|
3. Tông thú
của kinh này
Ðiều được kinh đề cao gọi là Tông. Tông là trọng
yếu, là tông chỉ của toàn bộ kinh. Tông lại là
đường trọng yếu để tu hành. Vì vậy, Tông là
cương lãnh của toàn bản kinh. Lưới (cương) được
giở lên thì mắt lưới trương ra. Nắm cổ áo (lãnh)
thì thân áo xuôi theo. Vì vậy sau khi phán định
thể, trước hết phải xác định Tông.
Thể là lý, Tông là hạnh. Thể là cái thể để Tông
nương vào. Tông là cái Tông để hiển thị cái thể.
Ngoài ra, tông và thể là hai mặt hỗ tương. Tông
là hạnh trọng yếu để lãnh hội thể nên phải đề
cao.
Sớ giải Tâm kinh của ngài Hương Tượng giảng:
‘Ðiểm được coi trọng là Tông, chỗ quy hướng của
tông thì gọi là Thú’. Ngài Khuê Phong đại sư
viết trong sách Viên Giác Lược Sớ rằng: ‘Thú
có nghĩa là hướng đến, tức là chỗ quy hướng của
tâm ý thức’.
Ðủ biết: thú là quy thú (hướng đến, quay
về). Vì vậy, dựa vào tông chỉ của kinh để tỏ rõ
việc làm, biết điều mong cầu, thấu đáo tột cùng
chỗ kinh đạt đến thì gọi là Thú vậy.
Từ xưa đã có nhiều thuyết bàn về tông thú của
bản dịch kinh Vô Lượng Thọ đời Ngụy.
Bản sớ giải của ngài Gia Tường Cát Tạng viết: ‘Tông
chỉ của kinh này thường có hai thuyết: một là Di
Ðà tu nhân cảm quả Tịnh Ðộ. Hai là khuyến vật
(chỉ cho chúng sanh) tu nhân, vãng sanh cõi
kia’.
Ngài Hải Ðông Nguyên Hiểu viết trong sách Tông
Yếu rằng: ‘Kinh này đúng là dùng nhân quả
Tịnh Ðộ làm tông thể, lấy nhiếp chúng sanh vãng
sanh làm ý chí’.
Ðàm Loan pháp sư bảo: ‘Lấy danh hiệu Phật làm
thể của kinh’.
Ngài Thiện Ðạo nói: ‘Niệm Phật tam muội là
tông, nhất tâm hồi nguyện vãng sanh Tịnh Ðộ là
thể’ (thể ở đây chỉ cho thú).
Bộ Hợp Tán của thầy Thích Quán Triệt người Nhật
viết: ‘Kinh này: niệm Phật là tông, vãng sanh
là thể. Kinh này tôn trọng niệm Phật nên lấy
niệm Phật làm tông, chỗ quy thú của tông là cốt
được vãng sanh nên lấy vãng sanh làm thể’.
Tịnh tông coi kinh Vô Lượng Thọ là Ðại kinh,
kinh A Di Ðà là Tiểu kinh vì hai kinh này chỉ
rộng, lược sai khác. Do vậy, trong Sớ Sao, ngài
Liên Trì gọi Ðại kinh là Ðại Bổn, tiểu kinh là
Tiểu Bổn, vì thật ra hai kinh chỉ là cùng một
kinh.
Tông thú của kinh A Di Ðà cũng có nhiều thuyết,
ở đây chỉ chọn lấy những thuyết quan trọng.
Sách Sớ Sao cho rằng: ‘Y, chánh thanh tịnh,
tín nguyện vãng sanh là tông thú’.
Sách Viên Trung Sao bảo: ‘Dùng tín, nguyện,
tịnh nghiệp làm tông trí của kinh’.
Sách Di Ðà Yếu Giải cho rằng: ‘Dùng tín
nguyện trì danh làm tông’.
Tổng hợp những ý kiến về tông thú hai kinh Ðại,
Tiểu nói trên của các vị trong nước và hải
ngoại, ta thấy tất cả đều lấy tín nguyện trì
danh, vãng sanh Tịnh Ðộ làm gốc. Tham khảo khắp
ý kiến các vị đã chú giải kinh cũng như căn cứ
trên kinh văn kinh này, tôi minh xác tông thú
kinh này như sau:
Kinh này dùng phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng
chuyên niệm làm Tông; sanh trọn vẹn bốn cõi Tịnh
Ðộ, chóng lên địa vị bất thối làm Thú.
3.1 Giảng về Tông
Người vãng sanh trong ba bậc thượng trung hạ nói
trong phẩm Ba Bậc Vãng Sanh kinh này, ai chẳng
lấy phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm làm
nhân. Hơn nữa, nguyện thứ mười chín của Phật Di
Ðà là:
‘Nghe danh hiệu ta, phát Bồ Ðề tâm, tu
các công đức, phụng hành sáu ba la mật kiên cố
chẳng thối. Lại đem thiện căn hồi hướng
nguyện sanh cõi ta, nhất tâm niệm ta ngày đêm
chẳng dứt. Lúc lâm chung, ta cùng các Bồ Tát
hiện đến đón trước mặt, trong khoảnh khắc liền
sanh cõi ta làm Bồ Tát a duy việt trí’.
Nguyện thứ mười tám: ‘Nghe danh hiệu ta chí
tâm tin ưa, bao nhiêu thiện căn, tâm tâm hồi
hướng nguyện sanh cõi ta, nhẫn đến mười niệm,
nếu chẳng sanh về chẳng lấy Chánh Giác.
Chỉ trừ kẻ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp’
Rõ ràng: nguyện thứ mười chín chú trọng phát Bồ
Ðề tâm, một lòng niệm Phật. Nguyện 18 nhấn mạnh
‘chí tâm tin ưa, nhất hướng chuyên niệm’. Vì
vậy, ta biết rằng ‘phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng
chuyên niệm’ là tâm tủy của bổn nguyện Phật
Di Ðà, là tông yếu của toàn bộ Ðại kinh, là
chánh nhân ắt đủ để vãng sanh, là thuyền từ
phương tiện độ sanh. Ðiều được Ðại kinh tôn sùng
hoàn toàn là điểm này. Ðường trọng yếu tu hành
chỉ có điểm này là thiết yếu, nên nó là tông của
Ðại kinh vậy.
Ðàm Loan pháp sư viết trong Vãng Sanh Luận chú
rằng:
‘Ba bậc vãng sanh trong kinh Vô Lượng Thọ tuy
hạnh có ưu, liệt, nhưng không ai chẳng phát tâm
Bồ Ðề vô thượng. Tâm Bồ Ðề vô thượng này
chính là tâm nguyện thành Phật, chính là tâm độ
chúng sanh. Tâm độ chúng sanh chính là tâm nhiếp
thủ chúng sanh sanh về cõi có Phật.
Vì vậy, nguyện sanh cõi An Lạc Tịnh Ðộ thì
cần phải phát tâm Bồ Ðề vô thượng. Nếu ai chẳng
phát tâm Bồ Ðề vô thượng, chỉ nghe cõi kia hưởng
vui không gián đoạn, do vui thích mà nguyện sanh
thì cũng chẳng được vãng sanh’.
An Lạc Tập viết:
‘Theo Tịnh Ðộ Luận của ngài Thiên Thân, phàm
muốn phát tâm lãnh hội Vô Thượng Bồ Ðề thì có
hai nghĩa:
Một là trước hết phải rời bỏ ba pháp trái
nghịch Bồ Ðề môn, hai là cần biết ba pháp thuận
Bồ Ðề môn.
Những gì là ba?
Một là nương theo trí huệ môn: chẳng cầu tự
mình vui vì xa lìa ngã tâm tham trước tự thân.
Hai là nương từ bi môn: dẹp hết thảy
khổ cho chúng sanh vì xa lìa tâm khiến chúng
sanh chẳng an vui.
Ba là phương tiện môn: tâm xót thương hết
thảy chúng sanh vì xa lìa tâm cung kính, cúng
dường tự thân. Ấy gọi là xa lìa ba pháp trái
nghịch Bồ Ðề tâm.
Thuận Bồ Ðề môn là Bồ Tát xa lìa ba pháp trái
nghịch Bồ Ðề môn như trên liền được ba pháp tùy
thuận Bồ Ðề môn. Những gì là ba?
Một là tâm vô nhiễm thanh tịnh chẳng vì thân
mình cầu an vui. Bồ Ðề là chốn thanh tịnh vô
nhiễm, nếu vì tự thân cầu vui là trái với Bồ Ðề
môn. Vì vậy tâm vô nhiễm thanh tịnh là thuận Bồ
Ðề môn.
Hai là tâm an thanh tịnh vì dẹp khổ cho
hết thảy chúng sanh.
Ba là tâm vui thanh tịnh, muốn cho hết thảy
chúng sanh được đại Bồ Ðề vậy, vì nhiếp thủ
chúng sanh sanh cõi kia vậy. Bồ Ðề là chỗ thường
vui rốt ráo, nếu chẳng làm cho hết thảy
chúng sanh được cái thường vui rốt ráo thì trái
nghịch Bồ Ðề môn.
Cái thường vui rốt ráo ấy dựa vào đâu để có
được? Cần phải dựa vào đại nghĩa môn. Ðại nghĩa
môn là cõi nước An Lạc kia vậy. Thế nên,
phải khiến họ nhất tâm chuyên chí nguyện sanh
cõi kia, muốn cho họ chóng hiểu được vô thượng
Bồ Ðề’.
Ngài Hải Ðông Nguyên Hiểu lại viết trong bộ Tông
Yếu rằng: ‘Phát Bồ Ðề tâm chính là chánh
nhân’. Ngài lại bảo: Phát Bồ Ðề tâm có hai
loại:
a. Một là theo sự phát tâm:
‘Phiền não vô biên nguyện đều đoạn hết, thiện
pháp vô lượng nguyện đều tu hết, chúng sanh vô
biên nguyện đều độ cả. Quả báo của tâm ấy tuy là
Bồ Ðề mà hoa báo của nó là Tịnh Ðộ. Vì sao thế?
Bồ Ðề tâm lượng rộng lớn vô biên, xa rộng vô
hạn nên cảm được y báo Tịnh Ðộ rộng lớn không
ngằn mé, chánh báo thọ mạng lâu dài vô lượng.
Ngoại trừ Bồ Ðề tâm, không có gì làm được như
thế cả’.
b. Hai là thuận lý phát tâm: ‘Tin hiểu các
pháp đều như huyễn mộng, chẳng phải có, chẳng
phải không, dứt ngôn ngữ, bặt suy nghĩ. Tin
hiểu như vậy, phát tâm rộng lớn, tuy chẳng
thấy có phiền não, pháp lành mà chẳng bài bác là
không có gì để tu để đoạn’.
Vì vậy, tuy nguyện đoạn hết, tu hết mà chẳng
trái nghịch Vô Nguyện tam muội. Tuy nguyện độ
hết vô lượng hữu tình mà chẳng có người hóa độ,
kẻ được độ. Do vậy, có thể tùy thuận Không, Vô
Tướng như kinh dạy:
‘Diệt độ vô lượng chúng sanh như vậy, nhưng
thật chẳng có chúng sanh được diệt độ. Phát tâm
như vậy công đức vô biên, dẫu cho chư Phật trọn
kiếp diễn nói công đức người ấy còn chẳng nói
hết nổi’.
Quán kinh còn dạy: ‘Muốn sanh cõi kia nên tu
ba phước.... Ba là phát Bồ Ðề tâm, tin
sâu nhân quả, đọc tụng đại thừa, khuyến khích
hành giả’. Lại dạy: ‘Nếu có chúng sanh
nguyện sanh cõi kia, phát ba tâm liền được vãng
sanh. Những gì là ba? Một là tâm chí thành, hai
là thâm tâm, ba là hồi hướng phát nguyện tâm.
Ðủ ba tâm thì ắt sanh cõi kia’. Phát ba
tâm này cũng chính là phát Bồ Ðề tâm.
Hơn nữa, Mật tông chú trọng nhất là phát đại Bồ
Ðề tâm. Giáo điển Bồ Ðề Tâm Nghĩa dạy: ‘Bồ Ðề
tâm là cái gốc để thành Phật. Ðại sự nhân duyên
không điều nào hơn được nó’.
Sách Bồ Ðề Tâm Luận lại giảng: ‘Bồ Ðề tâm này
hàm chứa pháp công đức của hết thảy chư Phật.
Nếu tu chứng xuất hiện thì làm đạo sư của hết
thảy. Nếu quay về gốc thì là cõi Mật Nghiêm,
chẳng đứng dậy khỏi tòa mà thành tựu được hết
thảy Phật sự’.
Lại khen ngợi Bồ Ðề tâm như sau: ‘Nếu ai cầu
Phật huệ thông đạt Bồ Ðề tâm thì ngay nơi thân
do cha mẹ sanh ra mau chứng địa vị Ðại Giác’.
Thêm nữa, vua của các kinh là kinh Hoa Nghiêm
dạy: ‘Quên mất Bồ Ðề tâm tu các pháp lành thì
là ma nghiệp’. Phát tâm quan trọng chẳng thể
ví dụ nổi.
Các vị như sư Nguyên Hiểu lấy phát Bồ Ðề tâm làm
chánh nhân, niệm Phật làm trợ nhân. Các vị như
Thiện Ðạo, Linh Chi của Trung Hoa và các sư Tịnh
tông người Nhật cho Trì Danh là chánh hạnh, phát
tâm là trợ hạnh. Hai thuyết nghịch nhau. Liên
Trì đại sư nói một cách dung hội trong Sớ Sao
rằng: ‘Ðã dùngTrì Danh làm chánh hạnh, lại
lấy Trì Danh làm phát Bồ Ðề tâm thì hòa hội được
ý kiến của cả hai phái’.
Tôi nay đề xướng ‘phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng
chuyên niệm’ là tông của kinh này, thật là
gộp trọn ý kiến cả hai phái, lại còn quy nhiếp
về trì danh, thật phù hợp với ý tổ Liên Trì.
Vả lại, tám chữ trên, nói rộng thì chính như ý
kiến của thiền sư Triệt Ngộ: ‘Thật vì sanh tử
phát Bồ Ðề tâm, dùng thâm tín nguyện trì danh
hiệu Phật’. Nói gọn thì như đại sư Ngẫu Ích
đề xướng: ‘Tín nguyện trì danh’.
Sách Di Ðà Yếu Giải lấy tín nguyện trì danh làm
tông, lại còn viết:
‘Tín nguyện trì danh là yếu chỉ của cả bộ
kinh. Tín nguyện là huệ hạnh, trì danh là hành
hạnh. Ðược vãng sanh hay không toàn là ở chỗ có
tín nguyện hay không. Phẩm vị cao hay
thấp toàn do trì danh sâu hay cạn. Vì thế, huệ
hạnh để dẫn đường, hành hạnh là chánh tu như mắt
và chân liên quan với nhau’.
Lại còn viết:
‘Tin sâu phát nguyện chính là vô thượng Bồ
Ðề. Hợp tín nguyện ấy lại thì đích thật là chỉ
nam của Tịnh Ðộ. Do vậy, chấp trì danh hiệu là
chánh hạnh... Kinh Ðại A Di Ðà cũng lấy phát Bồ
Ðề nguyện làm trọng yếu thật tương đồng với kinh
này’.
Rõ ràng: ‘tín nguyện trì danh’ và ‘phát Bồ Ðề
tâm, nhất hướng chuyên niệm’ đúng là cùng một
tông chỉ. Ðại sư Ngẫu Ích lấy ‘tín nguyện trì
danh’ làm tông cho kinh Tiểu Bổn thì tông chỉ
của hai bổn Ðại, Tiểu phải giống nhau. Vì vậy,
bảo ‘phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm’ là
tông của kinh Ðại Bổn thật đúng là tuân phụng
lời dạy của đại sư Ngẫu Ích.
Chữ Hướng trong ‘Nhất hướng chuyên niệm’ có
nhiều nghĩa:
- ngả theo một hướng mà tiến tới
- lệch hẳn về một phía
- một vị
- gộp chung lại
- một khoảng thời gian
Do vậy, ‘nhất hướng chuyên niệm A Di Ðà Phật’ có
nghĩa là chuyên nương theo pháp môn Trì Danh
Niệm Phật này. ‘Nhất hướng chuyên niệm’ vốn là
chữ lấy trong nguyện thứ mười tám: mười niệm ắt
sanh. Di Ðà trong lúc tu nhân phát ra đại nguyện
‘mười niệm ắt vãng sanh’ nên hành nhân phát Bồ
Ðề tâm nhất hướng chuyên niệm ắt được vãng sanh
Tịnh Ðộ, chứng trọn vẹn diệu quả bất thối.
Người vãng sanh bậc thượng, bậc trung, bậc hạ
trong kinh đều do phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng
chuyên niệm A Di Ðà Phật mà vãng sanh Tịnh Ðộ
Cực Lạc. Ấy là do giác ngộ là quả, tâm làm nhân,
phương tiện rốt ráo phơi bày trọn vẹn nguyện hải
nhất thừa của Di Ðà, sáu chữ hồng danh oai thần
công đức chẳng thể nghĩ bàn.
Hơn nữa, ‘nhất hướng chuyên niệm’ là như cổ đức
dạy: ‘Thượng thì tận hình thọ, hạ thì mười
niệm’. Thượng tận hình thọ là từ ngày phát
tâm niệm Phật trở đi, chung thân niệm Phật thẳng
đến một niệm tối hậu lúc lâm chung. Ðấy là bậc
thượng. Còn bậc hạ chưa làm nổi như vậy, hoặc
bởi chướng nặng, hoặc do bận rộn chẳng rảnh niệm
nhiều thì mỗi ngày hành pháp Thập Niệm cũng là
‘nhất hướng chuyên niệm’. Còn bét nhất như trong
Quán kinh nói: kẻ ngũ nghịch, thập ác lúc mạng
sắp dứt, được nghe thánh giáo, chí tâm hối cải,
mười niệm xưng danh cũng được vãng sanh, nên
nói: mười niệm ắt sanh.
Hành giả nên biết: nhất hướng chuyên niệm là từ
lúc bắt đầu phát tâm niệm Phật cho đến một niệm
tối hậu, mà niệm quan trọng khẩn thiết nhất là
niệm tối hậu. Như kẻ ác nghịch vừa nói trên đây,
niệm Phật mười tiếng thì tiếng thứ nhất là sơ
niệm, tiếng thứ mười là niệm cuối cùng, cũng là
thẳng từ sơ phát tâm cho đến chết đều trì danh.
Do vậy, phù hợp với tông chỉ nhất hướng chuyên
niệm.
Trái lại, như có kẻ niệm Phật mấy mươi năm nếu
lúc tối hậu bỏ lửng, khinh thị Trì Danh, đổi qua
tu pháp khác, hoặc lúc lâm chung chẳng ưa Cực
Lạc, luyến tiếc thế gian, chưa niệm Phật nổi thì
chẳng gọi là nhất hướng chuyên niệm!
Nếu như ngờ rằng niệm Phật sao lại có công đức
như thế, nên biết: do năng niệm, sở niệm đều là
Thật Tướng vậy. Sách Di Ðà Yếu Giải giảng:
‘Quang theo chiều ngang chiếu khắp mười
phương. Thọ là theo chiều dọc khắp cả ba đời.
Ngang dọc hỗ tương đều là pháp giới thể. Ðem
cả cái thể ấy làm thành thân và cõi của Phật Di
Ðà, cũng đem cả cái thể ấy làm thành danh hiệu
Di Ðà. Vì vậy, danh hiệu Di Ðà chính là bổn giác
lý tánh của chúng sanh. Trì danh là Bổn
Giác hợp với Thỉ Giác. Thỉ, Bổn chẳng hai, chúng
sanh và Phật chẳng hai, nên một niệm tương ứng
đức Phật của một niệm. Niệm niệm tương
ứng với đức Phật trong niệm niệm’.
Do đoạn trên thấy được rằng: danh hiệu Di Ðà là
pháp giới thể nên công đức của danh hiệu chẳng
thể nghĩ bàn. Lại nữa, danh hiệu tức là bổn giác
lý tánh của chúng sanh. Khởi tâm niệm Phật là
Thỉ Giác. Ðức Phật đang được mình niệm đây
chính là Bổn Giác của ta. Do vậy, ta nói trì
danh chính là Bổn Giác hợp với Thỉ Giác. Bởi
vậy, niệm niệm tương ưng mà niệm niệm chính là
Phật thì rõ ràng công đức trì danh chẳng thể
nghĩ bàn.
Hơn nữa, theo Mật Ðiển, công đức của chỉ mình
chữ A trong sáu chữ hồng danh đã là vô lượng.
Ðại sư Hưng Giáo người Nhật giảng:
‘Từ chữ A lưu xuất hết thảy đà ra ni, từ hết
thảy đà ra ni sanh ra hết thảy Phật’.
Còn bảo: ‘Chơn ngôn chữ A là tâm của mười
phương Phật. Pháp thân chư Phật cùng gia trì’
và:
‘Tỳ Lô Xá Na dùng chữ A này làm tạng bí mật’.
Lại còn nói:
‘Ba thân chỉ nói một pháp chữ A, các kinh
rộng khen công đức của pháp này. Nghe tên thoảng
qua tai, các tội băng tiêu. Xướng âm, thấy mặt
chữ, vạn đức như mây nhóm. Xem sơ qua mà tin thì
dạo thẳng Tịnh Ðộ, tu sâu viên trí, chứng Phật
đạo ngay hiện tại’.
Công đức của chữ A đã như thế, huống hồ là công
đức của toàn danh hiệu Phật. Một câu Phật hiệu
đây hạ thủ thật dễ, chẳng luận nam nữ trẻ già,
chẳng biết ngu trí, rảnh, bận, ai cũng niệm
được, kẻ nào cũng hành được.
Danh chiêu vạn đức, cảm ứng mầu nhiệm khó nghĩ
nổi. Từ hữu niệm khéo nhập vô niệm, ngay nơi tâm
phàm nhanh chóng hiển lộ quả đức, đúng như Sớ
Sao viết: ‘Ngang với chư thánh trong một lời,
vượt ba a tăng kỳ kiếp trong một niệm’.
Cực viên, cực đốn, quá sức giản dị, nên biết
‘phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm’ chẳng
chỉ là cương tông của kinh mà thật còn là chỉ
quy của cả Ðại Tạng giáo.
3.2 Giảng về Thú
Chỗ quy hướng của tông gọi là Thú. Chỗ thú
hướng của ‘phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên
niệm’ là vãng sanh Cực Lạc Tịnh Ðộ, chứng ba thứ
bất thối. Vì vậy, kinh này lấy sanh trọn vẹn
bốn cõi Tịnh Ðộ, chóng lên địa vị bất thối làm
Thú.
Tịnh Ðộ có bốn cõi: Phàm Thánh Ðồng Cư, Phương
Tiện Hữu Dư, Thật Báo Trang Nghiêm và Thường
Tịch Quang. Dưới đây sẽ giải thích sơ lược về
tướng trạng vãng sanh bốn cõi.
* Cõi Phàm Thánh Ðồng Cư:
Cõi Phàm Thánh Ðồng Cư của thế giới Cực Lạc là
đồng cư Tịnh Ðộ. Thế giới Sa Bà ta đang ở đây
cũng là cõi Phàm Thánh Ðồng Cư. Cõi này cũng có
phàm, có thánh như Văn Thù thường hiện Ngũ Ðài,
các A La Hán thường trụ Thiên Mục hoặc Nhạn
Ðãng. Họ đều là bậc thánh cõi này, nhưng cõi
đồng cư chúng ta đang ở là đồng cư uế độ. Vì
vậy, tuy cùng mang tên đồng cư mà thật ra chẳng
giống nhau.
Sách Yếu Giải giảng về cõi Ðồng Cư nơi đây như
sau:
‘Do thật thánh (chỉ cho ba thánh quả Tiểu
thừa) quá khứ có lậu nghiệp, quyền thánh
(đại quyền thị hiện Bồ Tát) đại từ bi nguyện,
nên phàm phu được ở chung với thánh nhân.
Ðến khi thật thánh nát thân (niết bàn),
cơ ứng hóa của quyền thánh hết (cơ duyên hóa
độ đã hết) liền thăng, trầm khác xa, khổ, vui
khác biệt vời vợi. Tuy là tạm giống, rốt cuộc
không giống.
