|
NGHIỆP BÁO VÀ THẢM HỌA
THIÊN NHIÊN
Questions Concerning Collective Karma and Natural
Disasters
Tác giả: Alexander Berzin đối thoại với
J. Landaw
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển –
27/03/2010
|
LANDAW: Nhiều
người ngày nay đã hỏi, “Có phải sự tích tập nghiệp
báo là nguyên nhân của những vấn đề như động
đất, thí dụ trận động đất vừa tàn phá Haiti”?
Nếu trả lời
điều ấy, dần dần nó được
giải thích rằng tích lũy
nghiệp báo của tất
cả những chúng sinh trên
hành tinh này chịu trách
nhiệm cho những đặc
trưng phổ biến của hành
tinh này và những yếu tố
làm nên nó. Với
những nhân tố hiện diện,
những định luật khách
quan của vật lý đã vận
hành. Thí dụ, sức
nóng tăng lên và những
chuyển động đa dạng làm
nên kết quả, thí như
những mãng của trái đất
trượt lên nhau, và v.v… |
Một biểu hiện
của chuyển động ấy là động đất. Từ quan điểm
này, động đất là những kết quả không tránh khỏi của
hành tinh chúng ta sinh khởi như thế ấy; và nó đã
từng sinh khởi như nó là kết quả của nghiệp báo tích
lũy vô cùng rộng lớn của tất cả chúng sinh những kẻ
đã từng sinh sống tự bao giờ trên hành tinh này.
Ông có bình luận gì về điều này?
BERZIN: Nghiệp báo, hay một cách đặc
biệt hơn, những năng lực tích cực và tiêu cực của
nghiệp báo hay xu hướng nghiệp báo cho dù cá nhân
hay tập thể, khi nó chín muồi hình thành những loại
kết quả đa dạng khác nhau. Một trong những kết
quả này là một kết quả ưu thế chi phối. Một
kết quả chi phối là sự trãi qua những loại môi
trường thiên nhiên hay xã hội mà trong ấy chúng ta
sinh ra hay hội nhập, và cung cách nó xử sự đối với
chúng ta, hay những đối tượng như tài sản của chúng
ta, và những gì xãy ra đến chúng.
Trong trường hợp của kết quả chi phối của nghiệp báo
tập thể - từ ngữ kỷ thuật chuyên môn một cách
thực tế là “chia sẻ nghiệp báo” hay “cộng
nghiệp” – của một nhóm giới hạn những chúng
sinh, điều này liên hệ một cách chính yếu đến những
kinh nghiệm hay sự trãi qua của họ về những hoàn
cảnh của môi trường thiên nhiên hay xã hội hay những
sự việc xãy ra mà nhóm đó kinh nghiệm về chúng.
Tuy thế, chúng ta cũng có thể nói rằng kết quả chi
phối của cộng nghiệp cũng liên hệ đến môi trường hay
những hoàn cảnh xã hội hay những gì xãy ra cung ứng
đến những hoàn cảnh của nhóm chúng sinh nhất định
kinh nghiệm về chúng.
