình
thì không thể nào đến cõi nước kia được.
Thế giới Cực Lạc tức là ở trong tâm
chúng ta chứ không phải ở ngoài tâm. Thế
giới Cực Lạc thanh tịnh không ô nhiễm
thì chúng ta một niệm Chơn tâm hiện tiền
cũng thanh tịnh không ô nhiễm. Nếu từ bỏ
được mọi chấp trước thì tức khắc là thế
giới Cực Lạc, tức khắc thấy được Phật A
Di Đà. Phật A Di Đà và chúng sanh không
có phân biệt, cho nên nói thế giới Cực
Lạc không phải là xa như thế đâu.
Một niệm hồi quang biết rằng mình vốn là
Phật; vốn là Phật chính là thế giới Cực
Lạc. Dứt trừ tâm ô nhiễm đi, cũng chính
là dứt trừ tạp niệm tư dục không còn tâm
đố kỵ, tâm chướng ngại, tâm tự lợi và
tâm ích kỷ nữa. Lúc đó mình giống như
Bồ-tát làm lợi ích cho người, giác ngộ
tất cả chúng sanh. Không còn tạp niệm,
vọng tưởng nữa, thế thì không phải là
thế giới Cực Lạc sao? Cho nên không cần
phải đi tìm ở đâu bên ngoài.
Lại này Xá-lợi-phất! Cõi nước Cực Lạc có
bảy lớp lan thuẫn, bảy lớp lưới giăng,
bảy lớp hàng cây đều bằng bốn thứ báu
vây quanh giáp vòng, cho nên nước ấy tên
là Cực Lạc.
Sau khi đã nói tại sao cõi nước kia tên
là Cực Lạc rồi, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
chờ ngài Xá-lợi-phất thưa hỏi vô lượng
vô biên đạo lý trong đó, nhưng ngài
Xá-lợi-phất tuy rất thông minh lại vẫn
không hiểu rõ. Bởi vì pháp môn Tịnh độ
rất vi diệu, là pháp môn không thể nghĩ
bàn, cho nên ngài không biết thưa hỏi ra
sao. Lúc đó Đức Phật không còn chờ được
nữa, lại nói tiếp: "Này Xá-lợi-phất! Ta
lại nói cho ông biết thêm nữa: Cõi nước
Cực Lạc có bảy lớp lan thuẫn...." Lan là
những cây ngang, thuẫn là những rào dọc;
còn có bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng
cây, ba thứ báu này đều là số bảy. Bảy
lớp lan thuẫn đại biểu cho Giới, bảy lớp
lưới giăng đại biểu cho Định, bảy lớp
hàng cây đại biểu cho Huệ. Ba thứ này
tức là Giới Định Huệ, ba thứ đều mang số
bảy, cũng là biểu thị cho bảy khoa. Bảy
khoa là gì? - Tức là ba mươi bảy đạo
phẩm: Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn
Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-Đề
Phần, Tám Chánh Đạo Phần, cộng thành ba
mươi bảy đạo phẩm. Vì sao đem "lan
thuẫn" đại biểu cho Giới? - Giới là ngăn
ác, ngừa quấy; tức là các điều ác không
làm, các điều lành thường làm. Ngăn ngừa
các điều ác, thường làm các điều lành,
tức là Giới. Khi chưa thọ giới có thể
khởi các thứ vọng tưởng, nhưng thọ giới
rồi thì không nên khởi bất cứ vọng tưởng
nào, mà phải nghĩ tưởng thanh tịnh. Vạn
nhất có khởi ra vọng tưởng, phải tự rờ
đầu mình và nói: "Mình đã xuất gia,
không phải là người tại gia nữa, nhất
định phải ba nghiệp thanh tịnh." Cũng
giống như dùng lan can để rào lại, cho
nên dùng lan thuẫn làm biểu tượng cho
Giới. Nếu như nhảy qua hàng rào tức là
phạm pháp, vì thế gọi bảy lớp lan thuẫn
là Giới. Tại sao bảy lớp lưới giăng làm
biểu tượng cho Định? - Định có nghĩa là
không ra không vào. Có câu nói như thế
này: "Na-già thường ở định, không lúc
nào không định." Nếu thiệt có định lực
thì không cần phải ngồi nữa. Bất cứ cảnh
giới nào hiện ra cũng không làm lay động
được. Vì bất cứ lúc nào tâm mình cũng
không bị ngoại cảnh lay chuyển, cho nên
gọi là "thường ở định." Ví như có một
món ăn ngon, ăn rồi lại muốn ăn nữa, ấy
là vì không có định lực, thậm chí lấy
trộm để ăn, thì không những là không có
định lực mà lại còn phạm giới nữa. Tuyệt
đối đừng cho đó là việc nhỏ, không đáng
gì. Người làm việc quấy tức là bắt đầu
từ những việc nhỏ nhặt, cho nên việc
quấy nhỏ đến đâu cũng không nên làm.
Những lỗi lặt vặt không dễ gì sửa đổi,
nhưng sửa được những lỗi vặt tức là có
thể có định lực. Không có lúc nào mà
không định, bất cứ cảnh giới nào khi đã
hiện ra thì "Mắt thấy hình sắc trông
không có, tai nghe việc trần tâm chẳng
hay."
Định lực là không bị cảnh giới lay
chuyển. Ví như một cô gái thấy trước mặt
mình một chàng trai rất anh tuấn mà
không sanh tâm dâm dục, tức là có định
lực. Một người trai thấy một cô gái rất
mỹ miều mà không sanh tâm dâm dục cũng
là có định lực. Thấy như không thấy,
nghe như không nghe. "Mắt thấy hình sắc
trông không có, tai nghe việc trần tâm
chẳng hay" tức là có Định lực đấy, vì
thế mới nói bảy lớp lưới giăng biểu
tượng cho Định. Bây giờ chúng ta mới rõ
biết ý nghĩa Kinh A Di Đà thêm nhiều rồi
đấy!
Bảy lớp hàng cây. Cây đều rất cao lớn,
biểu tượng cho trí huệ cao cả. Có trí
huệ, tức là cao. Không có trí huệ tức là
thấp. Chẳng phải thân cao mà là trí huệ
cao. Có trí huệ tức là bảy lớp hàng cây,
không có trí huệ chỉ như bảy lớp hàng
cỏ. Cỏ có thể làm ngăn bít tâm mình,
biến thành ngu si, giảng đi giảng lại
vẫn không hiểu được.
Đều là bốn thứ báu. Bốn thứ báu là vàng,
bạc, lưu ly, pha lê. Cõi nước Cực Lạc
chỉ có bốn thứ báu này sao? - Bảo bối
của cõi nước Cực Lạc thì vô lượng vô
biên, những thứ mà ở cõi nước chúng ta
chưa được thấy, ở nước ấy cũng có. Tại
sao chỉ đơn cử bốn thứ bảo bối ấy? Bốn
thứ bảo bối này làm ví dụ cho bốn đức,
tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
1. Thường: Sống lâu. A Di Đà là Vô lượng
thọ. Chúng ta sanh về thế giới Cực Lạc
cũng sẽ được vô lượng thọ. Ai muốn sống
lâu thì nên cầu sanh về thế giới Cực
Lạc. — nơi đó mọi người đều được vô
lượng thọ, nên gọi là Thường đức.
2. Lạc: Chúng sanh ở thế giới Cực Lạc
không có các điều khổ, chỉ hưởng các
điều vui.
3. Ngã: Cõi nước kia có tám thứ đại tự
tại ngã, còn gọi là Ngã đức. Tại sao gọi
là tám thứ đại tự tại ngã? - Tức là tám
thứ đại tự do, tám thứ tác dụng, tám thứ
lực lượng, tám thứ thần thông, tám thứ
diệu dụng:
i) Từ một thân hiện vô lượng thân. Giả
sử có trăm ngàn người thỉnh bạn đến để
cúng dường, bạn đều có thể đồng thời
phân thân đến mỗi nhà để ứng cúng. Một
thân có thể thọ vô lượng cúng.
ii) Từ một thân như vi trần hiện khắp cả
tam thiên đại thiên thế giới. Một vi
trần hiện một cõi nước, một cõi nước
hiện một vi trần, có nghĩa là từ một cõi
nước biến thành ra một hạt vi trần nhỏ
tí ti, một hạt vi trần nhỏ tí ti biến
thành một cõi nước thật to lớn.
iii) Thân to lớn có thể nhẹ nhàng đi
thật xa. Nghĩa là thân to lớn bay đi đến
chỗ thật xa.
iv) Có thể hiện ra vô lượng chủng loại
chúng sanh cùng ở một chỗ. Chúng ta thấy
núi là núi, kỳ thật trong núi có cung
điện của chư Phật, Bồ-tát. Có một đồ đệ
nói: "— nơi chỗ kia có rất nhiều người
đang tu hành." Vị đồ đệ ấy có thể nhìn
thấy mà quý vị lại không thấy. Kỳ thật,
trong núi hay trên biển đều có chư Phật,
Bồ-tát đang thuyết pháp, nhưng quý vị
không biết đó thôi.
v) Các căn hỗ dụng: Con mắt có thể nói
chuyện, lỗ tai có thể nhìn thấy, lỗi mũi
có thể ăn uống, hoặc con mắt cũng có thể
ăn uống được. Vì sao thế! Vì sáu căn có
thể hỗ dụng, mỗi căn đều đủ tất cả tác
dụng của sáu căn. Giống như vị Thánh
nhơn chứng quả, có thể dùng lỗ tai để
nói chuyện với các Bồ-tát, nhưng quý vị
không thể thấy được. Nếu quý vị tin thì
cũng có thể có một ít lực dụng ấy; nhưng
vì quý vị không tin nên không thể có lực
dụng ấy được. Quý vị đều không tin
chuyện này thì làm sao có thể có được
công năng ấy?
vi) Được tất cả pháp mà không có tưởng
là pháp. Không có tưởng đắc về pháp.
Cũng như trong Tâm Kinh nói: "Không trí
cũng không đắc", có nghĩa là không có
trí huệ cũng không có sở đắc.
vii) Một bài kệ, thậm chí một chữ, có
thể nói đến vô lượng kiếp cũng chưa hết,
vì được biện tài tự tại vô ngại. Nói
ngang cũng là pháp, nói dọc cũng là
pháp; nói xuôi cũng là pháp, nói ngược
cũng là pháp; nói thế nào cũng là pháp
cả. Vì được tám thứ đại tự tại, muốn nói
thế nào cũng đều được hoan nghinh. Giả
sử mắng người, người ta cũng thích nghe.
Vì người ấy tự tại, người khác nghe nói
cũng được tự tại.
viii) Thân khắp cõi nước nhiều như vi
trần. Thân khắp cả cõi nước nhiều như vi
trần, cũng như hư không dù không có thân
thể nhưng lại khắp cả cõi nước. Do vì tự
tại mà có được như vậy. Phía sau kinh
này cũng có nói: "Thường đến buổi sáng,
mỗi người lấy túi vải đựng các thứ hoa
vi diệu cúng dường mười vạn ức Đức Phật
ở phương khác, rồi đến giờ ăn trở về
nước của mình...." Tại sao vào buổi sáng
có thể đến cúng dường mười vạn ức Đức
Phật ở phương khác? Chính nhơn vì được
tám thứ đại tự tại, cho nên thế giới Cực
Lạc trang nghiêm bằng bốn thứ báu, tức
biểu thị cho bốn đức Niết-bàn (Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh).
4. Tịnh: Đây là một đức sau cùng trong
bốn đức Niết-bàn. Bốn báu vây quanh giáp
vòng là bốn đức Niết-bàn đầy đủ, viên
dung vô ngại, cho nên gọi là Cực Lạc
Lại này Xá-lợi-phất! Cõi nước Cực Lạc có
ao bảy báu, nước tám công đức tràn đầy
trong đó. Đáy ao toàn trải cát bằng
vàng. Thềm đường bốn phía do các thứ
vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Bên
trên có lầu có các, cũng dùng đủ loại
vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích
châu, mã não để trang sức.
Phần kinh văn trước khen ngợi địa lục
của thế giới Cực Lạc rất vi diệu thù
thắng, ở đoạn này thì khen ngợi cảnh
giới ao nước của thế giới Cực Lạc vi
diệu không thể nghĩ bàn.
