|
|
|
|
-o0o-
Lời Đầu Sách
Chúng
tôi viết quyển sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước
đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi
sai, những bước sau khó mà đúng được. người học Phật khi mới vào đạo
không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.
Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần
phải xây dựng một cơ sở vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy.
Hiểu Phật giáo một cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân
chính.
Vì muốn
chỉ lẽ chính tà cho người mới vào đạo khỏi lầm lẫn, nên chúng tôi
mạnh dạn chỉ thẳng những điều sai lầm hiện có trong Phật giáo. Làm
như thế, không có nghĩa la chúng tôi muốn vạch lưng chỉ thẹo cho kẻ
khác thấy, mà cốt yếu muốn gầy dựng lại nếp sống Phật giáo phù hợp
với hiện tại và mai sau. Chúng ta sống trong thời khoa học, cấn phải
truyền bá Phật giáo thích ứng với chân lý gần với sự thật, chúng ta
đừng làm méo mó khiến kẻ bàng quan hiểu lầm Phật giáo. Với nhiệt
tình chúng tôi một bề đả phá những mê tín đang ẩn náu trong Phật
giáo, để cho bộ mặt Phật giáo trắng sạch hơn, không còn những thứ lọ
nhơ làm cho lem luốc. Tinh thần tồi tà phụ chính, chúng tôi chịu
trách nhiệm với những gì chúng tôi đã nói và hoàn toàn chịu trách
nhiệm với những ai không hài lòng phiền trách chúng tôi.
Kính ghi
THÍCH THANH TỪ
LUÂN HỒI
I- MỞ
ĐỀ
Có một
số người bảo “nhà Phật nói luân hồi để ru ngủ con người trong giấc
mơ mê tín “. Chúng ta khảo sát kỹ coi câu ấy có đúng thế không? Đó
là nhiệm vụ của người truyền bá Phật giáo, cần phải làm sáng tỏ vấn
đề này. Bởi thuyết luân hồi là một thuyết quan trọng trong nhà Phật.
Nếu là mê tín thì trong đạo Phật mê tín hay sao? Hẳn không phải thế,
đạo Phật là đạo giác ngộ, truyền bá những lẽ thật của mình giác ngộ
cho chúng sinh biết là nhiệm vụ của đức Phật, cần phải nghiên cứu
tường tận giải bày rõ ràng để mọi người được hiểu khỏi sinh nghi ngờ
là một diều cần yếu không thể thiếu được. Lý luân hồi là một cơ cấu
hệ trọng trong Phật pháp, bao gồm cả nhân quả, nghiệp báo là căn bản
đạo đức của người tu Phật. Không thông lý luân hồi, người Phật tử
khó bề tiến tu được. Do đó chúng ta cần phải hiểu cho thấu đáo.
II-
ĐỊNH NGHĨA
Luân hồi
là xoay vần, cứ mãi đảo lên lộn xuống xoay vần trong khuôn khổ cố
định. Mọi sự đổi thay biến chuyển không đứng yên một vị trí nào.
Hằng xê dịch biến thiên từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ
hình tướng này sang hình tướng khác. Tất cả sự biến thiên tùy duyên
thăng trầm không nhất định là luân hồi.
III-
LUÂN HỒI LÀ SỰ THẬT
Qua định
nghĩa trên, chúng ta thấy luân hồi là một triết lý thực tiễn không
còn gì phải nghi ngờ. Bởi vì con người và vũ trụ hiện tại đều nằm
chung trong một định luật “biến thiên”.
a/
Quả đất luân hồi: Nhờ khoa học phát minh
cho biết quả địa cầu chúng ta đang ở xoay tròn quanh một cái trục
trong không gian. Do sự xoay tròn này, phía nào của mặt trời là
sáng, phía bị khuất là tối. Từ đó, con người mới đặt ra thời gian.
Sự xoay tròn này không phải luân hồi là gì ? Quả đất xoay khiến có
ngày đêm và hai mươi bốn tiếng đồng hồ nhịp nhàng theo chiều
quay của trái đất, lại có chia Xuân, Hạ, Thu, Đông, do sự xê dịch
gần và xa mật trời. Từ sự xoay tròn của quả đất, nảy sinh thời gian,
thời gian và trái đất đều là luân hồi. Quả đất là chỗ tựa nương để
sống còn của vạn vật và con nguời; bản thân nó đã luân hồi thì những
vật tựa nương vào nó thì làm sao thoát khỏi luân hồi. Thế thì cả vũ
trụ lẫn vạn vật cùng toàn thể chúng sinh đều là luân hồi. Đó là một
sự thật căn cứ trên khoa học, chứ không phải là chuyện huyền thoại
mơ hồ. Thể theo sự nhận xét tổng quát này, chúng ta cần đi chi tiết
hơn cho dễ hiểu.
b/
Vạn vật luân hồi: Muôn vật trên quả địa
cầu đều cùng chung luân hồi.
Về sinh
vật từ cái cây cọng cỏ bởi do hạt nảy mầm tăng trưởng thành cây,
sinh hạt, đảo đi lộn lại mãi không cùng. Các loài động vật thì từ
trứng nở thành con, con lại sinh trứng; hoặc từ bào thai thành hình,
khi trưởng thành lại có bào thai, lẩn quẩn loanh quanh không cùng.
Đó là chúng ta nói sự luân hồi trong cuộc tiếp nối. Đến ngay bản
thân sự vật cũng bị luân hồi, chúng sinh trưởng thành là do đất,
nước, gió, lửa, khi tan hoại cũng trở về đất, nước, gió, lửa, tụ lại
tán ra theo duyên biến chuyển chẳng cùng. Bản thân đất, nước, gió,
lửa cũng bị luân hồi. Như sáng sớm chúng ta lấy thau múc một phần ba
thau nước đem để ngoài trời nắng, đến chiều thau nước cạn khô. Thử
hỏi nước đi đâu? Nước mất hết rồi sao? Nước không đi đâu, nước cũng
chẳng mất, chẳng qua nước là thể lỏng do ánh nắng nóng bốc lên thành
thể hơi, hơi theo gió bàng bạc trong hư không nào có định xứ. Thể
hơi gặp khí lạnh đọng lại rơi xuống thành nước, nước lại bốc thành
hơi, cứ thế mãi luân hồi không cùng. Gió, lửa, đất cũng thế, tùy
duyên từ hình thái này đổi sang hình thái khác, đổi đổi thay thay
không có ngày cùng. Tìm chỗ bắt đầu và chung cục của chúng không thể
được. Hình tướng trạng thái luôn luôn đổi thay, sự thật vẫn không
bao giờ mất. Từ một hình tướng thô đổi thành một trạng thái tế, với
cái nhìn thô thiển người ta bảo là mất, thật sự nào có mất chỉ là
biến thái.
c/
Con người luân hồi: Nói đến con người tạm
chia thành hai phần, vật chất và tinh thần, như bóng đèn và điện.
