TRANG PHẬT HỌC

Tuyển tập các bài viết về Nhân quả Luân hồi

 NI GIỚI KHẤT SĨ

Huyền diệu trên đời Pháp rộng sâu, Trăm ngàn muôn kiếp dễ chi cầu. Nay con nghe thấy chuyên trì tụng, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
 

 

NGŨ PHƯỚC LÂM MÔN 
Tác giả Trần Bá Đạt , dịch giả Thích Thiện Phước, 
Biên tập: Thích Quang Phúc
Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005

LỜI  DẪN  

“Ngũ phước lâm môn”  là cuốn sách hay. Sách đề cập đến những ước vọng cháy bỏng nhất trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta. Tác giả dẫn chúng ta đến tận đầu nguồn nguyên nhân phát sanh năm phước. Với rất nhiều tích truyện lịch sử cũng như điển tịch Phật Giáo, là những minh chứng sống động, thuyết minh về một chân lý trong hiện tượng giới, đó là lý nhân quả.

 “ TỪ NHÂN NÀO DẪN ĐẾN QUẢ NÀO ? ”, đó ắt hẳn là nội dung phần lớn cuốn sách này. Và với một văn phong hấp dẫn, lý lẽ rạch ròi, tác giả đã dẫn chúng ta đến tham quan vườn hoa ngũ phước lung linh những sắc màu hương thơm tươi thắm. 

Trong khuôn khổ của tập sách nhỏ này, chúng tôi chỉ  khái quát những nét chính yếu của tập sách nêu trên, nhằm giới thiệu đến quý vị một cuốn sách hay mà mọi người  chúng ta không nên bỏ qua.

Sau khi xem xong tập sách này, nếu quý vị còn chút hứng thú, xin tìm ngay cuốn:

“Ngũ phước lâm môn”,  
Tác giả Trần Bá Đạt , dịch giả Thích Thiện Phước, 
Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005 .
 

Hy vọng đây là một món quà có  ý  nghĩa gởi đến quý  vị  trong nắng ấm mùa xuân đang chan hoà. 

                                                   Thích Quang Phúc cẩn chí 
 

Hoa nở rồi tàn, tóc xanh lại bạc. Đời người như một dòng nước cứ xuôi chiều trôi đi mãi mãi. Năm tháng chất chồng, mạng người dần dần ngắn. Trong cuộc sống, dường như ai cũng muốn cho mình được giàu sang may mắn và không ai muốn mình lâm vào cảnh bất hạnh khó khăn. Và vì vậy, mỗi năm khi hoa đào, hoa mai nở rộ, báo hiệu một năm, hay một mùa Xuân mới trở về, lòng người lại hân hoan, rạo rực những ước ao và hy vọng. Thỉnh thoảng đó đây ta thường thấy bốn chữ “ngũ phước lâm môn” viết bằng mực tàu giấy đỏ dán trước cửa nhà, trông có vẻ rất nhân gian, như đang ẩn chứa một điều gì mà con người đang gởi gấm chờ mong.

“Ngũ phước lâm môn” dường như ai cũng từng nghe biết đến, nhưng về ý nghĩa của nó thì ai cũng mơ hồ không rõ ràng nghĩa lý cho lắm. Trong kinh Thư chép 5 phước ấy là : Thọ, Phú, Khương ninh, Du hiếu đức, Khảo chung mạng.

  • Trường thọ là số mạng không chết yểu, lại có phước thọ lâu dài .

  • Phú quý là tiền bạc sung túc, lại có được địa vị tôn quý .

  • Khương ninh là thân thể khoẻ mạnh và tâm linh được an ổn.

  • Hiếu đức là thường làm việc lành, lại còn rộng chứa âm đức.

  • Thiện chung là biết trước được thời gian mình qua đời, đến lúc mạng chung không gặp những tai hoạ ngang trái, thân thể không đau bệnh, trong lòng không còn vướng mắc và sầu lo về nhân thế, an lành và tự tại lìa bỏ cõi nhân gian.

CÓ PHƯỚC NÀO TRỌN VẸN KHÔNG ? 

Cuộc sống con người do năm thứ phước này tụ họp lại mà được an vui hạnh phúc. Nếu thiếu một thì  không thể đạt được lẽ mầu ấy. Ví  như có người tuy sống lâu mà không có  phước đức ; Có người tuy giàu có, của cải  đầy dẫy nhưng số mạng lại ngắn ngủi, phiền não bức ngặt tâm linh ; Có người nghèo khổ nhưng lại thiện chung v.v… những cảnh ngộ về cuộc sống thì muôn mầu muôn vẻ. Nhưng rốt cuộc thì, chỉ có năm phước cùng đến nhà, cuộc sống nhân sinh mới được vẹn toàn đầy đủ .

Xét ra trong năm thứ phước nói trên, phần trọng yếu nhất vẫn là phước thứ tư, tức “Hiếu đức”. Nhân và đức là nguyên nhân và nguồn cội của phước. Phước là kết quả và biểu hiện của đức. Nếu chỉ lo cầu phước mà không lo tu sửa đức hạnh thì há chẳng phải  là bỏ gốc mà đi tìm ngọn  ư ? 
 

VÌ SAO CÓ HIỆN TƯỢNG KÉM  VÀ HẾT PHƯỚC ? 

Hoàn cảnh và cuộc sống của chúng ta ở đời này sở  dĩ gặp nhiều điều không tốt là bởi do những ác nghiệp mà mình đã gây nên từ kiếp quá  khứ  chiêu cảm đến kết quả xấu xa như  thế. Ví như người ở đời quá khứ  hoặc nhiều kiếp trước ngược đãi động vật thì đời này sẽ bị nhiều bệnh tật. Người đời quá khứ giết hại loài vật thì đời nay bị quả khổ, mạng sống ngắn ngủi. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước trộm cắp, keo kiệt thì đời nay sẽ bị nghèo nàn và khốn khổ. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước ngạo mạn thì đời nay làm kẻ đê tiện. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước gây nhiều sự kinh động, ưa nóng giận hờn mát, thì đời nay có thân hình xấu xí. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước dùng những phương cách để giết hại người hoặc loài vật thì đời nay chiêu cảm lấy ác báo, khi chết không được yên ổn. Người được trường thọ lại nghèo nàn, hèn hạ là do họ ở đời trước có lòng thương yêu động vật, nhưng keo kiệt không chịu bố thí. Người giàu có mà lại chết yểu là vì họ ở đời quá khứ ưa thí xả những tài vật, nhưng hay giết hại loài vật. Người có diện mạo xấu xa mà lại giàu có là vì họ ở đời quá khứ rộng rải bố thí, nhưng hay nổi sân. Người có dung mạo đoan trang, lại ở địa vị thấp hèn là vì ở đời trước họ có lòng nhẫn nhục, gìn giữ giới luật nhưng lại xem thường người khác mà dẫn đến kết quả như vậy. Nói tóm lại, năm phước sở dĩ có kém khuyết là do ở đời quá khứ hoặc hiện tại làm việc thiện và gom chứa đức hạnh không đồng nhau mà thôi. 
 

