|
|
|
|
NGŨ PHƯỚC LÂM MÔN
Tác giả Trần Bá Đạt , dịch giả Thích Thiện Phước,
Biên tập: Thích Quang Phúc
Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005 LỜI DẪN “Ngũ phước lâm môn” là cuốn sách hay. Sách đề cập đến những ước vọng cháy bỏng nhất trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta. Tác giả dẫn chúng ta đến tận đầu nguồn nguyên nhân phát sanh năm phước. Với rất nhiều tích truyện lịch sử cũng như điển tịch Phật Giáo, là những minh chứng sống động, thuyết minh về một chân lý trong hiện tượng giới, đó là lý nhân quả. “ TỪ NHÂN NÀO DẪN ĐẾN QUẢ NÀO ? ”, đó ắt hẳn là nội dung phần lớn cuốn sách này. Và với một văn phong hấp dẫn, lý lẽ rạch ròi, tác giả đã dẫn chúng ta đến tham quan vườn hoa ngũ phước lung linh những sắc màu hương thơm tươi thắm. Trong khuôn khổ của tập sách nhỏ này, chúng tôi chỉ khái quát những nét chính yếu của tập sách nêu trên, nhằm giới thiệu đến quý vị một cuốn sách hay mà mọi người chúng ta không nên bỏ qua. Sau khi xem xong tập sách này, nếu quý vị còn chút hứng thú, xin tìm ngay cuốn:
“Ngũ phước lâm môn”, Hy vọng đây là một món quà có ý nghĩa gởi đến quý vị trong nắng ấm mùa xuân đang chan hoà.
Hoa nở rồi tàn, tóc xanh lại bạc. Đời người như một dòng nước cứ xuôi chiều trôi đi mãi mãi. Năm tháng chất chồng, mạng người dần dần ngắn. Trong cuộc sống, dường như ai cũng muốn cho mình được giàu sang may mắn và không ai muốn mình lâm vào cảnh bất hạnh khó khăn. Và vì vậy, mỗi năm khi hoa đào, hoa mai nở rộ, báo hiệu một năm, hay một mùa Xuân mới trở về, lòng người lại hân hoan, rạo rực những ước ao và hy vọng. Thỉnh thoảng đó đây ta thường thấy bốn chữ “ngũ phước lâm môn” viết bằng mực tàu giấy đỏ dán trước cửa nhà, trông có vẻ rất nhân gian, như đang ẩn chứa một điều gì mà con người đang gởi gấm chờ mong. “Ngũ phước lâm môn” dường như ai cũng từng nghe biết đến, nhưng về ý nghĩa của nó thì ai cũng mơ hồ không rõ ràng nghĩa lý cho lắm. Trong kinh Thư chép 5 phước ấy là : Thọ, Phú, Khương ninh, Du hiếu đức, Khảo chung mạng.
CÓ PHƯỚC NÀO TRỌN VẸN KHÔNG ? Cuộc sống con người do năm thứ phước này tụ họp lại mà được an vui hạnh phúc. Nếu thiếu một thì không thể đạt được lẽ mầu ấy. Ví như có người tuy sống lâu mà không có phước đức ; Có người tuy giàu có, của cải đầy dẫy nhưng số mạng lại ngắn ngủi, phiền não bức ngặt tâm linh ; Có người nghèo khổ nhưng lại thiện chung v.v… những cảnh ngộ về cuộc sống thì muôn mầu muôn vẻ. Nhưng rốt cuộc thì, chỉ có năm phước cùng đến nhà, cuộc sống nhân sinh mới được vẹn toàn đầy đủ .
Xét ra trong năm thứ phước nói trên, phần trọng yếu
nhất vẫn là phước thứ tư, tức
“Hiếu đức”. Nhân và đức là nguyên nhân và nguồn cội của
phước. Phước là kết quả và biểu hiện của đức. Nếu chỉ lo cầu phước
mà không lo tu sửa đức hạnh thì há chẳng phải là bỏ gốc mà đi
tìm ngọn ư ? VÌ SAO CÓ HIỆN TƯỢNG KÉM VÀ HẾT PHƯỚC ?