Ngọn đèn phát huy được ánh sáng phải có đủ hai điều kiện hỗ tương
nhau. Có bóng đèn mà không có điện trở thành vô ích, có điện mà
không có đèn cũng vô nghĩa. Sự hỗ tương giữa điện và bóng đèn không
thể tách rời, không thể đặt giá trị thiên trọng, không thể xem như
chủ khách. Cần phải thấy sự tương quan bất khả phân ly. Tinh thần và
vật chất của con người cũng thế, mọi sự phân chia khinh trọng...đều
sai ý nghĩa chân thật của nó. Vì muốn thấy sự luân hồi tường tận,
chúng ta tạm nhìn con người ở hai mặt để dễ bề nhân xét:
-Vật chất luân hồi: phần vật chất nơi
con người, nhà Phật chia tổng quát làm 4 phần: đất, nước, gió, lửa.
Những loại cứng trong thân người như : da, thịt, gân, xương, tóc,
lông, răng, móng...thuộc về đất. Các loại ửớt như : máu mủ, mồ hôi,
đàm dãi, nước mắt, nước mũi...thuộc về nước. Hít không khí vào cho
phổi hô hấp, quả tim đập, các mạch máu chảy.... mọi thứ động thuộc
về gió. Nhiệt độ trong người làm cho thức ăn tiêu hóa, máu không
đông đặc, ấm áp toàn thân.... thuộc về lửa. Bốn thứ này thiếu một là
con người chết ngay. ở đây chúng ta phân tích sự luân hồi từng thứ:
+ Đất
luân hồi: Thâu nhận tế bào mới, đào thải
tế bào cũ. Thay mới đổi cũ không thể nào dừng, ấy là luân hồi. Cho
đến thân này sống nhờ những thứ có chất bột (đất), khi chết nó tan
hoại trở thành đất, khi sống mượn những chất đất bồi dưỡng, lúc chết
trả lại cho đất. Hợp lại tan ra, tan ra hợp lại, không phải luân hồi
là gì?
+
Nước luân hồi: Máu từ quả tim chạy khắp
các mạch, , rồi trở về quả tim, chạy ra trở về, trở về chạy ra, sự
tuần hoàn như vậy gọi là luân hồi. Cho đến khi sống mượn nước đem
bồi bổ chất ướt trong thân, lúc chết chảy ra trở về lòng đất. Sự
mượn trả mà không bao giờ mất ấy gọi là luân hồi.
+ Gió
luân hồi: Hít không khí vô, thở không khí
ra, hít vô thở ra cả đời như vậy là luân hồi. Nhờ cái động của thở
hít không khí mà các cơ quan trong toàn thân hoạt động, các cơ quan
hoạt động là thân sống. Đến khi thở không khí ra mà không hít lại,
liền ngừng hoạt động, tức là thân chết. Thế thì là sự sống của thân
này đích thực do luân hồi của gió, gió ngưng luân hồi thì thân phải
hoại diệt.
+ Lửa
luân hồi: Do nhũng thức ăn có chất nóng
nuôi dưỡng phần lửa trong thân. Lửa dùng sưởi ấm toàn thân, thiêu
đốt vật thực, lại do vật thực bồi bổ chất lửa. Cứ tiêu dùng bồi bổ,
bồi bổ tiêu dùng, đảo đi lộn lại là luân hồi. Khi tiêu dùng mà không
bồi bổ kịp, lửa từ từ tắt, con người chết. Lửa ấy trở về với thiên
nhiên, tùy duyên chuyển biến trong không gian, mà chưa bao giờ mất
là luân hồi.
Tóm lại,
tứ đại tụ họp quân bình nhau là con người sống khoẻ mạnh, nếu thiếu
quân bình là ốm đau, phân tán thì tử vong. Trong khi tứ đại tụ họp
trong thân này luôn luôn biến chuyển tuần hoàn, không được ngăn trệ
ứ động. Vừa bị ngăn trệ ứ động là thân này nguy ngập. Sự biến chuyển
tuần hoàn của tứ đại trong thân con người gọi chung là vật chất luân
hồi. Sở dĩ nói luân hồi vì biến chuyển mà
không phải mất hẳn.
-Tinh thần luân hồi: ( tâm sở luân
hồi) – Phần tinh thần của chúng ta luôn luôn thay đổi bất thường,
không bao giờ đứng yên ở một vị trí. Những thứ buồn vui, yêu ghét,
thương giận, lành dữ, phải quấy... thường thay mặt đổi mày như trên
sân khấu. Có khi chúng ta hiền lành như ông Phật, có lúc giận dữ như
con cọp đói. Nhiều lúc vui vẻ yêu thương, lắm khi bực bội thù địch.
Những tâm trạng đổi thay không lùi được, chính tự thân chúng ta cũng
không thể ước đoán nổi tâm trạng củ minh sẽ xảy ra những cái gì. Sự
buồn vui thương ghét đổi thay thăng giáng nơi nội tâm chúng ta là
luân hồi.
Nói
chung con người chúng ta, hai phần vật chất lẫn tinh thần đều là
tướng trạng của luân hồi. Sự luân hồi của chúng ta là sự hoạt động
sống còn của ta. Biết rõ vật chất tinh thần chỉ đổi thay hình tướng
trạng thái, chứ không một vật nào mất. Nếu thấy mất chẳng qua do cái
nhìn cạn cợt nông nổi mà kết luận như thế. Thực thể của nó là
“biến thiên mà bất diệt”. Thấy đến chỗ tận cùng ấy, mới khỏi
nghi ngờ về lý luân hồi. Sự luân hồi ngay trong hiện tại này là hiện
tại luân hồi. Đến sự tụ lại tan ra, tan ra tụ lại của thân con người
là luân hồi đời này sang đời khác.