SỰ TƯƠNG QUAN KỲ DIỆU CỦA NĂM THỨ PHƯỚC 

Trường thọ, phú quý, khương ninh, hiếu đức và thiện chung, cả năm phước này đều có mối liên hệ rất mầu nhiệm :

Trường thọ, phú quý, khương ninh, và thiện chung, bốn phước này là kết quả, còn loại phước thứ ba tức hiếu đức là nguyên nhân. Đời nay sở dĩ  được trường thọ, phú quý và khương ninh, đó chính là kết quả của đời quá khứ đã rộng chứa những âm đức. Còn thiện chung chủ yếu là do kết quả của đời nay đã vun trồng những đức tốt. Hay nói cách khác, trường thọ, phú quý, và khương ninh là quả báo ở đời hiện tại, còn thiện chung là quả báo ở đời vị lai vậy .

Trong năm phước này, thiện chung rất khó được. Nhân vì, chỉ  có đời nay rộng chứa âm đức thì mới  được thiện chung, còn trường thọ và phú  quý thì không hẳn phải như vậy ! Có một số người đời nay tuy giàu sang và sống lâu, nhưng họ không thích làm những việc công đức. Đây là do đời quá khứ, họ có tu đức mà được quả báo như thế. Còn hạng người đời nay tuy giàu có mà không ham thích làm việc công đức thì chẳng những hiện đời thân tâm họ không được mạnh khoẻ, bình yên và nhất định trong tương lai cũng rất khó an lành mà xuôi tay nhắm mắt vậy.  
 

NÓI VỀ NĂM THỨ PHƯỚC 

TRƯỜNG THỌ:

Từ xưa  đến nay, mạng sống chính là một vấn đề vô  cùng thần bí. Trừ những người dốc hết tâm trí  tu hành có được sở đắc, nếu không thì  ai  ai  cũng đều không biết giây phút nào chúng ta đối mặt với tử thần. Vì thế câu thành ngữ “Triêu bất bảo tịch” (buổi sớm không bảo đảm tới chiều) để cảnh tỉnh chính mình trong mọi thời khắc, thật là vô cùng xác đáng !

Biết rõ  được sự thật của mạng người là vô thường thì có lợi ích rất lớn đối với chúng ta. Nhân vì thể hội được mạng người là vô thường, là không thật có nên những sự buông lung và tham ái không còn cơ hội để khởi lên nữa. Vì vậy, việc tỉnh giác về mạng sống con người là vô thường, đó là đầu mối của trí tuệ và cũng chính là bước chân đầu tiên để vượt khỏi biển khổ sanh tử vậy.

Sách có  câu “Nhân giả thọ” (người có lòng nhân ái thì được sống lâu). Thật thế, đem tâm nhân hậu và khoan dung để đối đãi với người thì nhất định sẽ được quả lành. Người đời nay trường thọ chắc hẳn là do kết quả ở đời quá khứ hoặc đời hiện tại có tâm từ ái đối với động vật. Người đời nay mạng sống ngắn ngủi tất nhiên là do kết quả của đời trước hoặc đời này giết hại loài vật.

Người đời nay làm việc thiện như đi chùa, lễ Phật, nghe kinh, bố thí, phóng sanh … mà mạng sống ngắn ngủi thì đó là do quả báo của những nghiệp ác mà họ đã gây từ thuở quá khứ nên họ phải cam chịu quả báo xấu ác. Còn những nghiệp thiện của đời nay chính là hạt giống mới gieo xuống thửa ruộng công đức chưa ra hoa kết trái .

NHÂN TRƯỜNG THỌ: Nguồn gốc của trường thọ  được hình thành từ lòng nhân ái, tâm từ  bi cứu hộ những động vật. Tự mình phóng sanh, khen ngợi khuyên bảo người làm việc phóng sanh và  thí xả những thực phẩm mình ăn cho loài vật.

DUYÊN TRƯỜNG THỌ: Hình thành từ tâm bình lặng, chí khí hoà mục với mọi người, không nóng nảy giận hờn, sống có khuôn phép, biết điều tiết được việc ăn uống, sinh hoạt có giờ giấc, không lao nhọc quá độ …

NHÂN CHẾT YỂU: Giết hại động vật, ngược đãi, hành hạ động vật hay con người …

DUYÊN CHẾT YỂU: Luôn luôn hờn giận, suốt ngày chỉ  lo ăn uống, làm việc lao nhọc quá sức, kết bạn với kẻ  ác . . . 
 

NUÔI  DƯỠNG  TÂM  TỪ  BI: 

Tâm từ bi là  nền tảng căn bản của các hạt giống lành.  
Nói đến lòng từ bi, đại khái có thể chia làm 2 phương diện :  
 

1_ Cứu giúp người sống trong cảnh nghèo khổ khó khăn.

2_Phải giữ  gìn chu đáo giới sát và thường phóng sanh. 
 

Loại tâm từ bi thứ nhất là đối với loài người, còn loại thứ hai là đối với động vật.

Một người nếu muốn trường thọ thì không những cứu giúp người bần cùng khốn khổ, mà còn phải có tâm từ bi thương yêu bảo hộ các loài động vật nữa. Ví như nhìn thấy đứa bé vì không hiểu biết nên bắt giết hoặc ngược đãi các loài động vật để vui đùa, ta phải khuyên răn dạy bảo chúng, không để những tập tính giết hại sinh vật của chúng ngày càng lớn lên, làm cho chúng mất hết lòng nhân ái, thậm chí dẫn đến giết người.