Hoàn cảnh và cuộc sống của chúng ta ở đời này sở
dĩ gặp nhiều điều không tốt là bởi do những ác nghiệp mà mình đã gây
nên từ kiếp quá khứ chiêu cảm đến kết quả xấu xa như
thế. Ví như người ở đời quá khứ hoặc nhiều kiếp trước ngược
đãi động vật thì đời này sẽ bị nhiều bệnh tật. Người đời quá khứ
giết hại loài vật thì đời nay bị quả khổ, mạng sống ngắn ngủi. Người
đời quá khứ hoặc kiếp trước trộm cắp, keo kiệt thì đời nay sẽ bị
nghèo nàn và khốn khổ. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước ngạo mạn
thì đời nay làm kẻ đê tiện. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước gây
nhiều sự kinh động, ưa nóng giận hờn mát, thì đời nay có thân hình
xấu xí. Người đời quá khứ hoặc kiếp trước dùng những phương cách để
giết hại người hoặc loài vật thì đời nay chiêu cảm lấy ác báo, khi
chết không được yên ổn. Người được trường thọ lại nghèo nàn, hèn hạ
là do họ ở đời trước có lòng thương yêu động vật, nhưng keo kiệt
không chịu bố thí. Người giàu có mà lại chết yểu là vì họ ở đời quá
khứ ưa thí xả những tài vật, nhưng hay giết hại loài vật. Người có
diện mạo xấu xa mà lại giàu có là vì họ ở đời quá khứ rộng rải bố
thí, nhưng hay nổi sân. Người có dung mạo đoan trang, lại ở địa vị
thấp hèn là vì ở đời trước họ có lòng nhẫn nhục, gìn giữ giới luật
nhưng lại xem thường người khác mà dẫn đến kết quả như vậy. Nói tóm
lại, năm phước sở dĩ có kém khuyết là do ở đời quá khứ hoặc hiện tại
làm việc thiện và gom chứa đức hạnh không đồng nhau mà thôi. SỰ TƯƠNG QUAN KỲ DIỆU CỦA NĂM THỨ PHƯỚC Trường thọ, phú quý, khương ninh, hiếu đức và thiện chung, cả năm phước này đều có mối liên hệ rất mầu nhiệm : Trường thọ, phú quý, khương ninh, và thiện chung, bốn phước này là kết quả, còn loại phước thứ ba tức hiếu đức là nguyên nhân. Đời nay sở dĩ được trường thọ, phú quý và khương ninh, đó chính là kết quả của đời quá khứ đã rộng chứa những âm đức. Còn thiện chung chủ yếu là do kết quả của đời nay đã vun trồng những đức tốt. Hay nói cách khác, trường thọ, phú quý, và khương ninh là quả báo ở đời hiện tại, còn thiện chung là quả báo ở đời vị lai vậy .
Trong năm phước này, thiện chung rất khó được. Nhân
vì, chỉ có đời nay rộng chứa âm đức thì mới được thiện
chung, còn trường thọ và phú quý thì không hẳn phải như vậy !
Có một số người đời nay tuy giàu sang và sống lâu, nhưng họ không
thích làm những việc công đức. Đây là do đời quá khứ, họ có tu đức
mà được quả báo như thế. Còn hạng người đời nay tuy giàu có mà không
ham thích làm việc công đức thì chẳng những hiện đời thân tâm họ
không được mạnh khoẻ, bình yên và nhất định trong tương lai cũng rất
khó an lành mà xuôi tay nhắm mắt vậy. NÓI VỀ NĂM THỨ PHƯỚC TRƯỜNG THỌ: Từ xưa đến nay, mạng sống chính là một vấn đề vô cùng thần bí. Trừ những người dốc hết tâm trí tu hành có được sở đắc, nếu không thì ai ai cũng đều không biết giây phút nào chúng ta đối mặt với tử thần. Vì thế câu thành ngữ “Triêu bất bảo tịch” (buổi sớm không bảo đảm tới chiều) để cảnh tỉnh chính mình trong mọi thời khắc, thật là vô cùng xác đáng ! Biết rõ được sự thật của mạng người là vô thường thì có lợi ích rất lớn đối với chúng ta. Nhân vì thể hội được mạng người là vô thường, là không thật có nên những sự buông lung và tham ái không còn cơ hội để khởi lên nữa. Vì vậy, việc tỉnh giác về mạng sống con người là vô thường, đó là đầu mối của trí tuệ và cũng chính là bước chân đầu tiên để vượt khỏi biển khổ sanh tử vậy. Sách có câu “Nhân giả thọ” (người có lòng nhân ái thì được sống lâu). Thật thế, đem tâm nhân hậu và khoan dung để đối đãi với người thì nhất định sẽ được quả lành. Người đời nay trường thọ chắc hẳn là do kết quả ở đời quá khứ hoặc đời hiện tại có tâm từ ái đối với động vật. Người đời nay mạng sống ngắn ngủi tất nhiên là do kết quả của đời trước hoặc đời này giết hại loài vật. Người đời nay làm việc thiện như đi chùa, lễ Phật, nghe kinh, bố thí, phóng sanh … mà mạng sống ngắn ngủi thì đó là do quả báo của những nghiệp ác mà họ đã gây từ thuở quá khứ nên họ phải cam chịu quả báo xấu ác. Còn những nghiệp thiện của đời nay chính là hạt giống mới gieo xuống thửa ruộng công đức chưa ra hoa kết trái . NHÂN TRƯỜNG THỌ: Nguồn gốc của trường thọ được hình thành từ lòng nhân ái, tâm từ bi cứu hộ những động vật. Tự mình phóng sanh, khen ngợi khuyên bảo người làm việc phóng sanh và thí xả những thực phẩm mình ăn cho loài vật. DUYÊN TRƯỜNG THỌ: Hình thành từ tâm bình lặng, chí khí hoà mục với mọi người, không nóng nảy giận hờn, sống có khuôn phép, biết điều tiết được việc ăn uống, sinh hoạt có giờ giấc, không lao nhọc quá độ … NHÂN CHẾT YỂU: Giết hại động vật, ngược đãi, hành hạ động vật hay con người …
DUYÊN CHẾT YỂU:
Luôn luôn hờn giận, suốt ngày chỉ lo ăn uống,
làm việc lao nhọc quá sức, kết bạn với kẻ ác . . . NUÔI DƯỠNG TÂM TỪ BI:
Tâm từ bi là nền tảng căn bản của các hạt giống
lành. 1_ Cứu giúp người sống trong cảnh nghèo khổ khó khăn.
