1. GIẾT LỢN BỊ ĐỌA VÀO ĐỊA NGỤC A TỲ.
Truyện Pháp Cú kể rằng: Lúc Thế Tôn cùng các Tỳ
kheo ở tại tinh xá Trúc Lâm, cách đó không xa, có đồ tể
Cunda sống bằng nghề mổ lợn. Mỗi lần giết lợn, ông ta trói
thật chặt vào cột và nện nó bằng một cây chày vuông, rồi
banh hàm và rót nước sôi vào họng, kế đến đổ nước sôi lên
lưng, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng một bó
đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu lợn bằng một thanh kiếm nhọn rồi
xẻ thịt, lột da.Và Cunda đã sống bằng nghề mổ và bán thịt
như thế gần hai mươi năm.
Dù đức Ðạo Sư ở tinh xá cách đó không xa mà chẳng khi nào
Cunda cúng dường Ngài, dù là một cành hoa hay một nắm cơm,
cũng không làm một việc công đức nào cả. Một hôm ông mắc
bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng lửa của địa ngục A Tỳ
đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình địa ngục giáng xuống đồ
tể Cunda, ông ta bắt đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu
gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt miệng ông ta,
chặn các cửa và nhốt ông ở trong nhà. Suốt bảy ngày, chịu sự
đau khổ, ông luôn mồm rống eng éc như lợn .
Vài tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng lợn kêu eng
éc ồn ào, khi về tinh xá, bạch với Đạo Sư: “Bạch Thế Tôn,
trong bảy ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông ấy
vẫn tiếp tục giết lợn. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao nhiêu con
bị giết. Thật từ trước tới nay chưa thấy ai độc ác và dã man
như thế!”
Đức Đạo Sư nói: “Này các Tỳ kheo! Ông ta không giết lợn
trong bảy ngày qua đâu. Sự trừng phạt phù hợp với việc làm
ác đã xảy đến đối với ông ta. Ngay khi ông ta còn sống, cực
hình của địa ngục A Tỳ đã đến. Vì cực hình này, ông ta bò
tới bò lui trong nhà, kêu la eng éc như một con lợn suốt bảy
ngày. Hôm nay ông ta đã chết và bị đọa vào địa ngục A Tỳ”.
2. GIẾT TRÂU ĐỀN TỘI
Trong quyển Hồi hương bút ký
có một đoạn mô tả như skiegxfodau: Vào đời Thanh Tuyên Tông, năm
Đạo Quang ở huyện Đào Khê (Trung Quốc) có một kẻ chuyên môn mổ
thịt trâu đem bán mà mọi người ai cũng biết. Đó là Phạm Đăng Sơn.
Suốt đời giết hại không biết bao nhiêu con trâu vừa đem bán, vừa
để ăn. Một hôm trên không bỗng nhiên mây đen tích tụ lại, trời
đất tối sầm, rồi mưa gió nổi lên dữ dội, sấm chớp vang rền. Ngay
lúc ấy, sét đánh trúng Phạm Đăng Sơn nhưng không chết, song mặt
mày cháy lém, da thịt cuộn lại, đau đớn rên la, kêu rống lên một
cách thê thảm, hai mắt đẫm lệ trợn lên như sắp lồi ra ngoài. Do
lửa đốt, da thịt nứt nẻ, anh ta dùng tay cạo những chỗ thịt bị
rã nát, vò lại rồi bỏ thẳng vào miệng vừa ăn vừa nói: thịt trâu
ngon quá. Trải qua chừng vài tháng rồi tắt thở. Những người
chứng kiến cảnh ấy, ai nấy đều cảm thấy lạnh xương sống. Nên
biết rằng sự báo ứng của nghiệp sát sinh hết sức là trầm trọng,
mà quả báo của việc giết trâu bò lại càng trầm trọng hơn vì
chúng có công với người đời.
3. HÃY TỪ BỎ NGHỀ SÁT
SINH
Câu chuyện này xảy ra ở Tương
Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Một
người đàn ông sinh sống bằng nghề giết mổ lợn. Ông có bốn con
trai và một con gái. Ba người con trai lớn theo nghề của cha
kiếm tiền, cuộc sống gia đình rất khá giả. Sau khi ông chết đi
ba người con trai lớn vẫn tiếp tục nghề đó. Một ngày nọ, họ mua
một con lợn về chuẩn bị mổ thịt, thì họ bị sửng sốt khi nghe con
lợn nói “Làm ơn đừng giết tôi, đừng giết tôi.” Họ hỏi: Ngươi vừa
mới nói gì? Con lợn nói: “Ta là cha của các con. Đừng giết ta.
Ta được đầu thai thành lợn, bởi vì ta phạm phải
tội rất lớn đó là giết rất nhiều lợn khi còn sống. Hôm nay ta
được xếp đặt để gặp các con để truyền đạt một điều quan trọng:
“Hãy từ bỏ nghề mổ lợn và tìm nghề khác mà làm.”
Con lợn chết sau khi nói xong.
Mấy anh em buồn khóc thảm thiết và đem chôn con lợn này. Họ chia
nhau tài sản của gia đình và mỗi người đi một đường. Người con
trai đầu trở thành đại lý bán gạo; người con trai thứ ba mở một
cửa tiệm bán quần áo. Người con trai út vẫn còn rất bé. Người
con gái thì theo chồng. Người con trai thứ hai vẫn tiếp tục làm
nghề giết mổ lợn bất chấp lời cảnh cáo của cha mình.
Một hôm anh ta dùng hết gia tài
của mình mua một bầy lợn. Khi anh lùa bầy lợn qua một bờ đê, một
cơn gió mạnh đột ngột tới làm thành bão cát bao phủ cả vùng
trời. Gió rất mạnh và tràn khắp vùng làm anh ta không cách nào
mở mắt ra được. Anh ta không còn chọn lựa nào khác đành phải
ngồi xuống bờ đê và đợi hết gió. Cơn gió kéo dài 4 giờ đồng hồ.
khi anh ta mở mắt ra, không thấy còn con lợn nào cả. Anh ta đã
mất sạch hết tiền. Anh ta cảm thấy hối hận, và ngồi ở đó khóc và
khóc đến khi đôi mắt bị mù.
4[1].
ĂN TRỘM PHẢI TRẢ NỢ
Xưa có một người tên là Triệu
Tam, đi ở cùng với mẹ cho nhà họ Quách. Sau khi mẹ Triệu Tam qua
đời hơn một năm, vào một buổi tối nọ, Triệu Tam có một giấc mộng
thấy mẹ về nói với ông: “Ngày mai tuyết rơi lớn, bên dưới tường
nhà sẽ có một con gà chết cóng vì lạnh, chủ nhân nhất định sẽ
thưởng cho con, nhưng con chớ có ăn. Ta đã từng trộm ba trăm
đồng tiền của chủ nhân, Diêm vương nay phán ta chuyển thành gà
để trả nợ. Ta đã đẻ đủ trứng trong đời này để trả hết số nợ, nên
có thể đi được rồi”.