Ngoài ra không được tuỳ tiện đem nước sôi đổ trên  đất, hạn chế việc đốt rừng, nương rẫy, lá  cây, rác rưởi , gỗ mục,  v.v… vì trong đó có vô số loài sinh, động vật đang  sinh sống.

Tương tự  với đạo lý này là khi đi đứng nên  để  ý không dẫm đạp loài trùng kiến, không dùng nước dơ có trùng mà tưới hoa hoặc rau cỏ, không để bình, chậu ngữa ở ngoài vườn, nhà để nước mưa ứ đọng sanh trùng, rồi chúng ta đem nước ấy đổ đi thì những ấu trùng ấy sẽ bị chết khô. Đây cũng là một phương thức sát sanh vậy. 
 

THÍ  THỰC  ĐƯỢC  NĂM  LOẠI  PHƯỚC  BÁO: 

Kinh “Thí thực” hoặc “Ngũ phước báo” chép : “Người bố thí đồ ăn thức uống đời này hoặc đời sau sẽ được năm loại phước báo, đó là : Thọ, An, Sắc, Lực và Biện” 
Thọ là được sống lâu dài. An là thân tâm được bình an. Sắc là dung mạo và vóc người đẹp đẽ. Lực là thân thể có khí lực. Biện là được biện tài, nói năng hay khéo.

Ngoài ra, người bố thí thức ăn lại được quả  báo giàu có, vì bố thí thức ăn cũng là bố thí tài vật, nếu có tâm cung kính thành khẩn trong khi bố thí thì lại được quả báo trong đời này hoặc đời sau sanh vào nhà tôn quý, được nhiều người tôn kính, quý trọng.

Chúng ta lại càng nên chú ý khi cúng dường hoặc mời khách thì không nên giết hại động vật. Vì như thế chúng ta không được quả trường thọ, phú quý mà còn bị tổn thọ, bệnh tật …

Ngoài ra nếu chúng ta là người tu theo Phật, những thời công khoá  như tụng kinh,  lễ Phật, niệm Phật, sám hối, toạ thiền … cũng đều là những nguyên nhân giúp kéo dài thọ mạng . 
 

PHÚ  QUÝ: 

Ta không nên hiểu rằng : sự giàu sang của con người là do trời ban cho. Thật ra, sự giàu sang của chúng ta hiện  đời nay có được là do tâm cung kính và việc làm bố thí ở đời hiện tại hoặc quá  khứ mà cảm vời ra.

Thế  nên, nếu chúng ta muốn được giàu sang thì ngay từ bây giờ phải gieo hạt giống cung kính, khiêm nhường và bố thí. Đã rõ được nhân, lại cộng thêm sự nổ lực của chính mình tức là trợ duyên thì nhất định sẽ được quả giàu sang.  
 

HAI  TRẠNG  THÁI  PHÚ QUÝ 

Giàu sang có hai loại : Giàu sang tương đối và giàu sang tuyệt đối. Người có của cải nhiều nhất ở trong thiên hạ, địa vị sánh với bậc vương hầu, đó là hạng giàu sang tương đối. Còn người được thân tâm tự tại thanh tịnh là hạng giàu sang tuyệt đối. Loại thứ nhất là cái vui có sở đắc, loại thứ hai là cái vui không có sở đắc. Loại thứ nhất là cái vui hỗn tạp và ngắn ngủi, loại thứ hai là cái vui thuần tuý và lâu dài.

Phật dạy : “Giá trị ở cõi trời hơn cõi Diêm phù đề này. Sự đẹp đẽ vi diệu ở cõi trời lại càng vượt hơn trăm ngàn món vui của những bậc đế vương tại nhân gian”.

Thế  nên, sự mong cầu giàu sang chỉ là việc tốn công nhọc sức. Chi bằng ta vui lòng chấp nhận những gì  mình sẵn có, tuỳ theo cảnh ngộ mà vẫn an vui, biết đủ và thường tự tại trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta bàn luận về phú quý cốt là để nói rõ phần trợ duyên và nguyên nhân, nhưng điều căn bản nhất của phú quý là dạy mọi người phải gieo trồng nhiều chánh nhân bố thí mà không cần phải tham cầu quả báo hay sự hưởng thụ cảnh phú quý. Thật ra, chỉ cần biết được lẽ thật của nó thì liền được khoái lạc, đến như việc tiêu dùng những tài vật đều không phải là việc trọng yếu. Chúng ta hy vọng chúng sanh khắp nơi đều không vì hưởng thụ những tài vật không giống nhau mà sanh lòng phiền muộn. Đồng thời cùng mong mỏi rằng chúng sanh không vì hưởng thụ tài vật không được thoải mái mà ảnh hưởng đến tâm hồn cao thượng. Hoặc nhân vì kém thiếu vật chất mà trong tâm bấn loạn đôn đáo chạy chọt tìm tòi, không giây phút nào an ổn để tu hành đạo nghiệp. Lại cũng không vì cảnh nghèo khó mà làm cản trở việc rèn luyện tâm trí mình và làm trở ngại lòng bi nguyện cứu độ chúng sanh. 
 

CHÁNH NHÂN VÀ SỰ TRỢ DUYÊN CỦA GIÀU SANG 

Nguyên nhân chính để được giàu sang là thí xả tiền tài vật chất cho những người nghèo đói khổ sở. Nếu đem sức lực tự thân ra để làm giàu thì chẳng qua là một loại trợ duyên để được giàu sang mà thôi ! Giả như có người ở đời quá khứ không làm việc nhân từ bố thí mà đời nay cố nổ lực làm việc để kiếm tiền thì kiếm cách mấy cũng không ra, hoặc dù có tiền nhưng không có phương thế nào giữ được, sớm muộn gì cũng thất thoát.

Như vậy, nguyên nhân căn bản của sự giàu sang chính là  sự bố thí. Còn nguyên nhân để được ngôi vị tôn quý là do ta lễ bái mười phương thánh hiền, cung kính tất cả chúng sanh, cam chịu những cảnh thuận nghịch và có tâm khiêm hạ, chứ không phải do thủ đoạn, đút lót hoặc chạy chọt tìm tòi mà có được. Người gặp được nhân duyên tốt, hoàn cảnh thuận lợi cộng thêm sự năng nổ trong công việc, hoặc được người khác đề bạt đều là dấu hiệu và phần trợ duyên của sự tôn quý, chứ không phải là nguyên nhân chính yếu.