2_Phải giữ gìn chu đáo giới sát và thường phóng
sanh. Loại tâm từ bi thứ nhất là đối với loài người, còn loại thứ hai là đối với động vật. Một người nếu muốn trường thọ thì không những cứu giúp người bần cùng khốn khổ, mà còn phải có tâm từ bi thương yêu bảo hộ các loài động vật nữa. Ví như nhìn thấy đứa bé vì không hiểu biết nên bắt giết hoặc ngược đãi các loài động vật để vui đùa, ta phải khuyên răn dạy bảo chúng, không để những tập tính giết hại sinh vật của chúng ngày càng lớn lên, làm cho chúng mất hết lòng nhân ái, thậm chí dẫn đến giết người. Ngoài ra không được tuỳ tiện đem nước sôi đổ trên đất, hạn chế việc đốt rừng, nương rẫy, lá cây, rác rưởi , gỗ mục, v.v… vì trong đó có vô số loài sinh, động vật đang sinh sống.
Tương tự với đạo lý này là khi đi đứng nên
để ý không dẫm đạp loài trùng kiến, không dùng nước
dơ có trùng mà tưới hoa hoặc rau cỏ, không để bình, chậu
ngữa ở ngoài vườn, nhà để nước mưa ứ đọng sanh trùng, rồi chúng ta
đem nước ấy đổ đi thì những ấu trùng ấy sẽ bị chết khô. Đây cũng là
một phương thức sát sanh vậy. THÍ THỰC ĐƯỢC NĂM LOẠI PHƯỚC BÁO:
Kinh
“Thí thực” hoặc “Ngũ phước báo”
chép : “Người bố thí đồ ăn thức uống đời này hoặc đời
sau sẽ được năm loại phước báo, đó là : Thọ, An, Sắc, Lực và Biện” Ngoài ra, người bố thí thức ăn lại được quả báo giàu có, vì bố thí thức ăn cũng là bố thí tài vật, nếu có tâm cung kính thành khẩn trong khi bố thí thì lại được quả báo trong đời này hoặc đời sau sanh vào nhà tôn quý, được nhiều người tôn kính, quý trọng. Chúng ta lại càng nên chú ý khi cúng dường hoặc mời khách thì không nên giết hại động vật. Vì như thế chúng ta không được quả trường thọ, phú quý mà còn bị tổn thọ, bệnh tật …
Ngoài ra nếu chúng ta là người tu theo Phật, những
thời công khoá như tụng kinh, lễ Phật, niệm Phật, sám
hối, toạ thiền … cũng đều là những nguyên nhân giúp kéo dài thọ mạng
. PHÚ QUÝ: Ta không nên hiểu rằng : sự giàu sang của con người là do trời ban cho. Thật ra, sự giàu sang của chúng ta hiện đời nay có được là do tâm cung kính và việc làm bố thí ở đời hiện tại hoặc quá khứ mà cảm vời ra.
Thế nên, nếu chúng ta muốn được giàu sang
thì ngay từ bây giờ phải gieo hạt giống cung kính, khiêm nhường
và bố thí. Đã rõ được nhân, lại cộng thêm sự nổ lực của chính mình
tức là trợ duyên thì nhất định
sẽ được quả giàu sang. HAI TRẠNG THÁI PHÚ QUÝ Giàu sang có hai loại : Giàu sang tương đối và giàu sang tuyệt đối. Người có của cải nhiều nhất ở trong thiên hạ, địa vị sánh với bậc vương hầu, đó là hạng giàu sang tương đối. Còn người được thân tâm tự tại thanh tịnh là hạng giàu sang tuyệt đối. Loại thứ nhất là cái vui có sở đắc, loại thứ hai là cái vui không có sở đắc. Loại thứ nhất là cái vui hỗn tạp và ngắn ngủi, loại thứ hai là cái vui thuần tuý và lâu dài. Phật dạy : “Giá trị ở cõi trời hơn cõi Diêm phù đề này. Sự đẹp đẽ vi diệu ở cõi trời lại càng vượt hơn trăm ngàn món vui của những bậc đế vương tại nhân gian”.