Mọi sự
tụ tán đều tùy duyên khiến hình tướng, trạng thái đổi khác. Ví dụ
nước do duyên nóng bốc thành hơi, gặp duyên lạnh cô đọng thành khối.
Sự biến thái này đều do duyên quyết định. Duyên quyết định cho sự
luân hồi của con người là gì ? Là nghiệp.
Nghiệp là động cơ chính yếu trong cuộc luân
hồi của con người.
IV -
ĐỘNG CƠ LUÂN HỒI:
Nghiệp
là hành động từ thân tâm con người tạo thành. Khi thành nghiệp rồi
nó thúc đẩy dẫn dắt con người đến chỗ thành quả của nó. Chính nó là
động cơ quan yếu đẩy mãi trong vòng luân hồi không dừng của tất cả
chúng sinh. Cơ quan tạo nghiệp có ba thứ: thân, miệng và ý. Nói đến
nghiệp là nói đến sự toàn quyền quyết định nơi mọi người chúng ta.
Không ai tạo nghiệp thế cho chúng ta, cũng không ai có thể cho chúng
ta, cũng không ai có thể thay thế nghiệp của chúng ta. Chính chúng
ta là chủ nhân tạo nghiệp, cũng là chủ nhân thọ báo. Trọng trách của
mọi sự khổ vui hiện tại và mai sau đều do chúng ta quyết định. Chủ
trương nghiệp là chủ trương giành lại toàn quyền cho con người.
Chúng ta là ông chủ nhân của chúng ta hiện tại và vị lai. Không
phải một đấng thượng đế hay một tha nhân nào khác tạo thành một cuộc
sống an vui hay đau khổ cho chúng ta. Mà chính do thân miệng ý
của chúng ta trong quá khứ cũng như trong hiện tại gây nên. Chúng ta
thừa nhận nghiệp do mình tạo ra, đã tước hết mọi quyền năng của các
đấng thiêng liêng, của định mạng, của tướng số và của rủi may.
Nghiệp là hành động, là thói quen nên có thể chuyển đổi, chỉ cần nỗ
lực và bền chí. Nghiệp có nghiệp thiện và nghiệp ác.
a/
Nghiệp ác: Nghiệp ác là hành động làm cho
người khổ và mình khổ, hoặc ở hiện tại hay ở vị lai. Hành động này
do ba cơ quan tạo nên: thân, miệng, ý.
-
Thân làm ác:
Để cho thân buông lung thích hành động giết hại sinh
mạng con người, hoặc thích trộm cửụựp tài sản người, hoặc đắm say
dâm dật trái phép, là nghiệp ác của thân. Vì hành động này làm cho
người khổ mình khổ, nếu hiện tại chưa đến thì vị lai cũng chịu.
-
Miệng làm ác:
Miệng ưa nói lời dối trá, lời ác độc, lời ly gián,
lời thêu diệt, là nghiệp ác của miệng. Vì những lời nói này khiến
người nghi ngờ bực tức đau khổ mang tai họa, nên hiện tại hoặc vị
lai mình cũng phải nhận lấy hậu quả đau khổ ấy.
- Ýù
làm ác:
Si mê, tham lam, nóng giận là nghiệp ác của ý. Chính
nó là động cơ thúc đẩy thân làm ác, miệng nói ác. Bản thân nó thì
chưa làm hại được ai, song do nó khiến thân sát phạt người, miệng
chửi bới nguyền rủa người. Thân, miệng mà không cộng với tham sân si
thì tự nó không có lỗi lầm gì. Thế nên tuy nói ba cơ quan tạo
nghiệp, mà ý là cơ quan hệ trọng hơn cả, nó là chủ động của hai cơ
quan kia.
b/
Nghiệp thiện:
Những hành động đem lại sự an ổn vui vẻ chẳng những
có trong hiện tại mà còn đến vị lai. Cũng do ba cơ quan tạo thành
nghiệp thiện: thân, miệng, ý.
-
Thân làm lành:
Thân không giết hại người, không trộm cướp tài sản
người, không dâm dật phi pháp là nghiệp thiện của thân. Tại sao
không làm ba việc ấy là thiện? Bởi vì con người quý nhất là sinh
mạng, chúng ta không hại sinh mạng họ thì họ đến với chúng ta một
cách an ổn không sợ sệt. Thứ yếu là tài sản, con người tự thấy tài
sản là huyết mạch của họ, chúng ta nhất quyết không trộm cướp thì họ
đến với chúng ta cũng như chúng ta đến với họ, đều được an vui không
hồi hộp lo âu về mất của. Hạnh phúc của gia đình là vợ chồng hoà
thuận tin yêu trinh bạch với nhau, nếu vợ chồng có tình ý riêng tư
với ai là gia đình mất hạnh phúc. Chúng ta gìn giữ không theo sự dâm
dật phi pháp, đến với gia đình ai thì họ đều an ổn vui vẻ không nghi
ngờ sợ sệt chi cả. Giữ gìn ba điều này, chúng ta đã ban sự an ổn vui
tươi cho bao nhiêu người rồi, cũng chính là đem lại sự an ổn vui
tươi cho gia đình chúng ta.
-
Miệng làm lành:
Miệng kh6ng nói dối trá, không nói ác độc, không nói
ly gián, không nói thêu dệt là miệng làm nghiệp lành. Vì sao? Bởi vì
nói dối trá khiến người nghi ngờ mất niềm tin, đã không tin nhau làm
gì có thương mến. Thế nên nói dối là căn bản khiến con người mất hết
tình thương. Nói ác độc khiến người nghe sinh phẫn nộ bực dọc đau
khổ. Nói ly gián làm cho thân thuộc họ phải chia lìa, tạo thành cái
khổ ải biệt ly. Nói thêu dệt là không đúng chân lý, khiến người
không tìm ra được lẽ thật. Chúng ta quyết định giữ gìn miệng không
nói bốn điều trên là tạo dược tình thân giữa mình và người, đem lại
cho mọi người sự an ổn, bảo vệ được tình thân của người, giúp cho
người dễ nhận ra lẽ thật. Thế là chúng ta đã tạo điều kiện tốt đẹp
cho xã hội biết mấy.
