Luật Nhân Quả
và Nghiệp Báo
Phổ Nguyệt
I. Luật Nhân Quả
(TÐPGVA)
1) Nhân
là nguyên nhân, là năng lực phát động; quả là kết
quả, là sự hình thành của năng lực phát động. Định
luật nhân quả chi phối vạn sự vạn vật trong vũ trụ
không có ngoại lệ:
2) Luật
nhân quả hay sự tương quan giữa nguyên nhân và kết
quả trong luật về “Nghiệp” của Phật giáo. Mọi hành
động là nhân sẽ có kết quả hay hậu quả của nó. Giống
như vậy, mọi hậu quả đều có nhân của nó. Luật nhân
quả là luật căn bản trong Phật giáo chi phối
mọi hoàn cảnh. Luật ấy dạy rằng người làm việc lành,
dữ hoặc vô ký sẽ nhận lấy hậu quả tương đương. Người
lành được phước, người dữ bị khổ. Nhưng thường
thường người ta không hiểu chữ phước theo nghĩa tâm
linh, mà hiểu theo nghĩa giàu có, địa vị xã hội,
hoặc uy quyền chánh trị. Chẳng hạn như người ta bảo
rằng được làm vua là do quả của mười nhân thiện đã
gieo trước, còn người chết bất đắc kỳ tử là do trả
quả xấu ở kiếp nào, dầu kiếp nầy người ấy không làm
gì đáng trách
3) Nhân
quả là một định luật tất nhiên nêu rõ sự tương quan,
tương duyên giữa nhân và quả, không phải có ai sinh,
cũng không phải tự nhiên sinh. Nếu không có nhân thì
không thể có quả; nếu không có quả thì cũng không có
nhân. Nhân nào quả nấy, không bao giờ nhân quả tương
phản hay mâu thuẫn nhau. Nói cách khác, nhân quả bao
giờ cũng đồng một loại. Nếu muốn được đậu thì phải
gieo giống đậu. Nếu muốn được cam thì phải gieo
giống cam. Một khi đã gieo cỏ dại mà mong gặt được
lúa bắp là chuyện không tưởng:
4) Một
nhân không thể sinh được quả, mà phải được sự trợ
giúp của nhiều duyên khác, thí dụ, hạt lúa không thể
nẩy mầm lúa nếu không có những trợ duyên như ánh
sáng, đất, nước, và nhân công trợ giúp. Trong nhân
có quả, trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại
chúng ta thấy quả vị lai, và chính trong quả hiện
tại chúng ta tìm được nhân quá khứ. Sự chuyển từ
nhân đến quả có khi nhanh có khi chậm. Có khi nhân
quả xãy ra liền nhau như khi ta vừa đánh tiếng trống
thì tiếng trống phát hiện liền. Có khi nhân đã gây
rồi nhưng phải đợi thời gian sau quả mới hình thành
như từ lúc gieo hạt lúa giống, nẩy mầm thành mạ, nhổ
mạ, cấy lúa, mạ lớn thành cây lúa, trổ bông, rồi cắt
lúa, vân vân, phải qua thời gian ba bốn tháng, hoặc
năm sáu tháng. Có khi từ nhân đến quả cách nhau hằng
chục năm như một đứa bé cắp sách đến trường học tiểu
học, đến ngày thành tài 4 năm đại học phải trải qua
thời gian ít nhất là 14 năm. Có những trường hợp
khác từ nhân đến quả có thể dài hơn, từ đời trước
đến đời sau mới phát hiện:
5) Hiểu
và tin vào luật nhân quả, Phật tử sẽ không mê tín dị
đoan, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang
mang. Biết cuộc đời mình là do nghiệp nhân của chính
mình tạo ra, người Phật tử với lòng tự tin, có thêm
sức mạnh to lớn sẽ làm những hành động tốt đẹp thì
chắc chắn nghiệp quả sẽ chuyển nhẹ hơn, chứ không
phải trả đúng quả như lúc tạo nhân. Nếu làm tốt nữa,
biết tu thân, giữ giới, tu tâm, nghiệp có thể chuyển
hoàn toàn. Khi biết mình là động lực chính của mọi
thất bại hay thành công, người Phật tử sẽ không chán
nản, không trách móc, không ỷ lại, có thêm nhiều cố
gắng, có thêm tự tin để hoàn thành tốt mọi công
việc. Biết giá trị của luật nhân quả, người Phật tử
khi làm một việc gì, khi nói một lời gì, nên suy
nghĩ trước đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ không
làm liều, để rồi phải chịu hậu quả khổ đau trong
tương lai:
II. Nghiệp:
Karma (skt)—Kamma (p)
Ý nghĩa
của Nghiệp: Nghiệp là một trong các giáo lý căn
bản của Phật giáo. Mọi việc khổ vui, ngọt bùi
trong hiện tại của chúng ta đều do nghiệp của quá
khứ và hiện tại chi phối. Hễ nghiệp lành thì được
vui, nghiệp ác thì chịu khổ. Vậy nghiệp là gì?