Sau khi nói: "Bảy lớp lan thuẫn, bảy
lớp lưới giăng và bảy lớp hàng cây..."
các thứ trang nghiêm rồi, Đức Phật cốt ý
chờ ngài Xá-lợi-phất hỏi tiếp về cảnh
giới của cõi nước Cực Lạc, nhưng ngài
Đại trí Xá-lợi-phất cũng lại không biết
hỏi như thế nào. Đợi đến mấy phút sau
Đức Phật Thích Ca thấy vị đệ tử thông
minh nhất này vẫn chưa tìm được vấn đề
để hỏi, nên Đức Phật phải tự nói: "Lại
này Xá-lợi-phất, cõi nước Cực Lạc có ao
bảy báu...."
Thế giới Ta-bà cũng có ao, nhưng đều là
ao bùn đất hoặc bằng gỗ ghép thành, chớ
không có ai dùng vàng, bạc, lưu ly...
tạo nên cả. Dù cho giàu có như Onassis
có thể mua được cả hòn đảo đi nữa vẫn
chưa có thể dùng bảy báu để xây ao, vì
thế rất khác xa với thế giới Cực Lạc.
Trong bảy báu, thứ nhất là vàng, tiếng
Phạn là Tô-phạt-thích.
Bạc, tiếng Phạn là A-lộ-ba.
Lưu ly là tiếng Phạn, dịch là Thanh sắc
bảo (báu màu xanh), cũng có tên là Bất
viễn, nghĩa là rất gần, vì chỗ sản xuất
ra nó rất gần với nước Ma-kiệt-đà...
Pha lê cũng gọi là Thủy ngọc (ngọc
trong xanh như nước).
Mã não cũng là tiếng Phạn, dịch là Đại
kiến, vì trên báu vật ấy có những đường
nét giống như những vết xe.
Xích châu tiếng Phạn là
Y-chi-ha-mục-đa.
Mã não tiếng Phạn là A-thấp-ma-kiệt-bà.
Phật thấy Xá-lợi-phất không biết thỉnh
Phật dạy tiếp, nên Ngài lại nói tiếp:
"Trong cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu.
Ao này là thiên nhiên chớ không phải
nhân tạo, cho nên gọi là ao bảy báu,
nước tám công đức tràn đầy trong đó."
Nước này có tám thứ công đức:
1. „m mát: Tức là nghĩa ấm áp và mát
mẻ. Nếu người xuống ao nước này rồi,
muốn nóng thì nóng, muốn mát thì mát.
Đây là công đức không thể nghĩ bàn.
2. Sạch sẽ: Nước ở nhân gian càng rửa
càng hôi, nhưng người ấy đến ao bảy báu
tắm rửa, không những không thể làm nước
hôi dơ mà chỉ có càng tắm rửa càng sạch
sẽ mềm mại; nước đó giống như sữa bò
vậy, vừa trơn láng vừa thoải mái. Đây
cũng là một thứ xúc trần mà là xúc trần
rất vi diệu, một thứ cảm giác tuyệt diệu
không thể so sánh được.
3. Ngon ngọt: Nước này không cần uống,
chỉ cần dùng để rửa trên thân, thân tâm
cũng cảm thấy ngọt lịm. Lúc tôi trú tại
động Quán Âm ở Hương Cảng, trong động
cũng có một thứ nước ngọt. Một hôm có
một cô đệ tử đi theo tôi, sau khi ăn
bánh mì, uống một ít nước suối ấy, cô ta
rất ngạc nhiên, hỏi tôi: "Có phải người
ta bỏ đường vào nước suối không?" Tôi
nói: "Không có đâu!" Cô ta lại hỏi: "Sao
nước lại ngọt quá như vậy?" Tôi nói: "Đó
là Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cho cô uống
nước cam lồ đấy." Nghe nói như thế cô ta
rất vui mừng. Cô thấy chiếc y của tôi
đang mặc quá cũ bèn may cúng tôi một lúc
hai bộ mới. Tôi nghĩ có lẽ do cô uống
được nước cam lồ đây.
4. Mềm nhẹ: Nước này không nặng mà rất
nhẹ, mềm mại phi thường.
5. Nhuận trạch: Nhuận là nhuần thấm,
trạch là sáng ướt. Người dơ có thể rửa
thành sạch sẽ, giả sử bạn là người đen
cũng có thể rửa thành người trắng. Cho
nên tắm rửa sạch sẽ rồi trên thân phát
ánh sáng.
6. An hòa: Sau khi tắm nước này, thân
tâm đều an ổn hòa dịu, không có một chút
nóng nảy, không có lửa vô minh, cũng
không phiền não. Do nhờ an hòa nên giả
sử có ai mắng bạn, bạn cũng không giận,
có ai đánh bạn, bạn cũng như không có
gì. Đối xử với mọi người đều hòa thuận,
thật là tốt đẹp biết bao!
7. Trừ đói khát: Người đã tắm rửa ở
nước tám công đức của ao bảy báu thì
không ăn uống cũng không thấy đói, lại
không cần phải uống sữa hay ăn bánh mì,
cho nên thế giới Cực Lạc có điều kỳ diệu
như thế!
8. Nuôi lớn các căn: Sau khi dùng thứ
nước tám công đức này rồi, các căn sẽ
được thanh tịnh: Người mù thấy được ánh
sáng, kẻ điếc khôi phục lại tánh nghe;
nếu mũi không thông, không ngửi được
hương vị, dùng nước này rửa vào thì sẽ
thông hơi biết mùi, bất cứ bệnh mũi nặng
như thế nào cũng có thể chữa lành. Cũng
có thể làm cho ăn ngon miệng, tay chân
có thể làm được mọi việc mà không cảm
thấy mệt mỏi. Chẳng những thế mà còn có
thể làm tăng trưởng thiện căn, tiêu trừ
được ác nghiệp, công đức ấy thật là rất
lớn! Chúng ta phải nên gấp rút tu hành,
mong sớm được về tắm trong ao bảy báu
của thế giới Cực Lạc để trưởng dưỡng
thiện căn.
Trên đây là đại ý của nước tám công
đức, nếu nói kỹ hơn thì mỗi thứ công đức
nói đến mấy đại kiếp cũng vẫn chưa hết.
Đầy tràn trong đó, nước tám công đức có
tám thứ công đức tự tại, tám thứ công
đức khoái lạc và tám thứ công đức vi
diệu không thể nghĩ bàn. Thứ nước này
tràn đầy trong ao.
Đáy ao trải toàn cát bằng vàng, đáy ao
bảy báu thuần túy dùng cát bằng vàng
trải lên. Tóm lại, phàm là người đến
được ao bảy báu rồi thì bất cứ nghiệp
chướng gì cũng có thể tiêu trừ, cho nên
phải mau tu về thế giới Cực Lạc để trừ
nghiệp chướng. Nghiệp chướng là gì? Đó
là những gì không vừa ý trong tâm ta,
hoặc tâm sanh phiền não, đều là nghiệp
chướng cả. Không nghiệp chướng thì không
phiền não, vì nghiệp chướng làm tăng
thêm phiền não.
— nhân gian lấy dầu nhựa trải đường cho
là rất tốt, nhưng trong thế giới Cực Lạc
ở phương Tây lại lấy vàng miếng lót
đường, cho đến các thứ bạc, lưu ly, pha
lê... hỗn hợp mà thành năm loại ánh
sáng, nên cả con đường đều phóng ánh
sáng. Lầu vàng điện ngọc trên bờ ao cũng
trang sức bằng các thứ vàng, bạc, lưu
ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
Tại sao lại dùng các thứ bảo bối này để
trang sức? Lại tại sao có được nhiều thứ
bảo bối như thế để trang nghiêm đạo
tràng? Đây là do vạn đức của Phật A Di
Đà thành tựu nên, tức là công đức của
Ngài được vẹn toàn nên dùng bảy báu để
trang nghiêm.
Hoa sen trong ao lớn như bánh xe, màu
xanh có ánh sáng xanh, màu vàng có ánh
sáng vàng, màu đỏ có ánh sáng đỏ, màu
trắng có ánh sáng trắng, thơm ngát vi
diệu.
Ao này lớn bằng cả trăm biển lớn, trong
đó hoa sen lớn như bánh xe, nhưng không
phải là bánh xe của nhơn gian mà là lớn
như bánh xe của Chuyển Luân Thánh Vương.
Bánh xe này lớn bằng một do-tuần (tiểu
do-tuần là bốn mươi dặm, trung do-tuần
là sáu mươi dặm, đại do-tuần là tám mươi
dặm). Hoa sen trong ao này phải lớn tám
mươi dặm. Nếu hoa sen không lớn thì làm
sao hợp được với ao như biển lớn thế kia
được? Bây giờ tôi xin đọc một bài kệ tán
thán Phật A Di Đà:
Đại Thánh chúa A-Di-Đà
Đoan nghiêm vi diệu cánh vô qua
Thất trần trì hoa
Tứ sắc dũng kim ba.
A Di Đà Phật Đại Đạo Sư
Đoan nghiêm vi diệu khó ai bằng
Ao vàng bảy hoa sen nở
Bốn màu ánh biếc sóng vàng khua.
Trên đời không có ai tướng mạo đẹp đẽ
đoan nghiêm vi diệu hơn Phật A Di Đà. Ao
thất trần tức là ao bảy báu, hoa trong
ao có bốn màu, sóng rập rờn trong ao như
màu của vàng. Chữ "Vi" là nói nước ao
mềm mại thơm sạch phi thường, thấy hình
như có nước mà lấy tay sờ vào thì hình
như không có nước, nhưng tay lại dính
nước, vì thế nên nói là "Vi", mầu nhiệm
không thể nói hết. Nước ấy không những
vi diệu mà còn có mùi thơm lan tỏa có
thể khiến người ngửi được thì phát tâm
Bồ-đề, quyết chí tu hành. Còn chúng ta
nghe đến hương vị thế gian liền đắm
trước ngay, bị nó lôi cuốn. Như người
thích xức nước hoa, vì phần lớn người ta
đều đắm trước hương trần, đây tức là
nhiễm ô. Đó là cảnh giới ngũ trần: Sắc,
thanh, hương, vị, xúc. Nhưng nếu người
nào đến được thế giới Cực Lạc thì chỉ có
phát tâm Bồ-đề mà chẳng thể có tâm nhiễm
ô, vì thế tâm người tu hành cần phải phá
cảnh ngũ trần. Thứ nhất là chớ chấp
trước nơi sắc tướng, vì người đẹp đẽ đến
đâu đi nữa, chẳng qua chỉ là một lớp da
phủ bên ngoài. Bên trong nếu không là mủ
thì cũng là máu, cho nên không nên mê
đắm sắc tướng mỹ miều bên ngoài. Như
trong Kinh Lăng Nghiêm, Ma-đăng-già nữ
rất yêu A Nan, không muốn rời xa chút
nào.
Phật hỏi cô ta: Nàng yêu cái gì ở A
Nan?
Ma-đăng-già thưa: Tôi yêu đôi mắt của
ông ấy.
Phật nói: Thế thì ta móc mắt ông ấy cho
cô nhé!
-A, không được đâu! Ma-đăng-già nữ nói:
Móc mắt ra thì còn dùng gì được?
-Đã không dùng gì được thì nàng còn yêu
ông ấy làm chi?
Phật nói cho nàng ta nghe xong, nàng
liền phá ngay được sắc chấp mà chứng
được Tứ quả. Cho nên chúng ta chớ chấp
trước vào sắc tướng, nhưng mặt khác cũng
không rời sắc tướng mà tu hành. Đó là
mượn giả để tu chơn.
Chúng ta cũng không nên để thanh trần
làm mê hoặc, không nên chấp trước âm
thanh êm dịu mà đam mê. Vừa rồi xướng
bài kệ tụng tán Phật cho quý vị nghe, đó
là chẳng phải xướng ca mà là đang thuyết
pháp.