Thế nên, sự mong cầu giàu sang chỉ là việc tốn
công nhọc sức. Chi bằng ta vui lòng chấp nhận những gì mình
sẵn có, tuỳ theo cảnh ngộ mà vẫn an vui, biết đủ và thường tự tại
trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta bàn luận về phú quý cốt là để nói rõ
phần trợ duyên và nguyên nhân, nhưng điều căn bản nhất của phú quý
là dạy mọi người phải gieo trồng nhiều chánh nhân bố thí mà không
cần phải tham cầu quả báo hay sự hưởng thụ cảnh phú quý. Thật ra,
chỉ cần biết được lẽ thật của nó thì liền được khoái lạc, đến như
việc tiêu dùng những tài vật đều không phải là việc trọng yếu. Chúng
ta hy vọng chúng sanh khắp nơi đều không vì hưởng thụ những tài vật
không giống nhau mà sanh lòng phiền muộn. Đồng thời cùng mong mỏi
rằng chúng sanh không vì hưởng thụ tài vật không được thoải mái mà
ảnh hưởng đến tâm hồn cao thượng. Hoặc nhân vì kém thiếu vật chất mà
trong tâm bấn loạn đôn đáo chạy chọt tìm tòi, không giây phút nào an
ổn để tu hành đạo nghiệp. Lại cũng không vì cảnh nghèo khó mà làm
cản trở việc rèn luyện tâm trí mình và làm trở ngại lòng bi nguyện
cứu độ chúng sanh. CHÁNH NHÂN VÀ SỰ TRỢ DUYÊN CỦA GIÀU SANG Nguyên nhân chính để được giàu sang là thí xả tiền tài vật chất cho những người nghèo đói khổ sở. Nếu đem sức lực tự thân ra để làm giàu thì chẳng qua là một loại trợ duyên để được giàu sang mà thôi ! Giả như có người ở đời quá khứ không làm việc nhân từ bố thí mà đời nay cố nổ lực làm việc để kiếm tiền thì kiếm cách mấy cũng không ra, hoặc dù có tiền nhưng không có phương thế nào giữ được, sớm muộn gì cũng thất thoát. Như vậy, nguyên nhân căn bản của sự giàu sang chính là sự bố thí. Còn nguyên nhân để được ngôi vị tôn quý là do ta lễ bái mười phương thánh hiền, cung kính tất cả chúng sanh, cam chịu những cảnh thuận nghịch và có tâm khiêm hạ, chứ không phải do thủ đoạn, đút lót hoặc chạy chọt tìm tòi mà có được. Người gặp được nhân duyên tốt, hoàn cảnh thuận lợi cộng thêm sự năng nổ trong công việc, hoặc được người khác đề bạt đều là dấu hiệu và phần trợ duyên của sự tôn quý, chứ không phải là nguyên nhân chính yếu. Có người nói : nếu tôi không giàu có làm sao tôi có thể bố thí ? Thật ra, ai ai cũng có thể bố thí, ngay cả người rất bần cùng túng thiếu cũng có cơ hội và năng lực để bố thí. Ví dụ mỗi lần trước khi ăn cơm, ta có thể đem một vài hạt bố thí cho các loài động vật nhỏ, hoặc mời người uống một bát nước mát. Chỉ một việc nhỏ nhoi như vậy thôi thì đâu cần phải tốn tiền. Thế nên, bố thí là điều mà ai ai cũng cần phải có. Người vượt lên trên mọi sự nghèo khó của chính mình để phát tâm bố thí thì một ngày nào đó chính họ sẽ thoát ly ra khỏi biển khổ nghèo nàn. Nếu ta tự ti cho rằng mình bần cùng không có gì để bố thí thì đời đời kiếp kiếp ta sẽ không thoát ra được chiếc áo giáp khốn quẩn bao bọc quanh ta và cũng rất khó có cơ hội để thay đổi thân phận được. Đời nay, sở dĩ chúng ta nghèo khốn khổ sở là do những hành động keo kiệt, tham lam và ích kỷ đã gây tạo từ đời trước mà chiêu cảm đến. Nếu muốn cải thiện vận mệnh bần cùng hay xấu ác ấy thì nhất định trước phải trừ bỏ tâm, hành vi và tập khí keo kiệt. Ngoài ra chúng ta còn phải biết tuỳ hỷ công đức, nghĩa là thấy người khác được điều gì tốt đẹp thì ta cũng vui theo cái vui của họ, chứ không có tâm ghen tỵ …
Tu tập theo 4 tâm vô lượng của Phật, là từ, bi, hỷ,
xã, để có thể thông cảm nổi khổ, niềm vui của muôn loài, hồi hướng
cho khắp chúng sanh đều lợi lạc. HIẾU ĐỨC: Trường thọ, phú quý, khương ninh và thiện chung đều là kết quả của hiếu đức (thích làm việc đạo đức). Nếu như đời quá khứ của chúng ta không có hiếu đức thì hiện đời nhất định không có trường thọ, phú quý và khương ninh. Nếu như chúng ta hiện tại không có hiếu đức thì e rằng trong tương lai rất khó được thiện chung. Chúng ta nên biết rằng hiếu đức là nguồn cội của mọi sự an vui và hạnh phúc, cũng là nền tảng của phước đức và mọi sự may mắn. Giả sử hiện tại chúng ta không trồng nhân hiếu đức như thế thì mọi sự hưởng thụ và tiêu dùng đều sẽ biến thành xa xỉ, nhân vì không có gieo trồng nhân lành, khi hưởng hết phước báo rồi thì tất nhiên sẽ trở thành kẻ nghèo cùng khốn khổ. Người xưa nói : “Cất giữ của cải không hẳn thuộc về mình, thọ dụng của cải lại không hẳn thuộc về mình, chỉ có đem của cải ra thí xả mới thật là của mình”. Hưởng thọ nhiều vật chất sẽ làm hao mòn phước báo, còn hưởng thọ về năm thứ dục thì thời gian an vui có là bao, nhưng chịu khổ kiếp kiếp. Khi ta thọ dụng những tài vật thì chúng sẽ vĩnh viễn chẳng thể thuộc về ta nữa, chỉ có đem những tài vật ấy bố thí vào nơi thích đáng (nhà Phật gọi là gieo trồng ruộng phước), lấy của xã hội dùng vào xã hội thì những tài vật ấy mới có ý nghĩa vĩnh viễn ; lại cũng không bị thiên tai, nhân hoạ, giặc cướp, vua quan và con cái phá sản đoạt mất. Cho nên, cổ nhân khuyên chúng ta cần phải bố thí để tích luỹ âm đức.