Hôm sau, quả đúng như lời nói
trong giấc mộng, có một con gà mái chết cóng dưới bức tường nhà.
Chủ nhân thưởng cho Triệu Tam, nhưng Triệu Tam nhất quyết không
ăn, mà khóc lóc mang gà mái đi chôn. Chủ nhân cảm thấy rất lạ,
mới gặng hỏi. Không còn cách nào khác, Triệu Tam đành đem sự
thật kể lại với chủ nhân.
5[2]
NHỜ BỐ THÍ GIẢI ĐƯỢC TỘI
Thủ Huồng tên thật Võ Hữu
Hoằng , theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù lao
Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay
là Biên Hòa, Việt Nam).Theo Đại Nam nhất thống chí,
ông có tên Võ Hữu Hoằng.
Nhưng có nơi gọi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng, Võ Thủ
Hoằng.
Khoảng năm 1755, ở châu Đại Phố
có một người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thơ
lại. Trong hai mươi năm làm việc trong nha môn, ông đã thu được
nhiều tiền của. Sau khi vợ mất sớm lại không con, mà tiền bạc
thì quá thừa thãi, Thủ Huồng xin thôi việc về nhà.
Thủ Huồng rất yêu vợ, cho nên khi
nghe người mách rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống
và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau,
trong lúc trò chuyện, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi. Ở
cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ
phạm nhiều tội ác khi còn sống. Và ông cũng đã nhìn thấy một cái
gông to, mà cai ngục cho biết là để dành cho ông vì ông phạm tội
ăn cắp.
Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng
sợ bị đọa vào địa ngục, liền đem toàn bộ tài sản dùng vào việc
bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà
để giúp dân nghèo tránh nước triều dâng ở ngã ba sông.
Sách Gia Định thành thông chí có
ghi:
“Thuở ấy, dân cư còn thưa
thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì
vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh tên là Võ Thủ Hoằng kết tre
lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và
đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả
tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20,
30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè.
Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người
qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên
vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là
Võ Thủ Huồng. Chiếc cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên
Hòa) tương truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến nay vẫn còn.
Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái
gông ngày cũ đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm
việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất. Khá lâu sau, có ông
vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) lúc
mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một
người ở Gia Định. Số là khi mới sinh, trong lòng bàn tay vua
đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện,
nhà vua có gửi cúng chùa Chúc Thọ (chùa Thủ Huồng) ở Biên
Hòa một bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương.
Do việc này, mà có người bảo rằng: Nhờ thành thật hối
lỗi, Thủ Huồng chẳng những làm tiêu tan cái gông đang chờ
ông ở cõi âm, mà còn được đi đầu thai làm
vua ở Trung Hoa.
6[3].
TÀ DÂM PHẢI ĐỀN TỘI
Ngày xưa ở Động Đình có một người
tên là Trần Sinh, nhà rất nghèo nên ông ta đưa vợ và em trai đến
đất Châu Kinh làm ăn sinh sống. Ở đây khách buôn bán lui tới tấp
nập. Trần Sinh tính tình cởi mở hay chiều khách, lại khéo mua
bán, nên chẳng bao lâu công việc buôn bán làm ăn phát đạt, nhà
rất giàu có.
Rồi một ngày kia, ông bị bệnh nằm
liệt giường. Được vài hôm, ông bỗng trỗi dậy gọi vợ cùng em đến
bảo rằng: “Ba người chúng ta kiếp trước đều là tu sĩ mắc tội
chung nhau gian dâm với một thiếu phụ rồi giết người chồng. Kẻ
cầm giao giết người chồng chính là tôi. Nay vì tội gian dâm và
giết người nên Minh vương cho quỷ đến bắt, oan trái tất phải đền
trả. Bây giờ tôi đi trước, còn hai người chắc cũng không thoát
khỏi đâu!”. Nói xong, tự nhổ râu tóc, lấy dao cắt lưỡi mình, lại
lấy hai ngón tay tự móc mắt mình, ít phút sau tắt thở. Người vợ
và em mấy ngày sau cũng chết.
7. NGOẠI TÌNH GÁNH NGHIỆP
NẶNG
Hoàng L. là người Thái Bình. Cha
anh ta là một người bạn tốt của một vị Hòa thượng danh tiếng và
tu luyện tốt, ông cũng giỏi về thơ văn và xem thuật tướng. Trước
đó, vị Hòa thượng này đã xem thuật tướng cho Hòang L. và bảo
rằng anh ta có một tướng mạo làm giàu, sau này sẽ rất thành đạt
trong đường đời của anh ta.
Vào tuổi 20, Hoàng L. đã cưới một
cô vợ xinh đep. Vài năm sau, anh ta đã được bổ nhiệm làm việc
như một viên chức chính phủ tại thủ đô nhưng vợ của anh ta thì ở
quê nhà. Ít năm sau đó, Hoàng L. gặp lại vị Hòa thượng, ông rất
đỗi ngạc nhiên về những gì mà ông ta đã nhìn thấy ở anh ta và
ông nói, “Cách đây nhiều năm, tôi đã thấy anh có một diện mạo
làm giàu nhưng tại sao điều đó đã lại thay đổi? Trán của anh lúc
đó đầy đặn nhưng bây giờ nó dường như đã sụp xuống, cằm của anh
đã rất tròn nhưng giờ đây nó lại rất nhọn. Ngoài ra, lại có khí
đen xung quanh trung tâm của lòng bàn tay của anh. Điều này có
nghĩa có tai họa đang chờ đợi anh, anh cần phải cẩn thận. Thuật
tướng của anh đã thay đổi rất nhiều. Tôi thắc mắc anh đã làm
điều gì không đúng luân thường đạo lý?”
Hoàng L. đã ngẫm nghĩ lại những
hành vi của anh ta trong vài năm qua và chỉ một điều mà anh có
thể nghĩ đến là việc ngoại tình của anh ta với nhiều phụ nữ khác
trong thời gian anh ta làm việc ở thủ đô. Sau khi nghe điều này,
vị hòa thượng đã thở dài và nói, “Ban đầu anh được duyên cơ có
một cuộc đời tốt, nhưng anh đã không quí nó và đã có hành vi dâm
ô với những phụ nữ khác. Đó là một điều hổ thẹn mà anh đã hủy
diệt chính sự may mắn của anh trong hành vi này”. Không lâu sau
đó, Hoàng L. quả thật đã gánh tai nghiệp vào mình như vị Hòa
thượng đã được tiên đoán. Một hôm, trong khi Hoàng L. đang tắm,
người cấp dưới của anh đã hại anh ta. Anh đã bị giết bởi một
thanh kiếm. Bụng anh ta bị cắt đi và tất cả các nội tạng lọt ra
ngoài.