- Ýù
làm lành:
Ý không có tham, sân, si là ý làm nghiệp lành. Chúng
ta thường thấy mọi sự bất bình đổ vỡ đều phát nguồn từ tham sân si.
Nếu chúng ta không để tham, sân, si dẫn dắt hoành hành thì cả cuộc
đời chúng ta được an ổn, cũng là nguồn an ổn cho mọi người. Ba thứ
này gọi là tam độc, vì nó gây đau khổ cho mình và người không thể
lường trước được. Người nào kềm cương giữ thắng được nó, bảo đảm
được một đời sống an lành, cũng bảo vệ được an ninh trật tự cho mọi
người. ngược lại, kẻ nào buông cương thả thắng, nó sẽ lôi đời họ vào
hố sâu nguy hiểm, cũng gây hại họa cho khách bàng quan không ít. Thế
nên, không cho tham sân si nổi dậy là gìn giữ an ổn vẹn toàn cho
mình và mọi người.
c/
Khả năng của nghiệp: Nghiệp là cái không
có hình tướng mà có khả năng đáng kể. Ví như gió, tuy không thấy
hình tướng mà nó thổi đất nước đều lung lay. Nghiệp cũng thế, bình
thường chúng ta không thấy nó, mà nó lôi chúng ta đi khắp nẻo luân
hồi. Sỡ dĩ nó có khả năng mạnh mẽ như vậy là do tập quán lâu ngày.
Như người tập hút thuốc, buổi đầu khói thuốc chỉ cảm thấy khó chịu,
nhưng tập lâu ngày thành ghiền, khi ghiền rồi với giá nào cũng phải
tìm cho có nó. Thử hỏi cái ghiền ấy hình tướng ra sao, mà điều khiển
con người một cách mãnh liệt như thế? Quả thật không ai biết tướng
mạo của nó, nhưng khi nó đòi hỏi, người ta phải chạy ngược chạy xuôi
tìm ra thuốc hút. Bệnh ghiền rượu khả năng còn mạnh hơn, từ những
hớp rượu cay xé mồm, tập mãi thành quen, bắt đầu ghiền rượu, khi
ghiền không có rượu khiến người ta phải ụa phải mửa, oằn oại nhọc
nhằn, ngáp trời ngó đất, quả thật chi phối hết khả năng con người.
chúng ta tự đặt câu hỏi, ai đem bệnh ghiền đó đến cho chúng ta?
Chính chúng ta tự tập, tập lâu thành ghiền , cái ghiền ấy do mình
tạo rồi mình chịu. Cái ghiền ấy có ma lực gì mà đày đoạ hành hạ con
người đến thế? Hắn không có ma lực gì, chẳng qua tập lâu thành thói
quen, thói quen càng lâu sức càng mạnh. Đã tự chúng ta tập
thành bệnh, khi muốn hết bệnh cũng tự chúng ta gan dạ tự bỏ nó,
không ai có thể bỏ thế cho chúng ta. Khả năng của bệnh ghiền giống
như của bệnh nghiệp chi phối chúng ta trong lục đạo luân hồi vậy. Tự
chúng ta tạo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ, tạo càng lâu thì sức mạnh
càng lắm. Đến cuối cùng chúng chi phối dẫn dắt chúng ta đi váo con
dường lành hay dữ tùy chỗ gây tạo của mình. Không phải hoá công
đày đoạ, không phải thượng đế bày ra, chính chúng ta tự tạo rồi tự
thọ. Khi đã thành nghiệp, chúng ta khó cưỡng được nó. Thế nên,
biết chọn nghiệp lành để tạo là đã tự gây một sức mạnh đưa mình đến
cõi lành. Cắm đầu gây nghiệp ác là là tạo áp lực lôi mình vào cõi
dữ,. Chính đây là quyền lực chọn của con người, quyền định đoạt số
phận ở mai hậu. Nếu cứ sống say chết ngu,û đẩy đâu đi đấy, những kẻ
này về sau than trời trách đất nào có ích gì. Chúng ta có đủ thẩm
quyền để quyết định đời mình hiện tại và vị lai, tại sao chúng ta
lại bỏ mất hết các giá trị cao cả ấy. Những kết quả tốt xấu dở hay ở
hiện tại và mai kia đều nằm sẵn trong tay chúng ta, chúng ta có
quyền phán quyết một bản án tốt xấu trong đời sống mai sau của mình.
Đừng cầu khẩn van xin bất cứ một năng lực nào ngoài chúng ta. Nói
đến khả năng nghiệp là khả năng của chúng ta, nghiệp và chúng ta
không phải là hai. Nếu chúng ta khôn ngoan khéo léo lo tạo nghiệp
lành, chúng ta dại khờ ngu muội gây tạo nghiệp ác. Khổ vui sẽ tùy
nghiệp mà đến với chúng ta một cách chân thành.
V -
TẤT YẾU CỦA LUÂN HỒI
Tạo
nghiệp là nhân, thọ báo là quả. Tất yếu của sự luân hồi là nhân quả.
Lăn lộn trong ba cõi sáu đường đều tùy thuộc nhân quả. Mình đã gây
nhân nhất ủịnh mình phải chịu quả, quả khổ quả vui là do gây nhân
khổ vui. Nhân quả là lẽ công bằng chân thật, bởi mỗi cá nhân gây tạo
khác nhau, nên sự thọ nhận cũng sai biệt. Sự công bằng từ nhân đến
quả, không phải sự công bằng do ai khác áp đặt cho mình. Nếu do kẻ
khác áp đặt cho mình là đã bất công rồi,. Ngày nay chúng ta tạo nhân
ngày mai chúng ta thọ quả, thực là rõ ràng rành mạch biết bao. Song
nói nhân quả là căn cứ trên thời gian suốt cả quá khứ hiện tại vị
lai, trong quá khứ có cái gần có cái xa, vị lai cũng thế. Khiến có
những kết quả xảy đến mà đương sự không bao giờ nhớ. Lại có những sự
kiện gây nhân mà không thấy kết quả. Do đó nhân quả trở thành rắc
rối khó khăn, người ta khó tin, khó nhận. Nhưng sự thật lúc nào cũng
thật, bởi khả năng nhớ hiểu của con người quá giới hạn, nên có những
thắc mắc thế thôi. Nếu người nhận hiểu sâu về lý nhân quả thì cuộc
sống này đã có tiêu chuẩn nhắm đến và an ổn vô cùng . Vì mọi kết quả
hiện chịu trong đời đều do nhân gây ra từ thưở trước , nên khổ không
oán hờn, vui không ngạo mạn. Mình làm mình chịu, chỉ quý ngay đây
phải chọn lấy nhân tốt mà làm, để mai kia khỏi phải thọ quả đau khổ,
cho nên trong kinh nói: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Kẻ trí
sợ nhân, người ngu thì sợ quả. Do cái nhìn thấu suốt và cái nhìn
nông cạn, nên có chia Bồ Tát và chúng sinh. Nhân có thiện ác thì quả
cũng có khổ vui.