Chúng ta cũng không nên chấp trước vào
hương trần. Khi tôi ở Hương Cảng, có rất
nhiều người đến bên tôi nói thân tôi có
mùi hương. Sau đó tôi thoa một ít mùi
hôi lên người, để họ đừng đến gần tôi
nữa. Bọn họ đều đắm trước hương trần! Kỳ
thật, tất cả đều do tâm tạo ra cả! Người
có định lực, thơm chẳng biết thơm, hôi
chẳng biết hôi, đẹp chẳng biết đẹp, xấu
chẳng biết xấu, tiếng hay chẳng biết
tiếng hay, cũng không khởi tâm chấp
trước phân biệt. Đây tức là công phu tu
hành. Người biết dùng công phu thì người
ta có đối xử tốt cùng không, mình đều
coi như nhau, chẳng thể bị cảnh giới lục
trần lay chuyển. Người có định lực thì
không để bị lưỡi sai khiến, lại không để
ý ngon hay dở của mùi vị. Nói như vậy
không phải bảo mình như khúc gỗ chẳng
biết mùi vị ngon dở gì cả, mà là khi ăn
vào món gì không nên khởi tâm phân biệt,
ngon hay dở đều ăn như nhau. Như thế cho
nên xúc giác cũng phải buông bỏ hết.
— thế giới Cực Lạc có bốn thứ hoa sen:
Sen xanh, sen trắng, sen hồng và sen
vàng. Bốn thứ sen này có bốn thứ ánh
sáng. Bốn thứ ánh sáng này tiêu biểu cho
các pháp môn Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần,
Tứ như ý túc... Vì thế bây giờ chúng ta
nghe Kinh A Di Đà, tụng Kinh A Di Đà
xong lại cần phải tu định lực nữa. Nếu
có định thì ngay đây là thế giới Cực
Lạc. Nếu không thì dù cho thân ở thế
giới Cực Lạc cũng chạy về thế giới Cực
Khổ thôi. Người có định lực, dù thân ở
thế giới Cực Khổ cũng có thể chuyển
thành thế giới Cực Lạc được. Nếu diệt
trừ được phiền não thì tất cả đều không
có vấn đề chi (Everything's OK, No
Problem). Đó chẳng phải thế giới Cực Lạc
là gì?
Nầy Xá-lợi-phất, cõi nước Cực Lạc,
thành tựu công đức, trang nghiêm như
thế! Lại này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật
kia, thường trỗi nhạc trời, vàng ròng
làm đất, ngày đêm sáu thời, mưa hoa
Mạn-đà-la cõi trời. Chúng sanh ở cõi ấy,
cứ mỗi sáng sớm, thường dùng đãi y, đựng
các hoa đẹp, đem cúng dường mười vạn ức
Phật ở phương khác, vừa đến giờ ăn, trở
về nước mình, ăn cơm, kinh hành.
Đức Phật Thích Ca nói: Này Xá-lợi-phất,
cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức
trang nghiêm như thế. Tại đó thường có
chư Thiên trỗi nhạc trời, vàng ròng dùng
làm đất, ngày đêm sáu thời (đầu ngày,
giữa trưa, cuối ngày, đầu hôm, giữa đêm,
cuối đêm. Ba thời của ngày, ba thời của
đêm cộng lại là sáu thời) đều có mưa hoa
Mạn-đà-la.
Mạn-đà-la hoa, là tiếng Phạn, dịch là
"Tự ý hoa", mình muốn thế nào nó ra thế
ấy, rất là vừa ý. Hoa này còn gọi là Đại
bạch hoa.
Chúng sanh ở cõi ấy, cứ mỗi sáng sớm
(sáng sớm mặt trời mới vừa mọc), thường
dùng đãi y (túi vải), đựng các hoa đẹp,
đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương
khác. Thời gian cho việc cúng hoa rất
ngắn, khoảng chừng một bữa ăn. Tại sao
những chúng sanh ấy chỉ có một thời gian
rất ngắn đi khắp được mười vạn ức cõi
nước của chư Phật? Nhơn vì các vị ấy
chứng được tám đại tự tại ngã, tùy tâm
như ý, được như ý thông, tự do đi đến
chỗ mình muốn đến. Cho nên khi chúng ta
lễ Phật nên quán thân thể chúng ta có
cùng khắp vô lượng cõi nước chư Phật ở
mười phương và đang đảnh lễ trước chư
Phật. Chúng ta có thể quán tưởng pháp
giới như vậy, vì thân thể chính là pháp
giới vậy. Cho nên có bài kệ:
Nếu ai muốn hiểu biết
Tất cả Phật ba đời
Phải quán Pháp giới tánh
Tất cả duy tâm tạo.
Trở về nước mình, nước mình tức là thế
giới Cực Lạc. Ăn cơm, kinh hành, ăn cơm
xong liền đi kinh hành; kinh hành tức là
đi tản bộ sau khi ăn cơm.
Này Xá-lợi-phất, cõi nước Cực Lạc thành
tựu công đức trang nghiêm như thế! Lại
này nữa Xá-lợi-phất, cõi nước kia thường
có các loài chim màu sắc kỳ diệu, như
Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá-lợi,
Ca-lăng-tần-già, Cộng Mạng. Những thứ
chim này, ngày đêm sáu thời, hót lên
tiếng hòa nhã, tiếng ấy diễn xướng Năm
Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề Phần, Tám Thánh
Đạo Phần.
Đức Phật vốn đợi ngài Xá-lợi-phất thưa
hỏi, ngài Xá-lợi-phất vẫn chưa biết hỏi
nên Phật lại nói tiếp theo cho đại chúng
nghe: Này Xá-lợi-phất! Cõi nước Cực Lạc
thường có những loài chim nhiều màu kỳ
lạ, lại có chim Bạch Hạc, Khổng Tước,
Anh Võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng
Mạng...
Những loài chim này màu sắc đặc biệt
đẹp đẽ, trắng trắng xanh xanh, hoặc
nhiều màu xen lộn, như giống Phụng Hoàng
trên thế gian này. Anh Võ biết nói tiếng
người, nếu người ta dạy nó nói tiếng
Trung Quốc nó sẽ nói tiếng Trung Quốc,
dạy nó nói tiếng Anh nó cũng biết nói
tiếng Anh. Thấy có người tới, nó biết
nói: "Có khách, có khách", hoặc nói:
"Hello, how are you!" Cho nên nếu có
người dạy nó niệm danh hiệu Phật, chúng
nó cũng có thể nhờ vào công đức niệm
Phật mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở
phương Tây.
Xá-lợi tức là Thu Lộ, mắt nó rất đẹp.
Ca-lăng-tần-già là tiếng Phạn, dịch là
Hảo Thanh điểu, hoặc Hảo Âm điểu. Vì khi
mới khải mỏ, còn ở trong trứng mà tiếng
kêu của nó hay hơn các con chim con
khác, cho nên gọi là Hảo Âm điểu.
Chim Cộng Mạng là thứ chim một thân mà
có hai đầu, có ai đã thấy chim đó chưa?
Chúng mắc phải quả báo này là do kiếp
trước lúc làm người, tâm dâm quá nặng.
Hai vợ chồng ái ân quá nặng, suốt ngày
chỉ ân ái nhau thôi, dâm tâm không dứt
nên phải đọa lạc làm loài chim hai đầu.
Thức tâm có hai mà quả báo phải thọ lại
đồng nhau. „y gọi là "chim Cộng Mạng,
thức khác mà báo đồng." Vì thế người ta
không nên có tâm dâm dục thái quá, nếu
không sẽ có thể đọa làm loài chim Cộng
Mạng đấy!
Có người nói: "Tôi thích làm thứ chim
đó!" Ta đừng nên cho làm chim là việc
rất tốt. Phải biết rằng những loại phi
cầm ấy, sau khi sống hết kiếp chim rồi
có thể sẽ đọa vào địa ngục thọ khổ. Đừng
cho rằng chúng nó rất tự do, muốn bay
thì bay, muốn đáp thì đáp, tương lai quả
báo đáng sợ không thể tưởng tượng nổi
đấy. Người có trí không làm việc ngu si
thì không bị đọa lạc, người không trí
huệ mới tạo nghiệp mà đọa lạc.
Các loài chim ấy ngày đêm sáu thời hót
lên tiếng hòa nhã. Sáu loài chim này
ngày đêm sáu thời đều hót lên tiếng hòa
nhã, xướng họa lẫn nhau, phát ra âm nhạc
rất êm dịu. Thực ra những loại chim này
là do công đức của Phật A Di Đà hóa hiện
ra, giúp Phật nói pháp khiến cho pháp âm
lan khắp. Vì ở thế giới Cực Lạc phương
Tây không có các khổ, không có quả báo
ba ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Tiếng ấy diễn xướng, diễn là biểu diễn,
xướng là ca hát bất cứ người nào nghe
đến đều rất vui thích. Pháp âm mà bọn
chim diễn xướng biểu hiện Năm Căn, Năm
Lực, Bảy Bồ-đề Phần, Tám Thánh Đạo Phần.
Năm Căn là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn,
Định căn và Huệ căn. Năm căn biểu thị
cho mầm móng Bồ-đề, có thể khiến cho tâm
Bồ-đề tăng trưởng, khi tăng trưởng rồi
thì có một thứ sức mạnh nên gọi là năm
lực.
Năm Lực là: Tín lực, Tấn lực, Niệm lực,
Định lực và Huệ lực.
Bảy Bồ-đề Phần:
1. Trạch Pháp Bồ-đề phần, còn gọi là
Trạch pháp giác phần.
2. Tinh Tấn Bồ-đề phần, còn gọi là Tinh
Tấn giác phần.
3. Hỷ Bồ-đề phần, còn gọi là Hỷ giác
phần.
4. Trừ Bồ-đề phần, trừ thô hoặc.
5. Xả Bồ-đề phần, xả bỏ tế hoặc.
6. Định Bồ-đề phần
7. Niệm Bồ-đề phần.
Bảy Bồ-đề phần còn gọi là Bảy Giác Chi.
Trong ba mươi bảy Đạo phẩm chỉ bảy chi
này được tên là giác. Nhân vì trước tu
Bốn Niệm Xứ, Năm Căn, Năm Lực vẫn chưa
giác ngộ, sau tu Tám Chánh Đạo đã giác
ngộ, chỉ có khoảng giữa tu bảy pháp Giác
phần này từ mê mà ngộ, do chưa giác ngộ
mà giác ngộ cho nên được tên là Giác.
Bảy Bồ-đề Phần này rất quan trọng, các
đệ tử Phật nên nhớ kỹ.
Tám Thánh Đạo Phần, tức tám Chánh đạo:
Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tấn, chánh niệm, chánh định.
1. Chánh kiến: Đây không phải là cái
thấy của mắt thấy, mà là cái thấy của
kiến giải trong tâm. Thế nào là kiến
giải chính xác? Tức là dùng hành vi vô
lậu để quan sát kiến giải của chính mình
có chính xác hay không, tức là vật phi
lễ chớ nhìn, cái gì không chánh đáng thì
không nên xem, vì bất chánh là tà kiến.
Ví dụ thầy Tỳ-kheo thấy người không
chánh đáng thì không nên nhìn. Cho nên
các Tỳ-kheo đều không đi xem phim, không
ca múa hát xướng, cũng không cố đi xem
nghe. Nếu thích đi xem thì không phải là
có chánh kiến, thậm chí trong lòng có
nghĩ tưởng đến cũng là không chánh kiến.
Nhưng nếu có việc không chánh đáng ở
trước mắt, cũng không nghĩ đó là bất
chánh mà cho là chánh đáng, đó cũng là
chánh kiến.
2. Chánh tư duy: Tư duy là ở bên trong,
người ta không thể thấy được, chính mình
phải dùng trí huệ vô lậu. Tôi nhiều lần
giảng cho quý vị nghe về vô lậu, nhưng
càng giảng quý vị càng lậu thêm. Giả sử
có được chút trí huệ nào cũng bị chảy
sạch hết. Nước trí huệ rịn chảy hết thì
có lửa vô minh sanh ra. Pháp mà tôi
giảng cho quý vị nghe là pháp hay nhất
mà cả trong thiên hạ này không pháp nào
hay hơn. Nếu không chịu chú ý, chẳng
nghe cho kỹ thì dù Đức Phật Thích Ca tái
thế cũng cứu không được quý vị. Vô lậu
tức là không có tà tư tà kiến. Không có
tâm dâm dục tức là vô lậu. Có tâm dâm
dục tức là hữu lậu. Chánh tư duy tức là
vô lậu, tà tư duy tức là hữu lậu. Tư duy
thuộc về tâm, cũng là ý. Trong ý niệm
không khởi một niệm không chính đáng nào
tức là Chánh tư duy.