8. NÓI DỐI PHẢI ĐỀN TỘI
Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân
Duyên có kể câu chuyện như sau: Có năm vị tỳ kheo giả làm
người tu hành đắc đạo. Họ đến một vùng đất lạ, cất một cái chòi
cao, che phướn, lộng, rồi một người lên ngồi nghiêm trang, mắt
lim dim, còn bốn người kia đi vào làng kêu gọi mọi người đến xem
có một vị tiên tu hành đắc đạo, nếu ai đến lễ lạy, cúng dường sẽ
được nhiều phước báu. Cứ thế mà họ thay phiên nhau đi quảng cáo
để được cúng dường.
Kiếp sau đó, vào thời Đức Phật
còn tại thế, có bốn người khiêng kiệu và một người bảo vệ kiệu
của một vị Hoàng hậu đến nghe Phật thuyết pháp. Khi Hoàng hậu đi
nghe pháp thì cởi bỏ vòng vàng, nữ trang để trong kiệu. Năm
người phụ trách kiệu xe nằm ngủ, kẻ ăn trộm đến ăn cắp tất cả nữ
trang của Hoàng hậu. Quân lính cho tra khảo đánh đập tàn nhẫn.
Hoàng hậu đến thỉnh ý Phật về nhân duyên gì mà có chuyện như
thế. Đức Phật đáp rằng: Năm ông đó kiếp trước là năm thầy tu giả
mạo, còn bà là một tín nữ sùng đạo, hết lòng cung kính cúng
dường họ. Bây giờ họ phải làm lính khiêng kiệu cho bà để đền nợ
trước. Nghe xong, Hoàng hậu vô cùng kinh hãi, sợ mang tội với
thầy nên bảo tha và không cho họ khiêng kiệu nữa. Nhưng họ khóc
lóc, quì lạy, năn nỉ: Xin lệnh bà rủ lòng thương xót, cho chúng
con tiếp tục hầu hạ lệnh bà. Chúng con hứa từ nay sẽ cẩn thận
không bao giờ dám ngủ quên như thế. Hoàng hậu thỉnh ý Phật thì
Đức Thế Tôn trả lời: Nghiệp báo, họ trả nợ chưa dứt thì làm sao
mà họ ra đi dễ dàng được.
9. LỞ LƯỠI VÌ NÓI SAI SỰ
THẬT
Ngày xưa ở Trung Quốc có người
tên là Vũ Quý Sang. Hắn thích bẻ cong sự thật, chế nhạo, đùa bỡn
những lỗi lầm và trêu chọc người khác.
Khi Vũ Quý Sang gặp người xấu xí,
hắn cười anh ta, khi gặp người đẹp trai, hắn nhạo anh ta, khi
gặp người trí thức hắn nạt anh ta, khi gặp người tinh ranh hắn
cố tìm lỗi lầm và chỉ trích anh ta, khi gặp người nghèo khổ hắn
coi thường anh ta, khi gặp người giàu có hắn vu khống anh ta,
khi gặp quan chức hắn moi móc đời tư của vị này cho mọi người
biết, khi gặp một học giả, hắn loan truyền bí mật của người này,
khi gặp người hoang phí tiền bạc, hắn ca tụng anh ta là người
rộng rãi; khi gặp kẻ nham hiểm chuyên lừa lọc, dữ tợn, độc ác
với mọi người, hắn ca tụng gã này là cao cả. Khi gặp người nào
nói về giáo lý của nhà Phật, hắn nhạo báng và gọi vị này là Sư;
khi gặp người nào nói về Lão Giáo và tu đức hạnh, hắn cười và
gọi anh ta là đạo đức giả. Khi thấy ai nói lời tử tế hắn phê
bình “Chỉ được lời nói hay”. Khi gặp người làm việc thiện, hắn
chỉ trích: “Thật là kỳ cục, tại sao anh làm việc tốt này mà
không làm việc tốt kia?”. Đi tới đâu hắn cũng bình luận và nói
trái sự thật.
Về sau Vũ Quý Sang bất ngờ bị lở
lưỡi. Hắn luôn phải đâm vào lưỡi, để máu chảy đầy miệng, làm như
vậy mới bớt đau đớn. Hằng năm hắn bị đau từ năm đến bảy lần. Hắn
quằn quại rên siết cực độ khi muốn nói. Cuối cùng hắn chết vì
lưỡi bị teo. Đó là nghiệp báo do nói sai sự thật.
10[4]
LỜI DỐI TRÁ TẠO RA VẬN MỆNH
Ở phủ Hà Giang có người tên là
Phùng Thụ Nam,
thông minh và viết văn hay. Nhưng anh ta đã lưu lạc ở kinh thành
suốt hơn 10 năm trường mà vẫn không thành công. Mỗi khi gặp được
cơ duyên thì cuối cùng luôn luôn bị tan vỡ. Khi anh ta nhờ người
khác giúp, thì ngoài mặt họ bằng lòng nhưng thực tế là không hề
quan tâm gì đến anh ta cả. Cuộc sống của anh ta rất khó khăn,
trong lòng vô cùng thất vọng và buồn rầu. Có một lần, anh ta vào
miếu khẩn cầu Thần linh gợi ý và hướng dẫn cho vận mệnh của
mình.
Đêm đó, anh ta mơ thấy một vị
Thần nói với mình: "Anh chớ oán giận đường đời gian khổ.
Thực ra, vận mệnh cả đời anh đều là tự anh tạo thành cả, oán hận
có ích gì? Kiếp trước anh thích dùng lời dối trá để giành được
tiếng thơm là một vị trưởng lão trung hậu. Thấy người khác gặp
việc khó khăn, anh biết rõ việc đó không thể thành công, nhưng
lại cực lực xúi bẩy người khác làm, khiến người ta cảm ơn anh đã
tán thành và gợi ý cho họ. Thấy kẻ ác phạm pháp, biết rõ hành vi
tội lỗi của người đó là không thể tha thứ được, anh lại nhiều
lần biện bạch cho họ, làm cho người khác cảm kích anh. Anh làm
như thế, khiến bao nhiêu những lời cảm ơn tốt đẹp đều dành cả
cho anh, còn bao nhiêu oán thù phẫn hận toàn quy kết hết cho
người khác. Tâm anh hiểm ác như thế, còn cần phải chỉ ra hay
sao? Bởi vậy có thể thấy, người khác đối với anh có vẻ như thân
thiết, thực ra là xa cách, tưởng như quan tâm, thực ra là lạnh
nhạt thờ ơ, đó cũng là lẽ tất nhiên. Anh tự ngẫm lại xem, như
thế có xứng đáng hay không? Đối với một con người, nếu người đó
vô tình phạm vài lỗi lầm nào đó, thì có thể dùng một việc thiện
nào khác để bồi thường lại. Nhưng nếu một người rắp tâm làm điều
sai trái, đó chính là vi phạm đạo đức, không thể tha thứ được.