Những kẻ
gây tạo nghiệp ác, ắt phải thọ quả khổ trong ba đường dữ, địa ngục
ma quỷ, súc sinh. Nghiệp ác là mình làm cho kẻ khác khổ, cân xứng
với nhân mình gây, thọ quả khổ một nơi trong ba đường dữ. Nhân
khổ có khi không thành quả, do nữa chừng mình biết hối cải, hoặc
chuyển đổi. Nhân khổ nhất định thọ quả khổ, do sự nuôi dưỡng một
cách sung mãn. Ví như có người uống rượu mà không ghiền , vì họ biết
giới hạn chừa bỏ. Có người uống rượu nhất định phải ghiền rượu, vì
họ mãi tiếp tục và say mê. Có nhân khổ mà không thọ quả khổ, cũng
như thế.
Người
gây nghiệp thiện ắt thọ quả vui trong cõi người., cõi A Tu La và cõi
trời. Cân xứng của nghiệp lành mình đã tạo, nhiều ít thấp cao, kết
quả cũng có hơn kém thấp cao. Có khi người ta nghiệp lành mà không
hưởng quả lành . ví như một số sinh viên vào học y khoa, có người
không đủ khả năng học hoặc lười biếng học, nên tuy học y khoa mà
không thể thành bác sĩ. Có người đủ khả năng lại cần cù học tập,
nhất định một ngày kia sẽ thành bác sĩ. Từ nhân đến quả còn cần có
những sự kiện trợ giúp đầy đủ mới được viên mãn. Không có thể có
nhận định tất nhiên rằng có nhân là có quả. Bởi vì thời gian từ nhân
đến quả là giai đoạn biến động, hoặc được tăng trưởng, hoặc bị tiêu
mòn, tùy theo những sự kiện trợ giúp. Biết thế chúng ta có thể
chuyển nhân xấu thành tốt, hoặc nhân tốt trở ra xấu.
Sự tất
yếu của luân hồi tùy thuộc nhân quả, không có kẻ nào khác áp đặt khổ
vui cho chúng ta, cũng không có bàn tay nào lôi kéo chúng ta phải đi
đường này hay lối khác, mọi sự kết quả đều cân xứng với nhân mình
gây tạo. Nắm vững yếu tố này, mới thấy chúng ta trọn quyền định đoạt
số phận của chúng ta. Nếu cuộc đời của chúng ta hiện được tươi sáng
hay đen tối, đều do sự khéo léo hay vụng về của ta ngày xưa. Can đảm
nhận lấy trách nhiệm của mình, không oán trách kêu ca, không than
thân tủi phận. Chúng ta gan dạ trong cuộc sống hiện tại, song phải
khôn ngoan chọn lối đi ở ngày mai.
VI -
THOÁT LY LUÂN HỒI
Đạo Phật
giải thích rõ lý luân hồi, nhưng không phải để mãi chịu luân hồi.
Biết luân hồi tường tận rồi, Phật chỉ ra con đường thoát ly luân
hồi. Đúng như ý nghĩa biết khổ, chúng ta mới tìm cách thoát khổ.
Luân hồi là vòng loanh quanh lẩn quẩn, nhào đi lộn lại không thể
thoát ra. Chấp nhận trong vòng quanh quẩn đó, do người không tìm
được manh mối thoát ra, hoặc không đủ khả năng thoát ra. Như các nhà
khoa học phát minh ra sức hút của trái đất, mọi vật cam chịu trong
vòng vọt lên rớt xuống, không sao thoát ra ngoài được. Nhưng cũng
chính các nhà khoa học chế phi thuyền đủ khả năng vọt ra vòng hút
của trái đất, đi thám hiểm các hành tinh khác. Biết rõ sức hút của
trái đất rồi, mới chế được phi thuyền vọt ra ngoài sức hút. Cũng
thế, Phật giải thích lý luân hồi rồi, mới dạy phương pháp thoát ly
luân hồi. Mục đích của đạo Phật là thoát ly sinh tử luân hồi, không
chấp nhận sự loanh quanh trong vòng sinh tử. Còn trong sinh tử dù
dài ngắn khổ vui, đạo Phật đều kết luận là đau khổ., vì cùng một số
phận vô thường. Chỉ thoát được luân hồi mới là an vui giải thoát.
VII -
KẾT LUẬN
Đạo Phật
nói lý luân hồi cũng là phát minh một sự thật của vạn vật và con
người. vì đối tượng của đạo Phật là con người, nên chung quy đặt
nặng về sự luân hồi của con người. Con người nhận hiểu thấu đáo về
lý luân hồi, nếu họ không có khả năng thoát khỏi lý luân hồi, tự
chọn lựa cuộc luân hồi an vui và thoải mái. Nếu họ có khả năng thoát
ly luân hồi, do hiểu luân hồi tiến tu đạo giải thoát. Biết được lý
luân hồi, chúng ta biết được lẽ công bằng của con người , cũng nhận
thấy sự tự do căn bản ở chúng ta. Mọi mê tín ỷ lại đều tiêu tan, do
biết ta là người quyết định thân phận của mình. Tất cả oán hờn tủi
hận đều sạch hết, vì có ai áp đặt sự đau khổ cho mình mà than thở.