3. Chánh ngữ: Là trong lời nói của chính
mình không có một chút ý nào dâm loạn.
Những lời nói ra đều thật đứng đắn. Nếu
ai có nói với mình những lời không đứng
đắn, mình cũng phải nói với họ những lời
đứng đắn mà không được dùng lời không
đứng đắn đáp lại. Đó tức là chánh, là
khẩu nghiệp thanh tịnh. Trên đời này bất
cứ người nào cũng gặp phải điều ấy. Nếu
có ai nói những lời không đứng đắn,
chẳng cần phê bình họ nói không đúng, mà
không nên tiếp cận với họ là được. Nhưng
mặt khác, bạn không cần cho họ là nói
lời không chánh đáng, thế thì không
chánh đáng cũng biến thành chánh đáng.
Chánh tư duy tức là ý thanh tịnh, mà
chánh ngữ là khẩu nghiệp thanh tịnh.
4. Chánh nghiệp, là thân nghiệp thanh
tịnh. Dùng trí vô lậu để trừ bỏ tà
nghiệp của bản thân. Tà nghiệp là gì?
Cũng tức là niệm dâm dục. Một số người
mượn câu "Không tức là sắc, sắc tức là
không" mà hành động sai quấy, đây tức là
tà nghiệp. Trí vô lậu tức là trí huệ
không có những thứ không chánh đáng. Có
người chỉ có tà huệ, bảo họ làm việc
đứng đắn thì họ không biết làm, nhưng
nếu bảo họ làm việc bậy bạ (như hành
dâm...) thì họ thông minh hơn những
người khác, đó là tà nghiệp. Chánh
nghiệp thuộc về thân nghiệp.
5. Chánh mạng. Chánh mạng đối lại với tà
mạng. Sao gọi là tà mạng?
i) Hiện tướng khác người để hiện bày
việc kỳ lạ. Những người này biểu hiện ta
đây không giống với người khác: "Các vị
xem tôi đây khác với mọi người!" Như ở
Hương Cảng có một vị Pháp sư người Trung
Quốc cố ý đắp y Tiểu thừa. — Đài Loan
cũng có những người như vậy, mục đích
của họ chỉ là lôi kéo sự chú ý của người
khác để được cúng dường. Một số người có
mắt như mù, liền cho họ là bảo bối rồi
đến cúng dường.
ii) Tự nói mình có công đức. Những người
này tự khoe khoang công đức của chính
mình, nói Viện Dưỡng Lão kia là của tôi
lập nên, hoặc nói tôi xuất ra bao nhiêu
tiền để làm trường học, độ được một số
đệ tử, lập nên một số cảnh chùa, cúng
dường mấy trăm vị Hòa thượng. Tóm lại,
đó là sự khoe khoang công đức của mình.
Kỳ thực, chỉ có những người ngu si mới
tin được lời họ; còn người có trí huệ,
giả sử nhắm mắt lại, chỉ nghe họ nói
cũng có thể biết được đó là lời nói
khoác.
iii) Bói toán. Gieo quẻ, tính toán số
mạng tốt xấu cho người khác. Những hạnh
nghiệp này chẳng phải chỉ người tại gia,
mà người xuất gia cũng có làm. Họ có thể
nói với kẻ dễ tin: "Anh nên đưa tôi một
triệu bạc để làm việc thiện, nếu không
thì ngày mai có thể phải chết đấy!" Kẻ
ấy nghe nói một triệu có thể mua được
tánh mạng thì đâu phải là nhiều, liền
đồng ý đưa ngay. Nhưng đâu có biết rằng
giả sử không đưa tiền cũng không nhất
định ngày mai phải chết. Hoặc họ nói:
"Ngày mai anh có thể gặp được một việc
tốt đẹp. Chỉ cần hôm nay anh đưa trước
năm mươi lượng vàng làm việc công đức,
thế nào ngày mai anh cũng được năm trăm
lượng vàng." Kẻ ấy nghĩ thầm: "Một lượng
lãi tới mười lượng, có gì mà tiếc!" Thế
rồi bị lường gạt. Kết quả ngày thứ hai
chẳng những không có vàng, cả đến thầy
bói cũng không thấy đâu nữa, bèn cho là
đã gặp bậc thần tiên.
iv) Lớn tiếng ra oai. Có những vị Thầy
thích lớn tiếng hò hét vô duyên cớ,
khiến cho người nể sợ. Những người ấy
còn cho rằng vị Thầy này tiếng nói rổn
rảng mà cung kính vị ấy. Đây tức là tà
mạng. Nếu khi giảng pháp, phòng rộng lớn
mà người đông, thì có thể giảng kinh lớn
tiếng. Nhưng nếu có micro thì không cần
phải to tiếng quá. Cứ nói chuyện bình
thường, chẳng cần phải hò hét lớn tiếng.
Người lớn tiếng ra oai lại chẳng biết đó
là một trong năm thứ tà mạng.
v) Nói lên sự cúng dường để khích động
người khác. Ví dụ nói: "Anh biết không!
Tôi đến nhà cư sĩ ăn một bữa trai thật
ngon, họ còn dùng nấm mèo trắng, nấm
đông-cô... để đãi tôi, thật là một bữa
ngon quá sức!" Hoặc đến nhà một cư sĩ
niệm câu thần chú để khiến người khác
cho họ ăn ngon. Một khi niệm chú như
thế, vị cư sĩ ấy cảm thấy chính mình
phải nên cúng dường một ít thức ăn, thậm
chí không có tiền, phải đi vay mượn để
mua đồ chay cúng dường vị Thầy. Đâu biết
rằng vị Thầy ấy đã phạm vào năm thứ tà
mạng rồi.
6. Tinh tấn: Có Chánh tinh tấn và Tà
tinh tấn. Sao gọi là Chánh tinh tấn?
Giống như chúng ta đang lễ Phật, niệm
Phật suốt ngày không nghỉ ngơi, đó là
Chánh tinh tấn. Nếu bạn đi đến chỗ khác
nói chuyện khào, càng nói càng hăng,
khoa chân múa tay, đó gọi là Tà tinh
tấn, không có lợi ích chi, lại chẳng có
tác dụng gì. Sao gọi là Chánh tinh tấn?
Chánh tinh tấn chính là làm việc có ích.
Sao gọi là Tà tinh tấn? Tức là làm việc
vô ích, ví như đối với Phật pháp phải
dụng công, nhưng lại lười biếng chỉ nói
chuyện tào lao lười biếng cũng như, khi
nghe kinh, không luận bận rộn cách mấy
cũng phải đến nghe kinh, đến để hộ trì
pháp hội, đó gọi là Chánh tinh tấn. Nếu
vốn không bận việc gì, nhưng cũng không
đến nghe kinh, đó gọi là không tinh tấn.
Giống như chúng ta ở đây có mấy vị cư
sĩ, hễ xem phim thì rất tinh tấn, chịu
đi long nhong đường lớn hẻm nhỏ mà chẳng
đến nghe kinh, có pháp hội mà chẳng đến
hộ trì, đó đều là không tinh tấn. Chánh
tinh tấn là không luận ở chỗ nào có pháp
hội thì đến ủng hộ, hộ trì đạo tràng.
Nếu khoái đánh bài, cờ bạc... đó là Tà
tinh tấn.
7. Chánh định: Chánh định là Tam-muội,
còn gọi là Chánh thọ. Chánh định là dùng
trí huệ vô lậu để tu định, thứ định này
tất cả cảnh giới tà không thể lay động
được. Tôi giảng kinh cho quý vị nghe,
quý vị nhớ được một câu thì đi đến bất
cứ đâu cũng dùng không hết. Nhưng nếu
quý vị không nhớ được câu nào, quên sạch
hết thì đi đến đâu sẽ bị cảnh giới ấy
lay chuyển, chạy theo cảnh giới ấy, đó
là không có chánh định. Có người nói:
"Tôi biết tôi không có chánh định." Đã
biết là không có, sao không dùng chánh
định? Cũng như có mấy người nọ, khi nghe
tôi giảng điều gì đó đều nói: "I know, I
know." Đã biết sao còn phạm phải sai
lầm?
8. Chánh niệm: Chánh niệm là niệm trí
huệ vô lậu, không còn hữu lậu nữa. Không
còn hữu lậu tức là không có tâm dâm dục.
Không có tâm dâm dục tức chánh niệm. Có
tâm dâm dục tức là tà niệm. Có người
nói: "Người ấy có tâm dâm dục đối với
tôi, nhìn thấy mắt họ là biết ngay." Nếu
không có tâm dâm dục, sao lại đi nhìn
vào mắt người ta? Mình có tâm gì? Chính
mình nếu không có tâm dâm dục, làm sao
biết người ta có? Nếu không có thì là
thanh tịnh hoàn toàn, trong sạch không
nhiễm ô, chính mình không có chút tư
tưởng nào về việc đó cả thì làm sao biết
được kẻ đối diện mình có tâm dâm dục?
Vậy thì rõ ràng là không diệt trừ tâm
dâm dục, không dứt tâm dâm dục chính là
tà niệm, không phải chánh niệm.
Các pháp như thế ấy, chúng sanh ở nước
kia nghe âm thanh này rồi, thảy đều niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Này
Xá-lợi-phất, ông chớ cho chim này thiệt
là do tội báo sanh ra. Tại sao thế? Vì
cõi nước của Phật kia không có ba ác
đạo. Này Xá-lợi-phất, cõi nước của Phật
kia còn không có tên của ác đạo, huống
chi là có thật. Các thứ chim ấy đều là
do Phật A Di Đà muốn cho tiếng Pháp âm
truyền khắp mà biến hóa ra như thế.
Các pháp như thế ấy, là chỉ cho Năm Căn,
Năm Lực, Bảy Bồ-đề Phần, Tám Thánh Đạo
Phần đã nói ở trước; hai mươi lăm Đạo
Phẩm này cộng với Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh
Cần, Bốn Như Ý Túc, thành ra Bảy Khoa,
Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm.
Chúng sanh ở nước kia, là chúng sanh ở
thế giới Cực Lạc, nghe thấy những âm
thanh diễn xướng của các loài chim ở
trên rồi, thảy đều niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng, niệm về Tam Bảo. Này
Xá-lợi-phất, đừng cho rằng những chim
này là từ tội báo sanh ra! Đừng cho rằng
những chim này là từ ba ác đạo sanh ra!
Tại sao thế? Vì lẽ gì? Vì thế giới Cực
Lạc kia không có ba ác đạo, ba ác đạo là
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thì làm sao
có các loài chim này được? Phật nói:
"Này Xá-lợi-phất, ta nói cho ông biết:
Cõi nước của Phật kia còn không có tên
của ác đạo. — thế giới Cực Lạc ngay đến
tên của ba ác đạo còn không có nữa,
huống chi lại có ba ác đạo thiệt hay
sao? Tất cả đều không có cả. Những loài
chim này đều là do nguyện lực của Phật A
Di Đà muốn cho Pháp âm truyền khắp mà
biến hóa ra như thế." Đây đều là giúp
cho Pháp âm truyền khắp mà dùng thần
thông biến hóa ra các thứ chim ấy, chớ
chúng không phải do ba ác đạo biến hóa
ra đâu. Không giống như cõi nước của
chúng ta đây, súc sanh là từ súc sanh
đạo biến hóa ra.
Này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật kia, gió
nhẹ lay động các hàng cây báu và các
lưới báu, phát ra âm thanh vi diệu,
giống như trăm nghìn thứ âm nhạc đồng
trỗi một lượt. Ai nghe tiếng này rồi, tự
nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng. Này Xá-lợi-phất, cõi nước
Phật kia thành tựu công đức trang nghiêm
như thế.
Phật nói: "Này Xá-lợi-phất! Ta nói cho
ông nghe đôi chút về tình hình của thế
giới Cực Lạc: Cõi nước Phật kia gió nhẹ
lay động, gió nhẹ là gió rất dịu, gió
không lớn, chỉ nhè nhẹ thôi, thổi vào
bảy lớp hàng cây, bảy lớp lưới báu, phát
ra âm thanh vi diệu, trên lưới báu đều
có chuông rung, một khi gió thổi qua đều
rung vang lên. Thứ tiếng vang này cũng
giúp cho người ta niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng. Giống như trăm ngàn thứ âm
nhạc đồng trỗi một lượt. Thứ âm thanh
này cũng giống như trăm ngàn thứ âm nhạc
đồng tấu một lượt. Ai nghe rồi, người
nghe thứ âm nhạc này, không phải là nghe
rồi lại nảy sanh ý nghĩ bất tịnh, mà là
nghe rồi tự nhiên sanh ra tâm niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng. Tâm niệm: Nam mô A
Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Pháp, Nam mô
A Di Đà Tăng.