Nếu chúng ta không bố thí tu đức thì sau này sẽ chịu
những cảnh vô cùng bi đát, nhất là lúc chúng ta mạng chung thì tất
cả tiền tài, vật chất, bạn bè, quyến thuộc, uy quyền, thế lực … ràng
buộc con đường giải thoát của mình. Thật ra, những thứ ấy
“lúc sanh không mang đến , lúc chết không mang đi”, chỉ có
nghiệp lực thiện hay ác đã gây tạo lúc bình sanh mới thật sự đeo
đuổi ta như bóng với hình. Đây là ý nói tu dưỡng đạo đức mới đúng là
điều thực dụng. Hơn thế nữa, tất cả chúng ta đều không biết tử thần
đến lúc nào mà chuẩn bị. Thật ra, thần chết đang chực chờ, mọi lúc
đều có thể xông vào bất ngờ để bắt ta. Thế nên, ngay từ bây giờ,
chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không chịu nổ lực tu tập.
NHỮNG VÍ DỤ CÓ THẬT CỦA
HIẾU ĐỨC: 1 – Lý Cảnh Văn và Trương Huệ Minh : (Trích trong “Thiền lâm bảo huấn”) Vào triều đại nhà Tống ở phủ Khai Phong, có một người dân tên là Lý Giác An. Ông sinh ra một người con, đặt tên là Lý Cảnh Văn. Nhân vì đứa con ấy thuở nhỏ nhiều bệnh tật, nên ông Lý bèn đem 100 lạng bạc gởi người bạn là Trương Huệ Minh. Ít lâu sau, Lý Giác An qua đời. Trương Huệ Minh bèn đem 100 lạng bạc ấy trả lại cho con của Lý Giác An tức là Lý Cảnh Văn. Văn không chịu nhận và nói : “Khi cha tôi trao di chúc lại vốn không có đề cập đến số bạc này nên tôi không nhận”. Thế là Trương Huệ Minh bèn nói rằng : “Một trăm lạng bạc này rõ ràng là của nhà họ Lý gởi cho tôi, nên tôi nhất định phải trả lại cho nhà họ Lý thì mới đúng lẽ chứ”. Hai người cố nhường nhau mãi, sau mới đem tới phủ Khai Phong để nhờ Bao Chửng quyết định. Bao Chửng lấy làm lạ, liền cho vời Lý Cảnh Văn đến để trả lại số bạc ấy cho hắn. Thế nhưng Lý Cảnh Văn kiên quyết không nhận, còn Trương Huệ Minh thì cố muốn trả lại số bạc ấy. Bao Chửng xem thấy cả hai người đều là bậc dũng khí và nghĩa cử, vốn không tham của báu, nên bất đắc dĩ mới đem 100 lạng bạc giao cho các chùa chiền ở phủ Khai Phong để cúng dường trai tăng và tụng kinh kỳ siêu bạt độ cho hương linh Lý Giác An cùng những oan hồn ở khắp pháp giới. Chúng ta thử nghĩ xem, trị giá của 100 lạng bạc lúc bấy giờ ước chừng 150 vạn đồng. Một số tiền lớn như vậy, thế nhưng Lý Cảnh Văn và Trương Huệ Minh đều không có tâm tham đắm. Thử nhìn lại người thời nay, họ tham lam và xem trọng tiền tài còn hơn mạng sống của mình. Thậm chí chỉ vì mấy đồng tiền mà phải cấu xé đâm chém lẫn nhau. Những cảnh tượng như vậy thật đáng xấu hổ thay ! 2 – Không bỏ người nữ bệnh, sanh được quý tử : Từ xưa tới nay, có những người vợ túng thiếu hoặc bệnh tật liên miên. Vậy mà phần lớn lại sanh ra những đứa con rất hiền thục, được quyền cao chức trọng, là sao vậy ? Nhân vì trong lòng của họ tràn đầy tính nhân hậu, cho nên được trời đất bao dung. Nếu xét theo lý nhân quả để nói thì ơn trên cũng ưu đãi và khoan hồng đối với những con người bất hạnh ấy, ví như trong bộ “Ý hành lục” chép : “ Văn Thiệu Tổ có một đứa con trai đính hôn cùng với con gái của nhà họ Sài. Sau khi đính hôn, con gái nhà họ Sài bỗng bị một cơn bệnh nặng. Lúc bấy giờ Văn Thiệu Tổ muốn cưới một cô gái khác để làm dâu. Bà vợ Văn Thiệu Tổ biết được tin này vô cùng nóng giận, nói : “Chúng ta cưới dâu nên thuận với lẽ trời, hợp với lễ nghĩa. Nếu như ăn ở trái với lễ nghĩa thì sẽ lãnh quả báo không tốt đâu !”. Nhân thế mà Văn Thiệu Tổ đành phải cưới cô con gái nhà họ Sài về làm dâu.
Hai năm sau khi kết hôn, con trai của nhà họ
Văn thi cử được đỗ đạt, còn căn bệnh của người dâu cũng giảm dần. Về
sau họ lần lượt sanh thêm ba người con nữa, tất cả đều thành những
người có quyền cao chức trọng”.