Điều tuyên bố sau này không hàm ý rằng cộng nghiệp
của nhóm đó là nguyên nhân duy nhất cho môi trường,
thí dụ, họ kinh nghiệm khi họ trãi qua nó. Môi
trường mà họ trãi qua, chẳng hạn như sự hình thành
trái đất hay vũ trụ, là kết quả của vô số
những nguyên nhân và điều kiện khác. Trong
trường hợp của vũ trụ, nhân hiện hành của nó - ấy là
điều từ đấy chúng ta tìm thấy vũ trụ như kẻ thừa kế
của nó và là điều chấm dứt tồn tại khi kẻ thừa tự
của nó sinh khởi – là Big Bang (hạt đậu sẽ không còn
khi nó biến thành cọng giá). Chúng ta có thể
chia nhỏ nhân hiện hành thành những thứ đã xãy ra
rất lâu về trước, chẳng hạn như Big Bang, và những
thứ vừa xãy ra ngay tức thời trước thời điểm hiện
tại, chẳng hạn như động đất là nhân hiện hành cho
chuyển động của một mãng kiến tạo của trái đât (bề
mặt trái đất chia làm khoảng một tá mãnh, trườn chảy
đẩy nhau chèn ép trên lớp nham thạch lõng, như gỗ
trôi trên nước và chính đấy cũng là nguyên nhân của
động đất). Tuy thế, từng thời khắc này đến
thời khắc nhỏ nhiệm khác thay đổi trong môi trường
một khi nó sinh khởi, như một chiếc lá đặc thù rơi
từ một thân cây, là kết quả của những định luật vật
lý và v.v…của vũ trụ. Tuy nhiên, cũng có những
kết quả do con người tạo nên liên hệ môi trường,
chẳng hạn như không khí ô nhiễm như một kết quả của
những hành động của con người. Thêm nữa, những
yếu tố cấu thành ở một thời khắc đặc biệt, chẳng hạn
như vật chất và năng lượng của vũ trụ tại thời điểm
ấy là những nhân đồng thời cho vũ trụ tại thời điểm
ấy.
Nghiệp tập thể đưa đến sự cấu thành trái đất
và những định luật vật lý ảnh hưởng đến nó ám chỉ
đến nghiệp báo chia sẻ không chỉ tất cả những
chúng đã từng sinh sống trên trái đất trước đây
và hiện nay, nhưng cũng là những kẻ đang sống ngay
lúc này trên trái đất, và những ai sẽ sống
trên trái đất trong tương lai. Nhưng vì
trái đất là một bộ phận của toàn thể
vũ trụ của chúng ta và những định luật vật lý áp
dụng không chỉ cho trái đất mà thôi, nhưng cho
toàn thể vũ trụ, chúng ta cần nhìn vào một
loại nghiệp báo tập thể của một phạm vi rộng lớn hơn
– nghiệp báo tập thể của tất cả những ai đã từng
sống, đang sống hiện thời, và những kẻ sẽ sống trong
vũ trụ của chúng ta. Cuối cùng, tự nhiên vật
lý của vũ trụ là một con số kinh khiếp như vậy,
không là phải tất cả những hành tinh được làm bằng
vật thể cứng ở tại những thời điểm nào đấy
không ổn định và thế là đấy là chủ đề cho động đất
hay sao.
Bây giờ vì chúng ta đang nói về cấu trúc của vũ trụ,
nghiệp báo tập thể cung hiến đến sự cấu tạo của
nó và đến một con số rộng lớn hơn của những chúng
sinh trãi nghiệm vũ trụ này phải đã từng được
thiết lập lên trước thời kỳ Big Bang của vũ trụ này
bởi tất cả những chúng sinh với nghiệp báo được sinh
ra trong vũ trụ này.
LANDAW: Nhưng thế nào về những người nào đó
đang sống ngay trong một địa điểm xãy ra một cuộc
động đất kinh khiếp , như ở Haiti trong tuần vừa
qua? Để thấu hiểu điều này, điều quan trọng là phải
nhớ rằng :
-
Không phải mọi người trên hành tinh này trãi qua
những tác động tàn phá của cơn động đất này.
-
Ngay cả chính Haiti, không phải mọi người đều
chết hay bị thương trong cuộc động đất.
Mặc dù nó tạo ra một vụ tàn phá rộng lớn, nhưng
không phải tất cả mọi người trong vùng ấy bị thương
hay bị chết. Điều này chứng tỏ rằng những ai
bị tổn hại nghiêm trọng đã tích lũy nghiệp chướng,
cả cá nhân và tập thể, để trãi qua thiệt hại vào
thời gian đó, trong khi những ai không bị ảnh hưởng
liên đới đã không tích chứa một loại nghiệp chướng
như thế.