Nghiệp theo chữ Phạn là ‘karma’ có nghĩa là hành
động và phản ứng, quá trình liên tục của nhân và
quả. Luân lý hay hành động tốt xấu (tuy nhiên, từ
‘nghiệp’ luôn được hiểu theo nghĩa tật xấu của tâm
hay là kết quả của hành động sai lầm trong quá khứ)
xảy ra trong lúc sống, gây nên những quả báo tương
ứng trong tương lai. Cuộc sống hiện tại của chúng ta
là kết quả tạo nên bởi hành động và tư tưởng của
chúng ta trong tiền kiếp. Đời sống và hoàn
cảnh hiện tại của chúng ta là sản phẩm của ý nghĩ và
hành động của chúng ta trong quá khứ, và cũng thế
các hành vi của chúng ta đời nay, sẽ hình thành cách
hiện hữu của chúng ta trong tương lai. Nghiệp có thể
được gây tạo bởi thân, khẩu, hay ý; nghiệp có thể
thiện, bất thiện, hay trung tính (không thiện không
ác). Tất cả mọi loại nghiệp đều được chất chứa bởi A
Lại Da và Mạt Na thức. Chúng sanh đã lên xuống tử
sanh trong vô lượng kiếp nên nghiệp cũng vô biên vô
lượng. Dù là loại nghiệp gì, không sớm thì muộn, đều
sẽ có quả báo đi theo. Không một ai trên đời nầy có
thể trốn chạy được quả báo.
Nghiệp
và Quả Báo:
Như trên đã nói, nghiệp là sản phẩm của thân, khẩu,
ý, như hạt giống được gieo trồng, còn quả báo là kết
quả của nghiệp, như cây trái. Khi thân làm việc tốt,
khẩu nói lời hay, ý nghĩ chuyện đẹp, thì nghiệp là
hạt giống thiện. Ngược lại thì nghiệp là hạt giống
ác. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy: “Muốn sống một đời
cao đẹp, các con phải từng ngày từng giờ cố gắng
kiểm soát những hoạt động nơi thân khẩu ý chớ đừng
để cho những hoạt động nầy làm hại cả ta lẫn người.”
Nghiệp và quả báo tương ứng không sai chạy. Giống
lành sanh cây tốt quả ngon, trong khi giống xấu thì
cây xấu quả tệ là chuyện tất nhiên. Như vậy, trừ khi
nào chúng ta hiểu rõ ràng và hành trì tinh chuyên
theo luật nhân quả hay nghiệp báo, chúng ta không
thể nào kiểm soát hay kinh qua một cuộc sống như
chúng ta ao ước đâu. Theo Phật Pháp thì không có
thiên thần quỷ vật nào có thể áp đặt sức mạnh lên
chúng ta, mà chúng ta có hoàn toàn tự do xây dựng
cuộc sống theo cách mình muốn. Nếu chúng ta tích tụ
thiện nghiệp, thì quả báo phải là hạnh phúc sướng
vui, chứ không có ma quỷ nào có thể làm hại được
chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta gây tạo ác nghiệp,
dù có lạy lục van xin thì hậu quả vẫn phải là đắng
cay đau khổ, không có trời nào có thể cứu lấy chúng
ta..
Nghiệp
đi vào tiềm thức như thế nào?: Khi chúng ta hành
động, dù thiện hay ác, thì chính chúng ta chứng kiến
rõ ràng những hành động ấy. Hình ảnh của những hành
động nầy sẽ tự động in vào tiềm thức của chúng ta.
Hạt giống của hành động hay nghiệp đã được gieo
trồng ở đấy. Những hạt giống nầy đợi đến khi có đủ
duyên hay điều kiện là nẩy mầm sanh cây trổ quả.
Cũng như vậy, khi người nhận lãnh lấy hành động của
ta làm, thì hạt giống của yêu thương hay thù hận
cũng sẽ được gieo trồng trong tiềm thức của họ, khi
có đủ duyên hay điều kiện là hạt giống ấy nẩy mầm
sanh cây và trổ quả tương ứng.
Làm
thế nào để chúng ta triệt tiêu nghiệp?: Đức Phật dạy
nếu ai đó đem cho ta vật gì mà ta không lấy thì dĩ
nhiên người đó phải mang về, có nghĩa là túi chúng
ta không chứa đựng vật gì hết. Tương tự như vậy, nếu
chúng ta hiểu rằng nghiệp là những gì chúng ta làm,
phải cất chứa trong tiềm thức cho chúng ta mang qua
kiếp khác, thì chúng ta từ chối không cất chứa
nghiệp nữa. Khi túi tiềm thức trống rỗng không có
gì, thì không có gì cho chúng ta mang vác. Như vậy
làm gì có quả báo, làm gì có khổ đau phiền não. Như
vậy thì cuộc sống cuộc tu của chúng ta là gì nếu
không là đoạn tận luân hồi sanh tử và mục tiêu giải
thoát rốt ráo được thành tựu..
Phân Loại Nghiệp
Nhị Nghiệp: Có hai loại nghiệp hoặc
tốt hoặc xấu, hoặc cố ý hoặc không cố ý.
Tam Nghiệp: Có nhiều loại nghiệp,
nhưng đại để có ba loại: thân nghiệp, khẩu nghiệp và
ý nghiệp..
Tứ Nghiệp:
Lục Nghiệp:
Thập Nghiệp: Thập ác và thập
thiện—Thập Ác, and Thập Thiện Nghiệp.