Lại nữa, trong vòng trời đất ít kẻ được thấy
nghe. Nếu may mắn được gặp gỡ thì ít kẻ chịu
thân cận, học hỏi. Hơn nữa, khi Phật tại thế
thánh nhân dẫu đông, như của quý, như điềm lành,
nhưng chẳng thể trọn khắp các cõi nước như các
ngôi sao, như bụi trần. Vả lại, tuy đồng cư
mà việc làm, thành tựu trọn chẳng giống nhau’.
Theo lời giải thích của sách Yếu Giải, cõi Phàm
Thánh Ðồng Cư của thế giới này kém Cực Lạc ở bốn
điểm:
a. Tạm đồng: cõi này, ba quả vị đầu của
tiểu thừa chứng A La Hán xong liền nhập tịch
diệt. Cơ độ sanh của Ðại Quyền Bồ Tát đã hết thì
liền chẳng thị hiện nữa. Do đó, phàm phu cõi này
chỉ là tạm thời đồng cư, chẳng phải là rốt ráo.
Còn đồng cư Tịnh Ðộ lại có thể cùng các Ðại Bồ
Tát hội chung một chỗ cho đến khi thành Phật.
b. Khó gặp: Tuy có thánh giả hiện sống
trong cõi này nhưng chẳng dễ gặp gỡ, thân cận.
Còn ở Cực Lạc đều như thầy, như bạn, sáng, chiều
cùng ở.
c. Hiếm hoi: Thánh giả như của quý, như
điềm lành, hy hữu khó gặp, còn Cực Lạc thì
‘có nhiều nhất sanh bổ xứ, số ấy rất nhiều chẳng
thể dùng toán số để biết nổi, chỉ có thể nói là
vô lượng vô biên a tăng kỳ’.
d. Việc làm chẳng đồng: Trong cõi này,
thánh giả đều ở cảnh thánh, còn chúng sanh luân
hồi sáu nẻo, thăng trầm vô định. Phàm thánh tuy
cùng ở cõi này mà việc làm và thành tựu khác hẳn
nhau. Ở Cực Lạc, cùng hết vô minh, cùng lên Diệu
Giác, nên biết là đồng cư nơi Tịnh Ðộ vượt xa
đồng cư cõi này vô lượng vô biên.
Hơn nữa, phàm ở cõi này gồm cả ba ác đạo: địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh, còn đồng cư cõi kia
‘chẳng còn có cái tên ác đạo, nữa là thật có!’
Ðược vãng sanh, chẳng rớt vào ba ác đạo nữa,
vĩnh viễn lìa nẻo ác, chẳng như chúng sanh cõi
này trong biển sanh tử, thoạt vào thoạt ra,
thoạt chìm, thoạt nổi, xoay vần trong ác đạo,
hướng đến cái khổ đã lâu.
Về mặt thăng tấn thì như Yếu Giải nói: ‘Nên
biết đại sự nhân duyên của bọn ta: một ải đồng
cư thật khó thoát qua nhất’. Ấy là vì phàm
phu cõi đồng cư này phải đoạn hai hoặc: kiến, tư
mới đắc lậu tận thông, mới vượt khỏi dòng sanh
tử, vượt thoát đồng cư tiến lên cõi Phương Tiện
Hữu Dư. Ðấy là vượt tam giới theo chiều dọc,
thật là việc khó.
Nay pháp môn vãng sanh bỏ đồng cư uế độ sanh về
đồng cư Tịnh Ðộ, được sanh Cực Lạc liền đoạn
sanh tử nên gọi là vượt ngang tam giới (hoành
siêu tam giới). Người vãng sanh chẳng đợi đoạn
hai hoặc: kiến, tư, chỉ cần phát Bồ Ðề tâm, nhất
hướng chuyên niệm, liền được Phật nguyện ngầm
gia bị, quyết được vãng sanh Tịnh Ðộ. Việc này
rất dễ nên gọi đạo dễ hành.
Phương tiện vượt thẳng như thế rất thù thắng hy
hữu, mười phương không đâu bằng nổi. Do vậy, cõi
Ðồng Cư của Cực Lạc vượt xa cõi Phật mười
phương.
Lại còn đới nghiệp vãng sanh: dẫu còn là phàm
phu chẳng bị thối chuyển, một đời thành Phật.
Thế nên, vãng sanh đồng cư cũng là sanh trọn vẹn
bốn cõi vậy.
* Phương Tiện Hữu Dư độ:
Nếu người niệm Phật dụng công sâu đậm: lìa
được tâm tạp loạn, chuyên niệm một câu danh
hiệu, tâm, miệng tương ưng, từng chữ phân minh,
tâm chẳng rời Phật, Phật chẳng rời tâm, niệm
niệm tiếp nối chẳng có gián đoạn. Niệm Phật như
thế gọi là sự nhất tâm. Nếu đạt đến cảnh giới
này tuy chẳng cầu đoạn hoặc mà kiến, tư phiền
não tự nhiên đoạn mất. Từ Ðồng Cư uế độ cõi này
sanh ngang sang cõi Phương Tiện Hữu Dư của Cực
Lạc.
* Thật Báo Trang Nghiêm độ:
Nếu nhớ Phật, niệm Phật rành rẽ phân minh, đi,
đứng, nằm, ngồi chỉ có một niệm ấy, không còn
niệm thứ hai, chẳng bị các niệm tham, sân, phiền
não tạp loạn thì gọi là sự nhất tâm. Trên mặt sự
đã đạt nhưng về lý chưa thấu triệt, chỉ thuộc về
định môn, chưa có huệ môn.
Nếu trên đầu sào trăm thước tiến thêm một bước,
nơi bổn tánh mình chợt khế hợp, biết rõ năng
niệm, sở niệm chỉ là nhất tâm, chẳng trụ hữu
niệm, chẳng rớt vào vô niệm như Sớ Sao viết:
‘Nếu nói là có thì bổn thể của cái tâm năng niệm
tự nó là không, đức Phật đang được mình niệm
cũng trọn chẳng thể được. Nếu bảo là không thì
tâm năng niệm sáng ngời chẳng lầm lẫn, đức Phật
được niệm phân minh rạng ngời’.
Vô niệm mà niệm, niệm nhưng vô niệm. Nói, nghĩ
dứt bặt, chẳng thể gọi tên, mô tả, chỉ là nhất
tâm, thể vốn sẵn thanh tịnh, nào có pháp gì tạp
loạn được. Ðấy gọi là lý nhất tâm, thuộc về huệ
môn, kiêm cả đắc định. Niệm Phật nếu đạt đến lý
nhất tâm, phá một phần vô minh thì sanh trong
Thật Báo Trang Nghiêm độ, đồng thời chứng một
phần Thường Tịch Quang độ.
Thật Báo Trang Nghiêm độ là nơi cư ngụ của Pháp
Thân Ðại Sĩ. Các vị Ðại Sĩ từ Sơ Ðịa trong Biệt
giáo, Sơ Trụ trong Viên giáo trở lên mới được
sanh cõi ấy. Phá một phần vô minh, chứng một
phần Pháp Thân mới sanh được cõi này.
Bậc Ðại Sĩ cõi ấy sắc tâm tự tại, thân và cõi
ảnh hiện, trong một đầu lông hiện cõi Bảo Vương.
Trong một hạt bụi chuyển đại pháp luân, xứng
tánh trang nghiêm vô chướng, vô ngại. Bốn mươi
địa vị Pháp Thân Ðại Sĩ từ bậc Bồ Tát sơ trụ
trong Viên giáo cho đến Ðẳng Giác Bồ Tát đều
thuộc cõi này. Mỗi địa vị đều chứng một phần
Thường Tịch Quang độ.
* Thường Tịch Quang độ
Cõi Pháp Thân của Phật ngự được gọi là Thường
Tịch Quang. Sách Yếu Giải viết:
‘Thể thật của tướng chẳng tịch chẳng chiếu.
Tịch mà hằng chiếu, chiếu nhưng luôn tịch, chiếu
mà tịch cưỡng gọi là Thường Tịch Quang. Tịch mà
chiếu cưỡng gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân’.
Vì vậy, thân và cõi chẳng hai; đều là cưỡng gọi.
Tịch chiếu đồng thời chẳng phải là cảnh suy
lường được.
Thêm nữa, ba chữ Thường Tịch Quang phơi bày trọn
vẹn ba đức Niết Bàn của Như Lai bí tạng. Thường
là Pháp Thân đức vì Pháp Thân thường trụ. Tịch
là giải thoát đức vì trần lao vĩnh viễn tịch
tĩnh. Quang là Bát Nhã đức do trí quang chiếu
khắp.
Ðẳng Giác Ðại Sĩ phá sạch bốn mươi mốt phẩm vô
minh, liền phá một phẩm sanh tướng vô minh tối
hậu, Pháp Thân hiển lộ hoàn toàn, chứng trọn vẹn
ba đức, triệt ngộ ngọn nguồn bổn tâm, rốt ráo
thanh tịnh, chứng nhập Thường Tịch Quang độ.
Phàm phu đới nghiệp vãng sanh cõi Ðồng Cư, do
gặp Phật dạy dỗ nên không thối chuyển. Do thọ
mạng vô lượng nên ngay trong một đời ấy đoạn trừ
trọn vẹn các hoặc, thanh tịnh trọn vẹn bốn cõi
Tịnh Ðộ. Do vậy, sanh cõi Ðồng Cư cũng chính là
sanh ba cõi trên nên bảo là: sanh trọn bốn cõi.
Lại nữa, trong cõi này (Sa Bà) tu hành khó khăn
lắm duyên thối thất, nên kẻ tu đạo nhiều như
lông bò, người đắc đạo hiếm tựa vảy lân. Cực Lạc
thành Phật dễ vì không thối chuyển. Phẩm Vãng
Sanh Chánh Nhân trong kinh dạy: ‘Những kẻ
vãng sanh đều đắc a duy việt trí, đều đủ ba mươi
hai tướng sắc vàng, đều sẽ làm Phật’.
Cực Lạc hơn hẳn mười phương, trước hết là do
phàm phu đới nghiệp: sanh cõi kia rồi liền đắc a
duy việt trí. A Duy Việt Trí: Tàu dịch Bất Thối.
Bất thối lại có ba nghĩa:
- Vị bất thối: nhập dòng thánh chẳng đọa địa vị
phàm phu.
- Hạnh bất thối: trừ kiến tư hoặc, dẹp sạch trần
sa, luôn độ chúng sanh, chẳng đọa Tiểu thừa.
- Niệm bất thối: Phá vô minh, hiển Phật tánh,
niệm niệm lưu nhập Như Lai quả hải.
Với ba thứ bất thối trên đây, nếu ở cõi này tu
trì thì phải đoạn kiến hoặc như Sơ Quả của Tạng
giáo, Kiến Ðịa của Thông Giáo, Sơ Trụ của Biệt
Giáo, Sơ Tín của Viên giáo mới gọi là Vị Bất
Thối.
Bồ tát của Thông giáo, Thập Hướng của Biệt giáo,
Thập Tín của Viên giáo mới là Hạnh Bất Thối.
Sơ Ðịa của Biệt giáo, Sơ Trụ của Viên giáo mới
gọi là Niệm Bất Thối.
Nhưng pháp môn Tịnh Ðộ hoành sanh siêu việt
chẳng thể nghĩ bàn. Hễ vãng sanh rồi chẳng đọa
lại địa vị phàm phu là chứng vị bất thối.
Cõi nước Cực Lạc chỉ có một Phật thừa nên chẳng
đọa tiểu thừa, đó là hạnh bất thối.
Sanh cõi Ðồng Cư xong liền cùng sanh ba cõi
trên, viên tu viên chứng. Ở trong thế giới ấy,
ắt phá vô minh, hiển Phật tánh, chứng Niệm Bất
Thối.
Do Niệm Bất Thối vượt đủ bốn mươi mốt nhân vị,
một đời thành Phật như sách Yếu Giải chép:
‘Ngũ nghịch thập ác, mười niệm thành tựu đới
nghiệp vãng sanh. Kẻ thuộc hạ hạ phẩm đều được
ba thứ bất thối’. Sách ấy lại viết:
‘Hiểu như vậy mới có thể tin sâu nguyện lực
của Phật Di Ðà. Tin Phật lực rồi mới có thể tin
công đức của danh hiệu. Tin trì danh rồi mới có
thể tin sâu tâm tánh của chúng ta vốn là chẳng
thể nghĩ bàn’.
Hơn nữa, nhân duyên bất thối nơi cõi Cực Lạc gồm
năm điều:
- Một, được Di Ðà đại từ nguyện lực nhiếp trì
nên chẳng thối.
- Hai, Phật quang thường chiếu, Bồ Ðề tâm tăng
tấn nên chẳng thối.
- Ba, nước, chim, cây cỏ đều diễn diệu pháp,
tăng thêm chánh niệm nên chẳng thối.
- Bốn, thuần các Bồ Tát làm bạn thù thắng, ngoài
không ma tà, trong không phiền não nên chẳng
thối.
- Năm, thọ mạng vĩnh kiếp ngang với Phật nên
chẳng thối.
Ôi, thánh đức khó lường, ơn Phật khó báo, Di Ðà
bi tâm cùng cực, thánh trí khôn tày, từ đấy hiện
ra cõi Ðồng Cư Tịnh Ðộ dễ sanh về này cho phàm
phu. Hành nhân chẳng cần đoạn hoặc, tiêu nghiệp,
chỉ cốt tín nguyện trì danh, chí ít mười niệm
đều được vãng sanh, vượt ngang tam giới, mãi lìa
các khổ, chứng địa vị bất thối, nhất sanh bổ
Phật, siêu tình ly kiến chẳng thể nghĩ bàn. Mười
phương thế giới thật không đâu bằng được như vậy
nên Cực Lạc được ngàn kinh muôn luận cùng khen
ngợi.
Vãng sanh cõi Ðồng Cư tức là sanh ngang qua ba
cõi trên. Chứng địa vị bất thối cũng là chứng
trọn vẹn ba thứ bất thối. Niệm niệm phổ lợi quần
sanh, tâm tâm lưu nhập biển giác, đó thật là chỗ
quy thú của kinh này vậy.
4. Phương tiện lực dụng
Như kinh Ðại Tỳ Lô Giá Na dạy: ‘Bồ Ðề là nhân, đại bi là căn, phương
tiện là cứu cánh’ thì biết rằng phương tiện
độ sanh chính là chỗ kết quy của đại nguyện chư
Phật, là điều được đại trí hiển thị, vạn đức
trang nghiêm, là chỗ cứu cánh của quả giác. Vì
vậy, tiếp sau phần nói về thể tánh, tông thú
phải luận về đại lực, đại dụng của phương tiện
thắng diệu.
Như kinh Quán Phật tam muội viết:
‘Phật bảo phụ vương:
- Chư Phật xuất thế có ba điều lợi ích:
a. Một là miệng nói mười hai bộ kinh là pháp thí lợi ích, trừ được vô
minh ám cấu của chúng sanh, mở mắt trí
huệ, sanh trước chư Phật, chóng đắc vô thượng Bồ
Ðề.
b. Hai là chư Phật Như Lai có thân tướng quang minh tốt đẹp vô lượng.
Nếu có chúng sanh xưng niệm, quán sát, dù là
tổng tướng hay biệt tướng, chẳng luận là thân
của Phật hiện tại hay quá khứ đều trừ diệt được
tứ trọng, ngũ nghịch của chúng sanh, vĩnh viễn
thoát khỏi tam đồ, tùy lòng ưa thích thường sanh
Tịnh Ðộ cho đến khi thành Phật.
c. Ba là khuyên phụ vương hành Niệm Phật Tam Muội.
Phụ vương bạch Phật:
- Vì sao chẳng dạy đệ tử thực hành quả đức của Phật địa, Thật Tướng
Chơn Như, Ðệ Nhất Nghĩa Không?
Phật bảo phụ vương:
- Quả đức của chư Phật có vô lượng cảnh giới thâm diệu, thần thông giải
thoát, chẳng phải là cảnh giới phàm phu thực
hành nổi. Vì vậy, ta khuyên phụ vương hành Niệm
Phật Tam Muội’.
Lại chép:
‘Phật bảo phụ vương: Tâm niệm Phật của hết thảy chúng sanh trong sanh tử
cũng giống như vậy, chỉ cốt hệ niệm chẳng
ngơi, quyết định sanh ở trước Phật. Một khi được
vãng sanh liền có thể cải biến hết thảy các điều
ác thành đại từ bi’.
Theo lời đấng Thích Tôn đại từ chí hiếu khuyên phụ vương trên đây, Phật chỉ
khuyên niệm Phật, đủ thấy các hạnh môn khác
không phải là không thù thắng, nhưng bọn phàm
phu chẳng thể tu nổi. Chỉ có pháp môn dốc lòng
niệm Phật thích ứng căn cơ nhất. Chỉ nên tuân
lời dạy niệm Phật thì quyết định vãng sanh. Một
phen vãng sanh rồi liền chuyển nổi ác thành
thiện. Diệu dụng của phương tiện niệm Phật đã
được hiển thị không còn sót.
Theo đoạn kinh Thế Tôn khuyên phụ vương niệm Phật nói trên, hết thảy chúng
sanh còn trong sanh tử tâm phải niệm Phật khẩn
thiết chẳng ngơi. Ý Phật muốn nói đến cách Trì
Danh Niệm Phật trong bốn cách niệm Phật. Niệm
Phật có bốn cách: trì danh niệm Phật, quán tượng
niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, và thật tướng
niệm Phật.
* Trì danh niệm Phật chính là điều được kinh này đề cao: xưng niệm
danh hiệu A Di Ðà Phật. Thiện Ðạo đại sư bảo:
‘Chỉ có con đường tắt tu hành là niệm Phật A Di
Ðà’.
Các môn tu hành khác gọi là vượt tam giới theo chiều dọc như trùng sanh
trong tre: đục dọc theo thân tre khó thoát ra,
nên là đạo khó hành. Còn niệm Phật như trùng đục
ngang ống tre thời dễ thoát ra, là vượt tam giới
theo chiều ngang, gọi là đạo dễ hành. Pháp này
được ví như đường tắt vì phương tiện thẳng
chóng, thành công nhanh chóng.
* Quán tượng niệm Phật:
Bày biện tượng Phật, chú mục ngắm nhìn. Hiềm rằng có tượng mới quán được,
rời khỏi tượng lại khó quán: Tịnh nhân dễ mất,
giữ cho liên tục càng khó. Vì vậy, cổ đức bảo:
‘Tượng đi rồi lại là không, cho nên trở thành
gián đoạn’.
Vì vậy, cách này chẳng tiện dụng như trì danh niệm Phật, lúc nào, chỗ nào
cũng tu được.
* Quán tưởng niệm Phật
Như các phép quán dạy trong Quán kinh: ‘Dùng con mắt trong tâm ta, tưởng
đức Như Lai kia’. Khổ nỗi, tâm phàm phu tạp
loạn, phù động, hiếm có lúc tịnh định, khó nhập
pháp quán vi diệu. Vì vậy, mới nói: ‘Cảnh tế
tâm thô, diệu quán khó thành’.
Do đó, cách này chẳng bằng trì danh tiện dụng dễ hành, chẳng nề thượng trí,
hạ ngu, nào luận khổ, vui, rảnh, bận, ai cũng
niệm được, kẻ nào cũng hành được.
* Thật tướng niệm Phật: xa lìa các tướng sanh diệt, có, không, năng
sở, ngôn thuyết, danh tự, tâm duyên... chuyên
niệm tự tánh vốn sẵn đức Phật thiên chơn. Khốn
nỗi, chúng sanh chưa thoát luân hồi, tâm sanh
diệt niệm niệm tiếp nối như kinh Viên Giác dạy:
‘Chưa thoát luân hồi mà bàn đến Viên Giác thì tánh Viên Giác ấy cũng bị
xoay chuyển. Ðã như vậy mà mong thoát được luân
hồi thì quyết chẳng thể được’.
Kinh còn dạy: ‘Huống hồ là tâm cấu trược sanh tử chuyển vần chưa từng
thanh tịnh, quán Viên Giác của Phật làm sao lãnh
hội được’
Ví như loài trùng rất nhỏ chỗ nào cũng bu được, chẳng thể đậu trên lửa. Ví
như tâm chúng sanh, duyên chỗ nào cũng được chỉ
chẳng duyên nổi Bát Nhã. Bởi thế, ông Phật của
Thật Tướng, tánh Viên Giác tuy chúng sanh sẵn
đủ, nhưng bởi vọng tâm niệm niệm sanh diệt nên
chẳng quán nổi. Vì vậy, trong kinh Quán Phật Tam
Muội, Phật bảo phụ vương: Bổn đức của chư Phật:
chơn như thật tướng v.v... chẳng phải là cảnh
giới phàm phu hành nổi nên Phật khuyên phụ vương
niệm Phật.
Do những điều trên, thấy được rằng: trong các pháp, pháp môn Niệm Phật được
xem là đường tắt, trong bốn phép Niệm Phật, Trì
Danh Niệm Phật lại là phương tiện rốt ráo nên
được gọi là đường tắt nhất trong các đường tắt.
Hơn nữa, bốn cách Niệm Phật khó dễ khác xa nhau, dường như có sâu cạn khác
biệt, nhưng thật ra sự-lý bất nhị: sâu chính là
cạn, cạn chính là sâu. Nếu được người viên đốn
dùng đến thì thầm hợp diệu đạo, còn với kẻ sơ cơ
thì cũng về được nhà. Vì vậy, Trì Danh Niệm Phật
khác chi Thật Tướng Niệm Phật. Sách Di Ðà Sớ Sao
viết:
‘Nói đến Thật Tướng chẳng phải là diệt trừ các tướng mà chính là ngay
nơi tướng thấy được vô tướng. Kinh dạy: ‘‘Ngôn
ngữ thế tục chẳng trái nghịch Thật Tướng’’, lẽ
nào vạn đức hồng danh chẳng bằng nổi một lời thế
tục sao?’.
Hơn nữa, sách Viên Trung Sao viết:
‘Ngài Tứ Minh nói: Nơi quả viên cực, tất cả danh tự mỗi mỗi chẳng hư,
rốt ráo thành tựu, vì mỗi điều được nó chiêu cảm
đều là chơn thật tột cùng vậy’.
Vì vậy, Ðại Kinh dạy: “Thế Ðế chỉ có cái tên, không có thật
nghĩa. Ðệ Nhất Nghĩa Ðế có cái tên, có thật
nghĩa vì Phật là đệ nhất nghĩa đế vậy”.
Ðức Di Ðà nay lại đã chứng được Ðệ Nhất Nghĩa Ðế, nên một phen xưng tụng
gia danh (tức hồng danh A Di Ðà Phật) vạn
đức cùng phô bày. Di Ðà vạn đức tuệ nhật đã phô
bày trọn vẹn toàn thể thì tội lỗi hắc ám của
chúng sanh ngay trong niệm ấy tự nhiên tiêu tan
trần kiếp. Tội tánh vốn không, hư dối chẳng thật
đã bị tiêu thì công đức xưng danh lớn như hư
không tự nhiên sanh ra’.
Căn cứ theo diệu nghĩa trên, một phen xưng danh hiệu công đức còn đến thế,
huống là phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm
như trong kinh này. Hơn nữa, trì danh chính là
thậm thâm Bát Nhã: niệm đến thuần thục, vạn
duyên cùng bỏ hết, năng, sở tiêu sạch thì chính
là vô trụ. Ngay trong lúc ấy, một câu Phật hiệu
rạng ngời, minh bạch, liên tục chẳng dứt thì
chính là sanh tâm. Ðấy vốn là chỗ chúng sanh
chưa đạt đến, nay do niệm Phật thầm hợp diệu
đạo, chẳng hành mà hành, chẳng đến lại đến. Câu
nào cũng là Phật tri kiến, niệm nào cũng tỏa ánh
sáng Bát Nhã.
Mật giáo nói: ‘Âm chữ đều là Thật Tướng’ nên niệm tên Phật chính là
niệm Thật Tướng! Trì Danh Niệm Phật khác gì Thật
Tướng Niệm Phật!
Lại nữa, trong hai kinh Ðại, Tiểu, bản dịch Tiểu Bổn đời Tần có câu ‘nhất
tâm bất loạn’, còn Ðại Bổn không có câu ấy
mà chuyên chú ‘nhất hướng chuyên niệm’.
So sánh hai câu ấy thì điều được đề cao trong
Ðại kinh là minh xác, lại khế hợp căn cơ của
chúng sanh, tỏ rõ ân đức vô cực của đấng Từ Tôn.