Nếu anh cố gắng làm việc tốt mới có thể được may mắn mà thôi!"
Phùng Thụ
Nam nghe xong vô cùng hối hận,
sau đó không lâu thì bệnh chết.
11. KHÔNG NÊN COI THƯỜNG
NÓI ĐÙA
Vào thời Đông
Chu
liệt quốc, Tống Mẫn Công có người tướng tên là Nam Cung Trường
Vạn. Một hôm đi đánh nước Lỗ, Nam Cung sa cơ thất thế bị giặc
bắt. Cũng chính lúc ấy, nước Tống bị thiên tai, Lỗ Trang Công
không nghĩ đến thù xưa, còn sai người sang cứu giúp. Tông Mẫn
công thấy thế cho sứ giả đến tạ ơn và xin tha cho Nam Cung
Trường Vạn. Nam Cung được thả về nước, Tống Mẫn Công ra nói đùa:
“Trước kia ta rất coi trọng ngươi, bây giờ đã là tù nhân thì ta
không còn trọng nữa đâu”. Thấy Nam Cung ngây ra, mặt đỏ tía tai,
hết sức hổ thẹn, Đại phu Cừu Mục nói với Tống Mẫn Công: “Vương
công chớ nên coi thường sự đùa dỡn mà sinh ra lòng khinh nhờn
hay dẫn đến sự phản nghịch. Tống Mẫn Công trả lời: “Ta với Nam
Cung Trường Vạn rất thân thiết, khanh chớ có sợ”. Một hôm Tống
Mẫn Công đánh cờ thắng Nam Cung Trường Vạn nên đắc ý nói đùa
dỡn: “Người là tên tù chẳng làm được việc gì, làm sao đánh thắng
được ta”. Nam Cung Trường Vạn tức giận đứng lên nói: “Kẻ tù này
tuy đánh cờ không thắng được vua, nhưng có thể giết vua”. Nói
xong, lấy bàn cờ đập vỡ đầu Tống Mẫn Công chết ngay tại chỗ, rồi
làm loạn.
Sự nói đùa dẫn đến nghiệp báo như
thế.
12. NÓI ÁC KHẨU BỊ ĐỌA
LÀM KHỈ
Đây là câu chuyện Đức Phật dạy về
việc Ác Khẩu và quả báo của nó:
Ngày xưa trong thành Xá Vệ có một
người nhà rất giàu, tên gọi là Sư Chất, đã hơn 40 tuổi rồi mà
chưa có con. Hai vợ chồng rất lo lắng, đến nhà Bà La Môn xin bốc
một quẻ bói xem sau này có sinh được đứa con trai hay con gái
nào không? Nhưng họ vô cùng thất vọng nghe thầy bói trả lời rằng
suốt đời họ sẽ không có con. Sư Chất nghe thế không chịu tin,
lại đi tìm một ông thầy tướng số khác, cao tay ấn hơn, nhiều
kinh nghiệm hơn xin bốc quẻ. Lạ thay, vị thầy tướng này vốn được
mọi người tôn kính và khen ngợi là bói linh như thần, lại cũng
làm cho Sư Chất thất vọng.
Sư Chất đi về mà lòng phiền muộn,
bỗng sực nhớ đến bậc đại thánh Thích Ca Mâu Ni, tự nghĩ: Đức
Phật là giáo chủ của trời và người, là bậc Nhất thiết trí, không
có gì là Ngài không biết, không có gì là Ngài không hiểu, tại
sao ta lại không đến gặp Ngài xin chỉ giáo?
Nghĩ đến đây ông bèn nhắm hướng
Kỳ Viên tinh xá mà đi. Cung kính đảnh lễ Đức Phật xong, ông chắp
tay bạch: “Bạch Đức Thế Tôn đại bi, xin Ngài thương xót chúng
sinh ngu si mà chỉ giáo: con có chút ưu tư, năm nay đã hơn 40 mà
chưa có đứa con trai nối dõi, đó là do nhân duyên gì, cúi xin
Đức Phật khai thị”.
Đức Phật trả lời: “Không lâu nữa
ông sẽ có một đứa con trai, vừa có phúc lại vừa có đức, chỉ có
điều là khi nó vừa lớn nó sẽ xin xuất gia”.
Nghe tin này Sư Chất rất đỗi vui
mừng, thành tâm đảnh lễ chân Phật, rồi thỉnh cầu: “Cầu xin Thế
Tôn và chư tăng cho phép chúng con được cúng dường vào trưa mai,
để chúng con được kết thêm thiện duyên và trồng chủng tử vào
ruộng phước của Như Lai”.
Đức Phật nhận lời rồi, Sư Chất
hoan hỉ quay về chuẩn bị đàn trai. Hôm sau ông dẫn đầu gia nhân,
chân thành cúng dường những món ăn thức uống ngon lành đẹp mắt
nhất.
Đức Phật nhận cúng dường xong,
thuyết một thời pháp rồi dẫn đầu tăng chúng quay về tinh xá. Đi
được nửa đường, Đức Phật và tăng chúng ngồi dưới một gốc cây bên
bờ sông nghỉ ngơi. Bỗng từ trên cây, một con khỉ nhảy xuống xin
mượn bình bát của Đức Phật. Nó ôm bình bát chạy đi thật xa rồi
quay về, trong bình bát chứa đầy mật ngọt. Nó dùng hai tay kính
cẩn dâng bình bát lên Đức Phật, Ngài nhận lấy và chia cho
chư tăng dùng, để con khỉ được nhiều phúc đức. Con khỉ thấy thế
mừng rỡ nhảy nhót.
Không lâu sau nó đến ngày tận số,
đầu thai làm người, sinh vào nhà của Sư Chất.
Lúc nó sinh ra, trong nhà phàm có vật dụng gì có thể chứa đựng
thức ăn, thì vật dụng ấy bỗng đầy ắp mật và đường. Vợ chồng Sư
Chất thấy điều quái dị, bèn do nhân duyên này đặt tên con là Mật
Thắng.