Có người nói: "Nam mô A Di Đà Phật, câu
này thì có, sao lại có Nam mô A Di Đà
Pháp được?" - Bởi vì đó là pháp của Phật
A Di Đà nói ra. Lại cũng là chúng tăng
của Phật A Di Đà giáo hóa mà có. Thế thì
tại sao không nói: "Nam mô A Di Đà Tăng"
được ư? Cho nên đừng có thắc mắc! Những
điều tôi giảng là một nghệ thuật mới mẻ
đấy! Cũng giống như tôi giảng cho quý vị
nghe về Niết-bàn như thế này. Niết là
không sanh, Bàn là không diệt; không
sanh tâm dâm dục, không diệt trí huệ.
Cho nên Phật đạt cảnh giới Niết-bàn thì
không có tâm dâm dục nữa. Ngài thanh
tịnh, không nhiễm trước, không có ý
tưởng nam nữ, tự tánh thường sanh trí
huệ cho nên không diệt.
Này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật kia,
thành tựu công đức trang nghiêm như thế!
Này Xá-lợi-phất! Cõi nước Cực Lạc thành
tựu được công đức và trang nghiêm như
thế đó.
Này Xá-lợi-phất, ý ông nghĩ sao? Tại sao
Đức Phật kia có tên là A Di Đà? Này
Xá-lợi-phất, Đức Phật kia có ánh sáng vô
lượng, chiếu suốt mười phương cõi nước
không bị chướng ngại, cho nên có tên là
A Di Đà. Lại này Xá-lợi-phất, mạng sống
của Phật kia và nhân dân của Ngài, vô
lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cho nên có
tên là A Di Đà. Này Xá-lợi-phất, Phật A
Di Đà thành Phật đến nay đã mười kiếp.
Lại này Xá-lợi-phất, Đức Phật kia có vô
lượng vô biên chúng đệ tử Thanh văn đều
là bậc đại A-la-hán, không thể tính đếm
mà biết được; các chúng Bồ-tát cũng
nhiều như thế.
Phật lại nói: "Này Xá-lợi-phất!" Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đặc biệt có lòng
thương nghĩ đến ngài Xá-lợi-phất: "Đồ đệ
này quả thật có được ít nhiều trí huệ,
nhưng lại không biết hỏi, để ta nói cho
ông ấy biết!" Ý ông nghĩ sao? Trong ý
nghĩ của ông, ông cho là như thế nào?
Tại sao Đức Phật kia có tên là A Di Đà?
Đáng lẽ câu này là của ngài Xá-lợi-phất
hỏi, mà ngài không biết hỏi, ngờ nghệch
giống như đang nhập định vậy, cho nên
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hỏi giúp và đáp
thay cho ngài: Này Xá-lợi-phất, Đức Phật
kia có ánh sáng vô lượng. A Di Đà dịch
là vô lượng quang, cho nên nói Đức Phật
kia có ánh sáng vô lượng chiếu suốt mười
phương cõi nước không bị chướng ngại,
chiếu suốt mười phương cõi nước mà không
có gì ngăn che ánh sáng ấy được. Cho nên
có tên là A Di Đà, vì thế nên gọi Ngài
là Phật A Di Đà. Lại này Xá-lợi-phất!
Lại còn một nghĩa nữa: Mạng sống của
Phật kia và nhân dân của Ngài đều vô
lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp, mạng sống
của Phật A Di Đà và nhân dân của Ngài có
đến vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp.
A-tăng-kỳ là tiếng Phạn, dịch là vô
lượng số. Cho nên có tên là A Di Đà, vì
thế nên gọi Ngài là Vô Lượng Thọ Phật.
Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã mười
kiếp, từ khi Đức A Di Đà thành Phật đến
nay đã kéo dài mười đại kiếp, mạng sống
tương lai cũng vô lượng vô biên. Lại này
Xá-lợi-phất, Đức Phật kia có vô lượng vô
biên chúng đệ tử Thanh văn, Đức Phật A
Di Đà ở thế giới Cực Lạc có rất nhiều đồ
đệ là hàng Thanh văn. Đều là bậc
A-la-hán, những vị ấy đều đã chứng quả
A-la-hán vô lậu, đều là những người
không có tâm dâm dục. Không thể tính đếm
mà biết được, chẳng phải là số lượng
tính kể bằng con số mà tính đếm được.
Các chúng Bồ-tát cũng nhiều như thế. Số
chúng Thanh văn đã nhiều như thế thì số
chúng Bồ-tát cũng nhiều như chúng Thanh
văn, không thể dùng con số mà tính đếm
được.
Này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật kia thành
tựu công đức trang nghiêm như thế! Lại
này Xá-lợi-phất, cõi nước Cực Lạc, chúng
sanh sanh về đều là bậc A-bệ-bạt-trí.
Trong đó có nhiều vị Nhất sanh bổ xứ. Số
đó nhiều đến nỗi không thể tính đếm mà
biết được, chỉ có dùng số vô lượng vô
biên A-tăng-kỳ để nói. Này Xá-lợi-phất,
chúng sanh nghe được điều này, phải nên
phát nguyện, nguyện sanh về nước kia.
Tại sao thế? Vì được cùng ở một chỗ với
các bậc thượng thiện nhơn. Này
Xá-lợi-phất, không nên cho rằng có chút
ít nhơn duyên phước đức căn lành mà được
sanh về nước kia đâu.
Này Xá-lợi-phất, cõi nước Phật kia thành
tựu công đức trang nghiêm như thế! Cõi
nước ấy đã thành tựu công đức quá nhiều
như trên đã nói. Lại này Xá-lợi-phất,
cõi nước Cực Lạc, chúng sanh sanh về đều
là bậc A-bệ-bạt-trí. A-bệ-bạt-trí là
tiếng Phạn, dịch là Bất thối chuyển. Có
ba thứ bất thối chuyển: Vị bất thối,
Hạnh bất thối và Niệm bất thối.
Vị bất thối là không lui lại hàng Nhị
thừa, cũng không từ Nhị thừa lui xuống
hàng phàm phu.
Niệm bất thối là mỗi ngày càng tăng thêm
ý niệm tu hành.
Hạnh bất thối là tu hành mỗi ngày một
tăng tiến thêm.
Tóm lại, chẳng cần biết tu hành được bao
nhiêu ngày, hễ nghỉ một lần, nghỉ tức là
thối lui. Bất thối chuyển nơi Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác tức là bất thối
chuyển nơi Phật quả. Trong đó có nhiều
vị Nhất sanh bổ xứ, trong đó có rất
nhiều chúng sanh chỉ một đời có thể bổ
xứ ở ngôi vị Phật, có thể thành Phật.
Một đời đến trong hoa sen, tức có thể
thành Phật. Số đó nhiều đến nỗi không
thể tính đếm mà biết được. Số mục này có
nói cũng không hết được số nhiều, chẳng
phải là tính số thí dụ mà có thể biết
được. Chỉ có số vô lượng vô biên
A-tăng-kỳ để nói, chỉ có thể nói
A-tăng-kỳ là có vô lượng vô biên vô
lượng số mà thôi.
Này Xá-lợi-phất, chúng sanh nghe được
điều này, phải nên phát nguyện, nguyện
sanh về nước kia. Này Xá-lợi-phất, tất
cả chúng sanh nghe được đạo lý mà Đức
Phật Thích Ca chúng ta đã nói, đều phải
nên phát nguyện sanh về thế giới Cực
Lạc. Tại sao thế? Vì được cùng ở một chỗ
với các bậc thượng thiện nhơn. Đó là
nguyên nhơn gì? Đạo lý gì? Tại vì có thể
cùng với các chúng Thanh văn,
Bồ-tát...đồng ở một chỗ với nhau. Này
Xá-lợi-phất, không nên cho rằng có chút
ít nhơn duyên phước đức căn lành mà được
sanh về nước kia. Này Xá-lợi-phất! Nói
thì nói như thế, nhưng người không có
căn lành, không có phước đức thì không
cách nào sanh về thế giới Cực Lạc được.
Phải là người có căn lành lớn, phước đức
lớn, đời đời kiếp kiếp tu hành các
Ba-la-mật, mới có thể sanh về thế giới
Cực Lạc được. Không như thế thì không có
cơ hội nào gặp được môn diệu pháp này,
cho nên nói là "Không nên cho rằng có
chút ít nhơn duyên phước đức căn lành mà
được sanh về nước kia đâu."
Này Xá-lợi-phất, nếu có hàng thiện nam
thiện nữ nào nghe nói về Phật A Di Đà
rồi chấp trì danh hiệu Ngài, hoặc một
ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm
ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm bất
loạn. Người ấy khi lâm chung thấy Phật A
Di Đà cùng các Thánh chúng hiện ra trước
mặt. Khi chết người ấy tâm không điên
đảo, liền được vãng sanh về thế giới Cực
Lạc của Phật A Di Đà. Này Xá-lợi-phất,
ta thấy những điều lợi ấy nên mới nói
như vậy. Nếu có chúng sanh nào nghe ta
nói đây, phải nên phát nguyện sanh về
nước kia.
Này Xá-lợi-phất, nếu có hàng thiện nam
thiện nữ nào nghe nói về Phật A Di Đà
rồi chấp trì danh hiệu Ngài, hoặc một
ngày, hai ngày, ba ngày... Xá-lợi-phất!
Nếu có hàng thiện nam tín nữ tu Ngũ
giới, Thập thiện, nghe được danh hiệu
của Phật A Di Đà; chấp, như tay nắm chặt
đồ vật không thả, ý nói niệm danh hiệu
Phật A Di Đà không lơi lỏng biếng lười,
hoặc một ngày, chữ hoặc, có thể đổi
thành chữ khổ, là khó nhọc. Khó nhọc một
ngày, khó nhọc hai ngày, khó nhọc ba
ngày... rất là khổ cực, vì từ bảy giờ
sáng đến chín giờ tối, khó nhọc đến bảy
ngày, đạt đến mức độ nhất tâm bất loạn.
Người ấy khi lâm chung, người ấy chờ đến
khi chết, Đức Phật A Di Đà cùng các
Thánh chúng hiện ra trước mặt, Đức Phật
A Di Đà tưởng nhớ đến chúng sanh... "A,
chúng sanh ở thế giới Ta-bà đang niệm
danh hiệu ta, niệm đã được bảy ngày, cam
chịu khó nhọc bảy ngày, ta nên đáp ứng
và rước họ về cõi nước Cực Lạc, bây giờ
đã đến giờ rồi, mau mau đi rước họ." Bấy
giờ Đức Phật, Bồ-tát Quán Thế Âm, Đại
Thế Chí, Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát
cùng đến và đều đưa tay rước người ấy về
thế giới Cực Lạc, dù có muốn rút lui
cũng không thể được. Người ấy khi lâm
chung tâm không điên đảo, liền được vãng
sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di
Đà. Bấy giờ tâm của người ấy dù có tư
tưởng điên đảo, cũng không thể nói: "Tôi
không muốn đi, nơi đó không có ý nghĩa
gì." Người ấy không thể cự tuyệt lời mời
gọi của Phật A Di Đà, tức khắc vãng sanh
về thế giới Cực Lạc.
Này Xá-lợi-phất, ta thấy những điều lợi
ấy nên mới nói như vậy. Phật tiếp tục
nói: "Này Xá-lợi-phất! Ta thấy những chỗ
tốt đẹp và lợi ích như thế cho nên mới
bảo ông." Nếu có chúng sanh nào nghe ta
nói đây, phải nên phát nguyện sanh về
nước kia. Giả sử có chúng sanh nào ở thế
giới Ta-bà nghe ta nói những lời như thế
này, phải nên phát nguyện, thì nhất định
sẽ sanh về thế giới Cực Lạc.