Sách Di Ðà Yếu Giải giảng:
‘Nếu chấp trì danh hiệu chưa đoạn kiến - tư, do hoặc tán, hoặc định nên
trong cõi Ðồng Cư, chia làm ba bậc chín phẩm.
Nếu trì đến mức sự nhất tâm bất loạn, kiến hoặc hay tư hoặc tùy ý đoạn
trước được một thứ thì sanh về cõi PhươngTiện
Hữu Dư.
Nếu đến mức lý nhất tâm bất loạn, phá toang một phẩm vô minh, cho đến
bốn mươi mốt phẩm thì sanh trong Thật Báo Trang
Nghiêm Tịnh Ðộ, cũng chứng một phần Thường Tịch
Quang độ’.
Nghĩa là: tán tâm trì danh liền được vãng sanh Ðồng Cư Tịnh Ðộ. Nếu
niệm đến nhất tâm bất loạn liền vãng sanh ba cõi
trên. Ðấy thật là cảnh hạnh của hiền thánh, nào
phải khả năng của phàm phu!
Nếu cứ phải nhất tâm bất loạn mới được vãng sanh, thử hỏi chúng sanh trong
biển khổ mấy kẻ đắc độ? Hóa ra pháp môn Trì Danh
tiện dụng này cũng là đạo khó hành ư? Sách Tịnh
Ðộ Hợp Tán lại viết:
‘Nương theo kinh này phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm mới được
nhất tâm bất loạn. Chẳng thể chuyên niệm thì
thật khó nhất tâm’.
Tổng hợp hai ý kiến trên, thấy rằng kinh này lấy phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng
chuyên niệm làm Tông, hiển lộ trọn vẹn bổn tâm
của bậc đạo sư hai cõi và thập phương Như Lai,
nguyện thù thắng vô tận của đức Di Ðà: phương
tiện đại từ tột bực, lực dụng của quả đức khó
lường thâu trọn phàm thánh, độ khắp lợi, độn,
dưới đến thập ác ngũ nghịch, ngạ quỉ, súc sanh
chỉ cần phát tâm chuyên niệm ắt được độ thoát.
Rộng độ hết thảy hàm linh, khắp ban cái lợi chơn
thật.
Ðại ân, đại đức, đại nguyện, đại lực, đại dụng độ sanh vi diệu khó suy nghĩ
nổi. Có như thế mới xứng bổn hoài của Như Lai,
mới là phương tiện rốt ráo.
5. Các căn khí được kinh này hóa độ
Phần trên đã nói kinh này rộng thâu vạn loại, phổ độ ba căn, nay sẽ giải
thích rõ: trong vạn loài, loài nào là khí, trong
ba căn, căn nào là đương cơ?
Căn khí có thị khí (căn khí thích hợp) và phi khí sai khác. Căn khí rò bể
chẳng kham nhận nổi mưa pháp thì gọi là phi khí
(chẳng phải là căn khí thích đáng). Sách Sớ Sao
viết: ‘Trước hết là ba loại phi khí: kẻ không
có lòng tin, kẻ không có nguyện, kẻ không hạnh.
Không phải ba thứ trên thì là khí’.
Tín là tin rằng chúng sanh và Phật chẳng hai, tâm này là Phật, tâm này làm
Phật, chúng sanh niệm Phật nhất định vãng sanh
rốt ráo thành Phật. Nguyện là chán nhàm Sa Bà,
ưa thích, hâm mộ Cực Lạc như con nhớ mẹ, quyết
sẽ vãng sanh. Hạnh là từ nguyện khởi hạnh nhất
hướng chuyên niệm chẳng gián đoạn.
Ba điều trên đây gọi là tư lương. Tư lương nếu khuyết khó bề tiến tới. Ba
thứ: tín, nguyện, hạnh thiếu một thứ chẳng
được, như ba chân của cái đỉnh: thiếu một chân,
đỉnh phải đổ. Cái đỉnh thiếu một chân chẳng phải
là Khí. Sách Sớ Sao lại viết:
‘Lại nữa, người đời tuy hành các điều thiện mà với cõi kia không có tín,
nguyện, hạnh, cũng chẳng phải là khí. Tuy có các
lầm lỗi mà với cõi kia có tín nguyện hạnh thì
cũng gọi là khí’.
Luận về cơ, có đương cơ và bất đương cơ sai khác. Trong ba căn, căn nào là
đương cơ thích hợp nhất? Xưa có nhiều thuyết,
nay sẽ xét rõ. Năm thời thuyết pháp của đứcThế
Tôn đều là tùy cơ mà thiết lập giáo pháp, theo
bịnh cho thuốc. Nói chung, các vị Bồ Tát là
đương cơ của kinh điển Ðại thừa, Nhị Thừa là
đương cơ của kinh sách Tiểu Thừa.
Chỉ có Tịnh Ðộ kỳ đặc, thù diệu, lập riêng phong cách. Từ xưa đã có nhiều
thuyết, ở đây xin nêu ba thuyết:
5.1 Thượng bối vãng sanh chỉ là Bồ Tát
Trong kinh này, với ba bậc vãng sanh, mỗi bậc lại chia thành ba phẩm giống
như chín phẩm trong Quán kinh. Chư sư cổ đức
trước thời ngài Thiện Ðạo đời Ðường cho rằng
thượng thượng phẩm vãng sanh Cực Lạc là Bồ Tát
từ Tứ Ðịa đến Thất Ðịa; thượng trung phẩm là Sơ
Ðịa cho đến Tứ Ðịa Bồ Tát; thượng hạ phẩm là Ðại
Thừa chủng tánh cho đến Sơ Ðịa Bồ Tát. Trung
phẩm thượng sanh là Tiểu Thừa tam quả.
Nếu hiểu như vậy, trong chín phẩm, thượng phẩm chỉ có Bồ Tát, thánh chúng
mới sanh nổi, Tiểu thánh sanh về trung thượng
phẩm. Với bốn phẩm từ thượng thượng đến trung
thượng, phàm phu tuyệt chẳng có phần.
5.2 Vốn vì phàm phu, kiêm vì thánh chúng
Thiện Ðạo đại sư trong tác phẩm Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ (Quán Kinh Nghĩa Sớ)
đả phá thuyết trên như sau: ‘Như Lai nói mười
sáu pháp quán này chỉ vì độ thoát chúng sanh
thường chìm đắm, chẳng can hệ tới các bậc thánh
Ðại thừa, Tiểu thừa’. Ý ngài cho rằng: Phật
giảng chín phẩm vãng sanh trong Quán kinh chỉ là
vì chúng sanh trầm luân, chẳng vì Bồ Tát, A La
Hán.
Ngài còn viết:
‘Lại xét văn nghĩa phần Ðịnh Thiện và ba bậc vãng sanh thượng, hạ trong
Quán kinh, ta thấy đều là vì bọn ngũ trược phàm
phu sau khi Phật diệt độ. Chỉ do gặp duyên sai
khác mà có chín phẩm sai biệt. Vì sao?
Ba bậc thượng phẩm là phàm phu gặp duyên Ðại thừa. Ba bậc trung phẩm là
phàm phu gặp duyên Tiểu thừa. Ba bậc hạ phẩm là
phàm phu gặp ác duyên’.
Ngài còn viết thêm:
‘Nay với mỗi điều nêu kinh văn chứng minh rõ ràng ngõ hầu phàm phu thiện
ác hiện tại cùng được hưởng chín phẩm, sanh lòng
tin vô ngại, nương nguyện lực Phật đều được vãng
sanh’.
Hơn nữa, trong phần Hành Quyển Kệ khai thị căn cơ của kinh Ðại Vô Lượng Thọ
có viết: ‘Căn cơ kinh này là hết thảy phàm
ngu thiện, ác, đại, tiểu’.
Thuyết của đại sư trên: khế hợp thánh tâm, dưới: tương hợp các căn cơ, thật
có công lớn với Tịnh Ðộ. Vì vậy, phần lớn các sư
Trung Hoa, Nhật Bản đề cao thuyết này như sách
Hợp Tán của Nhật viết: ‘Mười phương chúng
sanh, ba bậc chúng sanh trong nguyện thứ mười
tám đều là cụ phược phàm phu. Bọn họ là căn cơ’.
Sách còn viết rằng: ‘Như ngài Nguyên Hiểu viết: ‘‘Bốn mươi tám đại
nguyện trước hết vì phàm phu, sau kiêm vì tam
thừa thánh nhân’’, cho nên tông ý của Tịnh Ðộ
vốn vì phàm phu kiêm vì thánh nhân’.
Ðiểm diệu yếu của thuyết này là hiển thị trực tiếp bi nguyện độ sanh vô tận
của Như Lai, quét sạch tâm khiếp lui của phàm
phu, khắp làm cho họ chánh tín pháp này phát tâm
niệm Phật, nương Phật nguyện lực đều được vãng
sanh.
5.3 Chuyên tiếp thượng căn, bàng cập trung hạ
Thuyết này xét về mặt văn tự tựa hồ trái nghịch với thuyết thứ hai, tương
đồng thuyết thứ nhất. Thật ra, nó tương đồng
thuyết thứ hai, nhấn mạnh phàm phu chúng ta đều
có thể thẳng lên chín phẩm, nên về căn bản, nó
trái nghịch thuyết thứ nhất. Bảo rằng ‘chuyên
tiếp thượng căn’ là sợ bọn kiến giải hời hợt
trong đời thường nghĩ Tịnh tông là hạnh của lũ
ông già bà cả bèn xem thường, cho nên phải lập
ra thuyết này để cứu vớt họ.
Sách Di Ðà Sớ Sao nói:
‘Lại nữa, Khởi Tín Nhân Duyên Phận Sớ nói rõ bậc Sơ Tâm của Tín Vị có
bốn căn cơ: dùng lễ bái, sám hối diệt tội để độ
sơ cơ, dùng tu tập Chỉ Quán độ trung cơ, dùng
cầu sanh Tịnh Ðộ tiếp độ thượng cơ. Sơ cơ
là chúng sanh nghiệp chướng, trung cơ là phàm
phu Nhị Thừa. Vì vậy, biết rằng Tịnh Ðộ là
pháp tu của Ðại Thừa Bồ Tát vậy’.
Sách Di Ðà Yếu Giải còn cho rằng trì danh là ‘pháp môn thâm diệu, phá
sạch hết thảy những hý luận, đoạn sạch hết thảy
ý kiến, chỉ có những bậc như Mã Minh, Long Thọ,
Trí Giả mới triệt để gánh vác nổi’.
Do một pháp Trì Danh là pháp môn vô thượng chí viên chí đốn chẳng thể dùng
phân biệt suy lường để hiểu nổi nên bảo là thâm
diệu. Chỉ một bề mà niệm chẳng cần đến phương
tiện khác, chẳng vướng vào suy lường, trực khởi,
trực dụng, tự được tâm khai, ngay khi ấy phá
sạch hý luận, trừ sạch hết thảy phân biệt so đo,
nên nói: pháp thâm diệu như vậy chỉ có hàng nhục
thân Ðại Sĩ như Mã Minh v.v... mới trực tiếp
lãnh hội được, mới triệt để gánh vác nổi.
Ðại sĩ Mã Minh người xứ Ðông Thiên Trúc, truyền Phật tâm ấn, là tổ thứ mười
hai của Thiền tông, trung hưng Ðại Thừa, soạn
Ðại Thừa Khởi Tín Luận. Cuối luận, khuyên chúng
sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ.
Ðại sĩ Long Thọ người Nam Thiên Trúc, là tổ mười bốn của Thiền tông, thân
cận Kim Cang Tát Ðỏa, lại thành tổ của Mật giáo.
Ngài vào long cung đem kinh Hoa Nghiêm về nên
thành tổ của tông Hoa Nghiêm. Lại rộng tạo các
luận, cực lực hoằng dương Tịnh Ðộ. Kinh Lăng Già
huyền ký rằng: ngài chứng Hoan Hỷ Ðịa vãng sanh
Tịnh Ðộ, cho nên là tổ của Tịnh Ðộ tông. Trung
Hoa gọi ngài là tổ của tám tông vì các tông
Thiên Thai, Pháp Tướng, Nam Sơn, Tam Luận cũng
đều coi ngài là tổ khai tông.
Trí Giả đại sư tụng Pháp Hoa, thân tâm rỗng rang, được nhập Pháp Hoa tam
muội, đích thân thấy một hội Linh sơn nghiễm
nhiên chưa tan. Sau ngài trụ núi Thiên Thai,
sáng lập Thiên Thai tông. Lâm chung nằm nghiêng
trên hông phải, mặt hướng về tây, xưng niệm A Di
Ðà Phật và Quán Thế Âm mà tịch.
Vĩnh Minh đại sư được ngài Thiều quốc sư của Thiên Thai tông phát minh tâm
yếu, trở thành đích tôn của tông Pháp Nhãn. Sau
đó, ngài chuyên chí nơi Tịnh tông: mỗi ngày tụng
hồng danh mười vạn câu, kiêm hành nhật khóa một
trăm lẻ tám việc, được Quán Âm Ðại Sĩ dùng cam
lộ rưới vào miệng, diệu huệ phát khởi, viết Tông
Kính Lục gồm một trăm quyển và Tâm Phú Chú, Vạn
Thiện Ðồng Quy... giơ cao đuốc pháp chiếu sáng
muôn đời. Năm bảy mươi hai tuổi, ngài thắp
hương, giã biệt đồ chúng, ngồi mà quy Tây.
Bốn vị đại đức trên đều là nhục thân Ðại Sĩ, là pháp môn long tượng. Sách
Yếu Giải bảo chỉ có những người như vậy mới có
thể triệt để đảm nhiệm pháp môn Tịnh Ðộ. Những
học nhân gần đây há có nên dùng cái thấy biết
thế tục để coi khinh pháp môn Tịnh Ðộ hay không?
Sách Yếu Giải còn viết:
‘Vì vậy, một tiếng A Di Ðà Phật chính là pháp để đắc Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác trong đời ác ngũ trược của Bổn
Sư Thích Ca, nay ngài đem toàn thể Quả Giác trao
cho chúng sanh trược ác. Cảnh giới sở hành của
chư Phật chỉ có Phật với Phật mới hiểu rốt ráo,
chẳng phải tự lực của cửu giới tin hiểu nổi’.
Do câu này, ta thấy pháp môn Niệm Phật thật là
pháp thâm diệu vô thượng, chỉ có bậc thượng căn
mới có thể trực tiếp gánh vác.
Thêm nữa, phẩm Bồ Tát Vãng Sanh của kinh Vô Lượng Thọ có chép:
‘Nếu chỉ nói ra danh tự của mười phương thế giới, danh hiệu chư Phật
[trong các cõi ấy] và danh hiệu của Bồ Tát
[trong cõi ấy] được vãng sanh thì hết cả kiếp
cũng chẳng nói hết’.
Phẩm Thọ Bồ Ðề Ký lại chép: ‘Do chẳng nghe được pháp này, có một ức Bồ
Tát thối chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác’.
Kinh Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới cũng nói: ‘Bồ Tát rõ thấu chư Phật và
hết thảy pháp đều duy tâm lượng, đắc tùy thuận
nhẫn hoặc nhập sơ địa, bỏ thân rồi mau sanh thế
giới Diệu Hỷ hay cõi Phật Cực Lạc thanh tịnh’.
Sách Di Ðà Sớ Sao ghi: ‘Nên biết niệm Phật là cha của Bồ Tát sanh ra
Pháp Thân, cho đến bậc Thập Ðịa từ đầu đến cuối
chẳng lìa niệm Phật. Lẽ đâu bọn Sơ Tâm tự mãn
chẳng nguyện vãng sanh’. Ðủ thấy pháp môn
Tịnh Ðộ thật rất khế hợp căn cơ Bồ Tát.
Do những điều trên thấy được rằng: Trì Danh Niệm Phật là pháp quả giác nhân
tâm, chỉ có Phật với Phật mới hiểu tột cùng thể
dụng. Pháp ấy vô thượng thâm diệu rộng sâu như
biển. Tắm gội trong đó: kẻ hạ căn lội chỗ cạn
gần bờ, thân vẫn ở trong biển cả, cũng hưởng cái
vui tắm nước biển. Nếu muốn tột cùng đáy biển
chỉ đành cậy bậc thượng căn lợi trí. Có lặn
xuống nước làm việc, thâm nhập đáy biển mới biết
nổi biển rộng sâu vô lượng. Vì vậy, mới bảo là
chuyên tiếp thượng căn, kiêm tiếp độ trung căn,
hạ căn.
Hai thuyết thứ hai và thuyết thứ ba cách hành văn tuy khác nhưng ý nghĩa
tương đồng, khác nào Lô sơn: nhìn ngang thành
rặng, nhìn nghiêng thành ngọn. Tướng hiện ra có
sai khác, bổn thể chỉ một. Nói chung, vẫn chỉ là
một núi Lô sơn. Do đó, văn tự của hai thuyết tuy
khác mà thật đều xiển minh bi trí vô lượng của
đạo sư hai cõi, phước huệ đều viên mãn.
Nói chuyên tiếp thượng căn chính là hiển thị Như Lai đại trí đại huệ. Pháp
môn Tịnh Ðộ này là do Di Ðà trụ chơn thật huệ,
từ chơn thật tế mà khai hóa hiển thị. Vì vậy,
chỉ có Phật và Phật mới hiểu cùng tột.
Biển nguyện Nhất Thừa của Di Ðà, sáu chữ hồng danh, viên dung đủ các đức,
siêu tình, ly kiến, toàn thể là nhất chơn pháp
giới sự lý vô ngại, sự sự vô ngại, nên chẳng thể
dùng suy lường phân biệt biết nổi, lời nói, chữ
nghĩa chẳng diễn tả nổi; cho nên nói: ‘Chẳng
phải tự lực của cửu giới tin hiểu nổi’. Hành
nhân nếu có thể với pháp thậm thâm vô thượng vi
diệu này sanh một chút tin hiểu, kẻ ấy đã là
thượng căn nên nói là ‘chuyên tiếp thượng căn’.
Ðồng thời, Như Lai từ nơi chơn thật huệ khai diễn pháp môn này là muốn ban
cho chúng sanh cái lợi chơn thật nên pháp môn
này thật là phương tiện rốt ráo, độ cả ba căn,
trọn làm cho hết thảy phàm ngu ác trược chúng
sanh trong hiện tại, tương lai đều lên được bờ
kia. Vì vậy, pháp thậm thâm này cũng ‘kiêm tiếp
độ trung căn, hạ căn’.
Nói chuyên tiếp độ phàm phu là để hiển thị đại từ đại bi của Như Lai. Thế
Tôn nghĩ thương chúng kẻ phàm ngu đời mạt chướng
sâu, khổ nhiều bèn phát đại nguyện sâu rộng vô
thượng. Vì vậy, gọi là nguyện vương. Cốt lõi của
đại nguyện chính là nguyện thứ mười tám. Kinh
chép:
‘Thập phương chúng sanh nghe danh hiệu ta, chí tâm tin ưa, tất cả thiện
căn tâm tâm hồi hướng, nguyện sanh cõi ta, chí
ít mười niệm, nếu chẳng sanh, chẳng lấy chánh
giác. Chỉ trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh
pháp’.
Do phàm phu trong sanh tử tâm mê rong ruổi theo cảnh, trầm luân biển khổ,
thoạt vào thoạt ra, nếu không có đại nguyện mười
niệm ắt được sanh này, họ còn biết do đâu thoát
khỏi luân hồi? Vì vậy, đức Phật vì chúng sanh
lắm chướng ban riêng phương tiện, khai pháp dễ
hành này; thậm chí đến lúc kinh diệt, đặc biệt
lưu lại kinh này để làm thuyền bè. Do đó, bảo là
‘chuyên vì phàm phu’.
Hơn nữa, kinh Tỳ Lô Giá Na trong Mật điển chép: ‘Ðại bi làm căn, Bồ Ðề
làm nhân, phương tiện làm cứu cánh’ . Câu
này chỉ rõ: pháp phải có phương tiện độ sanh rốt
ráo mới là Quả Giác rốt ráo của Như Lai.
Vì vậy, phương tiện rốt ráo mười niệm ắt vãng sanh thật là do phương tiện
xứ tối cực thành tựu rốt ráo của đức Di Ðà,
chính là ý ‘Như Lai với định huệ đã thấu suốt
đến cùng cực’ trong kinh này.
Người đời nay sao nỡ vì pháp này dễ hành mà khi dễ! Ví như máy ti vi màu,
máy cassette, máy tính điện tử đều phải an toàn
dễ dùng. Dẫu kẻ không biết tí gì về khoa học kỹ
thuật, nhấn nút một cái liền có thể hưởng thụ
thành quả khoa học hiện đại nhất. Do an toàn dễ
dùng, người đời liền khen là kỹ thuật tiên tiến.
Cùng một lý đó, sao nỡ vì Trì Danh dễ thực hành
bèn coi rẻ pháp môn này!
Nên hiểu rõ điểm chú trọng của hai thuyết trên: Thuyết thứ hai khen ngợi
pháp môn Tịnh Ðộ độ khắp các căn, nhưng đặt nặng
việc tế độ phàm phu. Thuyết thứ ba nêu cái thâm
diệu của pháp môn Trì Danh: chỉ có bậc thượng
căn mới triệt để gánh vác nổi. Nên hiểu thấu
suốt như thế, đừng chấp chặt văn tự.
Pháp môn đã khéo phù hợp ba căn như sách Yếu Giải viết: ‘Thượng thượng
căn chẳng vượt ải này, hạ hạ căn cũng có thể đạt
đến’, gồm thâu thánh phàm, lợi, độn đều
thích ứng.
Sách Di Ðà Sớ Sao cho rằng pháp môn này ‘nhiếp trọn các căn lợi, độn,
đều độ thoát cả’. Lại bảo:
‘Các pháp môn khác: cao thì hạ căn tuyệt phận, thấp thì chẳng tương hợp
thượng căn. Vì thế, trong hội Hoa Nghiêm
như đui, ánh lửa đóm rối rắm thêm. Chỉ có một
pháp này thâu cả thượng, hạ, có thể gọi là thuốc
A Già trị vạn bịnh, lò đúc thành ngàn
vật’.
Lại viết: ‘Chỉ niệm tên Phật ắt sanh cõi ấy thì dù cao hay thấp, hoặc
thánh hoặc phàm, cho đến hoặc tin, hoặc ngờ,
hoặc khen, hoặc chê, hễ biết có đức Phật ấy liền
thành thiện căn. Nhiều kiếp nhiều đời đều được
giải thoát’.
Còn trong hiện tại, nếu hỏi ai là kẻ đương cơ thì đáp rằng chẳng luận nam,
nữ, già, trẻ, phú quý, bần tiện, thượng trí, hạ
ngu, tu lâu, mới tu, túc căn lợi, độn, thiện ác
sai biệt, chỉ cốt với pháp môn này sanh lòng tin
thật sự, do tin phát nguyện, từ nguyện khởi
hạnh, phát tâm Bồ Ðề, nhất hướng chuyên niệm,
những người như vậy đúng là đương cơ.
6. Tạng giáo sở nhiếp
(phân định kinh này thuộc về tạng nào, giáo
nào)
Phàm nghiên cứu kinh điển, trước hết phải biết kinh này thuộc tạng nào,
được nói trong thời nào, phán định thuộc giáo
nào? Biết rõ các điều ấy sẽ giúp ích cho việc lý
giải toàn kinh.
Về sự phán định một đời thánh giáo, ý kiến các nhà khác nhau. Nói tóm tắt
là: tam tạng, nhị tạng, ngũ thời, nhị giáo và tứ
giáo, ngũ giáo. Hễ giải thích kinh, trước hết
cần phải phán định rõ ràng: Kinh này trong tam
tạng thuộc về Kinh tạng. Trong nhị tạng thuộc Bồ
Tát tạng. Trong ngũ thời thuộc thời Phương Ðẳng,
trong nhị giáo thuộc Ðốn giáo, trong tứ giáo và
ngũ giáo thuộc Viên giáo.
6.1. Tam tạng
Ðại Thừa Nghĩa Chương giải thích chữ Tạng là: ‘Bao hàm, chứa đựng sâu xa
thì gọi là Tạng’. Kinh điển bao hàm, chứa
đựng hàm súc văn nghĩa nên gọi là Tạng.
Một là Kinh tạng, tiếng Phạn là Tu-đa-la, Tàu dịch là Khế kinh. Hai là Luật
tạng, tiếng Phạn là Tỳ-nại-da, Tàu dịch là Ðiều
Phục. Ba là Luận tạng, tiếng Phạn là
A-tỳ-đạt-ma, tàu dịch là Ðối Trị.