Thời gian vùn vụt trôi mau như
tên bắn, hơn mười năm trôi qua như trong nháy mắt, Mật Thắng nay
đã lớn khôn. Chú bé chán ngán chuyện thế tục, xin phép cha mẹ
cho mình được xuất gia, cha mẹ hết sức vui mừng mà trả lời: “Lúc
con chưa ra đời, Đức Phật đã biết sẽ có ngày hôm nay. Bây giờ
con muốn xuất gia, cha mẹ rất hoan hỉ. Không bao giờ cha mẹ ngăn
chặn con một cách vô lý”.
Được cha mẹ hoan hỉ cho phép rồi,
Mật Thắng đến Kỳ Viên tinh xá xin xuất gia với Đức Phật. Nhờ có
tiền duyên, Mật Thắng chứng quả rất mau.
Một hôm, thầy đang trên đường đi
độ hóa với các bạn đồng tu, cảm thấy vừa nóng vừa khát lạ
thường, ai nấy đều ao ước có một cái gì uống. Tỳ kheo Mật Thắng
bèn cầm bát tung lên trời rồi sau đó dùng hai tay tiếp lấy bát
trở về. Bấy giờ trong bát đựng đầy mật ngọt, Mật Thắng bèn chia
cho chúng tăng giải khát.Về tới tinh xá, một vị tỳ kheo đi tìm
Đức Phật xin thỉnh giáo: “Trong quá khứ tỳ kheo Mật Thắng đã tu
được phúc đức gì mà bây giờ bất cứ lúc nào, ở đâu cũng có thể
có đường và mật?”.Đức Phật trả lời: “Các ông có nhớ có một lần
lâu lắm rồi, có một con khỉ đem mật ngọt đến cúng dường Như Lai
và chúng tăng không? Nhờ bố thí với thiện tâm, chết rồi nó được
sinh ra làm người và nhờ nó chân thành cúng mật ngọt cho Phật
nên kiếp này nó có thể được mật bất cứ lúc nào và ở đâu”. Đức
Phật nói xong, vị tỳ kheo nọ hỏi tiếp: “Bạch Thế Tôn! Thế thì
tiền kiếp Mật Thắng do nhân duyên gì mà bị đọa xuống làm khỉ?”.
Lúc ấy xung quanh Đức Phật có rất nhiều đệ tử vân tập, Ngài nhìn
họ một lúc rồi đáp: “Thầy ấy bị đọa xuống làm khỉ là do một nhân
duyên xẩy ra cách đây 500 kiếp trước, thời Ca Diếp Như Lai còn
tại thế. Lúc đó có một vị tỳ kheo trẻ tuổi, tình cờ thấy một vị
tỳ kheo khác đang băng qua một con suối nhỏ, vị trẻ tuổi bèn
cười chế nhạo, bảo là dáng điệu của vị tỳ kheo kia giống hệt như
con khỉ. Vị tỳ kheo trẻ tuổi đã phạm tội ác khẩu nên bị đọa
xuống làm khỉ, nhưng sau đó thầy ấy biết lỗi lầm của mình, đến
xin sám hối với vị tỳ kheo mà mình đã chế nhạo. Nhờ thắng duyên
ấy mà kiếp này mới được gặp Phật và được Phật độ, chứng quả A La
Hán một cách mau chóng.
Nghe đức Phật giảng xong, các vị
Tỳ kheo đều nhận ra rằng một câu nói ác cũng có thể chiêu cảm
nghiệp khổ, vì thế không còn ai dám ác khẩu, ngay cả đến một câu
nói đùa cũng không dám nói.
13. NÓI LỜI BỊA ĐẶT GÂY NGHIỆP ÁC
Ngày xưa có một ông trưởng giả rất giàu có, tiền muôn
bạc triệu, tài sản dùng suốt đời không hết, lại có người
vợ vừa xinh đẹp vừa hiền đức, nên đã hạnh phúc lại càng
hạnh phúc hơn. Nhưng niềm vui của ông ngắn ngủi, Ông lập
gia đình một thời gian lâu mới sinh được một đứa con
trai, ngày đứa bé ra đời ông vui mừng khôn kể xiết.
Nhưng bất hạnh thay, đứa con ông chỉ mới khóc oe oe chào
đời đã vương bệnh nặng. Theo lời thầy thuốc chẩn bệnh
thì đó là những mụn nhọt độc hại mọc trên da đứa bé
khiến nó khóc cả ngày, thế nhưng danh y nào mời đến cũng
đều lắc đầu chịu thua. Tội nghiệp đứa bé, rất nhiều thầy
thuốc đã bó tay rồi, mà nó vẫn cứ đêm ngày khóc la vì
đau đớn, cuộc sống thật là khổ sở.
Tiếng khóc gào rên rỉ của nó làm náo động tới bà con
làng xóm, nên người ta đặt tên cho nó là thằng “Khóc
Gào”. Gần nhà cậu có một ông hàng xóm già, nghe tiếng
rên la đau đớn của Khóc Gào, trong lòng thấy bất nhẫn,
bèn tìm đến nhà cậu thăm hỏi và nói với cậu rằng: “Tôi
nghe rất nhiều người về khen ngợi tán thán rằng tại Tinh
xá Kỳ Viên có một vị Đại Y Vương, bệnh trên thân hoặc
bệnh trong tâm của chúng ta Ngài đều có thể chữa trị
được hết. Ngài có phương tiện thần thông nhiệm mầu, bệnh
của cậu có trầm trọng đến đâu cũng sẽ tức khắc lành, cậu
nên mau mau tìm đến Ngài cầu xin chữa bệnh. Khóc Gào
nghe nói thế, vui mừng vô kể, vội mang tấm thân bệnh
hoạn tìm đến Tịnh xá Kỳ Viên xin được gặp đức Phật.
Khi Khóc Gào nhìn thấy 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trên thân
uy nghi sáng chói của Phật, cậu hân hoan tán thán ngay.
Những đau đớn khổ não của cậu giảm thiểu đi rất nhiều,
lập tức gieo cả năm vóc xuống đất lễ bái đức Phật.
Đức Phật từ bi chưa từng bỏ rơi bất cứ chúng sinh bệnh
khổ nào, nên khi thấy Khóc Gào tới, Ngài rất hoan hỉ,
bèn tuyên thuyết cho cậu những pháp môn thù thắng có
năng lực diệt trừ tất cả mọi khổ não. Khóc Gào nghe Đức
Phật thuyết pháp xong bèn sám hối tội lỗi. Lúc ấy nhọt
độc đã hành hạ cậu trên mười năm qua lập tức tan biến,
bệnh khổ của cậu hoàn toàn được tiêu trừ, nên tâm cậu
sinh khởi niềm cung kính hoan hỉ chân thành, cậu bèn cầu
xin đức Phật cho phép cậu được xuất gia làm tỳ kheo. Cậu
tu hành tinh tiến, chẳng bao lâu đắc quả A la hán.