Quả chúng ta là con người độc lập tự do của chính mình trong hiện
tại và vị lai. Dù chưa giải thoát, biết lý luân hồi, chúng ta cũng
sáng suốt và yên ổn trong đời sống này. Mọi tương lai đều nằm trong
tay chúng ta, chúng ta trọn quyền chọn lấy một tương lai nào theo sở
thích của mình.
TAM ĐỘC
I -
MỞ ĐỀ
Rắn độc,
thuốc độc là thứ người đời rất kinh sợ, nhưng không đáng sợ bằng Tam
độc. Vì rắn độc, thuốc độc hại người chỉ một thân này, tam độc hại
người đến bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Nếu đáng sợ chúng ta nên sợ
Tam độc hơn tất cả thứ độc khác. Thế mà, người đời chẳng
những không sợ tam độc, lại còn nuôi dưỡng chứa chấp bảo vệ, khiến
nó càng ngày càng tăng trưởng. Do đó người đời luôn sống trong mâu
thuẫn, một mặt cầu được an ổn tươi vui, một mặt nuôi dưỡng Tam độc
là động cơ bất an và đau khổ. Có khác gì người kia muốn gia đình
được bình an, mà nuôi kẻ giặc trong nhà. Thế thì sự bình an chẳng
những không có mà đau khổ tan hoại sẽ đến nay mai. Người học đạo
chúng ta phải sáng suốt nhận diện đúng mặt thật kẻ phá hoại, tiêu
diệt chúng thì sự an vui sẽ đến với chúng ta. Tam độc là nguồn đau
khổ của chúng sinh, là cội rễ bất an của nhân loại, chúng ta phải
hiểu nó và cố gắng trừ nó.
II -
HÌNH TƯỚNG TAM ĐỘC
Tam độc
là ba thứ độc ác mang đau khổ đến cho con người, phá hoại mọi hạnh
phúc an vui của con người. theo thứ tự thông thường của nó là Tham,
Sân, Si; song đặt đúng trật tự từ gốc ra ngọn phải nói SI, Tham,
Sân.
1. SI
– Si là si mê. Không biết đúng lẽ thật giả, không
nhận ra phải trái, không thấy được tà chính , ngu tối mờ mịt là
tướng trạng của Si. Cái si mê căn bản nhất là là nhận lầm thân giả
dối làm cái ta chân thật, tâm sinh diệt làm cái ta vĩnh cữu. Nơi ta
đã nhận lầm thì đối tất cả đều lầm, phát sinh bao nhiêu thứ tội lỗi
về sau đều gốc từ cái lầm này mà ra.
Thân là
tướng duyên hợp hư giả mà lầm chấp thân mình là thiệt . Đã thấy thân
thiệt rồi, sinh bao nhiêu thứ bảo vệ giữ gìn nuôi dưỡng tô điểm cho
thân, giành giật đuổi bắt tìm cầu cho được những nhu cầu mà thân đòi
hỏi. Nhưng không bao giờ có sự thoả mãn của bản thân, vì nó là một
thứ ghẻ lỡ, càng được lại càng đòi hỏi. Chính nó là cái gốc của lòng
tham vô tận sau này. Lầm chấp thân là thật thì mọi sự vật lệ thuộc
về thân cũng thấy là thật. Do đó chẳng những lo tìm cách bảo vệ
những sự vật lệ thuộc . chúng ta cố giữ gìn thân mình, cố tìm kiếm
những nhu cầu để thoả mãn thân mình, cố bảo vệ những sự thật về
mình, kẻ khác cũng thế. Ai cũng muốn thoả mãn, muốn bảo vệ, song
mình được thì kẻ khác phải mất, đó là chỗ đụng nhau của con người.
nhân loại tranh đấu nhau để được từng mảnh vụn vật chất, gốc từ chấp
thân thiệt phát sinh. Bởi cho thân là thật, một khi nó sắp hoại thì
mọi sợ sệt lo âu không sao kể hết.
Về tâm,
cho những thứ suy tư nghĩ tưởng cảm xúc phân biệt.... là tâm
mình thật. Song những thứ ấy là tướng duyên theo bóng dáng trần
cảnh, chợt có chợt không, bỗng sanh bỗng diệt, không có thật thể
cũng không lâu dài. Bám vào cái giả dối tạm bợ ấy cho là tâm mình.
Khi đã chấp là tâm mình rồi, mình nghĩ cái gì cũng cho là đúng, mình
tưởng cái gì cũng cho là hay, mình phân biệt điều gì cũng cho là
phải. Bảo vệ ý kiến mình chống đối ý kiến kẻ khác. Nếu sự chống đối
của một cá nhân, là ý kiến bất đồng trong phạm vi cá nhân. Nếu sự
chống đối của quần chúng này với quần chúng khác, là tranh đấu ý
thức hệ. Bất đồng ý kiến là mầm đau khổ triền miên từ trong gia đình
đến ngoài xã hội. Nhưng mà, ý kiến làm sao đồng được , bởi mỗi người
sống trong mỗi môi trường khác nhau, sự huân tập hấp thụ khác nhau,
kể cả những chủng nghiệp của thời quá khứ cũng khác nhau, đương
nhiên vọng tưởng tâm thức phải khác nhau. Bởi những thứ ấy do huân
tập mà có nên những bất đồng ấy không thể tránh khỏi. Thế mà chúng
ta lại bảo thủ ý kiến của mình là đúng, kẻ khác ắt cũng nhận ý kiến
họ là đúng, hai cái đúng ấy là gốc đấu tranh. Nếu nói thẳng, ý kiến
không có đúng, chỉ vì phù hợp với một số người nào với khoảng thời
gian nào, đến những người khác và thời gian khác là sai. Vì thế,
người cố chấp ý kiến mình đúng , quả là họ đã sai. Càng cố chấp bảo
thủ ý kiến mình là nguyên nhân đau khổ trầm trọng của con người. chỉ
khéo léo dung hoà buông xả để cùng vui vẻ với nhau, là người khôn
ngoan nhất.