Trong ba tạng Kinh, Luật, Luận, kinh này thuộc Kinh tạng.
6.2. Nhị tạng
Trí Ðộ Luận chép:
‘Tuy cùng là một môn giải thoát mà có tự lợi, lợi người sai khác, thế
nên có Tiểu thừa, Ðại thừa sai khác. Do vì có
hai hạng người nên với lời Phật dạy, dùng văn
tự, ngữ ngôn chia thành hai thứ’, tức là
Thanh Văn tạng và Bồ Tát tạng.
Thánh giáo tuy nhiều, chẳng ngoài hai loại này (Duyên Giác tính gộp vào
Thanh Văn, nên chỉ có hai tạng).
Sớ giải của ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn viết:
‘Ngài Long Thọ nói: Sau khi Phật diệt độ, Ca Diếp, A Nan ở thành Vương
Xá kết tập pháp tạng thành Thanh Văn tạng.
Văn Thù, A Nan nơi núi Thiết Vy kết tập Ma Ha
Diễn (đại thừa) thành Bồ Tát tạng.
Ngài Trì Ðịa cũng nói: Phật vì Thanh Văn, Bồ Tát hành đạo thoát khổ nói
tu-đa-la. Người kết tập kinh chia thành hai
tạng. Kinh nói về hạnh của Thanh Văn làm thì là
Thanh Văn tạng. Kinh nói về hạnh Bồ Tát là Bồ
Tát tạng’.
Kinh này rộng diễn Ðại thừa, trình bày tường tận về tín nguyện vãng sanh,
nhân quả thù thắng, cõi Phật Tịnh Ðộ, y chánh
trang nghiêm, nguyện hải vô biên của Phật Di Ðà,
đạo phổ độ khắp các chúng sanh nên thuộc về Bồ
Tát tạng.
6.3. Ngũ thời
Thiên Thai đại sư dựa vào kinh Niết Bàn, chia cả đời giáo hóa của Như Lai
thành năm thời:
a. Một là trong hai mươi mốt ngày đầu tiên, nói kinh Hoa Nghiêm là thời Hoa
Nghiêm.
b. Thứ hai, trong mười hai năm kế tiếp, nơi vườn Lộc Dã v.v.. giảng bốn
kinh A Hàm của Tiểu thừa là thời A Hàm.
c. Thứ ba, trong tám năm kế tiếp, nói các kinh Duy Ma, Ðại Tập, Lăng Nghiêm
v.v... và kinh này, chỉ trích thiên giáo, bài
trừ tiểu giáo, khen ngợi Ðại thừa, cổ võ Viên
giáo. Nói rộng (Phương) bốn giáo: Tạng, Thông,
Biệt, Viên bình đẳng (Ðẳng) độ khắp các căn cơ
nên gọi là thời Phương Ðẳng.
d. Thứ tư, lại trong hai mươi hai năm kế đó, nói các kinh Ðại Bát Nhã, gọi
là thời Bát Nhã.
e.Thứ năm, trong tám năm sau cùng, nói kinh Pháp Hoa, một ngày một đêm nói
kinh Niết Bàn, cửu giới, tam thừa đều được thọ
ký, chẳng luận Ðại, Tiểu đều được thành Phật.
Thời này gọi là thời Pháp Hoa - Niết Bàn.
Ta nói kinh này thuộc thời Phương Ðẳng thứ ba. Hơn nữa, kinh này được đức
Thế Tôn nhiều phen tuyên thuyết nên chẳng thể
hạn cuộc trong một thời nào.
6.4 Phán giáo
6.4.1. Tứ giáo và ngũ giáo
Các sư xưa nay phán định giáo tướng nói chung có 12 nhà, nhưng nổi tiếng
nhất là thuyết Tứ Giáo của ngài Thiên Thai lập
ra và Ngũ Giáo của tông Hiền Thủ.
Tứ Giáo theo Thiên Thai là Tạng, Thông, Biệt, Viên:
a. Một là Tạng giáo, cũng gọi là Tiểu thừa giáo.
b. Hai là Thông giáo, tức là trong Ðại thừa nói thông cả ba thừa, độ chung
ba căn.
c. Ba là Biệt giáo chỉ cho giáo pháp được nói trong kinh Ðại thừa chẳng
thông với Tiểu thừa.
d. Bốn là Viên giáo, tức là pháp giới tự tại viên mãn đầy đủ: một là hết
thảy, hết thảy là một, vô ngại pháp môn v.v...
Tông Hiền Thủ phán giáo như sau: ‘Thánh giáo muôn phần sai khác, nhưng
chính yếu chỉ có năm loại: Tiểu Thừa Giáo, Ðại
Thừa Thỉ Giáo, Chung Giáo, Ðốn Giáo, Viên Giáo’.
* Tiểu thừa giáo: Chỉ nói về nhân không, dù có nói đôi chút về pháp
không cũng chẳng minh xác do chưa tột cùng nguồn
pháp.
* Ðại thừa Thỉ giáo: chưa dạy nghĩa lý: tất cả chúng sanh đều có
Phật tánh, chẳng hứa khả định tánh xiển đề sẽ
thành Phật, chưa bàn đến điểm cùng tột của Ðại
thừa nên gọi là Thỉ (bắt đầu).
* Chung giáo: Do Trung Ðạo diệu hữu, định tánh xiển đề đều sẽ thành
Phật mới là nói đến chỗ cùng tột của Ðại thừa
nên gọi là Chung (cuối cùng).
* Ðốn giáo: chỉ nói chơn tánh, một niệm chẳng sanh thì gọi là Phật.
Chẳng nương theo địa vị để nói theo thứ lớp nên
gọi là Ðốn. Như kinh Tư Ích dạy: ‘Ðắc thuyết
pháp chánh tánh là chẳng từ một địa vị này sanh
lên một địa vị khác’. Kinh Lăng Nghiêm dạy:
‘Sơ Ðịa chính là Bát Ðịa, nhẫn đến không có
gì là thứ lớp cả’.
* Viên giáo: gộp chung cả bốn loại trên, viên mãn đầy đủ, giảng về
vô tận pháp giới, tánh hải viên dung, duyên khởi
vô ngại, tương tức, tương nhập, lưới Ðế Thích
trùng trùng (8), chủ bạn giao tham (9) vô tận,
vô tận. Một địa vị chính là hết thảy địa vị, hết
thảy địa vị chính là một địa vị. Vì vậy, thập
tín mãn tâm chính là gồm trọn hết thảy địa vị,
viên thành chánh giác.
6.4.2 Nhị giáo
Trên đây, tuy cách phán giáo khác nhau, nhưng ý kiến của các nhà chẳng
ngoài hai giáo: Tiệm, Ðốn. Hai thuyết Thiên
Thai, Hiền Thủ cũng đều dùng Tiệm, Ðốn để chia
thành tứ giáo, ngũ giáo. Ngũ Giáo Chương chép:
‘Hoặc chia làm hai, tức là: Tiệm, Ðốn. Do trong hai giáo Thỉ, Chung, tất
cả giải hạnh đều ở ngôn thuyết, địa vị có thứ
lớp, nhân quả nương dựa nhau, từ nhỏ nhiệm đến
phức tạp nên gọi chung là Tiệm. Ngôn thuyết đốn
tuyệt, lý tánh đốn hiển, giải hạnh đốn thành,
một niệm chẳng sanh chính là Phật v.v... thì gọi
là Ðốn’.
Sư Huệ Viễn đời Tùy của Trung Hoa (tức ngài Tịnh Ảnh) phán định kinh này
như sau:
‘Nay kinh này, trong hai tạng thuộc về Bồ Tát tạng, là pháp môn Ðốn Giáo
dành cho người căn cơ chín muồi. Vì sao
biết là Ðốn? Kinh này chính vì người trong hàng
phàm phu nhàm sợ sanh tử cầu chánh định, dạy họ
phát tâm sanh về Tịnh Ðộ, chẳng từ Tiểu thành
Ðại, cho nên biết là Ðốn’.
Sư Ðại Hựu đời Minh phán định kinh Tiểu Bổn như sau: ‘Về phương diện
Tiệm Ðốn, kinh này thuộc Ðốn giáo’. Các sư
Trung Hoa đa phần phán định hai kinh Tiểu Bổn,
Ðại Bổn theo thuyết này. Vì vậy, trong hai giáo
Ðốn, Tiệm, kinh này thuộc Ðốn giáo.
Trên đây, là dựa theo Ðốn, Tiệm mà phán định.
Nếu theo thuyết Ngũ Giáo: Tiểu, Thỉ, Chung, Viên, Ðốn của ngài Hiền Thủ để
phán định giáo tướng của kinh này thì các bậc
đại đức Tịnh Tông Trung Hoa và ngoại quốc xưa
nay tuy nhân duyên chẳng giống nhau, nhưng ý
kiến chỉ sai khác đôi chút. Theo họ, thật ra
kinh này không những chỉ thuộc về Viên Ðốn giáo,
mà còn là đốn nhất trong các kinh Ðốn giáo, viên
nhất trong các kinh Viên giáo.
Cư sĩ Bành Nhị Lâm (Tế Thanh) trong cuốn Khởi Tín Luận nhận định kinh này
như sau: ‘Kinh Vô Lượng Thọ là viên giáo xứng
tánh của Như Lai’. Thầy Thích Ðạo Ẩn người
Nhật trong tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh Bình Giải
phán ngay rằng: ‘Bổn nguyện Nhất Thừa đốn cực
đốn tốc, viên dung viên mãn’.
Ða số các vị đại đức người Nhật cũng nghĩ như vậy. Sách Ðại Kinh Thích
viết:
‘Thiên Thai, Chơn Ngôn tuy mang tiếng là Ðốn giáo, nhưng cần phải đoạn
hoặc rồi mới chứng lý nên còn là Tiệm giáo.
Giảng rõ phàm phu chưa đoạn hoặc, vượt thẳng
khỏi tam giới thì chỉ riêng có giáo pháp này nên
giáo pháp này là đốn nhất trong Ðốn giáo’.
Ngài Nhật Khê lại bảo:
‘Các giáo pháp của thánh đạo về lý thì viên dung, nhưng về mặt lợi ích
còn cách ngại, thiên lệch bởi khó tìm được căn
cơ Ðốn Giáo. Vì vậy, về giáo pháp thì
viên dung, nhưng xét trên căn cơ lại thành Tiệm.
Bảo Tịnh Ðộ là viên đốn vì lợi ích nhanh chóng
viên mãn’.
Nghĩa là:
Các thánh giáo khác tuy đủ lý viên dung, nhưng căn cơ chúng sanh thô thiển,
chẳng rõ hiểu nổi ý chỉ, không cách chi lãnh
hội, khởi hạnh để hưởng được lợi ích của pháp.
Vì vậy pháp tuy là viên đốn, nhưng do căn cơ
hành nhân cạn cợt, đốn pháp thành tiệm, viên
pháp thành thiên lệch. Còn Tịnh Ðộ chẳng giống
vậy, ai cũng hành được, đều được cái lợi chơn
thật, chẳng nhọc đoạn hoặc vượt thẳng khỏi tam
giới nên thật là giáo pháp viên mãn, đốn nhất
trong Ðốn giáo.
Thêm nữa, sách Viên Trung Sao chép:
‘Pháp môn viên đốn trước hết cũng cần phải khai ngộ, viên giải, rồi kế
đó mới tu hành viên mãn, phá tam hoặc mới chứng
nổi viên quả để đạt đến bất thối.
Nay pháp này chỉ nói hai báo: y, chánh cõi kia để khai giải sanh lòng
tin, bảy ngày trì danh, nhất tâm bất loạn, dùng
đấy để làm phương cách tu hành. Lúc lâm
chung liền được vãng sanh, được bất thối chuyển.
Vì thế, thấy được rằng kinh này là đề hồ vô thượng trong đời ác ngũ
trược’.
Ðủ thấy, ý của Viên Trung Sao cũng gần giống với ý kiến của các bậc đại đức
người Nhật vừa dẫn ở phần trên.
Hơn nữa, gọi kinh này là vô thượng đề hồ, tự nhiên kinh này phải là giáo
pháp khế lý, khế cơ, viên đốn cùng cực vậy. Vì
vậy, bộ Ngốc Sao của Nhật viết:
‘Vả lại, Ðốn Giáo có nhị giáo, nhị siêu.
Nhị giáo thì:
Một là Thật giáo là đạo khó hành, tức là các giáo pháp Phật tâm, Chơn
Ngôn, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm v.v...
Hai là Tịnh Ðộ bổn nguyện là đạo dễ hành, như Ðại Thừa Vô Lượng Thọ
v.v.. Về nhị siêu thì, một là thụ siêu (siêu
theo chiều dọc), hai là hoành siêu (siêu
theo chiều ngang)’.
Sách Bình Giải giảng rằng: ‘Do tự lực tu đoạn nên gọi là thụ siêu. Tịnh
độ bổn nguyện là pháp thật sự do tha lực siêu
việt thành Phật nên gọi là hoành siêu.... Trong
các đốn pháp của hoành siêu, trì danh là đốn
nhất trong các đốn’.
Các vị đại đức trên đây đều tuân theo thuyết của Thiện Ðạo đại sư, phán
định kinh này là giáo pháp đốn cực, đốn tốc,
viên dung, viên mãn. Chẳng hạn như sách Bình
Giải xưng tụng kinh này là ‘chuyên bậc nhất
trong các chuyên, đốn bậc nhất trong các đốn,
chơn bậc nhất trong các chơn, viên bậc nhất
trong các viên’, là ‘giáo pháp dứt bặt
đối đãi bất nhị, là đạo Nhất Thừa chơn như’.
Sách Di Ðà Yếu Giải chép:
‘Một đời giáo hóa của Phật Thích Ca chỉ có kinh Hoa Nghiêm nói lên nhất
sanh viên mãn (một đời tu được trọn vẹn
thành Phật), mà cái nhân của nhất sanh viên
mãn ấy là mười đại nguyện vương dẫn dắt về An
Dưỡng nằm trong phẩm cuối cùng là Phổ Hiền Hạnh
Nguyện, đem việc ấy khuyến khích Hoa Nghiêm
hải chúng.
Than ôi! Phàm phu đạt ngay lên địa vị bổ xứ là một điều đề xướng, đàm
luận lạ lắm, cao lắm, chẳng thể suy lường nổi.
Chỗ phát khởi của kinh Hoa Nghiêm nằm
ngay trong kinh này mà thiên hạ xưa nay ít kẻ
tin, lắm kẻ ngờ. Càng viết lắm nghĩa càng mờ
mịt, tôi chỉ còn cách mổ tim vẩy máu [để giãi
bày] mà thôi’.
Sách Yếu Giải còn viết:
‘Vì vậy, đời tương lai kinh pháp diệt hết, riêng lưu lại kinh này tồn
tại trong đời một trăm năm để rộng độ hàm thức.
Thuốc a già đà trị chung muôn bịnh, dứt bặt đối
đãi một cách viên dung chẳng thể nghĩ bàn.
Áo tạng Hoa Nghiêm, bí tủy Pháp Hoa, tâm yếu
của hết thảy chư Phật, kim chỉ nam cho muôn hạnh
Bồ Tát đều chẳng ra ngoài kinh này. Muốn khen
ngợi, trình bày đầy đủ thì dẫu cả kiếp cũng
chẳng nói hết được’.
Kinh Pháp Hoa được tông Thiên Thai tôn sùng là thuần viên, không kinh nào
mầu nhiệm bằng. Kinh Hoa Nghiêm được tông Hiền
Thủ coi là biệt giáo Nhất Thừa, sự sự vô ngại,
là giáo pháp hoàn toàn viên mãn. Nay đại sư Ngẫu
Ích chỉ rõ: cái thuần viên của tông Thiên Thai,
cái toàn viên của Hiền Thủ, cái bí tủy và áo
tạng của những tông ấy đều chẳng ra ngoài kinh
này, đủ thấy kinh này đúng là toàn viên.
Hơn nữa, điểm cốt tủy của kinh Pháp Hoa là thuần viên nên nói rằng: kinh
này thật là viên nhất trong các pháp viên mãn.
Ðây thật là dị khẩu đồng thanh với lời phán giáo
của các vị đại đức Nhật, thật đúng như lời
thường nói trong nhà Thiền: ‘Thở cùng một lỗ
mũi’ vậy.
Cận đại, bậc đại đức trong Tịnh tông là đại sư Ấn Quang khen ngợi sách Yếu
Giải rằng:
‘Lý sự đều đạt đến chỗ tuyệt diệu, kể từ khi Phật thuyết kinh này đến
nay, [Yếu Giải] là bản chú giải bậc nhất, khéo
léo nhất, xác thực nhất. Ví dù cổ Phật xuất thế
chú giải lại kinh này cũng chẳng thể hay
hơn được nữa’. Ðủ thấy lời phán giải về kinh
này của sách Yếu Giải giống như là của đích thân
Phật phán định vậy.
Ngoài ra, sách Sớ Sao viết:
‘Căn cứ theo năm phần phán giáo của Hiền Thủ, tức là: Tiểu, Thỉ, Chung,
Ðốn, Viên, nay kinh này thuộc về Ðốn giáo mà
cũng kiêm thuộc cả hai giáo trước và sau
(tức là Chung và Viên).Viên giáo nhiếp trọn
kinh này, kinh này nhiếp một phần Viên giáo’.
Lại viết:
‘Tứ pháp giới là:
Một là sự pháp giới, hai là lý pháp giới, ba là sự lý vô ngại pháp giới.
Ba giới này các giáo pháp khác cũng có.
Bốn là sự sự vô ngại pháp giới chỉ một mình kinh Hoa Nghiêm là có nên
gọi là Biệt Giáo Nhất Thừa.
Với cái toàn viên của kinh Hoa Nghiêm, kinh này (kinh A Di Ðà)
được ít phần. Viên giáo nhiếp trọn kinh này,
kinh này nhiếp được một phần Viên giáo’.
Do Liên Trì đại sư đã phán định kinh Tiểu Bổn là phần viên, ngài bèn nêu
lên mười điều về sự sự vô ngại pháp giới của hai
kinh Tiểu Bổn, Ðại Bổn để chứng minh rằng kinh A
Di Ðà có ít phần thuộc về Viên giáo.
Rõ ràng Liên Trì đại sư cũng phán định kinh A Di Ðà là giáo pháp viên đốn,
đấy là điểm tương đồng giữa các đại đức Trung
Hoa, Nhật Bản. Ðiểm khác biệt là: hoặc có vị đề
cao kinh này là giáo pháp viên mãn nhất trong
các pháp Viên giáo, hoặc khiêm nhường cho rằng
nó chỉ có đôi phần thuộc Viên giáo. Ðấy là do cơ
duyên khác biệt nên thiện xảo chẳng đồng, chứ
bổn hoài của ngài Liên Trì và Thiện Ðạo, Ngẫu
Ích với các đại đức Nhật Bản nào có khác nhau
mảy may!
Chẳng qua, lúc trước tác bộ Sớ Sao, đúng là lúc Cuồng Thiền sôi nổi nên đại
sư Liên Trì chẳng thể không dùng phương tiện
thiện xảo quyền nghi để dìu dắt các căn cơ; cho
nên phương tiện mà nói thế. Thật đúng như lời cư
sĩ Trầm Thiện Ðăng bảo:
‘Ấy là bậc đại quyền Bồ Tát thuận theo căn cơ của đương sự để tùy bịnh
cho thuốc nhằm thích ứng với thời tiết nhân
duyên mà thôi’.
Trong bộ Sớ Sao, Liên Trì đại sư dẫn đủ các đoạn kinh sự sự vô ngại pháp
giới của Tịnh tông thật là ngụ ý sâu xa đủ chứng
tỏ nỗi khổ tâm của ngài. Vì sự sự vô ngại chỉ là
điều kinh Hoa Nghiêm chuyên có, ta thấy được
rằng: đại sư rộng dẫn các chứng cớ từ kinh [Vô
Lượng Thọ] để chứng minh kinh này thật sự nói về
sự sự vô ngại pháp giới thì ngài cũng đã chứng
minh được kinh này thuộc về Viên giáo thật chẳng
còn ngờ vực gì nữa.
Nay tôi cũng noi bước đại sư, chuyên luận về huyền nghĩa sự sự vô ngại pháp
giới của kinh này.
Tông Hoa Nghiêm lập ra mười huyền môn để chỉ bày pháp giới vô ngại. Gọi là
“huyền môn” vì nếu thông đạt những môn này thì
có thể nhập được biển Viên giáo huyền diệu của
Hoa Nghiêm nên gọi là huyền môn.
Nay tôi sẽ dựa theo thứ tự của Thập Huyền nói trong sách Thám Huyền
Ký, dẫn chứng kinh văn để chỉ rõ kinh này thật
sự đủ cả Thập Huyền. Nhân đó, xác chứng kinh này
thật sự thuộc về Viên giáo, thật sự là kinh Hoa
Nghiêm bản trung, nhằm chứng minh các thuyết
được nêu ở phần trước là lời chơn thật, chứ
chẳng phải do hành nhân Tịnh Tông dối trá tự tôn
tự đại vậy.
a. Ðồng thời cụ túc tương ưng môn
Giáo lý Hoa Nghiêm lấy duyên khởi làm chủ. Toàn bộ hết thảy các thứ trong
pháp giới gộp thành một đại duyên khởi. Một pháp
thành hết thảy pháp, hết thảy pháp khởi một
pháp, cùng một lúc đầy đủ, viên dung hiển hiện,
nên bảo là ‘cụ túc tương ưng’.
Phẩm Diệu Nghiêm của kinh Hoa Nghiêm chép: ‘Biển hết thảy pháp môn vô
tận cùng hội trong một pháp đạo tràng’. Ðại
Sớ giảng: ‘Như một giọt nước biển có đủ vị
của cả trăm sông’. Ðó là huyền nghĩa của môn
này.
Trong kinh Vô Lượng Thọ đây hiển thị đầy đủ huyền môn ‘đồng thời cụ túc
tương ưng’ như trong phẩm Chí Tâm Tinh Tấn, Pháp
Tạng tỳ kheo ‘với các sự trang nghiêm công
đức của hai mươi mốt câu chi cõi Phật đó hiểu rõ
thông đạt như một cõi Phật. Cõi nước Phật được
ngài nhiếp thủ còn vượt xa hơn những cõi Phật
nói trên’.
Hai mươi mốt câu chi cõi Phật đề cập trong kinh biểu thị vô lượng cõi Phật.
Pháp Tạng tỳ kheo nhiếp vô lượng cõi Phật làm
thành một Cực Lạc Tịnh Ðộ chính là nghĩa ‘hết
thảy các pháp cùng thời, cùng chỗ’ của kinh
Hoa Nghiêm, do một đại duyên khởi mà tồn tại ‘cụ
túc tương ưng’. Ðây là tổng môn của Thập Huyền,
thật cũng là tổng tướng của kinh đây.
Kinh Vô Lượng Thọ đây cũng do cùng một đại duyên khởi mà xuất hiện vậy!
Hơn nữa, trong phẩm Tuyền Trì Công Ðức chép: ‘Nước [nơi ao suối] đó mỗi
việc đều tùy thuận ý của chúng sanh’. Chúng
sanh muốn nước lạnh, nóng, chảy nhanh, chậm,
cạn, sâu, mỗi điều chẳng giống nhau, nhưng cùng
một dòng nước ấy có thể cùng lúc đáp ứng ý muốn
của từng chúng sanh một.
Nước là một pháp, ý muốn của chúng sanh là nhiều pháp, mà cũng một dòng
nước đồng thời đáp ứng ý muốn của các chúng
sanh. Ðấy đúng là huyền môn ‘đồng thời cụ túc
tương ưng’ vậy.
Huống hồ nước ấy lại còn có thể đồng thời ‘sóng vỗ vô lượng âm thanh vi
diệu: hoặc nghe tiếng Phật, Pháp, Tăng cho đến
tiếng cam lộ quán đảnh thọ lãnh địa vị.
Ðược nghe các tiếng như vậy rồi, tâm họ thanh
tịnh, không có các phân biệt, chánh trực, bình
đẳng, thành thục căn lành. Ðiều họ được nghe đều
tương ứng với pháp. Ðiều gì mong nghe, tai liền
được nghe. Ðiều gì không muốn nghe, trọn
không phải nghe. Trọn chẳng lui sụt tâm Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác’.