BỰC TỨC GIẬN DỮ Sáu căn của chúng ta vì tạo ra những nghiệp thiện ác không giống nhau cho nên mới gặp phải các thứ quả báo khổ vui có sai khác. Ví như có người rất giàu sang nhưng miệng mồm thật khó coi. Đây là vì kiếp trước của họ tuy có tu phước bố thí nhưng khẩu nghiệp lại thường phạm những lỗi lầm hoặc thường thốt ra lời bẩn thỉu, chửi thề và nói tục, cho nên mắc quả báo như thế ! Chúng ta là đệ tử của Phật thì càng không nên nói ra những lời thô lỗ cộc cằn làm tổn hại đến người, thậm chí sinh tâm giận ghét cũng không nên. Nhân vì trong tâm ta một khi có oán khí và giận ghét khởi thì phiền não đùng đùng nổi dậy, rồi dẫn đến nóng nảy bực dọc, thân tâm không được tự tại, lại còn ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách giao tế nữa. Thế nên, cổ nhân có câu : “Tâm thanh tịnh không giận ghét mới thật là tâm tốt đẹp trọn vẹn”. Vẻ mặt vui tươi ấy cúng dường, Trong miệng không sân tuôn diệu hương. Lòng ta hỉ xả, châu vô giá, Chẳng
sanh chẳng diệt, ấy chân thường. KHÔNG THAM ĐẮM VÀO NĂM THỨ DỤC MỚI
LÀ ĐỨC HẠNH CHÂN THẬT :
Năm thứ dục là : - tham ái ở nơi sắc đẹp ; Nhân vì năm thứ dục này đều làm cho tâm người rối loạn, cứ rong ruổi tìm cầu sự hưởng thụ vật chất để rồi trong lòng không có giây phút nào biết đủ. Ấy là chưa nói đến tâm vì phan duyên theo ngoại cảnh mà khởi lên sự phân biệt nhân ngã, gây ra biết bao sự phiền hà, không bao giờ có sự an tĩnh trong lòng. Thế nên, Đức Phật dạy : “Hưởng thụ dục vọng và khoái cảm của vật chất chỉ là những thứ thấp hèn và rất ngắn ngủi”. Luận Đại Trí Độ chép : “Tất cả hàng phàm phu đều bị ngũ dục mà phải khổ não, đắm vào trong ngũ dục thì sẽ không có phương thế nào từ bỏ. Người tham đắm theo ngũ dục giống như loài chó rừng gặm xương, gặm hoài mà vẫn còn thèm mùi đó. Người tham đắm nơi ngũ dục giống như đứa bé vô tri dùng lưỡi để liếm chút mật trên lưỡi dao, được sự khoái lạc rất ít, nhưng bị cái hại là đứt lưỡi. Ngũ dục khiến cho con người tạo ra ác nghiệp, rồi đoạ vào ba đường ác ; lại cũng khiến cho người tu hành mất đi định lực, thần thông và trí tuệ”. Lại nữa, để hoàn thiện về hiếu đức chúng ta còn phải để ý đến những điều sau :
Ngoài ra chúng ta cần cũng cố những đức tánh :
THIỆN CHUNG: Phước sau cùng trong ngũ phước là khảo cứu về giai đoạn cuối cùng của đời người, tức là lúc sắp chết. Giai đoạn cuối cùng này, trong ngũ phước gọi là “thiện chung”. Hay thông thường người ta gọi là “chết tốt”. Thiện chung là một vấn đề rất khó, dường như ít ai đạt được. Giả như bạn từng thấy trạng thái giẫy giụa của người khác lúc sắp chết, chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được sự đau thương trước lúc chia lìa ấy và than rằng: “Mô Phật ! suốt đời con thật không mong cầu điều gì khác, chỉ mong sao cho con khi chết êm xuôi là được rồi”. Thường thì người lúc sắp lìa đời đều lâm vào cảnh chân tay giẫy giụa múa máy lung tung, không làm chủ được sáu căn. Bàng hoàng như con cua trong chảo nước sôi, như con kiến trong nồi đun nóng. Trên thân lại sanh ra những cảnh tượng rùng rợn như gân cốt co giật, mắt thì trợn trắng, cứ nằm thoi thóp thở dốc. Phật dạy : “Nổi đau khổ của người sắp chết thật giống như con rùa bị lột xác vậy”. Thường thì chúng ta nhìn thấy cảnh tượng giẫy giụa, miệng mếu máo khóc than rên rỉ … , đó chẳng qua là tử nghiệp hiện ra bên ngoài mà thôi. Kỳ thật trong lòng thì vô cùng sợ hãi và đau khổ vì phải chia lìa những người thân hoặc vì vướng mắc bởi những sở hữu như là con tôi, vợ tôi, . . . Tôi thật không muốn xa lìa hay vì hạnh nguyện chưa tròn. Bên cạnh đó, lại còn có những nổi lo toan về nhà cửa, vườn tược, của cải … làm cho tâm thức rơi vào cảnh bàng hoàng thê thảm. Tự nhiên cảm thấy mình lạc lỏng bơ vơ không nơi nương tựa. Đó mới thật là điều khó hình dung được ! Người giàu sang tột bậc không hẳn ai ai cũng có được thiện chung. Người sống lâu trăm tuổi cũng không nhất định được an tường mà xuôi tay nhắm mắt. Thử nhìn lại, từ xưa đến nay, có rất nhiều bậc anh hùng hào kiệt, họ đã từng tung hoành ngang dọc khắp năm châu bốn bể, oai lực của họ có thể dời non lấp biển. Nhưng than ôi , đến lúc lâm chung, đã có mấy ai được nhẹ nhàng để vĩnh viễn ra đi ! Ai vinh hoa, ai tài giỏi, có còn chăng hay cuối cùng chỉ còn lại trơ trọi một nấm mồ để thân vùi xuống lòng đất lạnh. Lại có người vì đi chinh chiến, phải bỏ thân ở ngoài trận mạc. Có người bị bức ngặt, phải mất chức và bị soán ngôi. Cũng có người bị đưa đi đày và bị xử bắn chết. Có người bị thuốc chết, lại có người bị nạn năm ngựa phanh thây. Thậm chí có người chết rồi còn bị roi đánh vào thân và bị tru di cửu tộc …
Tóm lại, muốn được thiện chung không phải là chuyện
dễ. Nhân vì chúng ta không biết khi nào Diêm Vương sẽ mời mình
về nơi âm cảnh và lại càng không thể biết khi lâm chung thì chúng ta
sẽ gặp những chướng ngại gì ! Cái chết có thể đến với chúng ta bất
cứ lúc nào. Có lẽ là sang năm, ngày mai hay ngay bây giờ !