Có người nói : nếu tôi không giàu có làm sao tôi có thể  bố thí ? Thật ra, ai ai cũng có thể bố  thí, ngay cả người rất bần cùng túng thiếu cũng có cơ hội và năng lực để bố thí. Ví dụ mỗi lần trước khi ăn cơm, ta có thể đem một vài hạt bố thí cho các loài động vật nhỏ, hoặc mời người uống một bát nước mát. Chỉ một việc nhỏ nhoi như vậy thôi thì đâu cần phải tốn tiền. Thế nên, bố thí là điều mà ai  ai  cũng cần phải có. Người vượt lên trên mọi sự nghèo khó của chính mình để phát tâm bố thí thì một ngày nào đó chính họ sẽ thoát ly ra khỏi biển khổ nghèo nàn. Nếu ta tự ti cho rằng mình bần cùng không có gì để bố thí thì đời đời kiếp kiếp ta sẽ không thoát ra được chiếc áo giáp khốn quẩn bao bọc quanh ta và cũng rất khó có cơ hội để thay đổi thân phận được.

Đời nay, sở dĩ chúng ta nghèo khốn khổ sở là do những hành động keo kiệt, tham lam và ích kỷ đã gây tạo từ  đời trước mà chiêu cảm đến. Nếu muốn cải thiện vận mệnh bần cùng hay xấu ác ấy thì nhất định trước phải trừ bỏ tâm, hành vi và tập khí keo kiệt.

Ngoài ra chúng ta còn phải biết tuỳ hỷ công đức, nghĩa là  thấy người khác được điều gì tốt  đẹp thì ta cũng vui theo cái vui của họ, chứ không có tâm ghen tỵ … 

Tu tập theo 4 tâm vô lượng của Phật, là từ, bi, hỷ, xã, để có thể thông cảm nổi khổ, niềm vui của muôn loài, hồi hướng cho khắp chúng sanh đều lợi lạc. 
 

HIẾU  ĐỨC:      

Trường thọ, phú quý, khương ninh và  thiện chung đều là kết quả của hiếu đức (thích làm việc đạo đức). Nếu như đời quá khứ của chúng ta không có hiếu đức thì hiện đời nhất định không có trường thọ, phú quý và khương ninh. Nếu như chúng ta hiện tại không có hiếu đức thì e  rằng trong tương lai rất khó được thiện chung.

Chúng ta nên biết rằng hiếu đức là nguồn cội của mọi sự an vui và hạnh phúc, cũng là nền tảng của phước đức và mọi sự may mắn. Giả sử hiện tại chúng ta không trồng nhân hiếu đức như thế thì mọi sự hưởng thụ và tiêu dùng đều sẽ biến thành xa xỉ, nhân vì không có gieo trồng nhân lành, khi hưởng hết phước báo rồi thì tất nhiên sẽ trở thành kẻ nghèo cùng khốn khổ.

Người xưa nói : “Cất giữ của cải không hẳn thuộc về mình, thọ dụng của cải lại không hẳn thuộc về mình, chỉ có đem của cải ra thí xả mới thật là của mình”.

Hưởng thọ  nhiều vật chất sẽ làm hao mòn phước báo, còn hưởng thọ về năm thứ dục thì thời gian an vui có là bao, nhưng chịu khổ kiếp kiếp. Khi ta thọ dụng những tài vật thì chúng sẽ vĩnh viễn chẳng thể thuộc về ta nữa, chỉ có đem những tài vật ấy bố thí vào nơi thích đáng (nhà Phật gọi là gieo trồng ruộng phước), lấy của xã hội dùng vào xã hội thì những tài vật ấy mới có ý nghĩa vĩnh viễn ; lại cũng không bị thiên tai, nhân hoạ, giặc cướp, vua quan và con cái phá sản đoạt mất. Cho nên, cổ nhân khuyên chúng ta cần phải bố thí để tích luỹ âm đức.

Nếu chúng ta không bố thí tu đức thì sau này sẽ chịu những cảnh vô cùng bi đát, nhất là lúc chúng ta mạng chung thì tất cả tiền tài, vật chất, bạn bè, quyến thuộc, uy quyền, thế lực … ràng buộc con đường giải thoát của mình. Thật ra, những thứ ấy “lúc sanh không mang đến , lúc chết không mang đi”, chỉ có nghiệp lực thiện hay ác đã gây tạo lúc bình sanh mới thật sự đeo đuổi ta như bóng với hình. Đây là ý nói tu dưỡng đạo đức mới đúng là điều thực dụng. Hơn thế nữa, tất cả chúng ta đều không biết tử thần đến lúc nào mà chuẩn bị. Thật ra, thần chết đang chực chờ, mọi lúc đều có thể xông vào bất ngờ để bắt ta. Thế nên, ngay từ bây giờ, chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không chịu nổ lực tu tập.  
 

NHỮNG VÍ  DỤ CÓ THẬT CỦA HIẾU ĐỨC: 
 

1 – Lý Cảnh Văn và  Trương Huệ Minh :

(Trích trong “Thiền lâm bảo huấn”)

Vào triều  đại nhà Tống ở phủ  Khai Phong, có một người dân tên là  Lý Giác An. Ông sinh ra một người con, đặt tên là Lý Cảnh Văn. Nhân vì  đứa con ấy thuở nhỏ  nhiều bệnh tật, nên ông Lý  bèn đem 100 lạng bạc gởi người bạn là Trương Huệ Minh. Ít lâu sau, Lý Giác An qua đời. Trương Huệ Minh bèn đem 100 lạng bạc ấy trả lại cho con của Lý Giác An tức là Lý Cảnh Văn. Văn không chịu nhận và nói : “Khi cha tôi trao di chúc lại vốn không có đề cập đến số bạc này nên tôi không nhận”.