Chỉ cùng một dòng nước mà có thể cùng một lúc, cùng một chỗ thỏa mãn ước
muốn của hết thảy người nghe: ai nấy được nghe
pháp mình mong nghe, mà điều họ nghe được lại
tương ứng với pháp. Ðủ thấy toàn thể tổng môn
của thập huyền nơi kinh Hoa Nghiêm được hiển thị
trong kinh này vậy.
b. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn
Ðại Sớ giảng: ‘Như nơi cái gương đường kính một thước mà thấy cảnh cả
mười dặm’. Gương ví cho cái hẹp (hiệp), cảnh
mười dặm ví cho cái rộng (quảng).
Phẩm Phát Ðại Thệ Nguyện của kinh Vô Lượng Thọ chép: ‘Cõi Phật ấy ngự
rộng rãi nghiêm tịnh, sáng rực như gương, chiếu
tột mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ
bàn thế giới chư Phật’.
Dùng lực dụng của một cõi soi tỏ khắp mười phương là Quảng. Tướng của một
cõi chẳng hoại là Hiệp. Cái rộng rãi của lực
dụng vô hạn và cái hẹp của một pháp chẳng trở
ngại nhau, mỗi thứ đều tự tại nên gọi là “quảng
hiệp tự tại vô ngại”.
Lại nữa: ‘Muốn thấy sự trang nghiêm của các cõi Phật thanh tịnh thảy đều
thấy được nơi cây báu, ví như gương sáng thấy rõ
khuôn mặt’. Cũng giống như trên, câu này
cũng minh thị quảng hiệp tự tại vô ngại môn.
c. Nhất đa tương dung bất đồng môn
Ðại Sớ viết: ‘Như ngàn ngọn đèn trong một căn nhà, ánh sáng xen lẫn
nhau’. Trong một có nhiều, trong nhiều có
một, đó là ‘tương dung’ (chứa đựng lẫn nhau),
nhưng tướng của một và nhiều chẳng mất nên là
‘bất đồng’.
Phẩm Lô Xá Na Phật của kinh Hoa Nghiêm dạy: ‘Dùng một cõi Phật choán đầy
mười phương. Mười phương bỏ vào một cõi cũng
chẳng dôi ra. Tướng trạng vốn có của từng thế
giới cũng chẳng bị hư hoại. Công đức không gì so
sánh nổi cũng giống như vậy’.
Một cõi đầy chật cả mười phương, mười phương vào trong một cõi là nghĩa
‘tương dung’. Tướng vốn có của từng thế giới
chẳng bị hư hoại là nghĩa ‘bất đồng’.
Trong kinh Vô Lượng Thọ đây, lời nguyện hương báu xông khắp của Phật Di Ðà
như sau: ‘Tất cả hết thảy vạn vật trong cõi
nước đều dùng vô lượng hương báu hợp thành.
Hương ấy xông khắp mười phương thế giới’.
Bất cứ một vật gì trong muôn vật ở cõi ngài cũng đều dùng vô lượng hương
báu hợp thành. Dùng vô lượng hương báu gộp thành
một vật biểu thị hết thảy pháp vào trong một
pháp, biểu thị ‘một và nhiều chứa đựng lẫn nhau’
(nhất đa tương dung). Tướng của mỗi một vật lại
cùng tồn tại bên cạnh tướng của các thứ hương,
biểu thị ý nghĩa hai tướng chẳng đồng. Hương ấy
lại tỏa khắp mười phương thế giới còn minh thị
rằng một pháp trọn có mặt trong tất cả pháp, đấy
lại là hiển thị diệu lý ‘nhất đa tương dung bất
đồng’ vậy.
d. Chư pháp tương tức tự tại môn
Phần trên giải thích về ‘tương dung’, phần này nói về ‘tương tức’.
Phẩm Thập Trụ của kinh Hoa Nghiêm, bản dịch đời Tấn, chép: ‘Một tức là
nhiều, nhiều tức là một’. Ví như nước với
sóng, nước ví cho một, sóng ví cho nhiều. Sóng
tức là nước, nước tức là sóng, cái này tức là
cái kia (tương tức), mà mỗi thứ tự tại nên nói
là ‘tương tức tự tại’. Lại nữa, Ðại Sớ viết: ‘Như
vàng và màu sắc của vàng, hai thứ chẳng rời
nhau’.
Trong phẩm Pháp Tạng Nhân Ðịa của kinh Vô Lượng Thọ đây có chép:
‘Thế Tôn có thể diễn ra một âm thanh. Mỗi một hữu tình tùy theo loài của
mình mà hiểu. Ngài lại có thể hiện ra một sắc
thân mầu nhiệm khiến khắp các chúng sanh tùy
theo chủng loại của chúng mà thấy [sai khác]’.
Câu này cũng chỉ rõ: hết thảy âm hàm chứa trong một âm, hết thảy thân trong
một âm, hết thảy tức là một, một tức là hết
thảy, nhiều tức là một, một tức là nhiều. Như
sóng với nước, một nước, nhiều sóng là nghĩa
‘tương tức tự tại’.
Lại như phẩm Tán Thán Phật Ðức trong kinh đây có chép: ‘Hoa được rải lên
ấy liền ở trong không trung hợp thành một hoa.
Hoa ấy chẳng rơi xuống, tròn trịa đầy đặn, hóa
thành một lọng hoa’. Nhiều hoa thành một hoa
nên nhiều tức là một. Trong một hoa hàm chứa
nhiều hoa nên một tức là nhiều. Như vậy, kinh
này đã hiển thị huyền môn thứ tư.
e. Ẩn mật hiển liễu câu thành môn
Ðại Sớ viết: ‘Như một mảnh trăng trong vắt trên không, tối và sáng cùng
có’. Ý nói: trong ẩn có hiển, trong hiển có
ẩn.
Phẩm Lễ Phật Hiện Quang trong kinh này chép:
‘A Di Ðà Phật liền từ bàn tay phóng ra vô lượng quang, chiếu khắp hết
thảy thế giới chư Phật. Khi đó, các cõi nước
Phật thảy đều hiện rõ như trong khoảng một tầm’.
Lại chép:
‘Cho đến Nê Lê, khe, hang, chỗ tối tăm đều sáng bừng lên, đều cùng một
màu. Ví như kiếp thủy đầy ngập thế giới, mọi vật
trong ấy đều chìm lấp chẳng hiện, mênh mông bát
ngát chỉ thấy nước lớn. Quang minh của đức Phật
ấy cũng như thế, hết thảy quang minh của Thanh
Văn, Bồ Tát đều bị trùm lấp, chỉ thấy
Phật quang sáng lòa rực rỡ’.
Ðoạn này biểu thị hết thảy pháp chính là một pháp trong Phật quang, một
pháp (Phật quang) hiển thị hết thảy pháp (vạn
vật trong cõi này, quang minh của hiền thánh)
đều ẩn. Ðó là tướng của huyền môn thứ năm: ẩn
hiển câu thành.
f. Vi tế tương dung an lập môn
Ðại Sớ viết: ‘Như bình lưu ly đựng nhiều hạt cải’. Các môn nói trên
đều minh thị ý nghĩa: rộng hẹp vô ngại, một,
nhiều dung chứa lẫn nhau, còn môn thứ sáu này,
lại chỉ rõ vô luận trong vật gì nhỏ nhặt đến đâu
cũng có thể dung chứa hết thảy các pháp. Trong
một sợi lông, một hạt bụi, có vô biên sát hải,
hết thảy các pháp đồng thời cùng hiện ra như
trong tấm gương hiện bóng muôn hình tượng.
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện chép:
‘Trong một hạt bụi có cõi nước nhiều như số hạt bụi. Trong mỗi một cõi
có chẳng thể nghĩ nổi đức Phật’. ‘Trong
đầu một sợi lông nhỏ bé nhất, xuất hiện cõi
trang nghiêm ba đời’ chính là nói đến ý
nghĩa này.
Nay trong phẩm Tích Công Lũy Ðức của kinh Vô Lượng Thọ đây có nói: Pháp
Tạng tỳ kheo trong lúc tu nhân, ‘thân, miệng
thường tỏa ra vô lượng diệu hương ví như chiên
đàn, hoa ưu bát la. Hương ấy thơm ngát khắp mười
phương vô lượng thế giới... Trong tay thường
tuôn ra vô tận các báu, vật trang nghiêm, hết
thảy các vật cần dùng tốt đẹp nhất để lợi lạc
hữu tình’.
Phẩm Bảo Liên Phật Quang lại chép: ‘Trong mỗi một hoa hiện ra ba mươi
sáu trăm ngàn ức ánh sáng. Mỗi một ánh sáng hiện
ra ba mươi sáu trăm ngàn ức Phật’.
‘Trong mỗi một ánh sáng’ là một tia sáng trong số ba mươi sáu trăm ngàn ức
ánh sáng phóng ra từ hoa sen, biểu thị ý nghĩa
chí cực vi tế. Trong ánh sáng lại hàm chứa ba
mươi sáu trăm ngàn ức Phật, biểu thị trong cái
nhỏ nhiệm nhất lại chứa đựng hết thảy các pháp.
g. Nhân Ðà La võng pháp giới môn
Môn vi tế tương dung nói trên chỉ minh họa các tướng tương nhập, tương tức
mới có một tầng, chưa minh thị nổi nghĩa lý
trùng trùng vô tận tương tức tương nhập nên phải
mượn cái lưới của Nhân Ðà La (indra) làm thí dụ
để minh họa nghĩa này.
Lưới Nhân Ðà La là cái lưới châu treo ở thiên cung của Ðế Thích. Cái lưới
ấy có nghìn hạt châu chiếu rọi lẫn nhau. Trong
mỗi hạt châu hiện hình bóng của hết thảy các hạt
châu, đấy là tầng thứ nhất: mỗi hạt châu ảnh
hiện. Nhưng hết thảy các hạt châu được hiện bóng
trong một hạt châu, mỗi hạt ấy lại hiện bóng của
chín trăm chín mươi chín hạt châu kia, đó là sự
ảnh hiện ở tầng thứ hai.
Các hạt châu trùng trùng ảnh hiện như thế ấy chẳng có cùng tận dùng để thí
dụ các pháp tương tức, tương nhập, trùng trùng
vô tận. Sách Ðại Sớ viết: ‘Như dùng hai tấm
gương đặt đối nhau, chiếu rọi hiện bóng lẫn
nhau’.
Phẩm Bảo Liên Phật Quang trong kinh đây chép:
‘Các hoa sen báu đầy ắp khắp cả thế giới... Trong mỗi một hoa hiện ra ba
mươi sáu trăm ngàn ức ánh sáng. Trong mỗi một
ánh sáng, xuất hiện ba mươi sáu trăm ngàn ức
Phật... Mỗi một vị Phật lại phóng trăm ngàn
quang minh, vì khắp mười phương thuyết pháp
vi diệu. Các đức Phật như thế mỗi vị đều an lập
vô lượng chúng sanh nơi Phật chánh đạo’.
Ở trên, trong phần nói về huyền môn thứ sáu, đã chỉ ra ‘trong mỗi một
ánh sáng xuất hiện ba mươi sáu trăm ngàn ức
Phật’
là vi tế tương dung môn, đấy là một tầng tương
tức tương nhập.
Xét kỹ đoạn trước và phần sau của đoạn kinh ấy, ta thấy rõ được diệu nghĩa
trùng trùng vô tận tương tức tương nhập:
Trong một cõi Phật A Di Ðà có vô số hoa sen báu. Mỗi một hoa lại phóng ra
số quang minh khó tính biết nổi. Trong mỗi một
quang minh lại có số Phật khó tính biết nổi. Mỗi
một đức Phật lại phóng quang thuyết pháp, an lập
vô lượng chúng sanh nơi Phật chánh đạo. Như vậy,
trong cõi Cực Lạc có vô số sen. Sen phóng quang.
Quang hiện Phật. Phật hiện cõi nước. Trong cõi
nước lại có vô số hoa sen, sen lại phóng quang,
hiện Phật.
Mỗi một hoa sen ví như một hạt châu nơi lưới Ðế Thích, hoa sen như thế khắp
đầy cả cõi Phật, đủ thấy kinh này thật sự hiển
thị huyền môn ‘nhân đà la võng trùng trùng vô
tận, sự sự vô ngại’ của Hoa Nghiêm.
h. Thác sự hiển pháp sanh giải môn
Do trùng trùng vô tận như trên nên vi trần, pháp nào cũng đều là sự sự vô
ngại pháp giới. Vì vậy, có thể tùy ý lấy một hạt
bụi, một sự để hiển lộ toàn thể pháp giới như
Ðại Sớ viết: ‘Tượng đứng giơ tay, mắt nhìn
đều là đạo’.
Phẩm Bồ Ðề Ðạo Tràng trong kinh đây chép:
‘Lại nữa, đạo tràng ấy có cây Bồ Ðề.... Lại do trông thấy cây ấy mà được
ba thứ nhẫn: một là âm hưởng nhẫn, hai là nhu
thuận nhẫn, ba là vô sanh pháp nhẫn. Phật bảo A
Nan: Cõi Phật như vậy, hoa quả, cây cối và các
chúng sanh đều làm Phật sự’.
Một phen nhìn cây ấy chứng được vô sanh thì đúng là huyền chỉ ‘thác sự hiển
pháp sanh giải’. Hoa quả, cây cối đều làm Phật
sự cũng có cùng ý nghĩa như vậy.
i. Thập thế cách pháp dị thành môn
Môn này biểu thị sự kéo dài hay rút ngắn vô ngại. Tám môn trước biểu thị
tướng viên dung theo chiều ngang (không gian),
còn môn này biểu thị theo chiều dọc (thời gian).
Thập thế là đời quá khứ, vị lai, hiện tại, mỗi đời lại có quá khứ, vị lai,
hiện tại nên thành chín thế. Chín thế nhập vào
nhau thành một tổng thế. Tổng thế hợp với chín
thế trên thành thập thế.
Mười thế này là pháp khác biệt về thời gian nhưng đồng thời hiển hiện trọn
vẹn nên gọi là cách pháp dị thành (các pháp sai
khác cùng một lúc thành tựu nên gọi là dị
thành).
Phẩm Sơ Phát Tâm Công Ðức trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch đời Tấn, chép:
‘Biết vô lượng kiếp là một niệm, biết một niệm
tức là vô lượng kiếp’.
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện lại chép: ‘Trọn hết thảy kiếp là một niệm’,
‘ta trong một niệm thấy ba đời’ đều là nghĩa
kéo dài, rút gọn trong cùng một lúc, tam thế
nhất như. Vì vậy, Ðại Sớ viết: ‘Như giấc mộng
một đêm kéo dài cả trăm năm’.
Trong kinh Vô Lượng Thọ đây cũng có nhiều đoạn hiển thị môn này, như trong
phẩm Ðại Giáo Duyên Khởi chép: ‘Có thể trong
khoảng một niệm, trụ vô lượng ức kiếp’. Phẩm
Ðức Tuân Phổ Hiền chép: ‘Trong khoảng một
niệm qua khắp hết thảy cõi Phật’. Phẩm Tán
Thán Phật Ðức cũng chép: ‘Trong khoảng một
bữa ăn, lại đi qua mười phương vô biên cõi’.
j. Chủ bạn viên minh cụ đức môn
Vạn pháp ngang dọc thành một đại duyên khởi, pháp pháp thấu tột lẫn nhau
nên hễ nêu lên một pháp thì hết thảy các pháp
khác thành bạn để làm duyên khởi, cũng tức là
lấy một pháp làm chủ thì hết thảy pháp khác đều
là bạn để tương ứng với pháp ấy. Lấy pháp khác
làm chủ thì các pháp kia thành bạn để cùng nhóm
hết cả lại. Vì vậy một pháp viên mãn công đức
của hết thảy pháp. Ðấy gọi là viên mãn cụ đức.
Ðại Sớ viết: ‘Như sao Bắc Ðẩu ngự ở đâu, các
tinh tú đều chầu về’.
Nay kinh này lấy ‘phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm’ làm tông, dùng
nguyện ‘mười niệm ắt vãng sanh’ làm gốc của đại
nguyện, chuyên trọng trì danh niệm Phật thì là
‘đầy đủ vạn đức’.
Một câu danh hiệu Phật này viên mãn đầy đủ công đức của hết thảy pháp. Toàn
thể đều là nghĩa lý của Hoa Nghiêm huyền môn
‘viên minh cụ đức’.
Phẩm Tam Bối Vãng Sanh của kinh này chép:
‘Nhẫn đến đạt được một niệm tịnh tâm, phát một niệm tâm niệm đức Phật
kia, người ấy đến lúc lâm chung như ở trong mộng
thấy A Di Ðà Phật, quyết định sanh cõi kia, được
bất thối chuyển vô thượng Bồ Ðề’.
Câu này chỉ rõ tịnh tâm niệm Phật một tiếng, công đức vô lượng chẳng thể
nghĩ bàn. Hơn nữa, trong các đại nguyện có
nguyện: nghe tên được phước. Thập phương chúng
sanh do nghe tên ngài ‘sau khi thọ hết, sanh
nhà tôn quý, các căn chẳng khuyết, thường tu
phạm hạnh thù thắng’.
Lại có nguyện nghe tên đắc nhẫn, Bồ Tát phương khác do nghe tên ngài, ngay
khi ấy đạt được một, hai hoặc ba thứ nhẫn chứng
bất thối chuyển, đủ chứng minh rằng diệu đức của
danh hiệu A Di Ðà khó nghĩ lường nổi.
Như sách A Tự Quán của Ðông Mật viết: ‘Từ chữ A sanh ra hết thảy đà ra
ni, từ hết thảy đà ra ni sanh ra hết thảy Phật’.
Chữ A là vua, hết thảy đà ra ni và hết thảy chư
Phật là bạn. Trong một chữ, chủ bạn công đức vô
lượng vô biên thì chính là huyền ý ‘viên minh cụ
đức’ vậy.
Hơn nữa, trong cõi nước ấy, sắc, thanh, hương, vị, xúc mỗi thứ đều viên
minh cụ đức. Vì vậy, hiện quang, thấy cây, nghe
tiếng, ngửi hương, không điều gì là chẳng tăng
trưởng thiện căn.
‘Nếu có chúng sanh thấy quang minh của ta chiếu chạm đến thân không ai
chẳng an lạc, từ tâm làm lành’. ‘Sóng vỗ vô
lượng âm thanh vi diệu... Ðược nghe các thứ âm
thanh như vậy rồi, tâm họ thanh tịnh, không có
các phân biệt, chánh trực bình đẳng,
thành thục thiện căn’. ‘Tỏa khắp nơi muôn
thứ hương ôn nhã muôn đức, có ai ngửi thấy trần
lao cấu tập tự nhiên chẳng khởi. Gió chạm vào
thân, an hòa vừa phải, khoan khoái như là tỳ
kheo đắc Diệt Tận Ðịnh’.
Lại còn:
‘Nếu có chúng sanh thấy cây Bồ Ðề, nghe tiếng, ngửi hương, nếm vị của
trái, chạm phải ánh sáng, nghĩ đến công đức của
cây, sáu căn đều được thanh tịnh, không có các
não hoạn, trụ bất thối chuyển cho đến khi thành
Phật đạo’.
Trong nguyện hương báu xông khắp lại nói: ‘Hương ấy xông khắp mười
phương thế giới, chúng sanh ngửi thấy đều tu
hạnh Phật’. Ðủ thấy, một hạt bụi, một sợi
lông không thứ gì chẳng viên minh cụ đức.
Sách Hoa Nghiêm Huyền Ðàm giải thích các pháp là sự sự vô ngại là do duy
tâm sở hiện. Nguồn gốc của các pháp chẳng phải
là có chủng loại riêng, chỉ là pháp sai biệt
duyên khởi của Như Lai Tạng Tâm của chính mình.
Vì vậy, chúng ắt phải có cái lý có thể dung hòa
được nhau.
Sách Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương viết: ‘Hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc một,
hoặc nhiều đều không có tự tánh. Do tâm xoay
chuyển nói sự, nói lý, có thành, có lập thì gọi
là duy tâm hồi chuyển thiện thành môn’. Duy
tâm thiện thành môn chính là chủ bạn viên minh
cụ đức môn.
Phẩm Tích Công Lũy Ðức trong kinh này đây có thuật Pháp Tạng tỳ kheo
‘trụ chơn thật huệ, dũng mãnh tinh tấn một bề
chuyên chí trang nghiêm cõi nước mầu nhiệm’
nên biết được rằng y báo, chánh báo thanh tịnh
trang nghiêm của cõi Cực Lạc đều do Chơn Thật
Huệ hiện ra. Như Vãng Sanh Luận cho rằng ba thứ
trang nghiêm vào trong một pháp cú, một pháp cú
là thanh tịnh cú, thanh tịnh cú là chơn thật trí
huệ vô vi Pháp Thân thì biết được rằng trang
nghiêm cõi nhiệm mầu chính là thanh tịnh Pháp
Thân, không hai, không khác.
Phẩm Thọ Lạc Vô Cực của kinh đây chép:
‘Một phen tâm khai ngộ, liễu đạt, minh bạch, thấu triệt (khai đạt
minh triệt) tướng tự nhiên của tự nhiên,
trong tự nhiên tự có căn bổn, tự nhiên quang sắc
nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng, Uất
Ðan thành thất bảo, trong hư không tự nhiên
thành vạn vật’ (*).
Kinh nói ‘một phen khai minh’ thì cái được khai minh đó chính là tự tâm của
ngay đương sự. Bảy báu cùng muôn vật là chỉ cho
cõi Phật. Do một tâm của chính mình mà hiện ra
cõi nước mầu nhiệm, do tâm xoay vần thành ra thế
giới. Thế nên, sự sự vô ngại, viên minh cụ đức.
Vì vậy, kinh dạy: ‘Khai hóa hiển thị chơn
thật tế’.
Chơn thật tế là bổn tế Chơn Như thật tướng. Vì thế, điều được hiển thị ở
đây là: Ngay nơi tướng chính là Ðạo, ngay nơi
sự chính là Chơn. Không thứ gì chẳng phải là
Chơn Như, Thật Tướng. Cũng có nghĩa là không một
thứ gì chẳng phải là tự tâm. Vì thế, siêu
tình, ly kiến, đầy đủ trọn vẹn Thập Huyền.
Sự thù thắng độc đáo của kinh Hoa Nghiêm chỉ cốt ở Thập Huyền mà kinh Vô
Lượng Thọ này cũng có đủ, đủ chứng minh rằng
kinh này chẳng khác gì kinh Hoa Nghiêm. Cuối
kinh Hoa Nghiêm dùng mười đại nguyện vương để
dẫn dắt quy về Cực Lạc. Kinh này đây hoàn toàn
hiển thị Tịnh tông, dẫn dắt phàm thánh cùng quy
Cực Lạc nên gọi kinh này là kinh Hoa Nghiêm bản
trung thì thật là có căn cứ vậy.
Lại theo như sách Yếu Giải phán định kinh Tiểu Bổn: ‘Hoa Nghiêm áo tạng,
bí tủy Pháp Hoa, tâm yếu của hết thảy chư Phật,
kim chỉ nam của muôn Bồ Tát hạnh đều chẳng ngoài
kinh này’ thì Cực Lạc chẳng rời Hoa Tạng thế
giới, Di Ðà chính là Tỳ Lô Giá Na. Vì vậy, phán
định kinh này thuộc Viên giáo ai dám bảo là
chẳng đúng.
Nhưng cách phán giáo này cũng chỉ là tướng sai biệt của bình đẳng. Nếu là
người căn cơ viên mãn thì pháp nào cũng đều là
viên, ‘pháp này bình đẳng, chẳng có cao,
thấp’. Ðấy là tướng bình đẳng trong sai
biệt.
7. Bộ loại sai biệt
Ðể hiểu sâu kinh này, cần phải biết các kinh luận cùng bộ loại và kinh điển
nói kèm pháp Tịnh Ðộ để tiện việc nghiên cứu,
tham khảo.
7.1. Ðồng bộ
Kinh này là kinh điển đồng bộ với kinh Tiểu Bổn Di Ðà. Bản dịch đời Ngô của
kinh này cũng được đặt tên là A Di Ðà kinh,
trùng tên với bản dịch kinh Tiểu Bổn của ngài La
Thập đời Tần. Vì vậy, tục gọi kinh này là Ðại
Bổn, kinh A Di Ðà bản dịch đời Tần là Tiểu Bổn.