2.THAM - Do chấp thân là thật nên khởi
tham lam mọi nhu cầu vật chất cho thân. Lòng tham là cái hang không
cùng , cái túi không đáy, cho nên không biết đến đâu là đủ. Không
có; tham lam muốn có; đã có, tham lam muốn thật nhiều, càng được lại
càng tham. Tham mà không toại nguyện liền nổi sân. Quả thật tham là
nhân đau khổ vô hạn, con người đến khi sắp tắt thở vẫn chưa thoả mãn
lòng tham. Tham có nhiều loại:
Tham
muốn thân này sống mãi không chết, người ta coi cái chết là một họa
hại tối đại của con người. Thế nên, thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau,
người ta luôn mồm cầu khỏe mạnh , cầu sống lâu trăm tuổi. Bởi có ám
ảnh mình sống lâu, nên kinh doanh sự nghiệp đuổi theo danh vọng, mê
say sắc đẹp, thích uống ăn ngon lành... cho thoả mãn thân này. Vì sợ
chết nên người ta luôn tránh né tiếng chết, dù cho đến khi bệnh ngặt
sắp chết, đi mua hòm về vẫn nói nhắc cái “thọ”. Sự thể tham sống đầy
ngập nơi con người, có người mang thân sống một cách khổ đau đen
tối, mà nghe nói chết cũng sợ sệt. Song có sinh nhất định phải có
tử, là một định án không thể di dịch, làm sao tránh được. Chỉ có sợ
chết mà không biết đường tránh, đây là nỗi khổ tuyệt vọng của con
người.
Vì tham
sống lâu nên người ta muốn được nhiều tiền của để đảm bảo đời sống.
Muốn được tiền của nhiều, người ta phải tranh đua giành giật với
nhau. Đã là giành giật thì có kẻ được người mất, kẻ được vui cười
thì người mất tức tối. Vì thế người được càng nhiều thì thù hận càng
lắm. Có khi trong lúc giành giật, chỉ nghĩ phần được về mình, người
ta đã càn lấn, dẫm đạp lên trên sinh mạng người khác. Cho nên cái
được của ta cũng là mồ hôi nước mắt của người. người tham tiền của
nhiều thì đau khổ cũng nhiều. Bởi vì đâu phải muốn là được, phải lao
tâm nhọc trí, phải tốn hao bao nhiêu sức lực mới được. Đã được lại
sợ người ta phá, tìm mọi cách giữ gìn bảo vệ, nhưng có khi nó cũng
ra đi. Khổ công quá nhiều mới được, được rồi lại mất, thực là khổ
đau vô kể.
Danh
vọng là những hạt nước lóng lánh trước ánh nắng mặt trời, người
thích những danh vọng cao sang, nhưng khi nắm vào tay nó liền tan
biến. Song người thế gian nào có biết chán, cứ một bề ngó lên, được
một bậc lại muốn lên một bậc. Chính vì tham lam mong muốn, người ta
phải chạy chọt cầu cạnh bợ đỡ những người có khả năng đưa mình lên.
Mong cầu mà được, người ta lại thêm mong cầu. Mong cầu mà không
được, người ta phải khổ đau sầu thảm. Danh vọng là miếng mồi ngon,
nên ta mong ước kẻ khác cũng mong ước. Nếu ta nắm được nó trong tay
thì kẻ khác cùng tìm đủ cách để gỡ ra. Vì thế, người xưa đã nói
“càng cao danh vọng càng đầy gian nan“. Ít có người ngồi trên
chiếc ghế danh vọng được an ổn suốt đời. Song vì tính cách hào
nhoáng của danh vọng hấp dẫn mọi người dán mắt vào đó không biết
mỏi. Đuổi bắt danh vọng, như những đứa bé đuổi bắt bóng, cuối cùng
chỉ chuốc lấy sự mệt nhừ. Còn ai khôn ngoan khéo biết dừng, người đó
sẽ được an ổn.
Sắc đẹp
cũng là một thứ men say khiến nhiều người đam mê đeo đuổi. Bao nhiêu
danh từ hạnh phúc yêu đương êm tai, ngọt dịu, thúc đẩy khách si tình
chìm trong biển ái. Rốt cuộc chỉ là những ảo tưởng đảo điên, do con
người điên đảo bày bịa. Hạnh phúc là chiếc mặt nạ của khổ đau. Một
khi lột chiếc mặt nạ ấy ra liền lộ nguyên hình đau khổ. Nhưng con
người là bệnh nhân của sắc dục, mặc dù biết nó là nhân đau khổ, mà
họ vẫn la cà bê bết, không chịu tránh xa. Người ta đuổi theo sắc dục
không bao giờ biết chán, như người khác uống nước muối càng ngày
càng khát. Nó mang họa hại cho bản thân chóng tàn cỗi, lại thêm
nhiều sầu thảm khổ đau. Đam mê sắc dục là người tự phá hoại sinh
mạng của chính mình.
Những
thức ngon ăn uống chỉ có giá trị khi còn tại lưỡi, nuốt qua khỏi cổ
nào có ra gì. Thế mà người đời vì miếng ăn giành giật nhau, giết hại
nhau. Tốn bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu sức lực, chỉ vì một món ăn
ngon. Hôn nay thích ăn món này, ngày mai đòi món ăn nọ, sự thèm khác
đòi hỏi thôi thúc người ta phải khốn khổ nhọc nhằn suốt đời. Rốt
cuộc muốn đời sống chỉ vì nô lệ cho cái lưỡi. Dù có người bảo rằng
ăn uống bồi bổ sức khỏe con người cần thiết cho cuộc sống. Song
chúng ta chỉ cần ăn những thứ có đủ sinh tố nuôi dưỡng cơ thể là
tốt, đừng cầu kỳ món ngon vật lạ, đừng đòi hỏi chả phụng khô lân.
Biết chọn thức ăn bồi dưỡng thân này khỏe mạnh là đúng, chớ để cả
đời nô lệ cho cái lưỡi.
Lại có
lắm người thích nhàn rỗi thảnh thơi, thong thả qua ngày, chẳng ưng
làm lụng việc gì. Họ tự cho thân sung sướng là trên hết, không muốn
làm động móng tay. Quan niệm này lâu ngày trở thành lười biếng hèn
nhát. Họ là những khối thịt thường được vất lên chiếc giường, ném
xuống chiếc võng. Cả ngày họ chỉ biết thụ hưởng, mà không ưng làm
một công tác gì để có lợi cho mình và giúp ích cho xã hội. Nếu một
đời sống mà tập như thế, kẻ đó tự chuốc bệnh hoạn vào thân và vô ích
cho xã hội. Càng ở không càng thấy thân lừ nhừ nhọc mệt, vì thân này
là một cái máy hoạt động, nếu không chịu hoạt động máu huyết không
được lưu thông, gân cốt không dẻo dai, là cái cớ để bệnh hoạn. Người
cố ở không cho sung sướng, đâu ngờ họ tự chuốc bệnh hoạn khổ đau.