Thế  là Trương Huệ Minh bèn nói rằng : “Một trăm lạng bạc này rõ  ràng là của nhà họ  Lý gởi cho tôi, nên tôi nhất  định phải trả lại cho nhà  họ Lý thì mới  đúng lẽ chứ”. Hai người cố  nhường nhau mãi, sau mới  đem tới phủ Khai Phong để nhờ  Bao Chửng quyết định. Bao Chửng lấy làm lạ, liền cho vời Lý Cảnh Văn đến để trả lại số bạc ấy cho hắn. Thế nhưng Lý Cảnh Văn kiên quyết không nhận, còn Trương Huệ Minh thì cố muốn trả lại số bạc ấy. Bao Chửng xem thấy cả hai người đều là bậc dũng khí và nghĩa cử, vốn không tham của báu, nên bất đắc dĩ mới đem 100 lạng bạc giao cho các chùa chiền ở phủ Khai Phong để cúng dường trai tăng và tụng kinh kỳ siêu bạt độ cho hương linh Lý Giác An cùng những oan hồn ở khắp pháp giới.

Chúng ta thử  nghĩ xem, trị giá của 100 lạng bạc lúc bấy  giờ ước chừng 150 vạn đồng. Một số tiền lớn như vậy, thế nhưng Lý Cảnh Văn và Trương Huệ Minh đều không có tâm tham đắm. Thử nhìn lại người thời nay, họ tham lam và xem trọng tiền tài còn hơn mạng sống của mình. Thậm chí chỉ vì mấy đồng tiền mà phải cấu xé đâm chém lẫn nhau. Những cảnh tượng như vậy thật đáng xấu hổ thay !

2 – Không bỏ người nữ  bệnh, sanh được quý tử : 

Từ xưa tới nay, có những người vợ túng thiếu hoặc bệnh tật liên miên. Vậy mà phần lớn lại sanh ra những đứa con rất hiền thục, được quyền cao chức trọng, là sao vậy ?

Nhân vì  trong lòng của họ tràn đầy tính nhân hậu, cho nên được trời đất bao dung. Nếu xét theo lý  nhân quả để nói thì ơn trên cũng ưu đãi và khoan hồng đối với những con người bất hạnh ấy, ví như trong bộ “Ý hành lục” chép :

“ Văn Thiệu Tổ có một đứa con trai đính hôn cùng với con gái của nhà họ Sài. Sau khi đính hôn, con gái nhà họ Sài bỗng bị một cơn bệnh nặng. Lúc bấy giờ Văn Thiệu Tổ muốn cưới một cô gái khác để làm dâu. Bà vợ Văn Thiệu Tổ biết được tin này vô cùng nóng giận, nói : “Chúng ta cưới dâu nên thuận với lẽ trời, hợp với lễ nghĩa. Nếu như ăn ở trái với lễ nghĩa thì sẽ lãnh quả báo không tốt đâu !”. Nhân thế mà Văn Thiệu Tổ đành phải cưới cô con gái nhà họ Sài về làm dâu.

Hai năm sau khi kết hôn, con trai của nhà  họ Văn thi cử được đỗ đạt, còn căn bệnh của người dâu cũng giảm dần. Về sau họ lần lượt sanh thêm ba người con nữa, tất cả đều thành những người có quyền cao chức trọng”. 
 

BỰC TỨC GIẬN DỮ  
SẼ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÁNH MẠNG VÀ DUNG MẠO 
 

Sáu căn của chúng ta vì tạo ra những nghiệp thiện ác không giống nhau cho nên mới gặp phải các thứ quả báo khổ vui có sai khác. Ví như có người rất giàu sang nhưng miệng mồm thật khó coi. Đây là vì kiếp trước của họ tuy có tu phước bố thí nhưng khẩu nghiệp lại thường phạm những lỗi lầm hoặc thường thốt ra lời bẩn thỉu, chửi thề và nói tục, cho nên mắc quả báo như thế ! Chúng ta là đệ tử của Phật thì càng không nên nói ra những lời thô lỗ cộc cằn làm tổn hại đến người, thậm chí sinh tâm giận ghét cũng không nên. Nhân vì trong tâm ta một khi có oán khí và giận ghét khởi thì phiền não đùng đùng nổi dậy, rồi dẫn đến nóng nảy bực dọc, thân tâm không được tự tại, lại còn ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách giao tế nữa. Thế nên, cổ nhân có câu :

“Tâm thanh tịnh không giận ghét mới thật là tâm tốt đẹp trọn vẹn”. 

Vẻ mặt vui tươi  ấy cúng dường,

Trong miệng không sân  tuôn diệu hương.

Lòng ta  hỉ  xả, châu vô  giá,

Chẳng sanh chẳng diệt, ấy chân thường. 
 

KHÔNG THAM ĐẮM VÀO NĂM THỨ DỤC

MỚI  LÀ  ĐỨC  HẠNH  CHÂN  THẬT : 
 

Năm thứ dục là : - tham ái  ở nơi sắc đẹp ;  
                             - ưa nghe lời dịu dàng êm tai ;  
                             - mùi hương làm say đắm lòng người ;  
                             - thích ăn cao lương mỹ vị ;  
                             - sự cảm xúc êm dịu .

Nhân vì năm thứ  dục này đều làm cho tâm người rối loạn, cứ  rong ruổi tìm cầu sự hưởng thụ vật chất  để rồi trong lòng không có giây phút nào biết  đủ. Ấy là chưa nói đến tâm vì phan duyên theo ngoại cảnh mà khởi lên sự phân biệt nhân ngã, gây ra biết bao sự phiền hà, không bao giờ có sự an tĩnh trong lòng. Thế nên, Đức Phật  dạy : “Hưởng thụ dục vọng và khoái cảm của vật chất chỉ là những thứ thấp hèn và rất ngắn ngủi”.

Luận  Đại Trí Độ chép : “Tất cả hàng phàm phu đều bị ngũ dục mà phải khổ não, đắm vào trong ngũ dục thì sẽ không có phương thế nào từ bỏ. Người tham đắm theo ngũ dục giống như loài chó rừng gặm xương, gặm hoài mà vẫn còn thèm mùi đó. Người tham đắm nơi ngũ dục giống như đứa bé vô tri dùng lưỡi để liếm chút mật trên lưỡi dao, được sự khoái lạc rất ít, nhưng bị cái hại là đứt lưỡi. Ngũ dục khiến cho con người tạo ra ác nghiệp, rồi đoạ vào ba đường ác ; lại cũng khiến cho người tu hành mất đi định lực, thần thông và trí tuệ”.

Lại nữa, để hoàn thiện về hiếu đức chúng ta còn  phải để  ý đến những điều sau :

  • Phải bảo vệ, không nên ngược đãi động vật , vì ngược đãi động vật sau này sẽ mắc quả báo xấu .