III. Luân Hồi (ThíchTâm
Thiện)
A. Dẫn nhập
Luân hồi là một thể tài rất sinh động
và rất quan tâm đối với con người. Chết rồi sẽ đi
đâu về đâu? Tại sao sinh, rồi tái sinh? Có cõi âm
hay không? v.v... Ðó là những dấu hỏi lơ lửng trong
tâm của phần lớn nhân loại. Các nền tín ngưỡng và
tôn giáo trên thế giới đều có những quan niệm khác
nhau về luân hồi. Riêng đối với Phật giáo, luân hồi
không phải là một giáo lý đặc thù, cũng không phải
là một vấn đề triết học cơ bản, nhưng nó là một sự
thật hiển nhiên đối với những con người còn bị trầm
luân trong sanh tử khổ đau. Do đó, trong các kinh
điển của cả Nam tạng và Bắc tạng đề thảng hoặc đề
cập đến các vấn đề luân hồi, như là một hiện tượng
trôi chảy của những đời sống nối tiếp nhau. Ðặc biệt
là trong Bổn Sinh (Tiểu Bộ kinh) đã ghi lại các mẩu
chuyện tiền thân của Ðức Phật, như là một xác chứng
hùng hồn về cuộc sống luân hồi của vị đại Bồ tát.
B. Nội dung
I. Ðịnh nghĩa:
Luân hồi, tiếng Phạn là samsàra, có
nghĩa là sự chuyển sinh, sự chuyển tiếp, sự diễn
tiến liên tục của những kiếp sống; và sự chuyển sinh
liên tục đó, thường được biểu thị bằng bánh xe
(cakka) và được gọi là bánh xe luân hồi
(samsaracakka):
Chúng ta có thể hình dung bánh xe
luân hồi như là một "vòng tròn sinh sinh - hóa hóa"
của đời sống của muôn loài chúng sanh. Trên vòng
tròn ấy, không có điểm khởi đầu cũng không có điểm
kết thúc, và bánh xe ấy cứ quay mãi trong vòng trầm
luân của sanh tử khổ đau cho đến khi nào con người
tu tập và đạt đến sự giải thoát tối thượng. Ðức Phật
dạy:
"Ðêm dài đối với kẻ thức
Ðường dài đối với kẻ mệt
Luân hồi dài đối vớ kẻ ngu
Không biết rõ chân diệu pháp"
II. Nội dung luân hồi:
Sau khi thành thạo đạo cội bồ đề, một
trong những tuyên ngôn (khải hoàn ca) đầu tiên của
Ðức Phật đã được cất lên giữa dòng đời với nội dung
giải thoát vòng luân hồi - trầm luân, đã được ghi
lại trong kinh tạng như sau:
Trong lòng sống chết vô tận
Ta đi mãi không dừng
Từ bào thai này sang bào thai khác
Ðuổi theo người chủ ngôi nhà
(trong vòng luân hồi)
Chủ nhà ! Ta đã nắm được ngươi rồi
Ngươi không cất nhà lại được
Cột kèo đã gãy hết
Mái, rường đã sụp đổ
Tâm lìa hết tạo tác
Tất cả đã diệt trừ xong
(giải thoát khỏi vòng luân hồi). (Pháp cú - 153-154)
1. Luân hồi - tái sinh:
Qua bài kinh trên, chúng ta thấy rõ
Ðức Phật đã xác định sự thật về luân hồi một cách cụ
thể qua hình ảnh tái sinh (từ bào thai này sang bào
thai khác). Tái sinh (reincarnation) là sự trở lại
một đời sống mới hoặc cao hơn, hoặc thấp hơn hoặc
như cũ trong lục đạo (trời, người, a tu la, địa
ngục, ngạ quy3, súc sinh) sau khi đã kết thúc một
chu kỳ sống (life cycles), hay cò gọi là thọ mạng đã
hết - chết.
Thông thường, khi nói đến luân hồi -
tái sinh, trong phật giáo thường đề cập đến hai khái
niệm cơ bản về sự sinh tử, đó là:
a. Chu kỳ sinh tử của từng sát na
b. Chu kỳ sinh tử của một đời sống
- Về chu kỳ sinh tử của từng sát na,
vì nó diễn ra quá nhanh chóng như sự sinh ra rồi mất
đi của một làn chớp (điện chớp) mà thuật ngữ Phật
học gọi là "niệm niệm - sinh diệt" (sư5 sinh tử diễn
ra trong từng ý niệm), do đó vấn đề chỉ được bàn đến
trên một bình diện cao hơn, như trong thiền định,
hoặc các cảnh giới của tâm thức v.v...
- Về chu kỳ sinh tử của một đời sống,
do tính cách giới hạn của một chu kỳ sống, nghĩa là
có thể ghi nhận qua bốn giai đoạn: sanh, lão, bệnh,
tử và / hoặc sinh thành (sinh), tồn tại (trụ), biến
chuyển (dị) và hoại diệt (diệt) của một chúng sinh,
nên chu kỳ này trở thành chủ đề trung tâm khi nghiên
cứu về luân hồi-tái sinh.
Theo quan điểm của Phật giáo, tất cả
muôn loài chúng sinh phải chịu sự chi phối của định
luật vô thường. Ðối với con người, vô thường chính
là sự biểu hiện của sinh, lão, bệnh, tử của mỗi kiếp
sống, và cứ mỗi kiếp sống như thế đều được giới hạn
bởi hai d9ầu sinh và tử. Tuy nhiên, sinh và tử chỉ
là sự bắt đầu và hoàn tất của một chu kỳ, Như thế,
khi thân xác này hủy hoại, cái gì sẽ tiếp tục tái
sinh - mở đầu một kiếp sống mới? Ðây là then chốt để
tìm hiểu về luân hồi.