Điều này không có nghĩa rằng những ai bị chết là “tệ
hại nhất” thế nào đấy hơn những kẻ đã thoát
nạn. Tất cả chúng ta có một loại nghiệp nhân
tập thể rộng lớn trong dòng suối tâm thức của chúng
ta, cả tích cực và tiêu cực, và những điều kiện
(duyên) đã quyết định loại nghiệp chướng nào sẽ chín
muồi tại thời điểm nào là rất nhiều và đa dạng.
Một người nào đấy có thể đã sống sót “một cách kỳ
diệu” trong một vụ động đất lớn, lại chỉ bị chết
trong một thiên tai rộng lớn khác vào ngày tới, năm
tới, hay kiếp sống tới. Thế thì chúng ta có
thể làm nên một sự phân biệt giữa nghiệp báo tập thể
“rộng” mà chúng ta chia sẻ với tất cả những chúng
sinh trên hành tinh này, và một loại nghiệp báo tập
thể tương đối “hẹp”, mà chúng ta chỉ chia sẻ với một
số lượng nào đó đối với tất cả những chúng sinh này
hay không?
BERZIN: Vâng, chúng ta có thể biểu hiện sự khác biệt
đó. Có nghiệp nhân tập thể rộng lớn nhất đã
cung ứng để cấu thành vũ trụ. Điều này được
chia sẻ bởi mọi người sẽ sống trong vũ trụ ấy.
Với cấu trúc ấy, có một tập họp nhỏ ở trong ấy của
những kẻ với nghiệp báo chung sống trên trái đất.
Điều này đã cung ứng đến sự cấu thành trái đất một
cách đặc thù. Trong tập họp nhỏ ấy (chúng sinh
trên trái đất), có một tập họp nhỏ hơn là của những
ai với nghiệp báo chung để hứng chịu vụ động đất ở
Haiti, trong ý nghĩa góp phần đến sự hiện hữu của vụ
động đất.
Mặc dù mỗi người trong cái tập họp nhỏ hơn ấy trãi
nghiệm vụ động đất một cách khác nhau như kết
quả của nghiệp báo riêng của họ (biệt nghiệp); tuy
vậy, chúng ta vẫn có thể tìm ra những phần nhỏ hơn
của nghiệp báo luôn luôn được chia sẻ bởi bởi những
nhóm nhỏ hơn của những cá thể trong chúng. Thí
dụ, một số người nào đó bị chết và một số người nào
khác sống sót. Những người chết đã có một loại
nghiệp tập thể để chết trong động đất, không chỉ để
trãi nghiệm trong vụ động đất. Trong số những
người chết, một số có thể có nghiệp báo chung chia
sẻ với một vài người khác để chết trong sự sụp đổ
của cùng một tòa nhà. Vì thế, khi chúng ta nói
về biệt nghiệp cá nhân, nó liên hệ đến việc trãi qua
điều gì đấy đặc biệt, không chia sẻ với bất cứ người
nào khác, như chết sau mười lăm phút do bị đánh vào
đầu bởi một cái trục đặc biệt nào đấy.
LANDAW: Để cho rộng rãi một lúc, những chúng
sinh đã tịnh hóa nghiệp chướng của họ một cách đầy
đủ và trau dồi một niềm tin mạnh mẽ có thể tái sinh
trong một cõi được gọi là “Tịnh Độ” hay
“Phật Độ,” như cõi nước của Đức Phật Di Đà.
Sau đó, họ nhận thấy mình ở trong một thế giới không
có những vấn đề bạo động sinh khởi như vậy.
Như được nói rằng mọi thứ trong sự tái sinh Tịnh Độ
ấy, những thứ như tiếng gió xao động khi thổi qua
những hàng cây, truyền đạt giáo huấn Phật Pháp đưa
những chúng sinh trong cõi Tịnh Độ gần hơn đến giác
ngộ. Tôi trích dẫn điều này chỉ để nhấn mạnh
một điểm mà nó có sự tương ứng giữa đặc tính của một
nơi (y báo) và những phẩm chất của những tâm thức
(chính báo) của những chúng sinh sống trong một nơi
như thế.