  • Không nên tuỳ tiện phát lời thề ác, vì nhân quả của lời thề là chân thật, hậu quả rất khó lường.

  • Thuyết pháp hoặc ấn tống Kinh sách phát cho người sẽ được 5 thứ phước báo : sống lâu, giàu sang, đoan chánh, tôn quý, thông minh.

Ngoài ra chúng ta cần cũng cố những đức tánh :

  • Thật thà, khiêm nhượng, không tham đắm danh lợi, tôn kính Thầy, tôn trọng học tập đạo lý, hiếu kính đối với tất cả mọi người, từ bi đối với chúng sanh muôn loại . . .

THIỆN  CHUNG: 

Phước sau cùng trong ngũ phước là khảo cứu về giai đoạn cuối cùng của đời người, tức là lúc sắp chết. Giai đoạn cuối cùng này, trong ngũ phước gọi là “thiện chung”. Hay thông thường người ta gọi là “chết tốt”.

Thiện chung là một vấn đề rất khó, dường như ít ai đạt được. Giả như bạn từng thấy trạng thái giẫy giụa của người khác lúc sắp chết, chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được sự đau thương trước lúc chia lìa ấy và than rằng: “Mô Phật ! suốt đời con thật không mong cầu điều gì khác, chỉ mong sao cho con khi chết êm xuôi là được rồi”.

Thường thì  người lúc sắp lìa đời đều lâm vào cảnh chân tay giẫy giụa múa máy lung tung, không làm chủ được sáu căn. Bàng hoàng như con cua trong chảo nước sôi, như con kiến trong nồi đun nóng. Trên thân lại sanh ra những cảnh tượng rùng rợn như gân cốt co giật, mắt thì trợn trắng, cứ nằm thoi thóp thở dốc. Phật dạy : “Nổi đau khổ của người sắp chết thật giống như con rùa bị lột xác vậy”. Thường thì chúng ta nhìn thấy cảnh tượng giẫy giụa, miệng mếu máo khóc than rên rỉ … , đó chẳng qua là tử nghiệp hiện ra bên ngoài mà thôi. Kỳ thật trong lòng thì vô cùng sợ hãi và đau khổ vì phải chia lìa những người thân hoặc vì vướng mắc bởi những sở hữu như là con tôi, vợ tôi, . . . Tôi thật không muốn xa lìa hay vì hạnh nguyện chưa tròn. Bên cạnh đó, lại còn có những nổi lo toan về nhà cửa, vườn tược, của cải … làm cho tâm thức rơi vào cảnh bàng hoàng thê thảm. Tự nhiên cảm thấy mình lạc lỏng bơ vơ không nơi nương tựa. Đó mới thật là điều khó hình dung được !

Người giàu sang tột bậc không hẳn  ai  ai  cũng có  được thiện chung. Người sống lâu trăm tuổi cũng không nhất định được an tường mà xuôi tay nhắm mắt. Thử nhìn lại, từ xưa đến nay, có rất nhiều bậc anh hùng hào kiệt, họ đã từng tung hoành ngang dọc khắp năm châu bốn bể, oai lực của họ có thể dời non lấp biển. Nhưng than ôi , đến lúc lâm chung, đã có mấy  ai  được nhẹ nhàng để vĩnh viễn ra đi  !

Ai  vinh hoa, ai  tài giỏi, có còn chăng hay cuối cùng chỉ  còn lại trơ trọi một nấm mồ để thân vùi xuống lòng đất lạnh. Lại có người vì đi chinh chiến, phải bỏ thân ở ngoài trận mạc. Có người bị bức ngặt, phải mất chức và bị soán ngôi. Cũng  có người  bị đưa đi đày và bị xử bắn chết. Có người bị thuốc chết, lại có người bị nạn năm ngựa phanh thây. Thậm chí có người chết rồi còn bị roi đánh vào thân và bị tru di cửu tộc …

Tóm lại, muốn được thiện chung không phải là chuyện dễ. Nhân vì chúng ta không biết khi nào Diêm Vương sẽ  mời mình về nơi âm cảnh và lại càng không thể biết khi lâm chung thì chúng ta sẽ gặp những chướng ngại gì ! Cái chết có thể đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Có lẽ là sang năm, ngày mai hay ngay bây giờ !  Than  ôi,  nẻo “Huỳnh tuyền” không hẹn ai  già ,  ai  trẻ . Mọi người  nên dốc lòng tu tập để vượt qua cửa ải  sanh tử này . 
 

TÍNH TRỌNG YẾU CỦA THIỆN CHUNG : 

Vì sao nói rằng thiện chung là điều rất trọng yếu ?  
Giả như có người không chết ở phòng ngủ của mình mà lại chết vì tự tử, xe cán, thiên tai, đói khát, chết thiêu, chết chìm, bị giết chết …. Thì những người xấu số ấy có thể chất chứa mối hận thù, hoảng hốt . . . trong lòng. Nếu trong lòng có sự oán hận, hoảng hốt … thì nhất định sẽ đầu thai vào cảnh giới bất hảo, ví như làm thân rắn độc, thú dữ, … để đòi lại mối thù xưa . . .

Trong kinh “Thập nhị phẩm sanh tử” chép : 
“Nếu như có người hưởng hết phước rồi trở lại sống cảnh đói khát mà chết đi, thì họ rất có thể biến thành loài ngạ quỷ, người bị gông cùm mà chết thì đời sau thường làm súc sanh, người bị chết thiêu phần nhiều rơi vào địa ngục …”.

Lại nữa, khi bị hoạnh tử, thân thể phải chịu nổi khổ sở rất lớn, trong lòng luôn luôn buồn bực và oán hận. Không những rất khó giữ được chánh niệm mà trong tâm lại dấy lên sự phẩn hận não phiền rất dễ dàng dẫn đến cảnh oán trời trách người. Thật đáng thương thay, biết bao công đức tu hành tích luỹ từ bấy lâu nay, vậy mà chỉ trong chốc lát đều tan tành theo mây khói  !

Thế  nên, người xưa dạy chúng ta phải thường phát nguyện : “Nguyện cho con đến lúc mạng chung, thân không bệnh khổ, tâm không tham tiếc, ý  không điên đảo và được các bậc thánh dẫn dắt”.