Sách Sớ Sao cho rằng hai bản Ðại, Tiểu ‘văn
dầu chi tiết hay giản lược, nhưng nghĩa không
ưu, liệt, cho nên phán định là đồng bộ’.
Hiện tại, Tiểu Bổn Di Ðà có ba thứ:
* A Di Ðà kinh, do ngài tam tạng pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu
Tần.
* Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thọ kinh của ngài Huyền Trang dịch đời Ðường.
* A Di Ðà kinh Tần Ðường lưỡng dịch hội tập bản do Bồ Tát giới cư sĩ Hạ
Liên Cư hội tập thời hiện đại.
Hai bản dịch đời Tần và Ðường đại thể tương đồng, chỉ sai biệt đôi chút.
Bản dịch đời Tần tinh yếu, lưu loát, được mọi
người coi trọng. Bản Ðường dịch thì chuẩn xác,
tường tận, tận lực giữ trọn nguyên tác. Thầy tôi
hội tập hai bản dịch này, gạn hết những điểm
tinh yếu, lại dựa vào bản kinh khắc đá thời Lục
Triều bổ túc hai mươi chữ bị sót mất trong bản
dịch đời Tần.
Xét theo bản kinh đá ở Tương Dương và bản chép tay của người thời Lục Triều
để khắc đá, sau chữ ‘nhất tâm bất loạn’
còn có dòng chữ ‘chuyên trì danh hiệu, dĩ
xưng danh cố chư tội tiêu diệt, tức thị đa thiện
căn phước đức nhân duyên’ gồm hai mươi
mốt chữ.
Sư Nguyên Chiếu đời Tống cũng chép như vậy trong tác phẩm Linh Chi Sớ. Ðại
sư Cừ Am đời Minh cũng đề cao bản Thạch kinh. U
Khê đại sư trong tác phẩm ViênTrung Sao còn lớn
tiếng hô hào: ‘Bản được lưu truyền hiện tại
(chỉ bản dịch đời Tần) bị sai sót, phàm
đọc tụng, tu tập nên dựa theo cổ bản để bổ túc
cho đúng’.
Hội bản nương theo ý các vị tiên đức, thu nhập thêm hai mươi mốt chữ đó.
Trong hội bản này gồm đủ ưu điểm của hai bản
dịch lại bổ khuyết chỗ thiếu sót của bản dịch
đời Tần. Thánh ý được hiển lộ trọn vẹn, dễ được
hiểu thấu đúng đắn. Như vậy, nguyên văn của bản
dịch đời Tần phải là ‘nhất tâm bất loạn
chuyên trì danh hiệu’ (tám chữ này phải nên
đọc một hơi) thật tương đồng bản dịch đời Ðường
‘hệ niệm bất loạn’, cũng tương đồng ý chỉ ‘nhất
hướng chuyên niệm’ của kinh này, chỉ bày tỉ mỉ
diệu pháp Trì Danh từ quả khởi tu, quả giác nhân
tâm, tha lực thầm gia hộ chẳng thể nghĩ bàn.
Sách Yếu Giải viết: ‘Nếu chấp trì danh hiệu chưa đoạn kiến, tư thì tùy
theo là tán hay định, chia thành ba bậc, chín
phẩm nơi cõi Ðồng Cư’, đủ thấy chúng
sanh chỉ cần tín, nguyện, trì danh, quyết được
vãng sanh cõi Phàm Thánh Ðồng Cư của Cực Lạc.
Thật chẳng đợi phải đạt đến sự nhất tâm bất loạn
hoặc lý nhất tâm bất loạn. Diệu dụng của pháp
môn Trì Danh được giãi bày hết ra, đủ chứng minh
hội bản thật có công với thánh giáo vậy.
7.2 Ðồng loại
Hễ kinh điển nào xướng xuất: nghĩ, niệm Di Ðà, nguyện sanh Cực Lạc đều được
coi là đồng loại. Trong các kinh ấy cũng có
thân, sơ. Kinh nào trì danh niệm Phật là thân,
đề cao pháp khác là sơ.
* Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ kinh: kinh này cùng với hai kinh Ðại Bổn,
Tiểu Bổn ở trên được gọi chung là Tịnh Ðộ Tam
Kinh, là kinh điển cơ bản của Tịnh tông. Kinh
này giảng đầy đủ về mười sáu diệu môn, khuyên
dạy quán tưởng niệm Phật và trì danh niệm Phật.
* A Di Ðà Phật Cổ Âm Thanh Vương Ðà Ra Ni kinh: khuyên dạy trì danh và kiêm
trì chú.
* Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm: mười đại nguyện vương dẫn
dắt quy về Cực Lạc.
* Hậu xuất A Di Ðà Phật kệ kinh: Từ đầu đến cuối chỉ là kệ, gồm năm mươi
sáu câu. Trong ấy có câu: ‘Phát nguyện giống
như chư Phật, thề hai mươi bốn chương’ tương
đồng với hai mươi bốn điều nguyện trong hai bản
dịch đời Ngô và Hán.
* Chương Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Thủ Lăng Nghiêm:
khuyên dạy chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện
tiền, tương lai nhất định thấy Phật. Dùng tâm
niệm Phật nhập vô sanh nhẫn.
* Bát Châu Tam Muội kinh: do tam tạng pháp sư Chi Lâu Ca Sấm người xứ Nhục
Chi dịch vào đời Hậu Hán. Ngoài ra, Ðại Phương
Ðẳng Ðại Tập Hiền Hộ kinh là bản dịch khác của
kinh này. Kinh chú trọng dùng chín mươi ngày làm
kỳ hạn, chẳng ngồi, chẳng nằm, tu Phật lập tam
muội, Thiên Thai tông gọi là Thường Hành Tam
Muội, xướng danh, quán niệm A Di Ðà Phật.
* Vãng Sanh Luận: do Bồ Tát Thiên Thân soạn, đề xướng ngũ môn niệm Phật cầu
sanh Tịnh Ðộ (Nhất luận trong ‘Tịnh tông tam
kinh nhất luận’ là chỉ cho luận này).
* Vãng Sanh Luận Chú của đại sư Ðàm Loan đời Bắc Ngụy soạn, là một bộ sách
cổ của Tịnh tông.
* Du Tâm An Lạc Ðạo: do đại sư Ðạo Xước đời Ðường soạn là một trong những
bộ sách cổ.
7.3 Kinh, luận nói kèm về Tịnh Ðộ
Lại có các kinh, luận tuy chẳng chuyên luận về Tịnh Ðộ, nhưng cũng kiêm
xưng tán Cực Lạc, khuyên lơn vãng sanh.
Các kinh ấy như: kinh Pháp Hoa, kinh Bi Hoa, kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh,
kinh Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhã, kinh Mục Liên Sở
Vấn, kinh Thập Vãng Sanh, kinh Quán Phật Tam
Muội (Phật thọ ký cho ngài Văn Thù sẽ sanh về
Cực Lạc), kinh Văn Thù Phát Nguyện (Văn Thù
nguyện cầu sanh Cực Lạc), kinh Nhập Lăng Già
(Phật thọ ký cho Long Thọ sanh cõi Cực Lạc), Tỳ
Bà Sa luận (do Long Thọ Ðại Sĩ soạn), Ðại Trí Ðộ
luận (cùng tác giả), Ðại Thừa Khởi Tín Luận (Bồ
Tát Mã Minh soạn) v.v...
Kinh, luận Tịnh Ðộ có đến trăm mấy mươi bộ. Trên đây chỉ lược nêu các kinh
sách thuộc cùng bộ loại và kinh, luận đề cập đến
Tịnh Ðộ. Còn như số lượng các kinh điển trong
Mật bộ có liên quan đến Tịnh Ðộ còn nhiều hơn
nữa nhưng chẳng kể ra.
8. Dịch,
hội hiệu, thích
‘Dịch’ chỉ cho bản dịch gốc. ‘Hội hiệu’ chỉ các bản do
căn cứ vào các bản dịch gốc để hội tập (tổng
hợp, khảo đính những bản dịch của cùng một kinh
để chọn ra những điểm trọng yếu), hiệu đính.
‘Thích’ chỉ cho các bản chú giải kinh này.
8.1 Các bản dịch kinh này
Kinh này ‘được đức Phật thường nói, các sư đua nhau
dịch, được truyền đến Trung Hoa rất sớm, riêng
mình nó có rất nhiều bản dịch’ (xem lời tựa
kinh này của cư sĩ Mai Quang Hy). Từ Ðường đến
Tống có 12 dịch bản. Bản đời Tống, Nguyên đã
mất, nay chỉ còn lại được năm bản dịch.
a. Vô Lượng Thọ Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác kinh do sa môn
người xứ Nhục Chi là Chi Lâu Ca Sấm dịch ở Lạc
Dương vào đời Hậu Hán (từ đây gọi tắt là bản Hán
dịch).
b. Phật thuyết Chư Phật A Di Ðà Tam Da Tam Phật Tát Lâu
Phật Ðàn Quá Ðộ Nhân Ðạo kinh, tên khác là Vô
Lượng Thọ kinh, tên khác nữa là A Di Ðà kinh, do
ưu bà tắc Chi Khiêm tự Cung Minh người xứ Nhục
Chi dịch vào đời Ngô (gọi tắt là bản Ngô dịch).
c. Vô Lượng Thọ kinh do sa môn người Ấn Ðộ là Khang Tăng
Khải dịch ở chùa Bạch Mã, Lạc Dương vào đời Tào
Ngụy (gọi tắt là bản Ngụy dịch).
d. Vô Lượng Thọ Như Lai hội do tam tạng Bồ Ðề Lưu Chí
người Nam Ấn Ðộ dịch vào đời Ðường, bản này
trích từ kinh Ðại Bảo Tích (gọi tắt là bản Ðường
dịch).
e. Phật thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Trang Nghiêm kinh do sa
môn Pháp Hiền người xứ Tây Vực dịch vào đời Tống
(gọi tắt là bản Tống dịch).
Bảy bản dịch, hiện đã mất, căn cứ theo Khai Nguyên Thích
Giáo Lục, liệt kê như sau:
a. Vô Lượng Thọ kinh, hai quyển, do sa môn An Thế Cao
người nước An Tức dịch vào đời Hán.
b. Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác kinh, hai quyển, do
sa môn Bạch Diên dịch ở chùa Bạch Mã, Lạc Dương
vào đời Tào Ngụy.
c. Vô Lượng Thọ kinh, hai quyển do sa môn Trúc Ðàm Ma La
Ða (Pháp Hộ) dịch vào đời Tấn.
d. Vô Lượng Thọ Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác kinh, hai quyển,
tên khác là Lạc Phật Ðộ Lạc Kinh, một tên nữa là
Cực Lạc Phật Ðộ kinh, do sa môn Trúc Pháp Lực
người Tây Vực dịch vào đời Ðông Tấn.
e. Tân Vô Lượng Thọ kinh, 2 quyển, do sa môn Phật Ðà Bạt
Ðà La (Giác Hiền) người nước Ca La Vệ La dịch ở
chùa Ðạo Tràng vào đời Ðông Tấn.
f. Tân Vô Lượng Thọ kinh, 2 quyển, do sa môn Bảo Vân
người Kinh Châu dịch ở chùa Ðạo Tràng vào đời
Tống.
g. Tân Vô Lượng Thọ kinh hai quyển, sa môn Ðàm Ma La Mật
Ða (Pháp Tú) người nước Kế Tân dịch vào đời
Tống.
Bảy bản bị thất lạc trên đây và năm bản còn giữ được được
gọi là ‘thập nhị thế dịch’ (các bản dịch trong
mười hai đời). Thật ra là 8 đời, mười hai lần
dịch: Ðời Hán hai bản dịch, đời Ngô một bản, đời
Tào Ngụy hai bản, đời Tây Tấn một bản, Lưu Tống
hai bản, Ðường một bản, Triệu Tống một bản. Như
vậy, về thời gian dịch thuật là trong 8 triều
đại, số lượng bản dịch là mười hai.
Sách Bình Giải viết: ‘Phàm trong các kinh, không có
kinh nào được lưu truyền, dịch thuật thịnh hành
như kinh này. Ðó là do kinh này giảng thẳng lẽ
xuất thế, lợi ích vô biên vậy’.
Sách Hội Sớ viết: ‘Trong hết thảy các kinh được nhiều
người lưu truyền, dịch thuật không kinh nào được
như kinh này. Ðó là bởi đạo lý thẳm sâu, lợi ích
tối thượng vậy’. Cả hai bộ sớ có cùng một
nhận định.
So sánh năm bản dịch còn lưu truyền trong đời thì chẳng
giống với trường hợp của hai bản dịch kinh A Di
Ðà hay sáu bản dịch của kinh Kim Cang: kinh văn
tuy chi tiết hay giản lược khác nhau đôi chút
nhưng nội dung thật sự tương đồng. Năm bản dịch
của kinh đây, chẳng những kinh văn chi tiết hay
giản lược khác nhau rất nhiều mà ngay cả nội
dung mức độ rộng lược cũng rất khác.
Lấy ví dụ, với đại nguyện của Phật A Di Ðà khi còn tu
nhân, hai bản Hán dịch và Ngô dịch nêu hăm bốn
nguyện, bản Tống ghi băm sáu nguyện, bản Ngụy,
Ðường ghi bốn mươi tám nguyện. Ngay nội dung mỗi
nguyện cũng dịch khác nhau, đủ thấy sự khác biệt
khá lớn.
Ðược lưu truyền phổ biến nhất hiện thời là bản Ngụy dịch.
Sách Bình Giải chỉ ra rằng đem hai bản dịch đời
Ngô và Hán so với bản Ngụy dịch, chỉ kể những
điểm chính yếu đã có tám điểm khác nhau. Còn nếu
so với bản Ðường dịch, đại khái có bảy điểm khác
nhau. Ở đây, tôi không thuật rõ. Còn đến bản
dịch đời Tống so với các bản dịch khác, sự sai
biệt còn lớn hơn nữa.
Các bản dịch vì sao sai khác? Cư sĩ Trầm Thiện Ðăng đời
Thanh viết trong sách Báo Ân Luận rằng:
‘Lược khảo các kinh, sở dĩ có sự bất đồng, nói tóm lại
là do ba nguyên nhân:
- Người dịch khéo, vụng chẳng giống nhau.
- Phạn bản truyền chép khác biệt
- Ðức Bổn Sư trước sau tuyên nói nhiều lượt chẳng
giống nhau. Ðức Bổn Sư thuyết pháp hơn ba trăm
hội, nhiều lần chỉ dạy quy hướng Tịnh Ðộ thì tự
nhiên mỗi lần nói không dùng cùng một bài giảng,
phải tùy thời, tùy cơ, khai triển đại ý.
Phải căn cứ theo ý chẳng chấp mặt chữ, lẽ hiển nhiên
là như vậy’.
Vì vậy, ta thấy rằng kinh Vô Lượng Thọ được Phật giảng
nhiều lần nên chẳng phải chỉ có một Phạn bản. Do
kinh văn được dùng để dịch đã khác nhau nên bản
dịch có mức độ khéo vụng khác nhau. Bởi vậy, lời
văn của các bản dịch tự nhiên sai khác.
Ông Trầm lại còn chỉ ra nguyên nhân Phạn bản dễ bị sai
lạc:
‘Các bản kinh tiếng Phạn đều là bản chép tay nên dễ bị
chép sai, sót. Như bản Hán dịch của kinh Ðại Bổn
trải bao đời đến nay, bị chép lầm hay sót đến
vài mươi chữ, văn nghĩa không nhất quán.
Lại như tàng bản của kinh Tứ Thập Nhị Chương so với
bản khắc đá do Triệu Văn Mẫn viết và các bản
được lưu thông ngoài Ðại Tạng thì chương, tiết
trước sau, nhiều ít, đều bất đồng. So với những
đoạn trích dẫn trong sách Pháp Uyển Châu Lâm
cũng khác. Hơn nữa, những chữ [trong kinh
ấy] được chọn ra [để giải thích] trong sách Nhất
Thiết Kinh Âm Nghĩa đều không thấy trong các bản
lưu hành.
Ðại để là do kinh được tụng trì, tu tập nhiều thì được
lưu truyền, chép lại nhiều nên lỗi đắc, thất,
dị, đồng cũng nhiều’.
Sách Bình Giải của Nhật cũng viết: ‘Thẩm định các kinh
thì là do quá nhiều bản Phạn đến nỗi văn nghĩa
được truyền dịch thành ra có chỗ tường tận hay
sơ lược chẳng đồng’.
Rõ ràng, tác giả sách Bình Giải đồng ý với ông Trầm, cùng
cho rằng kinh này được Phật nói nhiều lượt. Như
vậy, tụng tập nhiều, truyền chép Phạn bản nhiều
lượt, Phạn bản có nhiều bản còn, tỉ mỉ, hay sơ
lược sai khác. Các thẻ kinh tiếng Phạn lại dễ bị
lạc mất, thành ra hiện tại các bản dịch thật
khác biệt xa nhau.
Thuyết của sư Nhật Khê người Nhật cũng giống thuyết ông
Trầm. Ngài nói:
‘Câu văn của bản dịch khác so với kinh đây (chỉ
bản Ngụy dịch) có chút sai khác chẳng phải là
ít. Xét ra, lắm dị bản, truyền thọ lại
chẳng phải một lần nên thành ra sai khác như thế.
Hoặc là do chẳng phải chỉ nói có một lần
chẳng hạn như các kinh Bát Nhã. Do kinh này là
bổn hoài của Như Lai, mỗi chỗ ngài nói khác nhau
nên có nhiều bản. Ðấy là do lòng đại bi cùng cực
vậy’.
Các vị đại đức trên đây đều cho rằng kinh này là pháp
được đức Thế Tôn nhiều lần tuyên nói, điều này
thật có chứng cứ. Ví dụ như, bản Ðường dịch mang
tên Vô Lượng Thọ Như Lai hội là một hội của kinh
Bảo Tích, đủ chứng minh rằng khi Phật nói kinh
Ðại Bảo Tích cũng nói ra kinh này. Ông Trầm lại
bảo:
‘Bản Ngụy dịch văn từ tường tận, nghĩa lý trọn vẹn nên
từ xưa đến nay các vị giảng sư hay dùng bản này.
Bản Ðường dịch không sai khác mấy do dịch từ
cùng một bản Phạn. Bản Tống dịch rất lưu loát,
rõ ràng, nhưng câu cú, chữ nghĩa so với các bản
trên khác nhau rất lớn nên phải xuất phát
từ bản Phạn khác. Hai bản dịch đời Hán và Ngô,
văn từ thô tháp, trúc trắc, nhưng nghĩa lý bổ
sung cho nhau nên ắt phải là được dịch
theo một Phạn bản khác nữa’
Ông Trầm tuy chưa thể trực tiếp đem Phạn bản ra so sánh
để chứng minh, nhưng nếu nghiên cứu năm bản dịch
còn tồn tại, ta có thể suy ra rằng hiện tại có
ít nhất ba bản Phạn. Vì vậy, thuyết của ông Trầm
rất đáng tin.
Còn như ý kiến của các sư khác cho rằng ‘Năm bản dịch
chỉ là các bản dịch khác nhau từ cùng một Phạn
bản, nhưng có sai biệt là do ý thích của dịch
giả khác nhau’ thật chưa đủ sức thuyết phục!
Chẳng hạn như, so hai bản dịch đời Tần và Ðường
của kinh Tiểu Bổn, do người đời Tần còn đơn giản
nên ngài La Thập gom mười phương Phật thành sáu
phương Phật, đấy thật là chỗ khéo léo ứng cơ của
dịch giả: Văn giản lược để thích ứng căn cơ,
nhưng nghĩa lý của kinh chẳng mất. Ðó mới là ý
thích và sự khéo léo của dịch giả.
Còn xét về sự sai biệt giữa các bản dịch của kinh này, sự
sai biệt lớn nhất là chẳng những giản lược, chi
tiết sai khác mà nghĩa lý cũng sâu rộng khác
hẳn. Vì vậy, chẳng thể bảo là do ý thích của
người dịch sai khác.
Lấy ví dụ, Di Ðà đại nguyện là duyên khởi của Tịnh tông,
là cương tông của kinh này mà cái nguyện ‘mười
niệm ắt vãng sanh’ là cốt tủy của Di Ðà đại
nguyện. Nguyện này thấy trong hai bản Ngụy dịch,
Ðường dịch, nhưng không có trong phần đại nguyện
của hai bản dịch Hán và Ngô.
Nếu cho rằng bốn mươi tám đại nguyện của hai bản Ðường,
Ngụy đem so với hăm bốn đại nguyện của hai bản
Ngô, Hán chỉ là cách dịch thu rộng hay nói gọn
khác nhau thì thật khó bề thuyết phục. Trong đời
có người dịch nào lớn mật như thế, dám dựa theo
ý riêng, tự tiện lược đi đại nguyện tâm tủy. Vì
vậy, nguyên bản để dịch phải khác nhau thì dịch
bản mới sai khác đến như vậy.
Lại như trong hăm bốn đại nguyện của bản Ngô dịch, có hai
nguyện thù thắng: ‘Nước không nữ nhân’ và ‘liên
hoa hóa sanh’ mà trong hai bản dịch Ðường và
Ngụy tuy đủ bốn mươi tám nguyện lại chẳng hề có
hai nguyện ấy. Nếu bảo rằng cùng một bản gốc,
các bản dịch chỉ dịch đủ hay tóm gọn chẳng đồng,
thử hỏi hai nguyện ấy của bản Ngô dịch lấy từ
đâu ra? Vì sao trong hăm bốn nguyện thì có, còn
trong bốn mươi tám nguyện lại hoàn toàn chẳng
có? Rõ ràng, các Phạn bản dùng để dịch không
phải chỉ là một bản. Thật đúng như thuyết của cư
sĩ Trầm Thiện Ðăng: kinh này được đức Thế Tôn
tuyên thuyết nhiều lần, lại do các thẻ kinh Phạn
dễ bị thất lạc, thành ra có các bản gốc sai khác
vậy.
Do những điều trên, ta thấy rõ việc hội tập các bản dịch
thật là cần thiết. Do vậy, từ đời Tống đến nay,
Vương Long Thư, Bành Nhị Lâm, Ngụy Mặc Thâm, và
tiên sư: cư sĩ Hạ Liên Cư trước sau cùng hội
tập, hiệu đính kinh này.
8.2 Bốn loại hội hiệu bản
Năm bản dịch nói trên đều có những chỗ ưu, liệt, phô bày
hay ẩn kín riêng. Chẳng hạn như hai bản Hán và
Ngô dịch không đề cập tới bổn nguyện mười niệm
vãng sanh và yếu chỉ ‘nhất hướng chuyên niệm’.
Ðến đoạn kinh giảng rộng về ngũ ác, ngũ thống,
ngũ thiêu, đức Thế Tôn rát miệng, nhọc lòng
giảng dạy chân thành mà hai bản Ðường và Tống
dịch chẳng chép đủ. Bản Ngụy dịch chép đủ, thật
là bản đứng đầu trong các bản dịch, nhưng lại
thiếu hai nguyện ‘nước không nữ nhân’ và ‘liên
hoa hóa sanh’ nên cũng chưa phô bày đầy đủ.
Vì vậy, ông Long Thư Vương Nhật Hưu đời Tống phê bình các
bản dịch như sau:
‘Ðại lược tuy giống nhau nhưng trong ấy có rất nhiều
chỗ sai khác. Hơn nữa, lời văn mỗi bản dịch hoặc
bị thiếu sót hoặc quá rườm rà khiến người ngại
xem, hoặc thiếu chỗ rất quan trọng đến
nỗi mất cả ý nghĩa thật sự. Hoặc kinh văn có đề
cập đến nhưng ý nghĩa đã bị mất.
Do vậy, kinh của đức Thích Ca Văn Phật nói, yếu chỉ độ
sanh của A Di Ðà Phật trở nên rối rắm chẳng rành
mạch, dài dòng nhưng không rõ ràng, tôi
thật tiếc lắm’.
Bởi thế, ông phối hợp bốn bản dịch Hán, Ngô, Ngụy, Tống
giảo chánh, hội tập, soạn thành một bản, đặt tên
Ðại A Di Ðà kinh. Ðây chính là bản hội tập đầu
tiên của kinh này.