Than ôi, nẻo “Huỳnh tuyền” không hẹn ai già
, ai trẻ . Mọi người nên dốc lòng tu tập để vượt
qua cửa ải sanh tử này . TÍNH TRỌNG YẾU CỦA THIỆN CHUNG :
Vì sao nói rằng thiện chung là điều rất trọng yếu ?
Trong kinh “Thập nhị phẩm sanh tử” chép : Lại nữa, khi bị hoạnh tử, thân thể phải chịu nổi khổ sở rất lớn, trong lòng luôn luôn buồn bực và oán hận. Không những rất khó giữ được chánh niệm mà trong tâm lại dấy lên sự phẩn hận não phiền rất dễ dàng dẫn đến cảnh oán trời trách người. Thật đáng thương thay, biết bao công đức tu hành tích luỹ từ bấy lâu nay, vậy mà chỉ trong chốc lát đều tan tành theo mây khói ! Thế nên, người xưa dạy chúng ta phải thường phát nguyện : “Nguyện cho con đến lúc mạng chung, thân không bệnh khổ, tâm không tham tiếc, ý không điên đảo và được các bậc thánh dẫn dắt”. Lại nguyện : Nguyện cho não chướng tiêu tan, Nguyện được trí huệ thênh thang rạng ngời . Nguyện tiêu tội chướng bao đời , Kiếp kiếp tinh tấn giữ lời độ sanh . Hay : Nguyện con sắp mất, hết chướng hình, Di Đà, thánh chúng, đến cung nghinh . Mau lìa năm trược, về Tây độ , Trở
lại trần gian, vớt chúng sanh . CÁC LOẠI THIỆN CHUNG:
NGUYÊN NHÂN CỦA THIỆN CHUNG: Người có được điều thiện chung tuyệt đối thì không nên ỷ vào đó mà sanh lòng kiêu hãnh. Đó nhất định là do rộng tu phước huệ mới đạt được. Thiện chung cùng với thiện nghiệp ở đời quá khứ có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng điều tối quan trọng là do tâm linh của chúng ta an tĩnh và có vun trồng đạo đức ở đời nay. Trừ phi chúng ta hay rộng chứa âm đức, ngăn dứt các vọng niệm và dốc chí công phu tu tập, nếu không thì lúc mạng chung rất khó được tự tại. Nói về nguyên nhân của thiện chung thì rất nhiều, nhưng phần đại khái lại không ra ngoài ba điều kiện sau :
Không nên làm những việc ác như sát hại động vật, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, chè chén say sưa, không làm việc đuối lý, không chiếm đoạt những tiện nghi của người v.v… để tránh khỏi những oán cừu mỗi ngày càng sâu dày chồng chất. Đến lúc lâm chung, những oán cừu trái chủ ấy ùa nhau kéo đến làm nhiễu loạn và ngăn cản sư giải thoát của chúng ta.
Thường phát ra những lời thệ nguyện làm lợi ích cho chúng sanh, sau đó cứ theo hạnh nguyện ấy mà thực hành, ví như chúng ta thường phóng sanh, cứu giúp người gặp khốn cùng hoạn nạn, in Kinh, tạc tượng, cúng dường chư Tăng …. Nếu thường ngày chúng ta rộng kết duyên lành thì không những thân tâm được nhiều khoái lạc mà lúc lâm chung thường được chư Phật và Bồ Tát hộ niệm giúp đỡ và dẫn dắt chúng ta sanh về cõi lành để khỏi bị đoạ lạc vào ác đạo. Thế thì còn điều tốt nào bằng !
Không luận là làm lành, đọc tụng kinh điển, tham
thiền niệm Phật…, tất cả đều quy nhiếp về lẽ
“Tự sạch ý chí mình”, thế mới được thọ
chung. Ngoài ra, chúng ta cần phải định thần tu tập, trong 12
giờ đồng hồ thì thường phải thúc liễm tâm ý . Tuy cuộc
sống khó khăn, hằng ngày phải giải quyết muôn ngàn công việc,
nhưng quan trọng hơn hết là phải giữ tâm thanh tịnh.
“Việc tuy bận, nhưng tâm không bận”.
Nếu chúng ta hay nổ lực tu tập như vậy thì khi lâm chung,
tâm sẽ không có sự câu thúc và tham luyến. ĐIỀM DỰ BÁO CỦA THIỆN CHUNG:
Kinh “Tịnh độ tam muội” chép :
“Nếu như có người hàng ngày luôn làm việc lành, lúc sắp chết nhất
định được sanh về cõi trời. Người ấy nhìn thấy chư thiên tay cầm
thiên y và trỗi các thứ nhạc trời để tiếp rước họ.