  Lại  nguyện :

      Nguyện cho não chướng tiêu tan,

      Nguyện  được trí huệ thênh thang rạng ngời .

      Nguyện tiêu tội chướng bao đời ,

      Kiếp kiếp tinh tấn  giữ  lời độ sanh .

Hay :

      Nguyện con sắp mất, hết chướng hình,

      Di  Đà, thánh chúng, đến cung nghinh .

      Mau lìa năm trược,  về  Tây độ ,

      Trở  lại trần gian,  vớt  chúng sanh . 
 

CÁC  LOẠI  THIỆN  CHUNG:

  1. Tiểu thiện chung : Không gặp cảnh hoạnh hoạ bất ngờ, không có bệnh tật mà qua đời.

  2. Trung thiện chung : Chẳng những không có bệnh khổ mà còn không có oán hận hay áy náy trong lòng. Đây thật là : “Ngẩng lên không hổ với trời,  
          cúi xuống không thẹn với đất, an tâm mà qua đời”

  3. Đại thiện chung : Tự mình biết trước thời gian lâm chung. Thân tâm không bị ngăn ngại bởi nghiệp lực. Tự tại giải thoát mà lìa đời. Thậm chí tự mình còn thấy chư Phật và Bồ Tát . Đây mới thật là một nhân sinh hoàn mỹ. Cao siêu thay !  Cao siêu thay !

NGUYÊN NHÂN CỦA  THIỆN CHUNG:

Người có  được điều thiện chung tuyệt đối thì không nên ỷ vào đó mà sanh lòng kiêu hãnh. Đó nhất định là do rộng tu phước huệ mới đạt được. Thiện chung cùng với thiện nghiệp ở đời quá khứ có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng điều tối  quan trọng là do tâm linh của chúng ta an tĩnh và có vun trồng đạo đức ở đời nay. Trừ phi chúng ta hay rộng chứa âm đức, ngăn dứt các vọng niệm và dốc chí công phu tu tập, nếu không thì lúc mạng chung rất khó được tự tại.

Nói về  nguyên nhân của thiện chung thì rất nhiều, nhưng phần  đại khái lại không ra ngoài ba điều kiện sau :

  • Chẳng làm các điều ác :

    Không nên làm những việc ác như sát hại động vật, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, chè chén say sưa, không làm việc đuối lý, không chiếm đoạt những tiện nghi của người v.v…  để tránh khỏi những oán cừu mỗi ngày càng sâu dày chồng chất. Đến lúc lâm chung, những oán cừu trái chủ ấy ùa nhau kéo đến làm nhiễu loạn và ngăn cản sư giải thoát của chúng ta.

  • Vâng làm điều lành :

    Thường phát ra những lời thệ nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, sau đó cứ theo hạnh nguyện ấy mà  thực hành, ví như chúng ta thường phóng sanh, cứu giúp người gặp khốn cùng hoạn nạn, in Kinh, tạc tượng, cúng dường chư Tăng …. Nếu thường ngày chúng ta rộng kết duyên lành thì không những thân tâm được nhiều khoái lạc mà lúc lâm chung thường được chư Phật  và Bồ Tát  hộ niệm giúp đỡ và dẫn dắt chúng ta sanh về cõi lành để khỏi bị đoạ lạc vào ác đạo. Thế thì còn điều tốt nào bằng !

  • Tự sạch  ý chí mình :

    Không luận là làm lành, đọc tụng kinh điển, tham thiền niệm Phật…, tất cả đều quy nhiếp về lẽ  “Tự sạch  ý chí mình”, thế mới được thọ chung. Ngoài ra, chúng ta cần phải định thần tu tập, trong 12 giờ đồng hồ thì thường phải thúc liễm tâm  ý . Tuy cuộc sống khó khăn, hằng ngày phải giải quyết muôn ngàn công việc, nhưng quan trọng hơn hết là phải giữ tâm thanh tịnh. “Việc tuy bận, nhưng tâm không bận”. Nếu chúng ta hay nổ lực tu tập như vậy thì khi lâm chung, tâm sẽ không có sự câu thúc và tham luyến. 
     

ĐIỀM DỰ BÁO CỦA THIỆN CHUNG: 

Kinh “Tịnh độ tam muội” chép : “Nếu như có người hàng ngày luôn làm việc lành, lúc sắp chết nhất định được sanh về cõi trời. Người ấy nhìn thấy chư thiên tay cầm thiên  y  và trỗi các thứ nhạc trời để tiếp rước họ. 
Giả sử như người tạo ác thì phải đoạ vào địa ngục, đến lúc lâm chung liền thấy rất nhiều quỷ sứ tay cầm gươm đao dáo mác, đến vây quanh họ. Tuy chỗ thấy của hai người này chẳng đồng nhau, nhưng trong miệng thì nói không ra lời, chỉ theo nghiệp lực thiện hay ác của họ đã tạo tác mà thọ báo”.

Kinh “Hoa Nghiêm” chép : “Người khi sắp chết, sẽ thấy được thân trung ấm (tức thần thức, người đời gọi là linh hồn). Người bình thường tạo ác nhìn thấy tự mình ở trong ba đường địa ngục, ngã quỷ và súc sanh, chịu vô lượng khổ não, có lúc thấy vua Diêm La và quỷ sứ cầm dao mác, gậy gộc đến bắt người ấy dẫn đi, có lúc thì nghe tiếng rên rỉ của những chúng sanh thọ khổ trong ba đường ác. Người khi còn sống thường làm việc lành thì lúc sắp mất, sẽ được sanh về cõi trời, đến khi ấy sẽ trông thấy cung điện trang nghiêm rực rỡ trên trời, dường như tiên nữ đang vui đùa, vi diệu tột bậc”… 
 

QUAN HỆ GIỮA THIỆN CHUNG VÀ ĐIỀM MỘNG 

Căn cứ  theo những việc mà ta thường làm trong giấc mộng thì  có thể phản ảnh được những điều tốt hay xấu của mình trong khi tu dưỡng. Cơn loạn mộng xảy ra đương nhiên là biểu hiện vọng niệm chưa được  điều phục. Hễ vọng niệm chưa được điều phục thì chắc chắn  mức công phu tu tập chưa được hoàn hảo. Tu tập chưa được hoàn hảo thì làm sao có thể được thiện chung ?