Kinh trung bộ (Majjhima Nikaya -
135), Ðức Phật dạy rằng: "Con người là chủ nhân của
nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, là quyến thuộc của
nghiệp; nghiệp là thai tạng mà đó con người được
sinh ra".
Từ lời dạy trên, chúng ta thấy rằng
nghiệp (karma) luôn luôn có mặt cùng với sự có mặt
của con người. Và khi chết, thì thân thể vật lý này
tan hoại, còn nghiệp vẫn còn tiếp tục trôi lăn theo
dòng trầm luân của nó (hoặc thiện nghiệp, hoặc ác
nghiệp). Nhưng nghiệp không phải là linh hồn bất tử
để nối kết các kiếp sống, vì bản thân nó là vô ngã.
Tuy nhiên, chính nghiệp là cơ sở, là điểm trung tâm,
để qua đó, vòng luân hồi xoay chuyển. Vậy, nghiệp là
gì?
Nghiệp là hành động có tác ý, hay
hành động được phát sinh từ tâm; và thông qua hành
động của thân, miệng và ý mà nghiệp được hình thành.
Nói đến nghiệp là nói đến thiện ác trong tương quan
nhân quả; và trong mối tương quan đó, động cơ chính
để kiến tạo nghiệp là tham , sân, si (ác nghiệp) và
ngược lại là không tham, không sân, không si (thiện
nghiệp).
Từ đây, chúng ta thấy rõ rằng, chính
tâm lý của mình là cơ sở để tạo nên nghiệp của mỗi
người. Con người là kẻ quyết định cái nghiệp của
mình - cái định nghiệp do mình tạo tác. Và cũng
chính con người là kẻ duy nhất có thể giải thoát mọi
nghiệp lực của mình, đi ra khỏi vòng luân hồi tái
sinh.
2. Nghiệp và tái sinh:
Trong đạo Phật, nghiệp được trình bày
gồm nhiều loại, nhưng nghiệp cơ bản là thân nghiệp,
khẩu nghiệp và ý nghiệp. Về mặt tính chất, nghiệp
được phân thành bốn loại như sau:
a. Cực trọng nghiệp (weighty karma):
nghiệp loại nặng như giết cha mẹ, giết người v.v...
b. Tập quán nghiệp (habitual karma):
nghiệp do thói quen hình thành.
c. Tích lũy nghiệp (strored up
karma):
nghiệp do tích tụ từ cuộc sông thường ngày.
d. Cận tử nghiệp (death-proximate
karma):
nghiệp lúc sắp chết.
Như đã trình bày, trong suốt vòng
luân lưu của sinh tử, tử sinh, từ đời sống này sang
đời sống khác, nghiệp bao giờ cũng đóng vai trò
trung tâm của sự luân chuyển. Tuy nhiên, trong lĩnh
vực tái sinh (reincarnation), thì cận tử nghiệp là
điều kiệnn quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến
sự tái sinh.Cận tử nghiệp, trên một góc độ nào đó,
có thể nói là hệ quả được cô kết trong suốt đời sống
của một kiếp người; đồng thời, nó cũng là dòng
nghiệp thức mạnh nhất,thức đẩy thần thức của con
người trước, trong hoặc sau khi chết tìm kiếm một sự
tái sinh.
Thông thường khi sinh tiền, con người
làm lành hay làm ác, các hành động (của thân, miệng
ý) đó đều được lưu vào trong Tàng thức (Alaya) như
những hạt giống được gieo vào và nằm im trong lòng
đất, cho đến khi sắp chết hoăc chết, thân thể và các
quan năng không còn hoạt động, lúc bấy giờ chỉ có
tâm thức hoạt động. tuy nhiên, tâm thức lúc đó không
phải là tâm thức ở trạng thái định tĩnh, tự chủ,
linh hoạt v.v.., mà trái lại nó rơi vào trạng thái
bất tỉnh, hôn mê, hoảng hốt, phách lạc hồn xiêu
...Và ngay lúc bấy giờ, mọi tạo tác của con người,
hoặc thiện hoặc ác (còn gọi là thiện nghiệp hoặc ác
nghiệp), từ trong qua1 khứ (khi còn sống) sẽ tạo
thành dòng nghiệp thức gồm những ý lực cực mạnh để
thôi thúc thần thức của con người đi tìm cảnh giiới
tái sinh. Cần lưu ý rằng, các tập quán, thói quen,
nhất là sự luyê1n ái, chấp thủ khi còn sống sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến cận tử nghiệp. Do đó, nếu sống an
lạc thì cũng chết an lạc. Sống còn khổ đau vì tham,
sân, si thì đương nhiên chết cũng khổ đau như thế.
Vì sống và chết chỉ xuất hiện trên một tiến trình,
như thức và ngủ. Vì vậy, để có sự giải thoát, ngay
tại đây và bây ggiờ, cần phải luôn luôn hướng tâm
đến với sự xả ly thanh tịnh, xoá bỏ mọi sự tham ưa
và bám víu. Thánh nhân có dạy rằng: "Thế gian như
một con thuyền, hãy đi trên nó chứ đừng mang
vác...".