Này Xá-lợi-phất, như ta hôm nay ngợi
khen lợi ích về công đức không thể nghĩ
bàn của Phật A Di Đà. — phương Đông cũng
có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật
Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu
Âm. Giống như vậy hằng hà sa số chư
Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của mình,
hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cả
tam thiên đại thiên thế giới, nói lời
thành thật như vầy: "Chúng sanh các
ngươi phải nên tin vào công đức khen
ngợi không thể nghĩ bàn, và Kinh được
tất cả chư Phật đều hộ niệm" này.
Này Xá-lợi-phất, như ta hôm nay ngợi
khen về công đức không thể nghĩ bàn của
Phật A Di Đà, giống như tôi hiện đương
khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn
của Phật A Di Đà, những việc lợi ích này
chẳng phải chỉ một mình tôi khen, mà ở
phương Đông cũng có Phật A Súc Bệ, tức
là Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, tức
Bất Động Phật, cũng tức là Phật A Súc Bệ
ở Kim Cang bộ thuộc phương Đông, dịch là
Pháp thân thường trú bất động. Pháp thân
chẳng những bất động mà lại còn Thường
trú nữa. Ý nói rằng trí Phật là bất động
nhưng có thể động, giao cảm đến trí tánh
sẵn có của chúng sanh.
Phật Tu Di Tướng, tướng Phật vi diệu như
núi Tu Di. Tu Di dịch là Diệu Cao, là
núi lớn ở giữa biển, do bốn báu hợp
thành. Sáng rỡ thấu suốt gọi là Diệu,
cao hơn các núi gọi là Cao.
Phật Đại Tu Di, ở trên nói tướng của
Phật, đây nói về công đức của Phật. Diệu
Cao là vua của các núi, dùng để so sánh
với công đức bậc nhất của Phật.
Phật Tu Di Quang, ánh sáng là nói về trí
của Phật, để nói lên trí của Phật cùng
khắp.
Phật Diệu Âm, tứ biện, bát âm đều đầy
đủ.
Giống như hằng hà sa số chư Phật, bên
trên là nói các vị Phật tiêu biểu, nếu
nói đầy đủ thì có đến hằng hà sa số các
Đức Phật nhiều như vậy. Những Đức Phật
ấy, mỗi vị đều ở cõi nước của mình, hiện
ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cả tam
thiên đại thiên thế giới. Lưỡi lớn như
thế thì làm sao nói được? Trùm khắp cả
tam thiên đại thiên thế giới có nghĩa là
Phật pháp lưu thông đến khắp cả tam
thiên đại thiên thế giới. Nói lời thành
thật như vầy: Chúng sanh các ngươi phải
tin vào công đức khen ngợi không thể
nghĩ bàn này. Các Phật đều nói lời chân
thật rằng chúng sanh các ngươi phải nên
khen ngợi và tin nhận công đức không thể
nghĩ bàn này, và Kinh được tất cả chư
Phật đều hộ niệm, Kinh A Di Đà này cũng
như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nếu có
chúng sanh nào tụng trì kinh này thì tất
cả chư Phật đều bảo: "Người ấy đến lúc
mạng chung sẽ được chư Phật tiếp dẫn về
thế giới Cực Lạc."
Này Xá-lợi-phất, ở thế giới phương Nam
có Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn
Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di
Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn. Giống như
vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị đều ở
cõi nước của mình, hiện ra tướng lưỡi
rộng dài trùm khắp cả tam thiên đại
thiên thế giới, nói lời thành thật như
vầy: "Chúng sanh các ngươi phải tin vào
công đức khen ngợi không thể nghĩ bàn,
và Kinh được tất cả chư Phật hộ niệm
này".
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong, chư
Phật ở phương Đông khen ngợi Đức Phật A
Di Đà rồi, bấy giờ lại nói đến chư Phật
ở phương Nam. Phật nói: Này Xá-lợi-phất!
— thế giới phương Nam cũng có rất nhiều
Đức Phật dùng tướng lưỡi rộng dài mà
thuyết pháp. Đó là những Đức Phật nào?
„y là Phật Nhật Nguyệt Đăng, Nhất thiết
trí là mặt nguyệt, Đạo chủng trí là mặt
nhật, Nhất thiết chủng trí là đèn đăng,
Phật Danh Văn Quang vì Danh xưng được
nghe khắp cả pháp giới. Phật Đại Diệm
Kiên, hai vai Đức Phật phát ra ánh sáng,
Diệm biểu hiện cho đại huệ, Kiên (vai)
gánh vác chúng sanh. Phật Tu Di Đăng tức
Phật Diệu Cao Đăng; ánh sáng của thân vô
lượng như núi Tu Di, và Phật Vô Lượng
Tinh Tấn, Đức phật ngày đêm sáu thời
thường tinh tấn; công phu không hổn tạp
gọi là Tinh, không lui sụt gọi là Tấn,
vì trong vô lượng kiếp công phu hành
đạo, thành Phật, hóa độ vô lượng chúng
sanh không ngừng nghỉ. Còn có vô lượng
hằng hà sa số chư Phật như vậy ở các cõi
nước phương Nam, hiện ra tướng lưỡi rộng
dài, nói Phật pháp trùm khắp cả tam
thiên đại thiên thế giới, nói với tất cả
chúng sanh những lời chân thật chí thành
không hư dối như thế này: "Này chúng
sanh các ngươi, ở thế giới này hoặc thế
giới khác, ở cõi nước này hay cõi nước
khác, trong vô lượng vô số cõi nước đều
nên sanh ba thứ tâm: Tín tâm, Nguyện tâm
và Hạnh tâm chân chánh để ca ngợi công
đức không thể nghỉ bàn của Kinh này." Bộ
Kinh A Di Đà này là Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni không ai hỏi mà tự nói ra. Nếu
quý vị tin nhận, ngợi khen và trì tụng
Kinh này thì tất cả chư Phật sẽ đến hộ
trì quý vị. Cho nên phải đặc biệt phát
tâm ca tụng ngợi khen Đức Phật A Di Đà
và Kinh A Di Đà.
Này Xá-lợi-phất, ở thế giới phương Tây
có Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng
Tướng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh,
Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang. Giống
như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị
đều ở cõi nước của mình, hiện ra tướng
lưỡi rộng dài trùm khắp cả tam thiên đại
thiên thế giới, nói lời thành thật như
vầy: "Chúng sanh các ngươi phải tin vào
công đức khen ngợi không thể nghĩ bàn và
Kinh được tất cả chư Phật hộ niệm này".
Phật Thích Ca Mâu Ni nói về phương Đông
xong, chư Phật ở phương Nam khen ngợi
Phật A Di Đà rồi, lại nói ở thế giới
phương Tây có Phật Vô Lượng Thọ, cũng
tức là Phật A Di Đà. Nhưng các Đức Phật
đồng tên rất nhiều, Phật Vô Lượng Thọ có
thể là Phật A Di Đà. Vị đạo sư của thế
giới Cực Lạc phương Tây cũng có thể là
một vị Phật khác. Vì thế không nên chấp
trước nhất định là phải, hoặc nhất định
là không phải Phật A Di Đà. Phải cũng
được mà không phải cũng được, không nên
chấp trước. Trên sự thật không có một
cái gì là phải, cũng không có một cái gì
là không phải. Phật pháp vi diệu như thế
đấy. Phải hay không đều là tâm phân biệt
của mình thôi. Về phần chư Phật chỉ có
một điều là không có tâm phân biệt.
Không phân biệt, nhưng mỗi vị đều có
pháp tướng trang nghiêm riêng, tuy mỗi
Phật đều có pháp tướng trang nghiêm
riêng nhưng không chướng ngại lẫn nhau.
Không giống như chúng ta: "A, anh chơi
xấu tôi à!" Phật không có như thế, Ngài
là "anh chính là tôi, tôi cũng chính là
anh", vì thế chứng được cảnh giới vô
thượng thì phải trái đều như nhau. Như
vậy có vi diệu hay không! Người ta nếu
muốn thành Phật thì phải không có tâm
phân biệt, cũng không có tâm vọng tưởng,
không có mảy may nào tâm dục vọng, đó
mới thiệt là vi diệu cực điểm. Vì thế
mình không nên chấp trước. Như có thể
biết đúng về Phật A Di Đà và Phật Vô
Lượng Thọ, thì cũng không nên phân biệt,
không nên để tâm thái quá về mặt này.
Phật Vô Lượng Tướng là vị Phật có vô
lượng tướng. Phật có tám mươi bốn ngàn
vi trần tướng hảo, tùy cơ hiển hiện.
Phật Vô Lượng Tràng là Phật có vô lượng
vô số tràng phan treo bên trên để che
đỡ. Tràng là nghĩa cao hiển, nghĩa trừ
tà hiển chánh, lại trong rỗng ngoài
tròn, tiêu biểu cho Phật tánh sáng suốt
rỗng lặng mà sáng suốt đầy đủ. Phật Đại
Quang, ánh sáng Đức Phật này chiếu sáng
khắp nơi. Phật Đại Minh, quang là thể,
minh là dụng, có quang thì minh chiếu
mười phương. Hai Phật (Đại Quang và Đại
Minh) đồng hiển lộ trí huệ to lớn. Công
đức trí báu của Ngài, tướng sáng tròn
đầy.
Phật Tịnh Quang, sự thanh tịnh quang
minh của Ngài chiếu khắp chúng sanh. Nói
cho cùng thì có hằng hà sa số quá nhiều
Đức Phật. — phương Tây có rất nhiều Đức
Phật, mỗi vị đều hiện ra tướng lưỡi rộng
dài. Lưỡi của chúng ta không cách gì che
trùm một căn nhà, nhưng tướng lưỡi rộng
lớn của Phật có thể che khắp tam thiên
đại thiên thế giới. Tại sao thế? Đối với
Phật mà nói thì tam thiên đại thiên thế
giới tức là một niệm, một niệm tức là
tam thiên đại thiên thế giới. Dù là tam
thiên đại thiên thế giới cũng không vượt
ngoài một niệm; dù là một niệm cũng có
thể trùm khắp tam thiên đại thiên thế
giới. Không nên chấp trước là Phật có
lưỡi lớn như thế, lưỡi rộng dài là hiểu
hiện pháp đến đâu thì tướng lưỡi Phật
đến đó. Chúng ta cũng có thể hiện ra
tướng lưỡi rộng dài được, như chúng ta
đến chỗ nào giảng nói Phật pháp khiến
cho Phật pháp lưu thông đến đó thì cũng
là trùm khắp tam thiên đại thiên thế
giới. Khi nghe Phật pháp không nên chấp
trước. Tuy lưỡi Phật có thể trùm khắp
tam thiên đại thiên thế giới, nhưng ngay
cả nhỏ như một hạt bụi cũng đều không
có, kỳ thật căn bản không có cái gì cả.
Như vậy hẳn là Phật nói láo ư? Nếu Phật
không nói láo, thì làm sao chúng ta lại
tin Ngài? Nói theo quan điểm chúng sanh
thì hình như là hoang đường; nhưng đứng
trên quan điểm của Phật thì là chân
thật, chớ không phải vọng ngữ đâu. Chúng
sanh xem đó là vọng ngữ mà Phật xem đó
là lời chân thật. Cũng lời nói ấy mà
Phật nói ra là chân thật mà chúng sanh
nói ra là vọng ngữ. Điều này chẳng dễ
dàng giảng cho rõ được, nếu muốn hiểu rõ
đạo lý này phải không sợ gian khổ, gắng
sức khổ công đi! Đừng nghĩ rằng nghe
được Phật pháp hai ngày rưỡi rồi cái gì
cũng biết, Kinh cũng không tụng, Phật
cũng không niệm. Không nên tự cho là đã
tham thiền thì cái gì cũng không làm cả,
lại còn nói: "Tôi rõ ý Phật, kỳ thật
không có gì cả. Tôi đã học năm năm rồi,
cũng chẳng qua là như thế. Vì vậy tôi
không học nữa, bất cứ vấn đề gì tôi cũng
không có gì nữa." Chúng ta nên biết rằng
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu phước tu huệ
đến ba A-tăng-kỳ kiếp; làm các việc bố
thí để tu phước, và học tập Phật pháp để
tu huệ. Ngài tu về tướng hảo, phải tu
đến một trăm đại kiếp mới được ba mươi
hai tướng tám mươi vẻ đẹp. Tại sao chúng
ta ngay cả một tướng, một vẻ đẹp cũng
không có? Tại sao người ta nhìn thấy bạn
lại nói: "Nó xấu lắm, dang xa nó ra, nó
không phải là người tốt, nhìn thấy nó là
phát ghét rồi." Tại sao thế? Tại vì
không tu hành cho nên không có đức hạnh,
vì thế ai ai cũng đều không thích nhìn
thấy bạn.