Các bản hiệu hội từ đời Tống đến nay, có bốn thứ:
a. Ðại A Di Ðà kinh do quốc học tấn sĩ Long Thư Vương
Nhật Hưu đời Tống soạn.
b. Vô Lượng Thọ kinh do Bồ Tát giới đệ tử Bành Tế Thanh
đời nhà Thanh phân định chương mục và hiệu đính.
c. Ma Ha A Di Ðà kinh do Bồ Tát giới đệ tử Thừa Quán
Thiệu Dương Ngụy Nguyên hội dịch vào đời Thanh
(Nguyên tên là Vô Lượng Thọ Kinh, sau cư sĩ
Chánh Ðịnh Vương Ấm Phúc giảo đính đổi thành tên
này).
4. Phật thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh
Tịnh Bình Ðẳng Giác kinh do Bồ Tát giới đệ tử
Vận Thành Hạ Liên Cư hội tập vào thời hiện đại.
Như vậy, kinh này có năm bản dịch gốc, bốn bản hội tập,
thành ra chín bản.
Trong năm bản dịch, riêng bản Ngụy dịch phổ biến nhất,
đến khi hội bản của ông Vương ra đời liền chiếm
lấy địa vị ấy. Liên Trì đại sư viết trong tác
phẩm Sớ Sao rằng: ‘Phần nhiều dẫn kinh theo
bản của ông Vương do bản họ Vương phổ biến trong
đời, người đời quen thấy’. Cuối đời Thanh,
Ấn Quang đại sư cũng khen bản họ Vương là
‘văn nghĩa tường tất, lưu thông mạnh trong đời’.
Do đây thấy được rằng bản của họ Vương được phổ
biến ở Trung Quốc còn hơn bản Ngụy dịch.
Bản họ Vương tuy rất phổ biến, còn được chép vào Càn Long
Ðại Tạng và Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng kinh của
Nhật, nhưng tác phẩm của họ Vương có ưu điểm lẫn
khuyết điểm. Chẳng hạn như Sớ Sao phê:
‘Bản hội tập của ông Vương so với năm bản dịch thì
giản dị, rõ ràng, hiện đang lưu truyền, lợi ích
rất lớn. Nhưng chẳng dựa vào Phạn bản, chỉ phối
hợp bản tiếng Hán, chưa đúng cách dịch thuật.
Nếu dùng Phạn bản để dịch lại thành bản thứ sáu
không ai dị nghị. Do vậy, ông chẳng gọi là dịch
mà bảo là giảo chánh.
Cách ông ta chọn, bỏ lời dịch cũ lại cũng chưa trọn
vẹn: như với ba bậc vãng sanh, bản Ngụy dịch đều
nói phát Bồ Ðề tâm, nhưng bản họ Vương chỉ có
bậc trung phát Bồ Ðề tâm, bậc hạ không phát, bậc
thượng chẳng đề cập đến. Như vậy là cao, thấp
lẫn lộn.
Vả lại, ‘nhiều căn lành’ nói trong kinh là cốt ở phát
Bồ Ðề tâm, tuy ba bậc chẳng đồng lại cùng phát
tâm thì đấy đúng là yếu chỉ vãng sanh. Nay ông
ta lại lược đi nên bảo là chưa trọn vẹn’.
Lời luận của Liên Trì Ðại Sư về chỗ tinh yếu thật là xác
đáng! Trong lời tựa của chính ông Vương có viết:
‘Chỗ nào văn manh mún, không thứ tự, lầm loạn
chẳng so sánh được thì dùng ý mình để sửa chữ’.
Thật đúng với điều Liên Trì đại sư chỉ ra:
‘Chẳng căn cứ theo Phạn bản’ là căn bịnh
nặng, chẳng đúng phép dịch thuật. Nếu căn cứ
theo Phạn bản dịch lại thì mới được phép dùng
câu văn tự soạn để làm rõ nghĩa kinh. Còn nếu
hội tập, sao chẳng dùng lời dịch gốc, lại tự ý
viết thêm, muôn phần chẳng nên vậy.
Ðến phần ba bậc vãng sanh cũng vậy, tự tiện sửa đổi bản
Ngụy dịch, đánh mất thứ tự cao thấp. Ðấy đều là
những tỳ vết khó bưng bít của bản họ Vương vậy!
Cư sĩ Bành Nhị Lâm (tên là Thiệu Thăng) đời vua Càn Long
nhà Thanh cũng chẳng thỏa mãn với bản họ Vương.
Ông nhận định về bản của họ Vương trong tác phẩm
Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận như sau:
‘Bản của họ Vương so ra lưu loát, phổ biến mãi đến
nay, nhưng có điểm đáng phê bình. Như trong Tự
Phần từ chữ ‘du bộ thập phương’ trở đi nói rộng
về hạnh nguyện Bồ Tát nhằm khiến hành giả phát
khởi đại tâm, tích tập cội đức, rốt ráo
thành Phật, đấy chính là cương lãnh trọng yếu
của chương mở đầu kinh này, họ Vương lại
lược đi.
Ðến phần hai bậc vãng sanh: thượng, hạ, bậc thì gạt bỏ
phát Bồ Ðề tâm, bậc thì nói chẳng phát. Trong
phần thai sanh, lược bỏ từ chữ ‘ngờ vực Phật
trí’ cho đến ‘thắng trí’. Trước đã trái
với chánh nhân thành Phật, sau lại mất chánh trí
vãng sanh. Những điểm khác như với thứ tự các
nguyện, lẫn lộn trước sau đều đáng giảo chánh’.
Họ Bành nhìn thấy lỗi của họ Vương nên chuyên dùng bản
Ngụy dịch, lược những chỗ phiền phức, lại căn cứ
theo bản của ngài Vân Thê, thêm vào số thứ tự
trước sau của bốn mươi tám nguyện, đặt tên là Vô
Lượng Thọ Kinh, thành ra bản thứ bảy (bản của họ
Vương là bản thứ sáu). Nhưng bản này chỉ là bản
Ngụy dịch được phân chia thành từng đoạn, chẳng
phải là bản hội tập các bản dịch.
So sánh hai bản thì bản của ông Bành có ưu điểm hơn bản
Ngụy dịch. Cận đại, cư sĩ Ðinh Phước Bảo khi
viết Vô Lượng Thọ Kinh Tiên Chú thì bản dùng để
chú giải là bản của họ Bành. Tiếc thay bản của
họ Bành chỉ là tiết hiệu bản, chưa bổ cứu được
khuyết điểm của bản ông Vương, vẫn chưa được coi
là bản tốt nhất.
Triều Hàm Phong nhà Thanh, cư sĩ Ngụy Thừa Quán ở Thiệu
Dương cho rằng các bản dịch lẫn bản của ông
Vương chưa hoàn thiện bèn hội tập năm bản dịch
gốc, soạn riêng thành một bản, đặt tên là Vô
Lượng Thọ Kinh (bản của ông Ngụy hội tập năm bản
dịch gốc, là nguồn gốc của ngũ hội bản. Bản họ
Vương chỉ là tứ hội bản, hội bản không dùng bản
Ðường dịch).
Dưới triều Ðồng Trị, cư sĩ Vương Ấm Phước đặc biệt coi
trọng bản họ Ngụy, từng đích thân ghi rằng:
‘Gần đây, Thiệu Dương Ngụy cư sĩ lại thuận theo
lời đại sư Vân Thê, khảo sát khắp các bản dịch,
soạn riêng thành một bản gồm trọn tông yếu, văn
từ giản dị, thích đáng, được coi là bản hay
nhất của kinh này’. Ông Vương lại tra
khảo khắp các bản, đích thân hiệu đính, đặt tên
kinh là Ma Ha A Di Ðà kinh, thành ra phiên bản
thứ tám của kinh này.
Ông Ngụy phát tâm rộng lớn, lại tinh thông văn tự, muốn
cứu chữa khuyết điểm lớn là soạn kinh của cư sĩ
Vương Long Thư, nên gộp đủ năm bản dịch hội tập
thành một kinh, tận lực tìm tòi lai lịch của
từng câu mong thành bản hoàn chỉnh. Sở nguyện
thật thù thắng, thành tựu cũng lớn lao. Bản hội
tập của ông vượt xa bản họ Vương. Cư sĩ Vương Ấm
Phúc khen là bậc nhất trong tám bản kinh cũng
chẳng quá đáng.
Ðáng cảm khái là ông Ngụy tuy nguyện tận lực sửa chữa
khuyết điểm soạn kinh của họ Vương, tiếc thay
vẫn chưa hoàn toàn tránh khỏi. Nay sẽ nêu lên
những điểm lớn rành rành như sau:
a. Nguyện thứ hai trong bản họ Ngụy là: ‘Nếu tôi thành
Phật, trời, người trong nước thuần là hóa sanh,
chẳng có thai sanh..’ Bốn chữ ‘chẳng có thai
sanh’ không tìm thấy trong các bản dịch. Vả lại,
bốn chữ ấy mâu thuẫn với lời văn của bản dịch
gốc. Bản Ngụy dịch chép: ‘Phật bảo Di Lặc....
Nhân dân cõi ấy có kẻ thai sanh’. Hai bản
dịch Ðường, Tống cũng giống vậy mà hội bản của
họ Ngụy viết ‘chẳng có thai sanh’. Ðây thật là
tì vết khó giấu vậy.
b. Một đoạn ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu có đến vài ngàn
chữ, mà bản họ Ngụy tóm tắt thành ‘Lúc sanh
đau, lúc già đau, lúc bịnh đau, lúc chết đau,
hoạn nạn cùng khổ đau đớn, lửa dâm dục đốt, lửa
sân giận đốt, lửa tham trộm cắp đốt, lửa tà ngụy
đốt, lửa ngu si đốt, đấy là ngũ thống, ngũ
thiêu’. Ngụy cư sĩ vốn nguyện ‘không một chữ
nào chẳng có lai lịch’, nhưng tiếc chưa thể thật
triệt để ý nguyện ban đầu. Ðoạn trên đây, so với
các bản dịch chẳng có lai lịch.
c. Hội bản của họ Ngụy nói cung điện, lầu quán, đường vũ,
phòng gác của Cực Lạc ‘hoặc ở trên hư không,
hoặc trên đất bằng, hoặc nương cây báu mà trụ’.
Câu ‘nương cây báu mà trụ’ không có trong
bản dịch nào cả.
d. Trong hội bản, câu ‘Từ đấy về sau, Vô Lượng Thọ
kinh cũng giảm, chỉ trừ bốn chữ A Di Ðà Phật
rộng độ quần sanh’ cũng không có trong bản
dịch nào.
Do những điều trên, bản của họ Ngụy so với các bản có
trước, tuy bản sau trội hơn bản trước, tiếc rằng
vẫn chưa hoàn toàn tránh nổi cái lỗi thêm chữ
sai lầm. Cái lỗi lớn ấy ắt phải sửa chữa hầu
tránh cho đời sau thành thói, thậm chí soán cải
kinh văn. Vì vậy, cần phải ngừa lỗi nhỏ lâu ngày
thành to, tuyệt trừ nguồn tội, lại khiến Ðại
kinh chóng có được bản tốt nhất. Bởi thế, tiên
sư là lão cư sĩ Hạ Liên Cư bèn soạn ra bản thứ
chín.
Tiên sư Hạ Liên Cư cư sĩ, lúc nhỏ học Nho, trước là
Trình, Chu, sau Lục, Vương, trưởng thành học
Phật, nhiếp Thiền, Mật quy về Tịnh Ðộ. Cụ Hạ
thông suốt các sách vở, hiểu sâu văn tự, dụng
công lâu dài, hiểu tường tận giáo pháp.
Năm Nhâm Thân (1932), phát nguyện hiệu đính kinh này,
đóng cửa tạ khách, suốt cả ba năm, xét kỹ cả năm
bản dịch gốc, khảo sát kỹ càng hội bản của ba
nhà, không một câu nào chẳng xem xét kỹ, không
một chữ nào chẳng cân nhắc, cung kính, cẩn thận,
ngày ngày khấn cầu trước Phật, thiên châm vạn
chước cả trong giấc ngủ.
Ðến khi hoàn thành, tứ chúng hoan hỷ Lão pháp sư Huệ Minh
là bậc thông triệt cả Tông lẫn Giáo (ngài là
thầy quy y của cụ Hạ) đắp y, nâng kinh chụp ảnh
trước điện Phật, đích thân ấn chứng. Cậu tôi là
cư sĩ Mai Hiệt Vân giảng liên tục trên đài phát
thanh, khen là bản hay nhất. Từ Châu pháp sư
chuyên giảng kinh này ở đất Kinh Lỗ, cũng đích
thân soạn khoa phán. Lão hòa thượng Diệu Thiền,
phương trượng Cực Lạc Am ở Bắc Kinh mời hội
trưởng Sơn Ðông nữ tử liên xã (hội phụ nữ niệm
Phật tỉnh Sơn Ðông) là Ngô Thiến Hương đến chùa
giảng kinh này suốt hai tháng. Còn những người
phát tâm hoằng dương, chuyên chú trì tụng chẳng
tính nổi số. Ấn hành, lưu thông liên tục chẳng
dứt.
Vì vậy, cậu tôi là Mai lão cư sĩ khen rằng:
‘Yếu chỉ của Tịnh tông cùng thâm cực vi, phát huy được
chỗ uẩn áo tiền nhân chưa phát huy được’ và
‘tinh đáng minh xác, rành rành có chứng cứ,
không một nghĩa nào chẳng thuộc bản dịch gốc,
không một câu nào ra khỏi kinh gốc... Ðủ
các điểm hay, không sự thật nào chẳng thâu tóm.
Tuy muốn cho là bản chẳng hay cũng chẳng được’.
Lời của cậu tôi nay đã được mọi người công nhận, còn đem
bản kinh này thâu nhập vào ấn bản mới của Tục
Tạng. Ðại kinh bụi phủ ngàn năm, nay mới có được
bản hoàn thiện. Ý nguyện hội tập kinh của tiên
hiền đã viên mãn. Ðại kinh phóng quang, chúng
sanh hữu hạnh, bản kinh mang tên Phật Thuyết Ðại
Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình
Ðẳng Giác Kinh là bản thứ chín của Ðại kinh.
8.3 Chú thích kinh này
Trong năm bản dịch, bản Ngụy dịch tương đối đầy đủ. Vì
vậy, các chú sớ Ðại kinh phần nhiều dùng bản
Ngụy dịch. Các bậc đại đức Trung Quốc nhiều vị
soạn chú giải cho Tiểu Bổn Di Ðà, còn chú giải
Ðại Bổn chỉ có hai vị: Tịnh Ảnh (Huệ Viễn) đời
Tùy và Gia Tường (Cát Tạng) đời Ðường.
a. Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, sáu quyển, do sa môn Huệ
Viễn thuộc chùa Tịnh Ảnh ở kinh đô đời Tùy soạn,
tục gọi là Tịnh Ảnh sớ.
b. Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ do ngài Cát Tạng ở chùa Gia
Tường đời Ðường soạn. Tục gọi là Gia Tường Sớ.
Ngoài ra, chú giải của hai vị Cảnh Hưng, Nguyên Hiểu ở
nước Tân La (nay thuộc Triều Tiên) nay cũng được
lưu truyền ở Trung Quốc:
a. Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Thuật Văn Tán, ba quyển do
ngài Cảnh Hưng nước Tân La trứ tác, tục gọi là
Cảnh Hưng sớ.
b. Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu, một quyển, do sa môn
Nguyên Hiểu thuộc chùa Hoàng Long nước Tân La
soạn. Ngài từng qua Tàu du học, sau về nước,
danh tiếng vang dội chốn Hải Ðông. Sớ giải của
ngài gọi là Hải Ðông Sớ.
c. Du Tâm An Lạc Ðạo, một quyển cũng do ngài Nguyên Hiểu
soạn, là một trong mười tác phẩm cổ của Tịnh
tông.
Quang minh của Ðại kinh chiếu rực Nhật Bổn, chú thích rất
thịnh, vượt xa Trung Hoa. Riêng bút giả được
biết đã hơn hai mươi loại, như là:
a. Vô Lượng Thọ Phật Tán Sao, một quyển, do ngài Thiện
Châu chùa Hưng Phước viết.
b. Vô Lượng Thọ Kinh Thuật Nghĩa, 3 quyển, do Tối Trừng
soạn.
c. Vô Lượng Thọ Kinh Tư Ký, một quyển, Trí Cảnh soạn.
d. Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Uyển, bảy quyển, ngài Nam Sở
chùa Tổng Trì ở Kỷ Châu soạn.
e. Vô Lượng Thọ Kinh Lược Tiên, tám quyển của ngài Viện
Khê, chùa Thiền Lâm, Lạc Ðông, soạn năm Hưởng
Bảo thứ năm.
f. Vô Lượng Thọ Kinh Sao, bảy quyển của Vọng Tây Lâu Liễu
Huệ.
g. Vô Lượng Thọ Kinh Trực Ðàm Yếu Chú Ký, hăm bốn quyển,
do ngài Tây Dự chùa Tăng Thượng soạn năm Vĩnh
Hưởng thứ tư.
h. Vô Lượng Thọ Kinh Kiến Văn, bảy quyển của Lương Vinh.
i. Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Huyền Khái, một quyển của Tiểu
Thương Tây Ngâm.
j. Vô Lượng Thọ Kinh Hội Sớ, bảy quyển, ngài Tuấn Ðế chùa
Thắng Thọ ở Việt Tiền soạn.
k. Vô Lượng Thọ Kinh Khai Nghĩa, sáu quyển, do ngài Huệ
Không chùa Bình An Tây Phước soạn.
l. Vô Lượng Thọ Kinh Quán Tư Nghĩa, ba quyển, do ngài Ý
Châu Lý Viên soạn.
m. Vô Lượng Thọ Kinh Hiển Tông Sớ, mười bảy quyển, ngài
Tánh Hải Vô Nhai ở Giang Châu soạn.
n. Vô Lượng Thọ Kinh Yếu Giải, ba quyển, Pháp Sâm soạn.
o. Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Lục, bảy quyển, do ngài Nam
Lân chùa Phá Lặc An Lạc thuộc Kỷ Châu soạn.
p. Vô Lượng Thọ Kinh Phạm Hưởng Ký, sáu quyển, Linh
Phượng soạn.
q. Vô Lượng Thọ Kinh Nhãn Tủy, mười một quyển, Nhiếp Châu
Ðịnh Chuyên Phường Nguyệt Khê soạn.
r. Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Ký, năm quyển, Giới Hoa Tạng
Am Huệ Nhiên soạn.
s. Vô Lượng Thọ Kinh Hải Trích Ký, hai mươi quyển, khoa
chú hai quyển, Nhiếp Châu Tiểu Tằng Nễ Hiến Vinh
Thái Nham soạn.
t. Vô Lượng Thọ Kinh Vĩnh An Lục, mười ba quyển, Ý Báo
Chuyên Phường Huệ Vân soạn.
u. Vô Lượng Thọ Kinh Bình Giải, mười tám quyển, Thích Ðạo
Ẩn soạn.
v. Vô Lượng Thọ Kinh Hợp Tán, bốn quyển, Quán Triệt soạn.
Trong những tác phẩm này, cuốn thứ tám, thứ mười, thứ 20,
thứ hăm hai được dẫn chứng nhiều trong sách này.
Ngoài ra, chú thích những bản hiệu hội, gồm có ba tác
phẩm:
a. Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận, ba quyển, Bành Tế
Thanh soạn vào đầu triều Thanh.
b. Vô Lượng Thọ Kinh Tiên Chú, Ðinh Phước Bảo soạn vào
cuối triều Thanh.
Hai bản chú giải trên đều dùng tiết bản của Bành Tế
Thanh.
c. Phật Thuyết Ma Ha A Di Ðà Kinh Chung Luận do Chánh
Ðịnh Vương Canh Tâm soạn dưới đời Quang Tự nhà
Thanh. Bản dùng để chú giải là bản hiệu hội thứ
tám của Ngụy Thừa Quán.
Ngoài ra, vào cuối đời Thanh, cư sĩ Trầm Thiện Ðăng soạn
Báo Ân Luận ba quyển có các phần Tịnh Ðộ Pháp
Môn Cương Yếu, Vô Lượng Thọ Kinh Cương Tông,
Vãng Sanh Chánh Nhân Luận v.v….
9. Tổng thích kinh đề (giải thích
chung về tên kinh)
9.1 Kinh đề
Phật thuyết Ðại Thừa Vô
Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác
Kinh
(Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh, Chi Lâu Ca Sấm dịch đời Hậu Hán.
Phật thuyết Chư Phật A Di Ðà Tam Da Tam Phật Tát
Lâu Phật Ðàn Quá Ðộ Nhân Ðạo kinh, tên khác là
Vô Lượng Thọ kinh, tên khác nữa là A Di Ðà kinh,
Chi Khiêm dịch vào đời Ngô. Vô Lượng Thọ Kinh,
Khang Tăng Khải dịch vào đời Tào Ngụy. Vô Lượng
Thọ Như Lai Hội, Bồ Ðề Lưu Chí dịch vào đời
Ðường. Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang
Nghiêm Kinh, Pháp Hiền dịch vào đời Triệu Tống.
Từ nhà Hán đến nhà Tống, các bản dịch khác nhau của kinh này xét thấy có
mười hai bản, lưu truyền đến cận đại chỉ còn năm
bản trên.)
Bồ tát giới đệ tử Vận Thành Hạ Liên Cư, pháp danh Từ Tế, hội tập các bản
dịch và kính chia thành chương mục.
Phàm danh đề của kinh đều nhằm trực hiển yếu chỉ của kinh khiến cho người
học do tên kinh thấu được cái thể, một phen xem
qua tên kinh hiểu ngay được đôi chút đại ý kinh.
Vì vậy, tông Thiên Thai chú thích kinh trước hết
phải giải thích tên kinh.
Năm bản dịch gốc của Ðại kinh đều có tên riêng. Hội bản của họ Vương mang
tựa đề Ðại A Di Ðà Kinh để phân biệt với bản
dịch gốc và Tiểu Bổn, nhưng chữ Ðại thêm vào ấy
không có căn cứ. Tiết bản của ông Bành và hội
bản của ông Ngụy đều đặt tên là Vô Lượng Thọ
Kinh giống như bản Ngụy dịch, nhưng ba bản khác
nhau mang cùng một tên dễ gây nhầm lẫn. Ông
Vương Chánh Ðịnh lại đổi tên hội bản của ông
Ngụy thành Ma Ha A Di Ðà kinh. Hai chữ Ma Ha
cũng không có căn cứ.
Xét cả mười hai bản dịch từ đời Hán đến đời Tống, dùng chữ Vô Lượng Thọ làm
tên đã hết mười bản, dùng chữ Thanh Tịnh Bình
Ðẳng Giác đặt tên có hai bản. Dùng Chánh Giác để
đặt tên có một bản. Bản dịch đầu tiên là bản Hán
dịch có tên Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác
kinh. Bản cuối cùng là bản đời Tống có tên Phật
thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm kinh.
Nay hội bản này lấy tựa đề Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm
Kinh của bản Tống dịch làm đầu, bỏ chữ kinh
trùng lập đi, lấy tựa đề Vô Lượng Thanh Tịnh
Trang Nghiêm Bình Ðẳng Giác kinh, bỏ hai chữ
trùng lập là Vô Lượng; vì vậy, tựa đề kinh thành
ra Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang
Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh. Tự
nhiên hay khéo, chẳng cần đẽo gọt, nguyên danh
của hai bản dịch gộp thành một tên. Mười hai đề
kinh đều gộp trong một tựa đề. Ý chỉ lớn lao của
toàn bộ kinh tự nhiên rọi trước mắt. Yếu nghĩa
của Tịnh tông chứa trọn trong đề kinh. Nhân pháp
dụ, giáo lý hạnh, thể tướng dụng v.v.. cùng hiện
rõ trong một cái tên như hạt châu trong lưới Ðế
Thích thâu nhiếp trọn vẹn hết thảy pháp mầu. Do
đây, có thể thấy được đôi phần chỗ hay khéo của
hội bản này.
Chữ đầu của tựa kinh là Phật. Phật là tiếng gọi tắt của chữ Phạn ‘Phật Ðà’,
nghĩa là Người Giác Ngộ. Giác là đối với mê mà
nói. Mê là chúng sanh. Ba điều giác ngộ trọn vẹn
thì gọi là Phật. Ba điều giác ngộ là: tự giác,
giác tha, và giác mãn. Ba giác viên mãn gọi là
Phật Ðà. Vì vậy, Phật là chúng sanh viên mãn
trọn cả ba giác, chúng sanh là Phật chưa giác
ngộ.
Thêm nữa, Phật là một trong mười hiệu. Mười hiệu là: Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật. Ðầy đủ mười hiệu thì được
đời tôn trọng nên gọi là Thế Tôn.