Kinh
“Hoa Nghiêm” chép : “Người khi sắp chết,
sẽ thấy được thân trung ấm
(tức thần
thức, người đời gọi là linh hồn). Người
bình thường tạo ác nhìn thấy tự mình ở trong ba đường địa ngục, ngã
quỷ và súc sanh, chịu vô lượng khổ não, có lúc thấy vua Diêm La và
quỷ sứ cầm dao mác, gậy gộc đến bắt người ấy dẫn đi, có lúc thì nghe
tiếng rên rỉ của những chúng sanh thọ khổ trong ba đường ác. Người
khi còn sống thường làm việc lành thì lúc sắp mất, sẽ được sanh về
cõi trời, đến khi ấy sẽ trông thấy cung điện trang nghiêm rực rỡ
trên trời, dường như tiên nữ đang vui đùa, vi diệu tột bậc”… QUAN HỆ GIỮA THIỆN CHUNG VÀ ĐIỀM MỘNG Căn cứ theo những việc mà ta thường làm trong giấc mộng thì có thể phản ảnh được những điều tốt hay xấu của mình trong khi tu dưỡng. Cơn loạn mộng xảy ra đương nhiên là biểu hiện vọng niệm chưa được điều phục. Hễ vọng niệm chưa được điều phục thì chắc chắn mức công phu tu tập chưa được hoàn hảo. Tu tập chưa được hoàn hảo thì làm sao có thể được thiện chung ?
Đại sư Tử Bá, vốn là một cao tăng đời
Minh. Ngài dạy :
“Trong lúc thức cũng như ngủ, phải thường niệm Phật, không để
gián đoạn thì mới có thể giải thoát được cái khổ của sanh tử, được
vậy thì chắc chắn sẽ thiện chung. Nếu công phu không được bền chắc
thì lúc lâm chung lại không được thọ dụng”.
CHUYÊN TÂM NIỆM PHẬT Niệm Phật được thiện chung có rất nhiều, trong “Tịnh độ thánh hiền lục” và “Niệm Phật cảm ứng văn” đều ghi tương đối rõ ràng. Có rất nhiều trường hợp khi lâm chung, nhân vì nhờ người khác giúp đỡ niệm Phật, chẳng những được thiện chung mà còn vãng sanh về cõi nước của chư Phật. Ngoài ra, còn có một việc rất trọng yếu là khi nhìn thấy người thân của mình qua đời, phải nên mau vì họ niệm Phật hoặc thuyết pháp, chứ không nên đứng trước mặt họ mà khóc than kể lể. Nhân vì chúng ta đứng trước mặt họ mà khóc lóc thì làm kích động tâm tham ái và gây nên sự quyến luyến, rất có ảnh hưởng đến cảnh giới đầu thai của họ.
Khi gặp người lâm chung, không luận là người xa
lạ hay bạn bè thân thích, mình đều nên vì họ mà lớn tiếng niệm
danh hiệu Phật, lại khuyên họ nên dấy khởi tâm niệm lành hoặc khen
ngợi những việc làm lành của họ khi còn sống để mở bày lòng tin của
họ. Tâm họ tự nhiên cũng nhân vì niệm Phật mà được siêu sanh. Chẳng
những không tham luyến vật dục ở thế tục mà còn tiêu mất tâm hoảng
hốt lúc tử vong. LỜI KẾT Khổng Tử từng nói : “Trước tiên phải dốc chí vào việc đạo, tựa ở nơi đức, nương vào lòng nhân, sau mới đuổi theo nghề nghiệp”. Câu này mở bày cho chúng ta thấy rõ rằng việc học phải chú trọng đến phần gốc trước và phần ngọn sau. Do chất ở bên trong mà đượm ra bên ngoài thì mới hoàn bị được cả “Thể” và “Dụng”, hoa trái đều xum xuê. Làm người mà chẳng rõ đạo lý, tâm tánh và trí huệ mà cứ mãi mê tìm cầu tri thức, kỹ nghệ, tiện nghi vật chất, tham ái dục vọng … thật là một thiếu sót rất lớn, không thể hài hoà và hạnh phúc trong cuộc sống của nhân loại. Dòng suối hài hoà và hạnh phúc chân chánh ấy được khơi nguồn từ sự bình an vô tận, trong một tâm hồn khoáng đạt. Cho nên điều tối quan trọng trong việc học làm người, trước hết là làm sao giải trừ được tất cả phiền não và khổ đau, thấy rõ được tâm tánh của mình cho đến giác ngộ chân lý nhân sinh và vũ trụ, làm lợi ích tất cả chúng sanh. Trên đây đã giới thiệu qua rất nhiều mối tương quan giữa “đạo đức” và “vận mệnh”, và chúng ta ai cũng phải thừa nhận rằng : phải dốc lòng tu sửa phẩm chất đạo đức và rèn luyện tâm tánh thì năm loại phước báo này tự nhiên sẽ đến cửa thôi. Vì vậy, lẽ cốt yếu của tập sách này là ở chỗ tham khảo về ý nghĩa, chủng loại, nguyên nhân, điều kiện, và mối quan hệ của năm thứ phước. Lại cũng giới thiệu qua những phương pháp và nguyên lý để đạt được năm loại phước ấy.
Tất cả phước đức và trí tuệ đều không ra ngoài chữ “tâm”, chỉ cần ở nơi tâm của mình có sự công phu tu tập, gieo nhiều nhân lành, thường nhổ sạch cỏ dại, luôn đem nước từ bi tưới cho mảnh ruộng tâm thức được tươi tốt và cũng thường dùng ánh sáng trí huệ để soi khắp nhân lành, được như thế thì sẽ trổ ra quả lành năm phước. |
|
| ||||||