Từ một vài chi tiết trên, chúng ta
thấy rằng sự sống và sự che61t của con người có được
an lạc hay không là tùy thuộc vào dòng tâm thức của
mỗi cá thể. Sau khi thọ mạng đã hết - chết, thì thân
xác sẽ tan hoại, nhưng dòng nghiệp thức (thần thức)
sẽ tiếp tục đi vào các đời sống mới trong sáu cõi:
trời, người, a tu la , địa ngục, ngạ quỷ và súc
sanh, tùy theo nghiệp lực thiện hay bất thiện.
3. Nghiệp thức - sinh và tái sinh:
Theo kinh Trung Bộ (tập I), sự xuất
hiện của con người bao giờ cũng hội đủ 3 điều kiện:
a. Cha mẹ có gaio hợp; b. Người mẹ có thể thụ thai;
và c. Phải có mặt nghiệp thức. Nếu không có mặt
nghiệp thức thì thai nhi không thể sống.
Về nghiệp thức (karmic
consciousness), còn được gọi là hương ấm, hay là
Kiết sinh thức (Gandhabha). Khi điều kiện hội đủ và
do nghiệp chiêu cảm mà kiết sinh thức đi vào thai
mẹ; lúc bấy giờ, Kiết sinh thư1c cảm như là "ý niệm
tối sơ; của một đời sống mới. Cho đến khi chết, cũng
dòng nghiệp thức ấy thúc đẩy tìm kiếm tái sinh, nên
được gọi là "nghiệp dẫn tái sinh". Thực ra, cả sự
sinh và tái sinh đều được căn cứ trên dòng vận hành
của nghiệp thức. Và từ sinh cho đến tái sinh (sau
khi chết), trong suốt quá trình đó, đời sống của một
sinh thể được hình thành qua cơ cấu của 12 Nhân
duyên: vô minh - duyên hành, hành duyên thức, thức
duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập
duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên
thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão,
tử, sầu, bi, khổ, ưu não... (về ý ngghĩa của 12 Nhân
duyên, sẽ được giới thiện sau. Như vậy, 12 nhân
duyên chính là sự hiện hữu của con người. Và trong
12 Nhân duyên, các chi phần vô minh, hành, thức và
danh (sắc) là các yếu tố của nghiệp dẫn tái sinh.
4. Các quan niệm về chết và thân
trung ấm:
Trong Nikàya đề cập đến sự chết cụ
thể như sau: thứ nhất là chết sắc thân đoạn diệt,
hai là chết do thọ mạng đã hết, và do nghiệp ở đời
đã hết. Bên cạnh đó, còn có trường hợp chết đột ngột
(bất đắc kỳ tử, chưa đến lúc mà chết). Nhìn chung,
sự chết được xem như là sắc thân (cơ thể) đã đoạn
diệt.
Một vấn đề khác nữa là trung ấm. Theo
một số chủ thuyết của Ðông sơn bộ, Chính lượng bộ
thuộc Hữu bộ cho rằng, sau khi chết và trước khi tái
sinh, oở giữa đó là thân trung ấm (trung gian). Thời
gian của thân này là thời gia chuẩn bị tái sinh, nó
kéo dài không quá 49 ngày (theo Thiết Ma Ðạt Ða). Có
thể do ảnh hưởng của không quá niệm này mà có tục lệ
cúng thất - thất trai tuần (7 x 7 = 49 ngày).
Tuy nhiên, theo Nikàya và A Hàm thì
từ "tử tâm" cho đến "kiết sinh tâm" chỉ diễn ra
trong vòng một đến hai sát na (tích tắc), do đó
không cần có thân trung ấm (trung hữu).
Thật ra, theo người viết nhận định,
thân trung ấm cũng là một thân vi tế (tịnh sắc
thân), một cảnh giới trong hằng hà sa thế giới; và
đương nhiên nó cũng vô thường, biến dị, cũng luân
hồi sinh diệt. Vì thế, không có gì mâu thuẫn giữa
"tử tâm" và "kiết sinh tâm" trong Nikàya với quan
điểm có hay không có quan điểm sắc thân trung ấm. Vì
lẽ, thời gian 49 ngày cho một thân - thức đương
nhiên không có gì vô lý khi tại trần gian có những
đời sống dài nhất chỉ một vài ngày, như loài muỗi
mòng v.v...