Thế Tôn tiếng Phạn là Bạc Già Phạm (Bhavagan). Kinh Phật Ðịa chép: ‘Bạc
Già Phạm thanh tịnh bậc nhất, cùng tột pháp
giới, cùng tận hư không, suốt trọn đời vị lai’
(Luận Thành Thật gộp chung cả Vô Thượng Sĩ và
Ðiều Ngự Trượng Phu thành một hiệu, tức là cho
rằng từ chữ Như Lai đến Thế Tôn là mười hiệu.
Mười hiệu sẽ được giải thích tường tận trong
phẩm thứ tư).
Trên đây đã chỉ ra Phật là danh hiệu chung của bậc cực thánh.
Xét trong kinh này, chữ Phật trong tựa kinh là đức Sa Bà giáo chủ: Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Tàu dịch tên ngài là
Năng Nhân Tịch Mặc. Năng Nhân là dụng, Tịch Mặc
là thể. Quả cao vòi vọi đến mức rốt ráo hoàn
toàn, đại thừa nguyện thuyền sanh đời ngũ trược,
thị hiện thành Phật để hóa độ chúng ta, diễn
thuyết kinh này, chính là bậc từ phụ đại ân đại
đức của hết thảy chúng sanh, là bậc đạo sư không
pháp nào chẳng biết, không pháp nào chẳng thấy,
là đấng Thích Tôn đại giác viên mãn.
Thuyết là duyệt (vui vẻ), đẹp lòng mong mỏi. Hai chữ ‘Phật thuyết’ chỉ rõ
kinh này được chính kim khẩu của Phật nói ra,
chẳng phải do kẻ khác nói. Phật lấy độ sanh làm
nguyện, nay chúng sanh căn cơ chín muồi, kham
thọ đại pháp Tịnh Ðộ giải thoát rốt ráo. Vì vậy,
ngài vui vẻ nói để phô bày bổn hoài.
‘Ðại thừa’ là dụ. Thừa có nghĩa là chuyên chở. Ðược kẻ lớn sử dụng, hoặc
pháp được sử dụng là lớn lao thì gọi là Ðại
thừa, khác hẳn Thanh Văn, Duyên Giác là Tiểu
thừa chỉ cầu tự giác. Thập Nhị Môn Luận viết:
‘Trong hai thừa, Ma Ha Diễn cao hơn nên gọi là Ðại thừa. Phật đại nhân
cỡi cỗ xe (thừa) này nên gọi là Ðại.
Lại trừ diệt được nỗi khổ lớn lao của chúng sanh, ban cho sự đại lợi ích
nên gọi là Ðại.
Nó lại còn là thừa của các vị Ðại Sĩ: Quán Thế Âm, Ðắc Ðại Thế, Văn Thù
Sư Lợi, Di Lặc Bồ Tát... nên gọi là Ðại.
Lại do dùng thừa này để tột cùng bờ, đáy của hết thảy các pháp, nên gọi
là Ðại.
Lại như trong kinh Bát Nhã, Phật tự nói Ma Ha Diễn vô lượng vô biên. Do
các nhân duyên ấy, gọi là Ðại’.
Kinh Bửu Tích lại nói: ‘Ðạo thực hành của chư Phật Như Lai chánh chơn
chánh giác, thừa ấy gọi là Ðại Thừa’.
Các kinh, luận trên đây chỉ rõ Ðại Thừa chỉ có chư Phật, Bồ Tát mới có thể
thực hiện (thừa) nổi, nên nói: ‘Ðược kẻ lớn
sử dụng’.
Hơn nữa, đạo được vận dụng là sở hạnh của chư Phật Như Lai nên pháp được sử
dụng là lớn lao. Vì vậy, gọi là Ðại Thừa.
Hơn nữa, cái ‘Ðại’ này ngay do thể thành tên, Ðại có nghĩa là thường trọn
khắp.
Thể không bờ bến, dứt bặt các đối đãi: ngang thì khắp trùm mười phương, dọc
thì thông suốt ba đời. Quá khứ vô thỉ, vị lai vô
chung, chẳng có pháp nào trước, chỉ có cái này
có trước hết thảy các pháp (như bài kệ của Phó
Ðại Sĩ: ‘Có một vật có trước cả trời đất, vốn
vô hình lặng lẽ’) nên cưỡng gọi là Ðại như
kinh Niết Bàn chép: ‘Cái Ðại vừa được nói đó
được gọi là Thường’. Lại chép: ‘Cái Ðại
vừa nói đó tánh nó rộng lớn dường như hư không’.
Trong kinh này, hai chữ Ðại Thừa dùng để ví cho Ðệ Nhất Nghĩa Ðế của Tịnh
Tông: ‘Tâm này là Phật, tâm này làm Phật’.
Tâm năng niệm vốn đã là Phật, khởi tâm niệm
Phật, niệm niệm làm Phật nên cái pháp được thực
hành ấy to lớn.
Hơn nữa, năng tu chính là cái tâm ‘tâm này là Phật’. Cái được tu (sở tu)
chính là cái tâm ‘tâm này làm Phật’. Năng tu, sở
tu chỉ là một tâm, ngay nơi tâm ấy là Phật. Tâm,
Phật chẳng hai nên lại có thể nói rằng: năng tu
chính là ông Phật ‘tâm này là Phật’, sở tu là
ông Phật ‘tâm này làm Phật’. Tự Phật, tha Phật
chỉ là một Phật. Tự, tha chẳng hai. Tự, tha
giống hệt nhau. Tu, chứng chẳng hai, siêu tình,
ly kiến. Vì vậy, cưỡng gọi là Ðại.
Ðem cái năng thừa, sở thừa ấy cưỡng gọi là Ðại nên trong tên kinh, dùng Ðại
Thừa làm thí dụ để chỉ rõ cái yếu chỉ của trọn
bộ kinh.
‘Vô Lượng Thọ’, tiếng Phạn là A Di Ðà, tức là thánh hiệu của đấng giáo chủ
thế giới Cực Lạc được nói trong kinh này. Ba chữ
A Di Ðà là mật ngữ hàm chứa vô biên mật nghĩa.
Nếu dịch thánh hiệu ấy từ Phạn sang Hán để tỏ rõ
yếu chỉ bí mật bằng ngôn từ thông thường, ta có
thể dịch tên ngài thành vô biên đức hiệu. Kinh
này dịch tên ngài thành Vô Lượng Thọ là chỉ
trích lấy một nghĩa trọng yếu nhất mà thôi.
Mười hai thánh hiệu như: Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang… nói trong kinh cũng
chính là đức hiệu của Phật A Di Ðà. Bản dịch đời
Hán dịch tên ngài thành Vô Lượng Thanh Tịnh
Phật, Vô Lượng Giác, Vô Lượng Thanh Tịnh Bình
Ðẳng Giác (chữ Giác ở đây cùng nghĩa với chữ
Phật).
Ba thánh hiệu vừa nêu đều có chữ Vô Lượng, nhưng thật ra, công đức, trí
huệ, thần thông, đạo lực của Phật, sự trang
nghiêm của y báo, chánh báo, thuyết pháp, hóa độ
mỗi một thứ đều vô lượng. Do đức Thế Tôn diệu
đức vô lượng nên đức hiệu của ngài cũng vô
lượng. Trong mỗi danh hiệu lại hàm chứa vô lượng
đức nên trì danh ngài sẽ chiêu cảm được vô lượng
đức.
Ba chữ đầu tiên trong danh hiệu bản kinh này là Vô Lượng Thọ: dùng ba chữ
ấy để thống nhiếp những điều được giảng trong
kinh vì Vô Lượng Thọ là thể của Pháp Thân thường
trụ.
Thọ là thể của trí Như Như. Quang là tướng của trí Như Như.
Vì vậy, dẫu tên kinh chỉ nói về thọ đức nhưng
cũng ám chỉ quang đức.
Sách Bình Giải giảng: ‘Hết thảy ba thứ trang nghiêm của
Cực Lạc Tịnh Ðộ (Phật trang nghiêm, Bồ Tát
trang nghiêm, quốc độ trang nghiêm) đều quy
về thọ mạng’.
Lại còn viết rằng: ‘Ba thứ trang nghiêm của y báo, chánh
báo nơi cõi nước An Lạc nằm gọn trong một pháp
cú Vô Lượng Thọ vậy’.
Vì vậy, đức hiệu Vô Lượng Thọ được nêu trong tựa đề kinh
này gồm cả nguyện hạnh của Pháp Tạng khi ngài
còn tu nhân lẫn quả địa Phật đức. Y, chánh, chủ,
bạn của Cực Lạc, yếu chỉ của kinh, không một
điều nào chẳng được thâu tóm trọn vẹn trong tựa
đề bản kinh này.
Sách Thám Huyền Ký giảng chữ ‘Trang Nghiêm’ rằng: ‘Trang
nghiêm có hai nghĩa: Một là đầy đủ đức, hai là
trang hoàng cho đẹp đẽ’. Vì vậy, kinh Tiểu
Bổn nói: ‘Cõi nước Phật ấy thành tựu công đức
trang nghiêm như thế’. Xin xem lại phần trên
ba thứ trang nghiêm được nói trong Vãng Sanh
Luận. Nếu bàn tỉ mỉ thì có đến hăm chín thứ
trang nghiêm, do quá nhiều nên ở đây chẳng trích
dẫn.
Kinh Vô Lượng Thọ chép: ‘Nhất hướng chuyên chí trang
nghiêm diệu độ’, ‘trang nghiêm các hạnh’,
lại chép:
‘Ta đã thành tựu hạnh thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật’,
‘Cõi nước Cực Lạc công đức trang nghiêm chẳng
thể nghĩ bàn như vậy’.
Lại còn chép: ‘Cõi Cực Lạc kia đầy đủ vô lượng công đức
trang nghiêm’.
Các đoạn được dẫn chứng như trên đã hiển thị rõ ràng ý
nghĩa “trang nghiêm” trong tựa kinh. Các câu
‘Nhất hướng chuyên chí trang nghiêm diệu độ’,
‘trang nghiêm các hạnh’ là hạnh nguyện
thù thắng của Pháp Tạng. Bởi hạnh mà đắc quả nên
nói:
‘Ta đã thành tựu hạnh thanh tịnh trang nghiêm
cõi Phật’. Cảm được quả là cõi vui sướng nên
nói: ‘Cõi Cực Lạc kia đầy đủ vô lượng công
đức, trang nghiêm’.
Các câu ‘màu sắc đẹp đẽ chói lọi chẳng thể nhìn trọn
nổi’, ‘vô lượng ánh sáng rực rỡ chiếu ngời vô
cực’, ‘bạch châu, ma ni dùng làm dây chăng, sáng
đẹp không gì sánh được’, ‘hoa, trái luôn thơm
tho, quang minh rực rỡ’, ‘gió thổi ngát, nước
chảy tỏa mùi thơm’, ‘vô lượng quang minh,
trăm ngàn diệu sắc thảy đều đầy đủ’, ‘vật kỳ
diệu, quý, lạ trang hoàng khắp nơi, ánh sáng,
màu sắc chói ngời, đẹp đẽ đến cùng cực’ đều
là những câu tả rõ thế giới của đức Phật ấy đủ
các sự trang nghiêm khắp cả cõi nước, thể hiện ý
nghĩa ‘trang hoàng’ của chữ ‘trang nghiêm’.
Còn các câu như ‘như thật an trụ, đầy đủ trang nghiêm’
trong phẩm thứ chín của kinh này lại nhằm diễn
tả ý nghĩa ‘đầy đủ các đức’. Do vậy, thế giới
Cực Lạc trang nghiêm như thế đều là do an trụ
nơi Như Thật.
Thật là Chơn Thật Tế, nghĩa là
‘đầy đủ các đức’. Câu ‘hết thảy trang nghiêm
hiện ra tương ứng’ trong phẩm mười lăm chính
là nói về ý nghĩa ‘viên minh cụ đức’ của sự sự
vô ngại pháp giới.
‘Thanh Tịnh’ là ba nghiệp thân, miệng, ý lìa hết thảy ác
hạnh, phiền não, cấu nhiễm.
Sách Thám Huyền Ký giảng: ‘Tam nghiệp không lỗi thì bảo
là thanh tịnh’, nghĩa là ba nghiệp: thân,
miệng, ý đều không có lầm lỗi.
Thêm nữa, cõi ‘thanh tịnh’ chỉ Tịnh Ðộ, thân ‘thanh tịnh’
chỉ Phật thân, người thanh tịnh là Như Lai. Sách
Vãng Sanh Luận lại bảo ba thứ trang nghiêm vào
trong một pháp cú. Một pháp cú là thanh tịnh cú.
Thanh tịnh cú là chơn thật trí huệ vô vi Pháp
Thân. Ðiều này xứng hợp một cách khéo léo tự
nhiên với chữ ‘trang nghiêm thanh tịnh’ được
dùng trong tựa đề bản kinh.
Ba thứ trang nghiêm là vô lượng trang nghiêm bao gồm trong
một thanh tịnh cú, ấy chính là ‘hết thảy tức là
một’. Kinh còn chép:‘Tâm tịnh thì cõi Phật
tịnh’, đó chính là ‘một tức là hết thảy’.
Huyền chỉ kinh Hoa Nghiêm lại được thấy nói khắp
nơi trong kinh này.
Hơn nữa, bản Hán dịch gọi Phật A Di Ðà là Vô Lượng Thanh
Tịnh Phật, nguyện thứ mười tám trong bản dịch ấy
ghi:
‘Khi tôi làm Phật, nhân dân trong các cõi Phật có kẻ
hành đạo Bồ Tát thường nhớ nghĩ tôi với tâm tịnh
khiết, lúc họ hết tuổi thọ, tôi cùng chẳng thể
tính các tỳ kheo bay đến đón, cùng đứng trước
mặt. Người ấy liền
sanh về cõi tôi thành a duy việt trí’.
‘Tâm tịnh khiết’ trong câu trên chính là tâm thanh tịnh,
cũng chính là thanh tịnh cú của Vãng Sanh Luận.
Phật tên là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, tâm Phật là vô lượng
thanh tịnh tâm. Tóm lại, cả hai cùng là một pháp
cú. Ðó chính là thanh tịnh cú, tức là: chơn
thật trí huệ vô vi Pháp Thân, cũng tức là
một câu Phật hiệu. Vì vậy, phát đại tâm, trì
danh niệm Phật, lúc mạng sắp dứt được Phật tiếp
dẫn vãng sanh chính là tông chỉ ‘phát Bồ Ðề
tâm, nhất hướng chuyên niệm’ của kinh này.
Lại nữa, thanh tịnh cú biểu thị Thật Tế lý thể: từ thanh
tịnh cú sanh ra ba thứ trang nghiêm, ba thứ
trang nghiêm cùng vào trong thanh tịnh cú, đấy
là ý nghĩa ‘thanh tịnh trang nghiêm’ của tựa đề
kinh.
‘Bình đẳng’ là vượt khỏi sai biệt. Câu kinh dạy: ‘Tâm,
Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt’ chính
là nói rõ ý nghĩa chữ Bình Ðẳng. Kinh Nhập Phật
Cảnh Giới nói: ‘Bồ Ðề gọi là bình đẳng, gọi
là Chơn Như, cho đến bình đẳng chính là nhập bất
nhị pháp môn’. Vì vậy, có sai biệt thì thành
hai, tức là chẳng ‘Như’.
Vì thế, Bình Ðẳng chính là nhập vào Bất Nhị, chính là Chơn
Như. Ðủ thấy: nghĩa bình đẳng rất sâu. Nay tựa
đề kinh nói ‘Bình Ðẳng Giác’ thì ta có thể hiểu
theo bốn cách như sau:
- Một là pháp bình đẳng phổ giác hết thảy chúng sanh, tức
là pháp khiến cho khắp hết thảy chúng sanh cùng
bình đẳng thành Phật. Pháp ‘phát Bồ Ðề tâm, nhất
hướng chuyên niệm’ của kinh này thích ứng khắp
ba căn. Kinh này dạy: ‘Hết thảy hàm linh
trong tương lai đều nương theo pháp này mà được
độ thoát’ chính là ý nghĩa ‘bình đẳng phổ
giác’.
- Hai là dùng pháp bình đẳng để giác ngộ chúng sanh. Tịnh
Ảnh sớ viết: ‘Vô tác, vô sở hữu v.v... là
pháp bình đẳng’.
Pháp Trì Danh ‘tâm làm Phật, tâm là Phật’ thầm hợp diệu
đạo, khéo nhập vô sanh, dẫu có niệm lại thành vô
niệm, do vãng sanh chứng vô sanh, niệm đến khi
năng - sở cùng mất, cho nên pháp Trì Danh chính
là yếu chỉ ‘nên không trụ vào đâu để sanh
tâm’ của kinh Kim Cang Bát Nhã và cũng đúng
là pháp
‘vô tác, vô sở hữu’ nói trong Tịnh Ảnh Sớ.
Dùng pháp như vậy dạy dỗ chúng sanh, vượt ngang khỏi tam
giới, thành Cứu Cánh Giác. Ðó là dùng pháp bình
đẳng để giác ngộ chúng sanh.
- Ba là, Bình Ðẳng Giác là Chánh Giác của Như Lai. Chánh
Giác không có hết thảy sự khác biệt: cao, thấp,
sâu, cạn nên gọi là Bình Ðẳng Giác.
- Bốn là riêng trong kinh này, Bình Ðẳng Giác chính là danh
hiệu của đấng giáo chủ Cực Lạc.
Tựa đề kinh gồm đủ các nghĩa nói trên.
‘Kinh’, tiếng Phạn là tu đa la, nghĩa đen là sợi chỉ, nghĩa
bóng là khế kinh.
Chữ ‘Khế’ có hai nghĩa:
- Một là khế lý, lý là thật tế lý thể.
- Hai là khế cơ.
Cơ là cơ nghi (10), căn cơ của chúng sanh, cũng có nghĩa là
thời cơ, thời tiết nhân duyên. Vì vậy, khế cơ là
phù hợp với tính tình cùng thời đại của chúng
sanh. Nay do nói gọn, bỏ chữ Khế, chỉ gọi là
Kinh.
Kinh có đủ bốn nghĩa: xuyên suốt, thâu tóm, thường hằng,
pháp. Xuyên suốt là lý xuyên suốt tất cả những
điều được nói. Thâu tóm là thâu giữ chúng sanh
được hóa độ. Thường là xưa nay chẳng đổi. Pháp
là xa, gần cùng tuân theo. Dùng cả bốn chữ vừa
nêu trên đây mới nói hết được ý nghĩa chữ Kinh.
Ngoài ra, những điều Phật dạy được gọi chung là Kinh. Vì
vậy, một chữ ‘kinh’ trong tựa đề là tên chung,
mười bốn chữ ‘Phật thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác’ là tên
riêng của mình kinh này.
Các kinh được đặt tên chẳng ngoài việc dùng nhân (người),
pháp, dụ: hoặc chỉ dùng một trong hai thứ (đơn),
hoặc dùng cả hai hoặc ba (phức). Vì vậy, thành
ra bảy loại: 3 loại chỉ dùng một thứ, 3 loại
dùng đến hai thứ và một loại dùng đủ cả ba (cụ
túc), cộng chung thành bảy loại.
Chẳng hạn như:
a. Chỉ dùng một thứ (đơn):
- Ðơn nhân: A Di Ðà kinh. A Di Ðà là nhân, không có pháp,
dụ.
- Ðơn pháp: Ðại Bát Nhã kinh. Ðại Bát Nhã là pháp, không có
nhân, dụ.
- Ðơn dụ: Phạm Võng kinh. Phạm Võng là dụ, không có nhân,
pháp.
b. Phức:
- Nhân - pháp: Văn Thù Vấn Bát Nhã kinh, Văn Thù là nhân,
Bát Nhã là pháp, không có dụ.
- Pháp - dụ: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Diệu Pháp là pháp,
Liên Hoa là dụ, không có nhân.
- Nhân - dụ: Bồ Tát Anh Lạc kinh, Bồ Tát là nhân, Anh Lạc
là dụ, không có pháp.
c. Cụ túc nhân pháp dụ:
Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Phật là nhân, Ðại
Phương Quảng là pháp, Hoa Nghiêm là dụ.
Tựa đề hội bản kinh Vô Lượng Thọ đây cũng đủ nhân, pháp dụ:
Chữ Phật trong tựa đề kinh biểu thị người đắc quả cõi này,
Vô Lượng Thọ là người đắc quả cõi kia, cho nên
trong tựa đề kinh có người đắc quả của cả hai
cõi. Bảy chữ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng
Giác là pháp. Hai chữ Ðại Thừa là dụ. Thừa là cỗ
xe. Kinh này có thể chuyên chở vô lượng chúng
sanh cùng đến chỗ có của báu, giống như xe trâu
trắng lớn trong kinh Pháp Hoa nên dùng Ðại Thừa
làm dụ.
Các kinh đều có đủ giáo-hạnh-lý: Dựa vào lý lập giáo, nương
theo giáo tu hành, từ hành hiển lý. Những nhà
chú giải khi giải thích đề kinh cần phải nói rõ
trong đề kinh riêng có đủ giáo, hạnh, lý.
Xét về kinh này, ‘Phật thuyết Ðại Thừa’ là giáo, ‘Trang
Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác’ là hạnh, ‘Vô
Lượng Thọ’ là lý.
Vô Lượng Thọ hàm ý ba đời nhất như, bổn thể Pháp Thân
thường trụ Niết Bàn, cũng chính là Phật tánh sẵn
đủ của chúng sanh, là bổn tâm ‘tâm này là Phật’.
Vì vậy, phán định Vô Lượng Thọ thuộc về lý vì nó
chính là Thật Tế lý thể.
‘Phật thuyết Ðại Thừa’ là giáo, nghĩa là nương theo lý thể
‘Vô Lượng Thọ’ để trực chỉ Ðại Thừa.
Vô Lượng Thọ là dụ, vì Phật tuyên thuyết Ðại kinh để nói về
cái chúng sanh vốn sẵn có đủ. Lý do phán định
chữ ‘Phật thuyết Ðại Thừa’ là giáo đã rõ.
Lại còn từ giáo khởi hạnh nên ‘Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình
Ðẳng Giác’ chính là diệu hạnh được đức Phật
giảng dạy. Một câu Di Ðà dùng trang nghiêm tự
tâm, thanh tịnh tự tâm thì chính là ‘y giáo tu
hành’, chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai
hiển lộ trọn vẹn bình đẳng giác sẵn có. Ấy là
dùng hạnh hiển lý.
Hơn nữa, được vãng sanh thì ngộ vô sanh nhẫn, từ thể khởi
dụng, lại dùng diệu pháp bình đẳng này bình đẳng
phổ độ hết thảy chúng sanh vãng sanh Tịnh Ðộ
cùng chứng Ðại Giác. Ðấy cũng chính là từ các
hạnh hiển lý vậy.
Nếu đem tựa đề kinh phối hợp với tam đại thì Vô Lượng Thọ
là thể đại, Trang Nghiêm Thanh Tịnh là tướng
đại, Bình Ðẳng Giác là dụng đại.
Căn cứ theo bản Hán dịch, Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Ðẳng
Giác nghĩa là A Di Ðà Phật thì ta có thể đem tựa
đề kinh này phối hợp với ba giác:
- Vô Lượng Thọ Phật là Bổn Giác của ta.
- Phát Bồ Ðề tâm, nhất hướng chuyên niệm để trang nghiêm tự
tâm là Thỉ Giác.
- Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, thẳng tiến đến Cứu Cánh Giác
chính là chữ ‘Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác’ trong
tựa đề kinh.
Lại có thể hiểu như sau: Bình Ðẳng Giác là Bổn Giác của ta,
khởi tâm niệm Phật để tự ‘trang nghiêm’ là Thỉ
Giác. Thỉ, Bổn chẳng rời nhau, thẳng tiến trên
đường giác ngộ, chóng vào được Tịch Quang, chứng
‘Vô Lượng Thọ’.
Như vậy, Bình Ðẳng Giác là nhân tâm (cái tâm dùng làm nhân)
của ta, Vô Lượng Thọ là quả giác của chúng ta.
Diệu nghĩa được phát triển đến vô tận như thế nhưng đều nằm
gọn trong tựa đề. Vì vậy, sách Viên Trung Sao có
câu sớ như sau: ‘Nghe tựa đề kinh được vô
lượng công đức’. Lời sao giảng: ‘Như kinh
Kim Quang Minh và các kinh Ðại Thừa khác phần
nhiều nêu thuyết này’.
|