Các vị tỳ-kheo khác thấy tình cảnh của Khóc Gào như thế,
thấy đó là điều rất hy hữu, bèn thỉnh Thế Tôn nói về
nhân duyên khiến cho cậu phải chịu quả báo lúc trước.
Đức Phật giảng cho các đệ tử nghe rằng: “Vô lượng kiếp
về trước, ở thành Ba La Nại có hai vị phú ông nọ. Bình
thường hai người đã không ưa nhau và đố kỵ nhau, nên một
trong hai người đem rất nhiều vàng bạc châu báu lên dâng
tặng nhà vua. Khi nhà vua nhận những vật cống hiến của
ông này rồi thì rất quý trọng ông. Vì thế khi ông này
gièm siểm ông kia trước mặt nhà vua rằng “người ấy vô
cùng hiểm ác, thường dùng mưu độc ám hại tôi, xin Đại
vương hãy nghiêm trị người ác để bảo vệ dân lành”, thì
nhà vua vốn đã nhận vật cống hiến nên không còn sáng
suốt nhận định, nhất nhất tin lời ông này và ra lệnh bắt
giam, không đếm xỉa tới những lời biện hộ của người kia,
còn đem ra tra tấn tàn khốc. Người này phải chịu tất cả
những hình phạt đau đớn nhất, thương tích đầy thân như
vẩy cá, phải nhờ gia đình xuất tiền chuộc tội mới được
thả về nhà. Về tới nhà ông suy nghĩ không ngừng, thấy
rằng con người vì có thân cho nên mới có khổ, mới bị lắm
tai nhiều họa. Mình và người kia không hề có oán thù chi
mà họ lại có thể hại mình đến mức thân tàn ma dại như
thế này. Không lâu sau, ông bỏ gia đình vào núi tu hành
và thành Bích Chi Phật.
Vị Bích Chi Phật phát tâm đại từ bi, sợ rằng người kia
kiếp sau sẽ chịu quả báo đau khổ nên tới nhà người ấy
thị hiện đủ loại thần thông, khiến người kia thấy những
biến hóa bất khả tư nghì như thế, sinh tâm kính ngưỡng,
lập tức thỉnh Bích Chi Phật lên tòa ngồi và chuẩn bị đủ
loại thực phẩm đặc biệt để cúng dường và sám hối tội cũ
của mình đối với Ngài.
Đức Phật nói đến đây, ngừng một lúc rồi nói tiếp: “Các ông
phải biết, người sàm tấu với vua chính là tỳ kheo Khóc Gào
đã chịu khổ trong kiếp này. Sau, nhờ ân huệ của Bích Chi
Phật, sám hối tội lỗi cũ, và nhờ công đức thành kính quy y
Tam Bảo nên ngày nay được Như Lai cứu độ, mau đắc quả thánh.
Đừng nghĩ rằng những lời sàm tấu nói ra mà không ai biết.
Nghiệp tội không trốn được, dẫu trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng
đã phạm tội như thế rồi mà biết sám hối thì có thể được cứu
độ.
14. RẮN ĐỘC
Trong Chư kinh yếu tập[5]
có ghi một chuyện như sau: Luận Đại Trang nghiêm[6]
ghi: “Ta từng nghe, có lần Đức Phật và A Nan đi qua một cách
đồng hoang ở nước Xá Vệ. Thấy bên bờ ruộng có một khối vàng, Đức
Phật bảo A Nan: “Đó là rắn độc”. A Nan
bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Đúng là rắn độc!”. Bấy giờ có một
người đang cày ruộng, nghe Đức Phật và A Nan nói có rắn độc,
liền nghĩ: “Ta đến xem thế nào mà sa môn nói là rắn độc”. Ông ta
liền đến xem thì thấy một khối vàng ròng, liền nghĩ: “Sa môn nói
rắn độc, nhưng đây chính là vàng ròng”. Vì lòng tham, ông liền
gom lấy tất cả số vàng kia mang về nhà. Người này trước kia rất
nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhưng từ khi nhặt được
vàng thì trở nên giàu có, ăn mặc dư giả.
Vua và các quan rất kinh ngạc về
sự giàu có của ông, bèn đến tra xét và bắt giam vào ngục. Cho dù
ông ta giao nộp tất cả số vàng lấy được lúc trước, nhưng vẫn
không khỏi tội. Khi sắp bị xử chém, ông ta thốt lên: “Rắn độc, A
Nan! Rắn độc, Thế Tôn!”. Người đứng bên cạnh nghe nói như thế,
liền tâu lên vua. Vua liền cho gọi ông ta đến hỏi: “Tại sao
ngươi nói: Rắn độc, A Nan! Rắn độc, Thế Tôn”. Ông ta tâu: “Ngày
trước, thần đang cày ruộng thì nghe Đức Phật và A Nan gọi vàng
là rắn độc, nay thần mới hiểu”. Vua nghe nói thế liền thả cho
ông ta về.
15. PHẢI TRẢ NGHIỆP DO
THAM LAM
Trong một lần Đức Phật đang
thuyết pháp, có một ông già bần cùng mà thọ đến hai trăm tuổi,
lông mày dài đẹp, hai lỗ tai rộng lớn, răng trắng và đều đặn,
hai tay dài quá gối, dung mạo tựa như người có phước tướng nhưng
chịu phải cảnh nghèo khổ, quần áo không đủ để che thân, rách nát
lõa lồ, lại thường bị cảnh đói khát, kéo lê từng bước, vừa đi
vừa thở một cách mỏi mệt. Đã trải qua mười năm, ông nghe có Phật
tại thế, trong lòng rất vui mừng, ngày đêm luôn luôn phát nguyện
được gặp Phật.
Ông chống gậy lần hồi tìm đến, cầu mong được yết kiến Ngài.
Chẳng may vừa đến ngõ Tịnh Xá, ông lại gặp phải các vị Phạm
Thiên, Đế Thích chặn lại không cho vào. Uất ức, ông già mới kêu
than. Ở trong, Phật đã biết việc gì đang xảy ra giữa ông già và
Phạm Thiên Đế Thích ở ngoài ngõ tịnh xá, Phật mới quay sang bảo
A Nan hãy ra cho ông ấy vào.
Bấy giờ ông già lòm còm đi vào,
vừa trông thấy Phật, ông rưng rưng hai hàng nước mắt, vừa mừng
vừa khóc, cúi đầu sụp lạy đức Phật, rồi quỳ thẳng, chấp tay sụt
sùi kính bạch: “Con sinh ra đời bất hạnh, chịu cảnh bần cùng
khốn khổ, đói khát lạnh lẽo. Cầu chết không được, sống thì không
biết nhờ cậy ai. Con nghe Thế Tôn là một bậc nhân từ yêu thương
che chở khắp tất cả. Muôn vật đều được nhờ ân đức của Thế Tôn.