Nói tóm lại, những chúng sinh với tâm thức duy
trì dưới sự ảnh hưởng của ba độc – si mê, tham lam,
và sân hận – thấy mình sống trong một
thế giới đầy dẫy tất cả những loại tổn hại, trong
khi những ai đã đạt đến cấp độ của tự tại khỏi những
vọng tưởng độc hại này trãi nghiệm một môi trường
nơi mà những tổn hại như vậy thì ít phổ biến
hay ngay cả vắng mặt một cách hoàn toàn, như trong
trường hợp được vãng sinh Tịnh Độ.
BERZIN: Như trong trường hợp của Tịnh Độ,
của Đức Phật Di Đà, nguyên nhân đạt được cho sự vãng
sinh sẽ là năng lực tích cực mà Đức Phật Di Đà thiết
lập trước khi Ngài được giác ngộ và những đại nguyện
Ngài phát ra cũng là trước khi Ngài giác ngộ (tức là
trong khi tu Bồ Tát Đạo). Đây là những thệ
nguyện hồi hướng công đức tích tập mà Ngài, trong
hình thức những Hóa Thân, đã tạo nên để có thể giáo
hóa những vị nhị thừa thánh giả với nghiệp chướng để
tiếp nhận những giáo huấn từ một Đức Phật Hóa Thân
và đặc biệt đới nghiệp vãng sinh trong một cõi Tịnh
Độ Hóa Thân (Phương Tiện Hữu Dư Độ) để tiếp
nhận những giáo huấn ấy. Thêm nữa, những thệ
nguyện của Ngài là giáo hóa , trong những hình thức
Báo Thân, những Bồ Tát với nghiệp chướng (đới nghiệp
vãng sinh trong) để tiếp nhận những giáo huấn từ một
Đức Phật Báo Thân, và một cách đặc biệt, đới nghiệp
vãng sinh trong một cõi Tịnh Độ Báo Thân (Thật Báo
Trang Nghiêm Độ) để tiếp nhận những giáo huấn ấy.
Vì Đức Phật Di Đà phát ra những thệ nguyện ấy như
một vị Bồ Tát lâu xa trước khi thành Phật, thế nên
cõi Tịnh Độ của Ngài có thể cũng được xem như một
kết quả ưu việt với công đức giác ngộ của Ngài.
Một điều kiện hoạt động đồng thời cho sự sinh
khởi cõi Tịnh Độ Di Đà là sự khổ đau của tất
cả chúng sinh, chính điều đó đã thúc đẩy Đức Phật Di
Đà khởi lòng từ bi và phát những lời Đại Nguyện
trước khi Giác ngộ thành Phật. Một điều kiện
hoạt động đồng thời hay một đồng hoạt duyên là một
điều kiện hiện hữu trước để sinh khởi điều gì đấy hổ
trợ trong việc làm cho sự sinh khởi xãy ra, nhưng nó
không chuyển biến thành điều phát sinh (như nước cần
cho cọng giá nẩy mầm).