5. Ðể có một sự chết trong thanh bình
- an lạc:
Ðây là vấn đề trọng yếu của con
người, Như đã đề cập, sống và chết cũng như thức và
ngủ, vậy thôi. Chúng ta không nên quan tâm quá đáng
về cái chết, vì ai cũng chết. Nhưng điều đáng quan
tâm hơn là sống và sống như thế nào để lúc chết được
bình an. Vì lẽ đó, đối với Phật tử cần phải sống giữ
tâm linh trong sạch, đừng làm điều gì gây khổ đau
cho chính mình và cho kẻ khác, nhất là phải luôn
luôn ý thức rằng cuộc đời là vô thường, "trần gian
này là chiếc cầu, hãy đi qua nó chứ đừng xây nhà
trên nó". Cho đến khi nào tâm được trong sạch, thanh
bình, không còn luyến tiếc, không còn bám víu vào
bất cứ điều gì, dầu gia tài sự nghiệp, dầu vợ đẹp
con ngoan v.v..., thì khi đó sự chết của bạn như lên
thuyền sang sông, giải thoát mọi khổ đau, chết trong
sự bình an phúc lạc. Ðức Phật dạy:
"Bỏ quá khứ, hiện tại và vị lai
Ðến bên kia cuộc đời
Ý giải thoát tất cả
Chớ vướng bận sinh, gia, bệnh, chết"
C. Kết luận:
Tìm hiểu về luân hồi là để sống được
an nhiên, tự tại. Chúng ta không cố tìm gặp luân
hồi, vì luân hồi đang trôi chảy ngay trên thân của
mỗi con người, như dòng máu luân lưu. Cái khổ đau
nhất của người đời là tham muốn và nắm giữ các đối
tượng "của tôi" và của "cái tôi thích, tôi yêu". Bạn
có thể tập buông bỏ từ từ cái tâm lý tham muốn và
nắm giữ đó, nhưng nếu một mai...khi vô thường đến,
thần chết đến hỏi bạn thì bạn hãy ngay lập tức hướng
tâm đến sự từ bỏ tất cả, sự không tham luyến tất cả,
sự thanh tịnh bình an, sự chánh niệm tỉnh giác; vì
đó là điều kiện tối cần thiết cho sự tái sinh vào
một đời sống tốt đẹp hơn và cao cả hơn. Và để làm
được điều đó ngay bây giờ và ở đây, bạn hãy thực tập
tư duy về vô thường - vô ngã.(Thư Viện Hoa Sen)
IV. Trích Dẫn
·
Nguyên nhân luân hồi và phương pháp
giải thoát
Vua Di Lan Ðà thỉnh Na Tiên
vào hoàng cung
Vua hỏi:
-- Bạch Ðại Ðức, có ai chết rồi mà
không sanh trở lại không?
-- Tâu Ðại Vương, có kẻ sanh trở lại
mà cũng có kẻ không sanh trở lại.
-- Những ai sanh trở lại và những ai
không sanh trở lại?
-- Ai còn nặng nợ tham dục ái ân, kẻ
đó còn sanh trở lại đời sau. Ai đã thoát khỏi vòng
tham dục ái ân, người đó không còn sanh trở lại nữa.
-- Bạch Ðại Ðức, kẻ nào nhất tâm niệm
chánh pháp có thoát khỏi luân hồi không?
-- Tâu Ðại Vương, nhất tâm niệm chánh
pháp mà lại còn phải đạt được trí ruệ và các điều
thiện khác nữa thì mới thoát khỏi luân hồi.
-- Nhứt tâm và trí tuệ có đồng nghĩa
nhau không?
-- Không.
-- Gia súc như bò, ngựa, chó, mèo...
có trí tuệ không?
-- Chúng có nhứt tâm nhưng không có
trí tuệ.
-- Nhứt tâm và trí tuệ khác nghĩa
nhau như thế nào?
-- Nhứt tâm là định. Có định mới hiểu
biết. Trí tuệ là đoạn. Nhờ trí tuệ mà cắt đứt được
phiền não mê lầm và chặt dứt luân hồi sanh tử.
-- Xin ví dụ cho trẩm dễ hiểu.
-- Ðại Vương từng thấy thợ gặt lúa
chứ? Tay trái họ gom bụi lúa lại, trong khi đó thì
tay mặt họ cầm lưỡi hái mà cắt. Cũng giống như thế,
nhà tu hành dùng nhứt tâm gom tư tưởng lại và dùng
lưỡi hái trí tuệ cắt đứt phiền não ái dục. Phiền não
ái dục đã cắt đứt thì vĩnh viễn không còn tái sanh.
Luần hồi chấm dứt.
-- Hay thay! Hay thay! Ví dụ của Ðại
Ðức rõ lắm.
*.Tương quan giữa thân trước và thân
sau.
Vua
hỏi:
-- Bạch Ðại Ðức, kinh Phật nói con
người sau khi chết, tiếp tục thác sanh trở lại theo
nghiệp lành dữ đã gây, như vậy đó là con người cũ
hay là một con người mới nào khác?
-- Tâu Ðại Vương, không phải con
người cũ, nhưng cũng chẳng phải lìa con người cũ ra
mà sanh một con người mới khác.
-- Như thế nghĩa là thế nào?
Na Tiên chụp hỏi lại:
-- Bệ hạ hồi còn bú vú mẹ với bệ hạ
cai trị trăm họ bây giờ có khác gì nhau không?
-- Khác chứ! Hồi đó trẫm nhỏ dại, bây
giờ trẫm lớn khôn.
-- Như vậy thì lệnh mẫu hoàng hồi đó
không phải mẫu hoàng ngày nay! Lệnh phụ hoàng cũng
thế! Và bệ hạ cũng chẳng có phụ đạo. Vì ông thầy ấy
chỉ dạy đứa bé mươi mười lăm tuổi cách đây mấy chục
năm, chứ đâu có dạy bệ hạ bây giờ! Thân trước thân
sau khác nhau thì mẹ đứa bé không phải là mẹ nhà
vua! Người học trò thuở trước cũng không phải nhà
vua trong hiện tại! Và kẻ phạm tội giết người năm
ngoái không phải là người bị cáo ra tòa ngày nay! Bệ
hạ làm sao buộc tội được người ấy?
-- Bạch Ðại Ðức, không phải như thế.