Lưỡi của Phật che khắp cả vũ trụ mà nói
lời chân thật; Phật không dối gạt người,
chẳng nên lấy tâm phàm mà đo lường trí
thánh, lấy tâm của người phàm mà suy
lường tâm của thánh nhân. Tôi đã từng
một đôi lần nói với quý vị: "Hàng Bồ-tát
Sơ địa không biết được cảnh giới của
hàng Bồ-tát Nhị địa, Bồ-tát Thập địa
không biết được cảnh giới của Bồt-tát
Đẳng giác. Sơ quả A-la-hán không biết
được Nhị quả A-la-hán; Nhị quả A-la-hán
không biết được Tam quả A-la-hán. Sơ quả
A-la-hán cho là việc mình làm là đúng,
nhưng trên quan điểm của Nhị thừa
A-la-hán thì thấy việc ấy là sai. Nhị
quả A-la-hán cho việc mình làm là đúng,
Tam quả A-la-hán nhìn thấy các vị ấy có
ít nhiều sai trái. Tôi là Sư phụ quý vị,
quý vị không rõ cảnh giới của tôi. Giả
như quý vị biết rõ, thì chẳng cần đến Sư
phụ nữa. Vì thế hãy suy nghĩ những điều
tôi nói thử xem, chớ nên phàn nàn: "Ông
ấy giảng quá nhiều!"
Này Xá-lợi-phất, ở thế giới phương Bắc
có Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm,
Phật Nan Trở, Phật Nhật Sanh, Phật Võng
Minh. Giống như vậy hằng hà sao số chư
Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của mình,
hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cả
tam thiên đại thiên thế giới, nói lời
thành thật như vầy: "Chúng sanh các
ngươi phải tin vào công đức khen ngợi
không thể nghĩ bàn và Kinh được tất cả
chư Phật đều hộ niệm này".
Chẳng những ở phương Đông, phương Nam,
phương Tây chư Phật đều khen ngợi Đức
Phật A Di Đà, mà ở phương Bắc cũng có
rất nhiều Phật ngợi khen Đức Phật A Di
Đà. Phương Bắc có Phật Diệm Kiên, vị
Phật này phóng ra ánh sáng từ vai của
Ngài. Phật Tối Thắng Âm, tiếng nói của
vị Phật này rất thù thắng, có thể được
nghe khắp cả tam thiên đại thiên thế
giới. Bạn nói: "Tại sao tôi không nghe
được gì cả?" Đó là vì bạn chưa ở trong
tam thiên đại thiên thế giới của Ngài.
Bạn đang ở trong thế giới này thì phải
hòa đồng với thế giới này. Phật Nan Trở,
Trở tức là phá hoại, giáo pháp và công
đức của Đức Phật này không ai có thể phá
hoại được. Phật Nhật Sanh, nhật là chủ
các tinh tú, nuôi dưỡng vạn vật, Phật là
thầy của chúng sanh, khiến họ sanh trí
huệ. Phật Võng Minh, lưới châu báu, ánh
sáng của các hạt châu chiếu lẫn nhau,
biểu thị ánh sáng trên thân Phật rực rỡ
vô cùng. Giống như vậy hằng hà sa số chư
Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của mình,
hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cả
tam thiên đại thiên thế giới, nói những
lời thành thật này. Công đức vi diệu
không thể nghĩ bàn này là vô lượng vô
biên, cho nên chư Phật đều hộ niệm Kinh
này. Do đó Kinh này được chư Phật hộ
niệm, cho nên công đức của Kinh này
không thể nghĩ bàn.
Này Xá-lợi-phất, thế giới phương dưới có
Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh
Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng,
Phật Trì Pháp. Giống như vậy hằng hà sa
số chư Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của
mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm
khắp cả tam thiên đại thiên thế giới,
nói lời thành thật như vầy: "Chúng sanh
các ngươi phải tin vào công đức khen
ngợi không thể nghĩ bàn và Kinh được tất
cả chư Phật hộ niệm này".
Đức Phật đã nói bốn phương Đông, Tây,
Nam, Bắc, các Đức Phật ở đó đều khen
ngợi Phật A Di Đà rồi, lại bảo
Xá-lợi-phất: — thế giới phương dưới có
Phật Sư Tử, Đức Phật này thuyết pháp như
Sư Tử rống. Phật Danh Văn, tên Phật
trong ba đời đến đâu cũng được ca ngợi.
Phật Danh Quang, Đức Phật này chẳng
những tên Ngài vang lừng khắp cả tam
thiên đại thiên thế giới, mà ánh sáng
của Ngài cũng chiếu suốt cả ba đời. Phật
Đạt Ma, tức là Pháp Phật. Phật Pháp
Tràng, Đức Phật lấy Pháp làm bảo tràng.
Phật Trì Pháp, Đức Phật chuyên môn đem
pháp phổ độ chúng sanh, cũng có thể nói
bây giờ chúng ta chuyên môn niệm tụng,
tu trì Kinh A Di Đà, tương lai có thể
thành tựu Phật Trì Pháp. Cũng có thể
nói, hiện giờ quý vị tụng Kinh này, tức
là Phật Trì Pháp đấy. Mỗi vị đều ở cõi
nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng
dài trùm khắp cả tam thiên đại thiên thế
giới, nói lời thành thật như vầy: "Chúng
sanh các ngươi phải tin vào công đức
khen ngợi không thể nghĩ bàn và Kinh
được tất cả chư Phật đều hộ niệm này."
Này Xá-lợi-phất, ở thế giới phương trên
có Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật
Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại
Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm
Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa
Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật
Như Tu Di Sơn. Giống như vậy hằng hà sa
số chư Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của
mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm
khắp cả tam thiên đại thiên thế giới,
nói lời thành thật như vầy: "Chúng sanh
các ngươi phải tin vào công đức khen
ngợi không thể nghĩ bàn và Kinh được tất
cả chư Phật hộ niệm này".
Phật lại bảo ngài Xá-lợi-phất: — thế
giới phương trên có Phật Phạm Âm, thanh
âm của Đức Phật này thanh tịnh và rõ
ràng. Phật Tú Vương, Đức Phật này vào
thời quá khứ phát ra lời nguyện lớn và
có lực mạnh. Phật Hương Thượng, Giới
hương thanh tịnh đặng vô thượng diệu đế,
một khi đốt hương thì Đức Phật này liền
đến. Phật Hương Quang, Giới hương thanh
tịnh, tức phát ánh sáng trí huệ, hướng
về Đức Phật này dâng hương, Ngài bèn
phóng quang. Phật Đại Diệm Kiên, thế
giới phương Nam từng có Phật Đại Diệm
Kiên, ở thế giới này lại có Phật Đại
Diệm Kiên nữa, ánh sáng trên hai vai của
vị Phật này là biểu thị cho hai trí
Quyền và Thật. Phật Tạp Sắc Bảo Hoa
Nghiêm Thân, Đức Phật này dùng nhân hoa
vạn hạnh để trang nghiêm quả đức vô
thượng. Phật Ta La Thọ Vương, Ta La Thọ
là cây Bồ-đề. Ta-la dịch là kiên cố;
Vương có nghĩa là tự tại. Không có thứ
nước nào thấm được vào cây này, để ví
như Pháp thân của Phật không một vật nào
phá hủy được. Phật Bảo Hoa Đức, Bảo Hoa,
thanh tịnh mà sáng, biểu thị cho công
đức của Phật viên mãn thanh tịnh. Phật
Kiến Nhất Thiết Nghĩa, năm nhãn thấy
khắp, pháp nghĩa vô cùng. Phật Như Tu Di
Sơn, núi rất cao lớn, Phật rất cùng
khắp. Giống như như vậy hằng hà sa số
chư Phật, mỗi vị đều ở cõi nước của
mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm
khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói
lời thành thật như vầy: "Chúng sanh các
ngươi phải tin vào công đức khen ngợi
không thể nghĩ bàn và Kinh được tất cả
chư Phật hộ niệm này."
Này Xá-lợi-phất, ý ông nghĩ sao? Tại sao
gọi là "Kinh được tất cả chư Phật hộ
niệm"? Này Xá-lợi-phất, nếu có kẻ thiện
nam người thiện nữ nào nghe Kinh này mà
thọ trì, và nghe được danh hiệu của chư
Phật, thì những thiện nam thiện nữ ấy
đều được tất cả chư Phật hộ niệm cho và
đều được không thối chuyển nơi đạo Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cho nên
này Xá-lợi-phất, các ông hãy nên tin
nhận lời ta và lời chư Phật nói.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khen ngợi chư
Phật ở các phương đông, tây, nam, bắc,
trên, dưới rồi, lại bảo ngài
Xá-lợi-phất: "Theo ý ông thì Kinh này
sao gọi là Kinh được tất cả chư Phật hộ
niệm?" Xá-lợi-phất mở lớn mắt nhìn một
hồi, đáp không được. Đức Phật chờ độ năm
phút mới nói tiếp: "Ta nói cho ông biết,
này Xá-lợi-phất, giả như có người thiện
nam thiện nữ trì năm giới, tu thập
thiện, có thể tu trì niệm tụng Kinh A Di
Đà và không quên những danh hiệu của chư
Phật đã nói ở trên, thì những thiện nam
thiện nữ này cũng đều được chư Phật hộ
trì. Người ấy liền được ba thứ bất thối
là Trụ, Niệm, và Hạnh, lần lần đạt quả
vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì
thế này Xá-lợi-phất, các ông hãy nên tin
nhận những lời ta nói, mọi người đều
phải nên tin nhận lời ta nói và lời chư
Phật nói. Chúng ta thấy Phật thật là từ
bi quá mức! Chúng ta đều phải cảm động
đến rơi lệ khi nghe Phật nói: "Chúng
sanh các ngươi, bất luận là người lớn
trẻ nhỏ đều phải nên tin tưởng và tiếp
nhận lời ta nói với các ngươi."
Quý vị cũng nên tin nhận lời tôi đang
nói cho quý vị nghe đây mà không nên
sanh lòng nghi ngờ, không nên nói: "Tôi
không biết đạo lý mà vị pháp sư Trung
Quốc này nói có đúng không?" Quý vị hãy
nên tin những lời tôi nói. Quý vị chẳng
những phải tin lời của Phật Thích Ca
nói, cũng phải tin lời ngợi khen của chư
Phật. Kinh này là khen ngợi công đức
không thể nghĩ bàn và được tất cả chư
Phật hộ niệm. Cũng nên tin tôi hiện nói
đạo lý của Kinh này là chân thật không
giả dối, không phải lời gạt gẫm. Vì thế
quý vị đều nên phát nguyện sanh về cõi
nước Cực Lạc.
Này Xá-lợi-phất, nếu có người đã phát
nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện
muốn sanh về nước của Phật A Di Đà thì
những người đó đều được không thối
chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. — nước Phật kia, những người
này hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc
sẽ sanh. Cho nên này Xá-lợi-phất, các
thiện nam tử, thiện nữ nhơn, nếu ai có
lòng tin hãy nên phát nguyện sanh về cõi
nước kia.
Đức Phật Thích Ca lại kêu ngài
Xá-lợi-phất: "Giả sử có người đã phát
nguyện, đã phát nguyện trong quá khứ;
đang phát nguyện, hiện tại đang phát
nguyện; sẽ phát nguyện, chúng sanh vị
lai phải nên phát nguyện. Người đã phát
nguyện ở quá khứ đã sanh về thế giới Cực
Lạc; người đang phát nguyện, hiện tại
cũng đang sanh về thế giới Cực Lạc;
tương lai phát nguyện thì tương lai sẽ
sanh về thế giới Cực Lạc. Nhưng khi phát
nguyện trước phải có lòng tin. "Tín,
Nguyện, Hạnh" là ba món tư lương của
người tu theo pháp môn Tịnh độ. Thứ nhất
là phải tin có thế giới Cực Lạc, thứ hai
là phải tin có Đức Phật A Di Đà, thứ ba
là phải tin ta và Đức Phật A Di Đà nhất
định có nhân duyên lớn, ta nhất định sẽ
sanh về thế giới Cực Lạc. Có được ba
niềm tin này rồi mới có thể phát nguyện
sanh về thế giới Cực Lạc, vì thế nói là
"nguyện sanh về Tịnh độ ở phương Tây."