Đại  sư  Tử Bá, vốn là một cao tăng đời Minh. Ngài dạy : “Trong lúc thức cũng như ngủ, phải thường niệm Phật, không để gián đoạn thì mới có thể giải thoát được cái khổ của sanh tử, được vậy thì chắc chắn sẽ thiện chung. Nếu công phu không được bền chắc thì lúc lâm chung lại không được thọ dụng”. 
 

CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT  
NHẤT ĐỊNH SẼ ĐƯỢC THIỆN CHUNG 

 

Niệm Phật  được thiện chung có rất nhiều, trong “Tịnh độ thánh hiền lục” và “Niệm Phật cảm ứng văn” đều ghi tương đối rõ ràng. Có rất nhiều trường hợp khi lâm chung, nhân vì nhờ người khác giúp đỡ niệm Phật, chẳng những được thiện chung mà còn vãng sanh về cõi nước của chư Phật.

Ngoài ra, còn có một việc rất trọng yếu là khi nhìn thấy người thân của mình qua đời, phải nên mau vì họ niệm Phật hoặc thuyết pháp, chứ không nên đứng trước mặt họ mà khóc than kể lể. Nhân vì chúng ta đứng trước mặt họ mà khóc lóc thì làm kích động tâm tham ái và gây nên sự quyến luyến, rất có ảnh hưởng đến cảnh giới đầu thai của họ.

Khi gặp người lâm chung, không luận là người xa lạ hay bạn bè  thân thích, mình đều nên vì họ mà lớn tiếng niệm danh hiệu Phật, lại khuyên họ nên dấy khởi tâm niệm lành hoặc khen ngợi những việc làm lành của họ khi còn sống để mở bày lòng tin của họ. Tâm họ tự nhiên cũng nhân vì niệm Phật mà được siêu sanh. Chẳng những không tham luyến vật dục ở thế tục mà còn tiêu mất tâm hoảng hốt lúc tử vong.  
 

LỜI KẾT 

Khổng Tử  từng nói : “Trước tiên phải dốc chí vào việc đạo, tựa ở nơi đức, nương vào lòng nhân, sau mới đuổi theo nghề nghiệp”. Câu này mở bày cho chúng ta thấy rõ rằng việc học phải  chú trọng đến phần gốc trước và phần ngọn sau. Do chất ở bên trong mà đượm ra bên ngoài thì mới hoàn bị được cả “Thể” và “Dụng”, hoa trái đều xum xuê.

Làm người mà chẳng rõ đạo lý, tâm tánh và trí  huệ mà cứ mãi mê tìm cầu tri thức, kỹ  nghệ, tiện nghi vật chất, tham ái dục vọng … thật là một thiếu sót rất lớn, không thể hài hoà  và hạnh phúc trong cuộc sống của nhân loại. Dòng suối hài hoà và hạnh phúc chân chánh ấy được khơi nguồn từ sự bình an vô tận, trong một tâm hồn khoáng đạt. Cho nên điều tối quan trọng trong việc học làm người, trước hết là làm sao giải trừ được tất cả phiền não và khổ đau, thấy rõ được tâm tánh của mình cho đến giác ngộ chân lý nhân sinh và vũ trụ, làm lợi ích tất cả chúng sanh.

Trên  đây đã giới thiệu qua rất nhiều mối tương quan giữa  “đạo đức” và “vận mệnh”, và chúng ta ai  cũng phải thừa nhận rằng : phải dốc lòng tu sửa phẩm chất đạo đức và rèn luyện tâm tánh thì năm loại phước báo này tự nhiên sẽ đến cửa thôi.

Vì vậy, lẽ cốt yếu của tập sách này là ở chỗ  tham khảo về  ý  nghĩa, chủng loại, nguyên nhân, điều kiện, và mối quan hệ của năm thứ  phước. Lại cũng giới thiệu qua những phương pháp và  nguyên lý để đạt được năm loại phước ấy.

  • Trường thọ : Trường thọ chủ yếu là kết quả của tâm từ bi mà cảm ứng được.

  • Phú quý : Phú quý là kết quả của sự thí xả và lòng cung kính mà cảm ứng được.

  • Khương ninh : Khương ninh là kết quả của tâm thanh tịnh mà cảm ứng được.

  • Hiếu đức :Hiếu đức là kêu gọi chúng ta phải nên rộng kết duyên lành, bòn mót phước đức và rèn luyện tâm trí.

  • Thiện chung : Thiện chung là do hành vi, danh tướng và quả báo của chúng ta hành thiện mà không chấp vào thiện thì mới được thế. Hay nói cách khác, thiện chung là kết quả của dòng tâm thức ta khi không còn bị chướng ngại.

Tất cả  phước đức và trí tuệ đều không ra ngoài chữ “tâm”, chỉ cần ở nơi tâm của mình có sự công phu tu tập, gieo nhiều nhân lành, thường nhổ sạch cỏ dại, luôn đem nước từ bi tưới cho mảnh ruộng tâm thức được tươi tốt và cũng thường dùng ánh sáng trí huệ để soi khắp nhân lành, được như thế thì sẽ trổ ra quả lành năm phước. 

Nguyện đem công đức lành, Hồi hướng cho tất cả. Chúng con với chúng sanh, Đều chứng thành Phật quả.

TRANG CHỦ     BAN THỰC HIỆN     LIÊN KẾT

Nguyện ai xem được trang này
Cây mầm tuệ giác đêm ngày phát sanh
     Pháp mầu nhuận thấm an lành
Đến bờ Bát Nhã tâm thanh nhẹ nhàng

 

Ban Chứng minh: NT. Tràng Liên, NT. Ngoạt Liên, NT Tân Liên

Ban Cố vấn: NT. Phục Liên, NT. Viên Liên, NT. Tố Liên
NT. Thẩm Liên, NT. Khiêm Liên, NS. Tín Liên, NS. Phụng Liên

Ban Chủ nhiệm: NS. Tuệ Liên, SC. Nghiêm Liên

 

Tịnh xá Ngọc Phương,
498/1 Lê Quang Định, P.1, Q. Gò Vấp, TP.HCM
 Bài vở, hình ảnh đóng góp, xin vui lòng gởi attachment
về Ban biên tập qua địa chỉ Email:
nigioikhatsi@gmail.com
Hoan nghênh mọi hình thức phổ biến trang này.