Tâm con vui sướng, đêm ngày phát nguyện, mong được một phen
chiêm ngưỡng tôn nhan từ mười năm qua, nay mới được kết quả như
nguyện.
Phật dạy: “Phàm làm người ở cõi
đời, sinh tử đều do nhân duyên. Do nhiều nhân duyên tạo ra gốc
rễ tội lỗi. Ta sẽ nói cho ông rõ nguồn gốc của tội lỗi mà ngày
nay ông đã gánh chịu: Đời trước ông sinh vào nhà Minh Huệ Vương
là một ông Vua cai trị một đại cường quốc. Khi đó ông là Thái tử
Kiêu Quí. Trên được Phụ Vương và Mẫu Hậu quí trọng, dưới được
thần dân kính phụng. Vì thế nên ông hết sức kiêu căng, tự cao,
tự đại, tâm ý buông lung, khinh ngạo mọi người, xem thường tất
cả. Giàu có cự phú, tài sản muôn ức, đều là chiếm đoạt của dân.
Trăm họ nghèo cùng bởi vì thuế khóa thu hết.
Ông chỉ biết gom góp, chứ không biết bố thí. Bấy giờ có một vị
Sa môn tên là Tịnh Chí từ xứ xa đi đến. Vì thiếu một cái pháp y,
nên tìm đến ông, mong ông bố thí một cái mà thôi, chứ không mong
cầu gì nhiều. Nhưng ông tuyệt nhiên không cho, lại còn đối xử
một cách quá tệ ác, đã không cho pháp y, lại cũng không cho ăn.
Ông bắt vị Sa môn vô tội ngồi mãi trước nhà, muốn đi ông vẫn
không cho. Qua bảy ngày đêm không thí cho một hớp nước. Thân thể
đã ngất xỉu, hơi thở thoi thóp, tánh mạng sắp nguy kịch. Coi đó
như một trò vui, cho tập trung nhiều người đến xem, ông lấy làm
vui thích lắm! Lúc ấy có vị cận thần khuyên can ông rằng: “Thái
tử chớ nên làm như vậy. Đây là một Sa môn hiền từ, khiêm tốn,
bên trong mang cả tinh thần đạo đức. Sự lạnh lẽo bên ngoài, đối
với con người ấy không có gì đáng gọi là lạnh lẽo, và sự đói
khát cũng không đáng là đói khát. Sở dĩ đến đây xin là muốn gây
phước đức cho kẻ khác thế thôi. Thái tử đã không bố thí cho thì
thôi, đừng nên gây cùng bức cho người ta. Tốt hơn là Thái tử trả
tự do cho vị Sa môn này đi. Đừng nên gây thêm điều gì tội lỗi!”.
Thái tử đáp rằng: “Đây là người gì mà giả xưng là đạo đức. Ta
cho chịu khốn khổ thử chơi, chứ ai để cho chết làm gì? Khanh
đừng lo. Thôi khanh thả cho ông đi.” Nói xong liền cho thả vị Sa
môn đi ra khỏi thành.
Vị Sa môn đi cách thành khoảng
mười dặm, lại gặp phải bọn giặc cướp bị đói lâu ngày muốn bắt vị
Sa môn giết ăn thịt. Tình cờ có Thái tử đi đến, thấy sự kiện như
thế, tự nhủ rằng: “Ta đã không cho cơm áo vị Sa môn ấy thì thôi,
chớ đâu lại nỡ để cho bọn giặc đói giết hại! Ta phải cứu người.”
Bọn giặc đói thấy Thái tử can thiệp, nên cả bọn đều sụp lạy xin
tha tội và thả vị Sa môn đi.
Vị Sa môn lúc đó nay là Bồ Tát Di
Lặc đây, Thái tử Kiêu Quí lúc đó, nay là ông đây. Sở dĩ nay ông
chịu phải tội bần cùng khốn khổ là do đời trước tham lam bỏn
xẻn. Lý do nay ông được trường thọ là bởi cứu mạng sống vị Sa
môn. Tội phước báo ứng như bóng theo hình! Ông già bạch Phật:
“Việc quá khứ đã rõ ràng như vậy. Con xin nguyện được giũ sạch
từ đây mà nguyện đem mạng sống thừa này được làm Sa môn, về sau
đời đời được hầu bên Phật.”
16. OAN OAN TƯƠNG BÁO
Thuở xưa vào thời chánh pháp của
Đức Phật Thích Ca, có một vị trưởng giả giàu có. Vị này có hai
người vợ, người vợ lớn không con, người vợ nhỏ sinh được một đứa
con trai khôi ngô tuấn tú, cả gia đình nhờ thế mà vui vẻ.
Khi ấy người vợ lớn sinh lòng sân
hận, đố kỵ, luôn tìm cách để hại đứa bé con người vợ nhỏ, nhưng
bên ngoài bà tỏ ra hết lòng thương yêu, chiều chuộng, không một
chút ganh tỵ nào.
Một hôm người vợ nhỏ đi vắng,
người vợ lớn lén lấy cái kim ghim vào đỉnh đầu đứa bé. Đứa bé từ
ấy phát bệnh la khóc suốt ngày, bỏ ăn, bỏ uống, thân hình tiều
tụy, qua bảy hôm thì chết. Trong nhà ai cũng sầu khổ. Người vợ
lớn cũng tỏ ra đau đớn, tiếc thương. Còn người vợ nhỏ thì vật
mình xuống đất, khóc than thảm thiết suốt cả ngày đêm. Nhưng cả
nhà chẳng ai biết được vì sao đứa bé ấy chết. Về sau bà vợ nhỏ
biết được do lòng ganh tị của người vợ lớn và chính bà ấy giết.
Bà vợ nhỏ lập tâm báo thù. Bà đến chùa hỏi các thầy tỳ kheo:
“Bạch đại đức, muốn toại nguyện lòng mong cầu, phải làm công đức
gì?” Các thầy tỳ kheo đáp: “Muồn toại nguyện lòng mong cầu thì
phải thọ trì bát quan trai giới, điều cầu xin sẽ được như ý.
Nghe xong, bà xin thọ bát quan
trai giới. Sau đó bảy ngày bà chết đầu thai làm
con gái bà vợ lớn, thân tướng đẹp đẽ. Bà vợ lớn thương yêu, quí
trọng hơn vàng, nhưng oan nghiệt thay, đứa bé ấy chỉ sống được
một năm rồi chết khiến cho người mẹ khổ sở đau đớn khôn cùng,
khóc lóc thảm thương, bỏ ăn quên ngủ. Oan oan tương báo như thế
đến bảy lần, bà vợ lớn đoán biết đây là sự báo oán của người vợ
nhỏ.