Phát nguyện sanh về Tây phương Tịnh độ,
chẳng phải có người ép buộc bảo ta đi,
hay xô đẩy ta đi đâu! Tuy Đức Phật A Di
Đà có thể tiếp dẫn ta, nhưng phải là ta
tự đi mới được. Do đó phải phát nguyện
thấy Phật A Di Đà, nguyện sanh về thế
giới Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, nguyện
sanh về thế giới Cực Lạc, thấy Phật nghe
Pháp. Nếu có thể phát nguyện như thế,
thì nhất định sẽ sanh về thế giới Cực
Lạc.
Nguyện rồi thì mới có thể hành được, mà
hành như thế nào? Chính là niệm Phật,
niệm "Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di
Đà Phật..." như cứu lửa cháy đầu, giống
như có người muốn chặt đầu ta, trộm đầu
ta vậy. Cũng giống như Đức Lục Tổ Đại sư
biết có người muốn đến lấy trộm đầu mình
sau khi ngài viên tịch, nên ngài dặn dò
đồ đệ hãy bảo hộ đầu ngài. Đồ đệ ngài
theo lời dặn, bèn dùng sắt bao đầu ngài
lại, nên người đến trộm muốn chặt cũng
chặt không đứt, vì đầu đã được bảo hộ
rồi. Huống chi hạng phàm phu chúng ta
khi còn sống lại không rấp rút "bảo hộ"
cái đầu của mình sao? Vì thế nói tu hành
chính là niệm Phật, niệm Phật chính là
tu hành. "Tín, Hạnh, Nguyện" chính là lộ
phí, tư lương vãng sanh về thế giới Cực
Lạc. Tư lương cũng chính là lộ phí, cũng
như bây giờ gọi là traveller checks.
Muốn làm một cuộc lữ hành đến thế giới
Cực Lạc, trước hết phải có chi phiếu.
Người muốn sanh về cõi nước của Phật A
Di Đà thì những người đó đều được bất
thối chuyển nơi A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam-bồ-đề. Nếu người muốn vãng sanh về
cõi nước Cực Lạc đều có thể được ba thứ
bất thối, tức là Vị bất thối, Niệm bất
thối và Hạnh bất thối; A-nậu-đa-la
Tam-miệu Tam-bồ-đề cũng chính là Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. — cõi nước
kia, là ở thế giới Cực Lạc. Hoặc đã
sanh, quá khứ đã phát nguyện, đã sanh về
thế giới Cực Lạc; hoặc đang sanh, hiện
tại phát nguyện, hiện tại đang sanh về
thế giới Cực Lạc; hoặc sẽ sanh, tương
lai phát nguyện, cũng nhất đinh sẽ sanh
về thế giới Cực Lạc. Cho nên này
Xá-lợi-phất, vì lý do ấy, nên này
Xá-lợi-phất, các hàng thiện nam thiện
nữ, cho nên tất cả thiện nam thiện nữ,
nếu ai có lòng tin phải nên phát nguyện,
giả như có những người tin theo lời nói
của ta thì phải nên phát nguyện. Đây là
lời quyết định, không nên chần chờ một
chút nào. Nhứt định mình phải phát
nguyện. Phát nguyện thì có thể sanh về
cõi nước kia, sanh về thế giới Cực Lạc.
Này Xá-lợi-phất, như ta hôm nay khen
ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư
Phật, các Đức Phật kia cũng khen ngợi
công đức không thể nghĩ bàn của ta và
nói như thế này: "Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni đã làm được những việc khó làm và ít
có; ở trong cõi nước Ta-bà, trong đời ác
năm trược: Kiếp trược, Kiến trược, Phiền
não trược, Chúng sanh trược, Mạng trược
được quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
Ngài giảng cho các chúng sanh nghe pháp
tất cả thế gian khó tin này".
Này Xá-lợi-phất, nên biết ta ở đời ác
năm trược làm việc khó làm này, được quả
A-nậu-đa-la tam-miệu Tam-bồ-đề, nói cho
tất cả thế gian pháp khó tin này, thật
là rất khó. Phật nói Kinh này rồi, ngài
Xá-lợi-phất và các Tỳ-kheo, tất cả
người, trời, A-tu-la... ở thế gian nghe
Phật nói rồi đều hoan hỷ tin nhận, lễ
Phật mà lui ra.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại bảo thêm
ngài Xá-lợi-phất: "Ta lại cho ông biết
một tin hay này; như ta hôm nay giống
như ta bây giờ đang khen ngợi công đức
không thể nghĩ bàn của bộ Kinh này, chư
Phật ở sáu phương cũng khen ngợi công
đức không thể nghĩ bàn của bộ Kinh này;
hơn nữa không phải chỉ riêng ta khen
ngợi chư Phật, mà Chư Phật cũng lại khen
ngợi công đức không thể nghĩ bàn của ta
nữa. Các Ngài nói: "Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni làm được những việc rất khó, ít
có." Ngài thật là cao cả, Ngài thật là
hiếm có, làm được những việc mà người ta
không làm nổi, những việc khó khăn, ít
có trên đời Ngài đều có thể làm được.
Người đã nghe Kinh đều biết ý nghĩa của
Thích Ca Mâu Ni; Thích Ca là Năng nhơn,
Mâu Ni là Tịch mặc. Năng nhơn là giáo
hóa tất cả chúng sanh. Tịch mặc là hồi
quang phản chiếu tu một thứ định. Năng
nhơn là động, Tịch mặc là tịnh, thường
động thường tịnh, động tịnh không hai,
đó gọi là tùy duyên bất biến, bất biến
tùy duyên, đã tùy duyên mà lại bất biến,
đã bất biến mà lại tùy duyên. Ngài là
"Vô vi mà vô bất vi, vô tác mà vô bất
tác", vì thế Phật Thích Ca Mâu Ni là
không thể nghĩ bàn. Không thể nghĩ bàn ở
chỗ nào? - Ngài hay ở cõi Ta-bà, Ta-bà
là tiếng Phạn, dịch là Kham nhẫn. Kham
năng nhẫn thọ được điều gì? Kham năng
nhẫn thọ được những điều đau khổ. Bởi vì
ở thế giới Ta-bà chỉ có khổ mà không có
vui, nhưng chúng sanh ở thế giới này có
tánh nhẫn nại rất to lớn, có thể nhẫn
nại được các nỗi khổ ấy, ở cảnh giới khổ
mà không biết là khổ, vì thế nên gọi thế
giới Ta-bà là đời ác năm trược. Thế giới
Ta-bà có năm thứ trược, ác thế thì rất
xấu, mà Phật đã thành Phật được, tại sao
chúng ta không thể thành Phật được ư?
Nhân vì chúng ta bị đời ác ngũ trược này
vây hãm. Ngũ trược này giống như bùn
vậy, chúng ta rút chân này lên thì chân
kia bị lún xuống, rốt cuộc không có cách
nào rút chân ra khỏi đời ác ngũ trược
được. Nhưng Đức Phật Thích Ca rất có bản
lãnh, rất có thần thông, Ngài có thể bảo
ta nhảy một cái là ra khỏi ngay. Do nhảy
một cái mà được ra khỏi nên có câu:
"Trong một sát-na lìa ngũ trược", trong
một sát-na mà lìa được năm trược ác thế.
Sao gọi là ngũ trược?
1. Kiếp trược: Đó là thời gian ô trược.
Sự ô trược thời gian do đâu mà có? Thời
gian ấy, bốn trược kia càng ngày càng
thêm, càng ngày càng dữ dội và lấy sự
gia tăng của bốn trược kia làm bản thể
của nó. Phải có sự giúp đỡ của bốn
trược: Kiến trược, Phiền não trược,
Chúng sanh trược, Mạng trược mới có thể
biến thành Kiếp trược được. Cho nên Kiếp
trược lấy sự gia tăng của bốn trược kia
làm bản thể hừng hực mãi không ngừng làm
tướng của nó, như lửa càng cháy càng
bùng lên là tướng của nó.
2. Kiến trược: lấy năm lợi sử làm bản
thể của nó. Năm lợi sử là: Thân kiến,
Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ và Giới cấm
thủ. Kiến trược này lấy sự hiểu biết lầm
lạc về sáu giác tri làm tướng, xưa nay
là đạo lý đúng thật nhưng nó lại tưởng
là thiên lệch thành ra tà tri tà kiến,
ấy gọi là biết lầm về sáu giác tri.
3. Phiền não trược: lấy năm độn sử làm
bản thể của nó. Năm độn sử là: Tham,
Sân, Si, Mạn, Nghi, lấy phiền não bức
bách làm tướng.
4. Chúng sanh trược: Thứ trược này lấy
ba duyên hòa hợp làm tự thể. Ba duyên là
duyên cha, duyên mẹ và nghiệp duyên của
chính mình. Lấy sự luân hồi không dứt
làm tướng, có ba duyên hòa hợp rồi mới
luân hồi không dứt, lặn đầu này trồi đầu
kia, đời này họ Trương, đời sau họ Lý,
hoặc đời này làm Tỳ-kheo-ni, đời sau làm
Tỳ-kheo, rồi đời sau nữa làm Tỳ-kheo-ni
nữa. Sau Tỳ-kheo-ni lại làm Tỳ-kheo nữa,
thật là kỳ diệu biết bao! Như thế chuyển
tới chuyển lui luân hồi không dứt.
5. Mạng trược: Mạng là sức nóng, hơi thở
và thức. Lại có thuyết là tuổi thọ, sức
nóng và thức làm thể, lấy sự rút mất
tuổi thọ làm tướng. Từ nhỏ tới lớn, từ
lớn tới già, từ già tới chết, đó là
tướng của mạng.
Trên đây là Kiếp trược, Kiến trược,
Phiền não trược, Chúng sanh trược, Mạng
trược mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ở
trong đời ác ngũ trược chứng được quả
A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, được quả
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nói cho
các chúng sanh nghe pháp tất cả thế gian
khó tin này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
chính mình đã biết rõ, nói thứ pháp này
là pháp rất ít người có thể tin được.
Này Xá-lợi-phất, nên biết rằng; Này
Xá-lợi-phất! Ông nên biết rằng: Ta ở đời
ác năm trược làm việc khó làm này, được
quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nói
cho tất cả thế gian pháp khó tin này,
thật là rất khó. Ta ở trong đời ác ngũ
trược chứng quả Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, nói cho tất cả thế gian nghe
thứ Phật pháp rất khó tin này. Thật là
việc hết sức khó khăn. Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni nói như thế, nhưng tôi (lời của
Hòa Thượng) lại nói là rất dễ dàng. Tại
sao thế? Chỉ cần niệm một câu Nam mô A
Di Đà Phật, cho nên rất là dễ dàng, đã
không tốn tiền lại không tốn sức, tốn
thời gian, vì thế tôi nói pháp môn này
là một pháp môn dễ dàng quá sức.
Phật nói Kinh này rồi. Phật Thích Ca Mâu
Ni nói bộ Kinh A Di Đà này rồi, ngài Đại
trí Xá-lợi-phất và các Tỳ-kheo, cùng tất
cả người, trời, A-tu-la... A-tu-la này
bao gồm các trời rồng tám bộ:
Khẩn-na-la, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la
v.v... nghe Phật nói, nghe những lời
Phật nói, đều hoan hỷ tin nhận, lễ Phật
mà lui ra. Những người ấy đều vui sướng
vô cùng, cúi đầu đảnh lễ tạ ơn Phật đã
nói Kinh này để cứu độ chúng sanh. Quý
vị xem! Các vị A-la-hán ấy đến cúi đầu
đảnh lễ Phật để tạ ơn. Quý vị bây giờ
nghe được giáo pháp này, đều là do ngày
xưa có căn lành lớn, có nhơn duyên lớn
với Phật A Di Đà nên mới có thể nghe
được Kinh A Di Đà và niệm Phật A Di Đà
vậy.
-----ooOoo-----