Nhưng có ai hỏi Ðại Ðức về khoản nầy thì Ðại Ðức
giải đáp ra sao?
-- Tâu Ðại Vương, thân bần tăng lúc
nhỏ với thân bần tăng bây giờ cũng là một thân mà
thôi. Thân ấy từ nhỏ đến lớn, trải qua nhiều quảng
đời khác nhau, nhưng vẫn được liên tục nuôi dưỡng
bởi một sinh mạng.
-- Xin cho thí dụ.
-- Ví như một ngọn đèn thắp từ đầu
hôm nó có thể cháy mãi cho tới sáng không?
-- Có thể.
-- Lửa ngọn đèn thắp lên từ đầu hôm
với lửa ngọn đèn lúc nửa đêm và lửa ngọn đèn lúc gần
sáng có phải là một không?
-- Không.
-- Trong ba khoảng thời gian khác
nhau ấy, người ta có đốt ngọn đèn nào khác không?
-- Vốn chỉ một ngọn đèn với một cái
bấc và cùng một loại dầu từ đầu hôm cho đến tảng
sáng.
-- Trong con người cũng như thế đó,
tâu Ðại Vương. Pháp nầy đi thì pháp kia tới, trước
sau tiếp nối nhau, không ngừng mà nuôi dưỡng tinh
thần. Từ khi sinh ra cho đến lớn lên rồi già chết,
nó lại thú hướng đến một kiếp sống khác, cứ thế
triển chuyển tương tục hoài hoài. Cho nên nói rằng
thân cũ sanh trở lại thì không đúng, nhưng nói lìa
thân cũ ra mà có một thân mới khác cũng không được.
Lại ví như sữa tươi mới vắt, để lâu thì thành sữa
ôi, thành bơ... Nói sữa tươi là bơ thì hẳn không
phải, nhưng nói bơ không do sữa tươi mà ra thì cũng
sai. Cũng tương tợ như thế, con người sinh ra với
tinh thần và sau khi sinh thì lớn, già, rồi chết.
Chết rồi nó lại mang một thân mới mà sinh trở lại.
Mất thân trước, nó liền thọ thân sau. Cho nên nói
người đầu thai sinh trở lại và người đã chết là một
thì không đúng, mà nói chúng tách lìa khỏi nhau cũng
chẳng nhằm.
-- Hay thay! Hay thay!
*.Tự biết hết tái sanh
Vua
hỏi:
-- Bạch Ðại Ðức, người không còn tái
sanh nữa có thể tự mình xác tri việc đó được không?
-- Tâu Ðại Vương, có thể được.
-- Bằng cách nào?
-- Ai tự biết mình không còn ân ái,
không còn tham dục, không có dụng tâm làm điều dữ,
người đó tự biết chắc không còn tái sanh trên cõi
đời nầy nữa.
-- Xin cho ví dụ.
-- Ví như người làm ruộng, đầu mùa lo
cày bừa, gieo giống, cấy mạ thì đến cuối mùa thu
hoạch nhiều lúa cất chứa trong vựa. Qua năm sau nếu
người ấy không cày bừa, gieo giống và cấy mạ nữa, mà
chỉ tiêu dùng số lúa còn dự trữ của năm trước, như
vậy người ấy có thể tự biết rằng mình không gặt lúa
nữa không?
-- Biết chứ!
-- Bằng cách nào?
-- Không cày, không gieo, không cấy,
tức nhiên không có lúa mà gặt.
-- Bậc tu hành đắc đạo cũng giống như
thế. Quên ân ái, xả khổ vui, không tham dục, tức như
không cày, không gieo, không cấy. Ðương nhiên là sẽ
không gặt quả tái sanh. Vì vậy, bậc đắc đạo biết
chắc rằng đời sau mình không còn tái sanh trên thế
gian nầy nữa.
*.Không Bị Ðịnh Luật Nhân
Quả Chi Phối
Trong truyện cổ Phật giáo (chuyện
nàng Bhadda), Nàng hỏi Xá Lợi Phất :
- Cái thực còn bị định luật nhân quả
chi phối hay không, còn bị định luật nhân quả chi
phối? Hãy trả lời ngay đi. Hãy trả lời mà đừng hủy
hoại ngôn ngữ, như dao chém nước.
-- Này nàng Bhađda! -- Tôn giả Xá lợi
Phất vẫn kiên định như phong thái của con mảnh sư --
chẳng cần phải lớn lối như thế. Hãy nghe đây, nếu
cái thực ấy mà còn định luật nhân quả chi phối thì
cái thực ấy chỉ là khổ đau, nhiệt não, tử sanh. Nếu
cái thực ấy không còn bị định luật nhân quả chi phối
thì đồng nghĩa với hư vô, cái không thực hữu, cái vô
tự tính, cái ngoang không niết bàn.
Này nàng Bhađda, hãy nghe đây! Ðây là
cái dao chém nước như nàng muốn. Cái thực ấy là cái
sáng suốt, mặt trời đại huệ. Cái thấy từ tâm, trí,
tư tưởng trí mà có, từ tuệ, tuệ minh, cái tuệ minh
ấy nó có trong tâm của bậc giác ngộ, bậc A La Hán,
kẻ đã đoạn tận lậu, hoặc giải thoát khổ đau và phiền
não; này nàng Bhađda cứ như thế mà thọ trì! (Thực
Tại và Chí Ðạo, trang 121, 122)
V Pháp Hành
Muốn vượt khỏi dòng bộc lưu sanh tử,
trước tiên hành giả phải tu pháp vô tự ngã là
căn bản trong bước đầu tập thiền định.