Cho đến lần cuối cùng, bà vợ lớn
sinh được một bé gái lại càng đẹp đẽ, thân thể đoan trang hơn
mấy lần trước, nhưng lần này đứa bé sống được 14 tuổi, sắp có
gia đình. Một hôm đang đêm nàng bước ra khỏi cửa, liền ngã lăn
ra chết. Bà mẹ khóc lóc kêu gào la hét suốt ngày, lòng thương
con cùng cực, khiến bà phát cuồng, không còn biết gì nữa. Bà để
xác con giữa nhà, chẳng chịu liệm càng nhìn xác con càng thấy
đẹp lạ thường.
Một buổi sáng nọ, các thầy tỳ
kheo thiền định, dùng từ tâm quán khắp tâm chúng sinh, thấy
người đàn bà ấy bị một chuỗi oan nghiệt nối dài và nay chính là
lúc nhờ sự đau khổ cùng tột có thể làm tâm bà bừng sáng. Sau khi
dùng từ tâm quán sát, thầy tỳ kheo liền khoác y ôm bát, đến nhà
bà vợ lớn khất thực. Đến nơi trước nhà vắng vẻ, bên trong nghe
tiếng khóc than quằn quại, thầy rung tích trượng, hồi lâu có kẻ
đầy tớ mang cơm ra cúng: “Bạch Ngài, bà chủ con bận việc không
thể ra, xin Ngài từ bi nạp thọ”. Thầy sa môn im lặng, không mở
bát ra mà nói: “Ta muốn gặp thí chủ”.
Người đầy tớ trở vào thưa cùng bà vợ lớn rằng thầy sa môn nuốn
gặp bà. Bà chủ nói: “Ta có chuyện buồn khổ, chỉ muốn chết thôi,
ta không muốn gặp ai cả, mày hãy mang cơm ra cúng dường thầy sa
môn ấy và xin Ngài hãy đi đi. Nhưng khi người giúp việc mang cơm
ra, Ngài cũng không nhận và nói như trước. Bà vợ lớn tự nghĩ:
“Ta đang lúc khổ sở mà vị sa môn này chẳng hiểu được tâm ta, sai
ngưởi đem cúng dường mà chẳng nhận, quyết muốn gặp ta, không
biết Ngài muốn gì?” Khi bà bước ra, thầy sa môn vừa trông thấy
liền hỏi: “Này thí chủ, vì sao bà có vẻ sầu khổ, đầu tốc rối bù,
mặt mày hốc hác tiều tụy đến thế?”. “Bạch Ngài, từ ngày tôi có
gia đình đến nay, sinh bảy đứa con gái đứa nào cũng đẹp đẽ dễ
thương, nhưng khi đến một hoặc hai ba tuổi thì chết, duy chỉ có
đứa con này đến 14 tuổi, đêm hôm vừa bước ra khỏi nhà liền té
xuống đất chết ngay. Tôi quá khổ sở, chỉ có muốn chết nữa mà
thôi”. Nói xong bà khóc nức nở. Thầy sa môn bảo: “ Hãy rửa mặt,
chải đầu rồi ta sẽ nói cho bà nghe”. Nhưng bà ta vẫn khóc, thầy
sa môn nói: “Này bà, người vợ nhỏ của ông chủ nhà này vì sao
chết?”. Bà vợ lớn nghe nói trong lòng bối rối sợ hãi, tự nghĩ
sao vị sa môn này lại biết được việc nhà ta?
Thầy sa môn nói: “Người vợ nhỏ
của nhà này sinh được một đứa con trai, vì sao đưa con ấy lại
chết đi?”. Bà vợ lớn nghe nói trong lòng càng sợ hãi, run rẩy
chẳng nói nên lời. “Này bà, do bà giết đứa bé ấy, nên người mẹ
của nó đau khổ rồi chết theo, vì oan oan tương báo, người mẹ của
đứa bé quyết báo thù, nên bảy lần sinh làm con của bà rồi lại
chết, để bà phải đau khổ mà chết theo như bà đã gây ra cho người
vợ nhỏ. Giờ đây đứa con bà vừa mới chết, bà hãy xa ra thì sẽ
biết đứa con ấy thể nào?”. Nghe vị sa môn nói, bà quay lại thì
toàn thân đứa con ấy tan rã, hôi thối vô cùng. Trong lòng cảm
thấy hổ thẹn khủng kiếp, bà cúi đầu đảnh lễ vị sa môn cầu xin
cứu độ.
“Ngày mai bà hãy
đến chùa ta sẽ làm lễ qui y cho”. . Ngay khi ấy, xác đứa con gái
liền biến thành rắn độc, biết được bà vợ lớn sẽ đi thọ giới, nên
rắn nằm ngang chặn giữa đường. Thầy sa môn nói với rắn : “Oan
nghiệt đã trải qua mấy đời. Người vợ lớn chỉ giết có một người
con của nhà ngươi, tại sao nhà ngươi lại làm khổ người ta đến bảy
lần. Tội nhà ngươi rất lớn, hôm nay lại muốn cản đường không cho
người ta đi quy y tam bảo nữa, tội này đời đời sẽ đọa vào địa ngục,
hiện tại nhà ngươi chỉ là thân rắn đâu được thân người”.
Rắn nghe nói, liền nhớ lại kiếp trước, đau đớn trong lòng,
vặn mình uốn khúc, đập đầu xuống đất, hướng về vị sa môn mà
sám hối. Vị sa môn nói : Hai người đời trước đã tạo oan
nghiệt gây khó cho nhau. Vậy kể từ nay tội lỗi mỗi người sẽ
được chấm dứt, đời đời không được có ý niệm giết hại nhau
nữa. Cả hai đều ăn năn, rắn độc nhờ sức chú nguyện của vị sa
môn liền được thác sinh làm thân người.
Phạm Đình Nhân
Viết xong tại Ngọc Hà, Hà Nội, ngày 28.02.2013 (19.01.Quý Tỵ)
Trích cuốn "Hành Thập thiện và con đường giải
trừ khẩu nghiệp"
[1] Theo Chanhkien.org. Dịch từ tư liệu gốc: “Duyệt
vi thảo đường bút ký” triều Thanh, quyển 16
[2] Truyện này trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng
Linh có nhắc đến (Thủ Huồng tìm vợ)
[3] Theo chuyện Tà dâm trong Kinh nhân quả ba đời
của Thích Thiền Tâm
[4] Trích trong "Duyệt vi thảo đường bút ký"
của Kỷ Hiểu Lam
[5] Tức Thiện ác nghiệp báo. Pháp sư Đạo Thế. Chủ
biên dịch: Thích Nguyên Chơn. NXB Phương Đông. 2009
[6] Luận Đại Trang nghiêm, Mã Minh soạn