Những sự thực hành tịnh hóa của người nào đấy
sẽ vãng sinh về cõi Cực Lạc hoàn thành trong
kiếp sống ngay trước lúc người ấy vãng sinh
không thể được xem như là nguyên nhân [chính] cho sự
vãng sinh Cực Lạc. Đấy là bởi vì Cực Lạc Tịnh
Độ đã hiện hữu trước rồi vào lúc người ấy dấn thân
trong những sự thực hành tịnh hóa. Sự thực
hành tịnh hóa hoàn thành bởi ai đấy trong kiếp sống
ngay trước khi vãng sinh, cộng thêm sự cầu
nguyện cung ứng trong kiếp sống ấy để được vãng sinh
về Cực Lạc, sẽ giống như giọt nước [duyên] cuối cùng
trong sự tích lũy công đức được người ấy bồi đắp
trong vô lượng kiếp mà đấy sẽ là kết quả cho sự vãng
sinh Cực Lạc của người ấy. Chỉ những người cầu
nguyện được vãng sinh Cực Lạc, trong tổng quát
tất cả chúng sinh với nghiệp chướng được sinh về Cực
Lạc đã từng phát thệ trong những đời sống khi Đức
Phật Di Đà còn là một vị Bồ Tát mới có thể biểu hiện
chức năng như nguyên nhân chín muồi thành sự sinh
khởi cõi Cực Lạc Di Đà như kết quả ưu thắng.
Tuy thế, điều này sẽ chỉ là trường hợp liên kết với
những lời thệ nguyện của Phật Di Đà đã phát thệ
trước khi Ngài thành Phật. Chỉ nếu những người
này đã biết Đức Phật Di Đà khi Ngài là một vị Bồ Tát
và đã nguyện cầu được vãng sinh một cách đặc biệt về
cõi Cực Lạc của Ngài sau khi Ngài trở thành Phật mới
có thể làm cho những lời cầu nguyện của họ chín muồi
trong cõi Cực Lạc của Phật Di Đà như kết quả bao hàm
toàn diện.
LANDAW: Tôi đã đọc một số kinh luận Pháp
Bảo về việc những vụ động đất liên hệ đến những
sự mất cân bằng trong địa đại của chúng sinh.
Điều này hấp dẫn, nhưng tôi không biết diễn giải ý
tưởng này như thế nào. Ông có thể giúp gì
không?
BERZIN: Tôi chưa đọc qua những lời
như thế, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta có thể hiểu
nó trong những dạng thức sự trình bày Giáo Pháp Thời
Luân về nghiệp báo. Theo sự trình bày này, có
vô lượng thế giới, với mỗi thế giới trãi qua vô
lượng niên kỷ để thành, trụ, hoại, và không.
Khi một thế giới ở trong thời kỳ thành, một thế giới
khác có thể đang ở trong thời kỳ hoại. Những
sự tuần hoàn mà những thế giới phải trãi qua không
nhất thiết đồng thời với nhau.
Trong thời kỳ ‘không’ giữa sự hiện hữu của
những thế giới, năm đại của mỗi thế giới tan
hoại thành lân hư trần. Những lân hư trần này
gợi lại những “lỗ đen” (black hole), dĩ nhiên, mặc
dù có những khác biệt. Năm đại là không, gió,
lửa, nước, và đất; hay có lẻ chúng ta có thể nghĩ về
năm thứ như không, khí hay năng lượng, sức nóng,
chất lõng, và chất rắn. Một cách đặc biệt, lân
hư trần gợi lại một chút về vết tích những hạt nhân
tố thô hơn – vi trần – của vũ trụ mà chúng không còn
kết hợp với nhau. Trong tình trạng này, những
định luật vật lý thông thường của thế giới tan hoại
trước đấy không còn hoạt động trong những vết tích
ấy. Những lân hư trần của một thế giới chưa
thực hiện những chức năng như căn bản cho những vi
trần thô hơn của năm đại của thế giới ấy sẽ sinh
khởi sau đấy.
Giáo lý Thời Luân cũng nói về những khí nghiệp, liên
hệ đến những năng lượng vi tế mang theo những nghiệp
lực và những xu hướng của chúng sinh. Vào thời
kỳ ‘không’, thí dụ, trước lúc Big Bang hình thành vũ
trụ của chúng ta, ‘khí’ tích lũy nghiệp lực của
chúng sinh với nghiệp báo được sinh thành trong thế
giới của chúng ta tác động đến những lân hư trần cho
thế giới của chúng ta. Chúng làm cho những lân
hư trần bùng nổ với Big Bang và tiến triển thành vũ
trụ của chúng ta với những tính chất đặc trưng của
nó và những định luật vật lý.