1.
Hành Ðoạn Trừ Lậu Hoặc
a). Hành
giả cần tư duy sự bất thiện và hậu quả
của lậu hoặc như dục tham, hữu tham, tà kiến và vô
minh, vì những cấu uế nầy tiết lậu từ các căn môn
không được thúc liểm, như nước rỉ từ bình
chảy, hoặc vì chúng phát sanh những khổ sanh tử. Nhờ
tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa
sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được
trừ diệt. Vị ấy như lý tác ý:
"Đây là khổ", vị ấy giác tri;
: "Đây là khổ tập", vị ấy giác tri;
"Đây là khổ diệt", vị ấy giác tri;
: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt"
vị ấy giác tri.
Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử
được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Các
pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến
được đoạn trừ
b).
bằng phòng hộ là biết được lậu hoặc nguy hiểm
như vậy mà phòng thủ là không cho nó lộ ra nghĩa là
nhốt nó nó trong lòng không nghĩ nó nữa. làm thế nào
là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ?
.”Sống phòng hộ với sự phòng hộ con
mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn
nữa”. Vị ấy giác tri;
“Sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ
tai... (như trên)”
“Sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗi
mũi... (như trên)”;
“Sống phòng hộ với sự phòng hộ
lưỡi... (như trên)”;
“Sống như lý giác sát phòng hộ với
sự phòng hộ thân căn... (như trên)”;
.”Sống như lý giác sát phòng hộ với
sự phòng hộ ý căn. các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy không còn nữa”
Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc
phải do phòng hộ được đoạn trừ.
c).
bằng thọ dụng
Các vị như lý giác sát, thọ dụng y
phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn
ngừa sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt
trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự
trần truồng. Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn
khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam
mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm
đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được
bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hổ
trợ phạm hạnh,
Nghĩ rằng (giác tri): "Như vậy, ta
diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các
cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an
ổn".
Vị ấy như”lý
giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh,
ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc phạm của ruồi,
muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ
để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục
đích sống độc cư an tịnh; vị ấy như lý giác sát thọ
dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm
giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.”
. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa, các pháp
ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được
đoạn trừ
d).
bằng kham nhẫn
Hành giả như lý giác sát, kham nhẫn
lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc phạm của ruồi, muỗi,
gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn
những cách nói mạ lỵ, phỉ báng. Vị ấy có tánh kham
nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ,
khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng,
không thích thú, chết điếng người.
Nếu vị ấy nghĩ
“kham nhẫn như vậy, các
lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.”
Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc
phải do kham nhẫn được đoạn trừ.
e)
bằng tránh né
Hành giả như lý giác sát tránh né voi
dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó
dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước
nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng đáng
ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè
ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh
có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát
tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không
nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy.
Vị ấy “giác tri tránh né
như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không
còn nữa.”
, các pháp ấy được gọi là các lậu
hoặc phải do tránh né được đoạn trừ
f).
bằng trừ diệt
Hành giả như lý giác sát không có
chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt,
diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có
chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt,
diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có
chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt,
diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không
chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên,
từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác
bất thiện pháp ấy). Vị ấy
“giác tri trừ diệt như vậy, các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa”.
Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc
phải do trừ diệt được đoạn diệt.
g).
bằng tu tập
H ành giả như
lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này
y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ;
như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi... (như
trên)... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác
chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác
chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn
ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy “giác
tri tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt
não ấy không còn nữa.”
Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc
phải do tu tập được đoạn trừ.
VI. Kết Luận
Ðể được giác ngộ giải thoát khỏi dòng
bộc lưu sanh tử luân hồi và quả báo, Phật đã dạy rất
nhiều trong các kinh điển về pháp học cũng như pháp
hành. Ðiều quan trọng là phải trau giồi phẩm hạnh
tức giới luật nghiêm minh và rèn luyện trí tuệ.
Trong việc tu tập sự rèn luyện trí tuệ là thiết yếu
soi sáng vô minh u tối để mở ra con đường sáng chiếu
rọi cho gới luật rõ ràng mà thúc liểm thân tâm miêm
mật mới có thể thoát khỏi mọi cám dỗ của dục lạc
và vô minh là gốc luân hồi. Ðạo Phật lấy Từ Bi và
Trí Tuệ làm căn bản cho việc tu tập. Trong vấn đề tự
giác và giác tha đó, khi người tu sĩ tự mình giác
ngộ rồi mới có cơ may giúp ích được người khác.
Từ Bi là hình thức tu sĩ phải lột bỏ cái bản ngã của
mình có mà phục vụ tha nhân. Thiền định là con đường
tối ưu thanh lọc và đoạn tận các lậu hoặc cũng như
các việc bất thiện khác để trở thành tâm thánh thiện
an tịnh vượt khỏi mọi hệ lụy đến sanh tử luân hồi.Trong
các pháp tu tập ấy, Phật dạy trước tiên phải dẹp bỏ
tự ngã của mình mà trau dồi phẩm hạnh (giới luật)
và rèn luyện tâm trí, đó là tu pháp vô tự ngã và
các pháp thiền định là căn bản.