Vào thời điểm Big Bang, những chúng sinh với nghiệp
báo được sinh thành trong thế giới chúng ta,
và nghiệp báo của những ai tích lũy ảnh hưởng đến
sự hình thành của vũ trụ chúng ta, đã được đặt vào
hoàn cảnh trong thế giới mới được hình thành.
Như những yếu tố luân hồi, năm đại của thân
thể chúng sinh được biểu hiện không cân bằng.
Như kết quả, khí của nghiệp báo tích lũy tác động
lân hư trần cho thế giới chúng ta trong một cách như
vậy khi làm cho những vi trần thô hơn của thế giới
chúng ta sẽ tiến hóa không quân bình về địa đại
trong chúng sinh với nghiệp báo được sinh thành
trong thế giới chúng ta đưa đến sự mất cân bằng của
địa đại trên hành tinh này, kết quả trong một cuộc
động đất.
LANDAW: Giáo lý Thời Luân giải thích sự liên
hệ giữa nghiệp báo tích tập và sự kiện mà những hành
tinh lung lay trong vũ trụ của chúng ta là đối tượng
không ổn định và những vụ động đất. Nhưng điều
gì là một thí dụ của tích tập nghiệp đã là kết quả
trong một nhóm người trãi nghiệm một cuộc động đất
đặc thù với nhau? Có phải là điều gì đấy mà
những chúng sinh này đã thật sự thực hiện, như
trường hợp thường được trích dẫn về những người một
nơi nào đấy đã ném cát vào một số tu sĩ nào đấy và
sau đấy bị chôn vùi trong một trận bảo cát?
Hay có phải là điều gì đấy vi tế và bao trùm hơn
việc ấy?
BERZIN: Dĩ nhiên, đây là một câu hỏi rất khó
để trả lời. Một nhóm người trãi nghiệm với
nhau trong một sự mất cân bằng đặc thù của địa đại
của hành tinh này sẽ cần phải xây đắp một nghiệp báo
tích tập cho điều ấy bởi họ tất cả những người tham
dự trong một hành động đặc thù. Hành động ấy
cần là nguyên nhân cho một sự mất quân bình của địa
đại tại một khu vực, mà những người ấy trãi nghiệm
và bị tổn hại bởi cuộc động đất. Thí dụ, hành
vi tàn phá có thể là của một nhóm người làm việc với
nhau trong một chương trình đã làm tổn hại đến môi
trường và làm cho đồi núi sụp đổ hay đất chùi xãy
ra. Hay một nhóm người có thể đã từng liên hệ
đến quá trình hoạt động làm nổ tung trong sự phối
hợp với thuốc nổ.
Tuy nhiên, hãy nhớ rằng những chúng sinh luân
hồi đã từng sống trong vô lượng hành tinh trong
vô lượng thế giới. Nghiệp báo tích tập của
chúng sinh trãi nghiệm trong một vụ động đất trên
một hành tinh đặc thù sẽ không nhất thiết phải được
bồi đắp bởi việc chia sẻ một hành vi tàn phá mà họ
đã thực hiện trên hành tinh ấy. Họ có thể đã
làm điều ấy trên một hành tinh nào khác vào bất cứ
thời gian nào trong quá khứ. Do bởi tham lam
và si ám, tôi chắc rằng những chúng sinh luân
hồi đã từng tàn phá môi trường trong vô lượng hành
tinh trong vô số lần. Nhưng chỉ có Đức Phật
mới biết nghiệp nhân đặc thù nào chín muồi thành
nghiệp quả đặc biệt như thế. Sau cùng, nghiệp
báo là đề mục khó khăn nhất trong tất cả chúng ta
thấu hiểu một cách hoàn toàn với tất cả những chi
tiết của nó.
|