3.
SÂN:
Sân là nóng giận. Do tham lam mà không toại nguyện,
hoặc bị ngăn trở liền nổi sân. Một khi nổi sân thì mọi tội ác nào
cũng dám làm, mọi khổ đau nào cũng dám tạo. Tất cả sự hung tợn dữ
dằn ác độc đều do sân mà phát sinh. Sân có loại bộc phát, loại thầm
kín.
Nghe một
lời nói trái tai, thấy một hành động không vừa ý liền nổi nóng la ó
ầm ầm là sân bộc phát. Loại sân này rất nguy hiểm, song đối phương
dễ thấy dễ biết. Những điều gì mình muốn bị kẻ khác ngăn trở, liền
nổi giận mặt đỏ, miệng thốt ra lời bất hảo, tay chân quơ múa, toàn
thân cử động một cách mất điều hòa. Nếu khi này đối phương nhường
nhịn đi thì khả dĩ dịu lại, bằng không thì cơn ấu đả khó tránh. Một
phen nổi sân là một trận bão bùng họa hại hiểm nguy không thể lường
trước được. Mọi hiểm nguy họa hại trong đời sống của chúng ta đều do
sân mang lại. Người ôm ấp lòng sân là kẻ chứa chấp rắn độc trong
nhà, tai họa đến một cách dễ dàng chỉ trong giây phút.
Có người
được sức mạnh dằn ép lửa sân bộc phát, nhưng họ lại nuôi dưỡng nó
một cách ngấm ngầm. Khi nghe nói trái tai, họ nổi giận, mà ghim ở
trong lòng. lòng sân này thầm lặng mà ác độc vô kể, vì đối phương
không biết được để ngừa đón. Những kẻ có lòng sân thầm kín là con
người sâu độc nguy hiểm. Đây là đóng lửa than, khó thấy mà lâu tàn.
Người ôm lòng sân này như ngôi nhà đẹp mà chứa đầy hơi độc. Những kẻ
thiếu tinh tế, nhận xét hời hợt, không sao tránh khỏi bị hơi độc làm
ngạt thở. Song hại được người chính mình cũng không an ổn gì. Thế
nên sân là mối hiểm họa cho mình cho người, mọi khổ đau trong đời
này đều do sân gây ra.
III-
TRỪ TAM ĐỘC
Như trên
đã thấy, tam độc là họa hại vô cùng bất tận của con người. chúng ta
phải nổ lực thủ tiêu chúng thì đời mình mới an ổn và đem lại an ổn
cho mọi người. tam độc như một cây to, si là gốc cây, tham là thân
cây, sân là cành lá. Trừ tam độc, chúng ta phải nhắm thẳng vào gốc
của nó mà đoạn diệt. Gốc của nó tức là si, nên phương pháp trừ nó
phải là trí tuệ. Ở đây chúng ta phải dùng hai phương pháp để trừ
diệt chúng:
1/
Quán vô thường:
Bởi do
si mê chấp thân này là thật và cuộc sống lâu dài, nên khởi lòng tham
sống lâu, tham của cải, tham danh vọng... ở đây chúng ta dùng trí
tuệ quán chiếu theo chiều thời gian, xem thân này quả thật sống lâu
dài hay không? Như Phật đã nói: “ mạng người sống lâu trong hơi thở“
đây là một sự thật của kiếp người, chỉ một hơi thở ra không hít vào
đã chết. Dù có đến trăm ngàn lối chết, song bất cứ lối chết nào cũng
thở khì ra mà không hít lại là song một cuộc đời. Thời gian thở ra
không hít lại khoảng bao lâu, quả thật ngắn ngủi vô cùng, chỉ trong
vòng một tít tắc đồng hồ. Như thế, chúng ta kết luận mạng người sống
bao lâu, mà tham lam đủ thứ. Càng xét nét chúng ta càng thấy thân
này thật quá mỏng manh, một luồng gió độc suông vào cũng có thể
chết, dẫm chân lên con rắn độc bị cắn cũng có thể chết, đi đường sẩy
chân ngã bổ cũng có thể chết, ngồi trên xe đụng nhau cũng có thể
chết, một gân máu bể cũng có thể chết v.v.v.v. sự còn mất của thân
này quá nhanh, không có gì bảo đảm cho sự sống của nó hết. Phút giây
nào còn sống là biết nó sống, phút giây khác không chắc nó lại còn.
Một cơn bất thần liền ngã ra chết, nên nói thân này là vô thường. Đã
thấy thân mỏng manh như vậy thì sự tham lam cho thân còn có
giá trị gì. Do trí tuệ thấy đúng như thật thân này vô thường, mọi sự
tham lam theo đó được dừng, lòng sân hận cũng nguội lạnh.
Những
suy tư nghĩ tưởng của tâm thức cũng đổi thay từng giây phút cũng
thay hình đổi dạng luôn luôn nên cũng thuộc vô thường. Trong một
ngày mà buồn giận thương ghét, đổi mày thay mặt không biết bao nhiêu
lần . mọi sự đổi thay ấy là tướng trạng vô thường, còn gì tranh chấp
là chân lý. Chấp suy tư nghĩ tường của mình là đúng chân lý quả là
việc dại khờ, có khi nào lấy một cái búa trong bóng để đập nát một
viên đá thật được. Cũng thế, vọng tưởng là cái vô thường tạm bợ làm
sao dùng nó suy ra một chân lý muôn đời. Chấp chặt những nghĩ tưởng
mình là đúng chân lý, quả là phi lý rồi.
2/
Quán duyên sinh:
Si mê
chấp thân này là thật, chúng ta hãy dùng trí tuệ đứng về mặt không
gian xem xét coi có đúng hay không? Từ tinh cha huyết mẹ cộng với
thần thức hoà hợp thành bào thai, khi ra khỏi lòng mẹ phải nhờ tứ
đại bên ngoài nuôi dưỡng bồi bổ thân này mới sinh trưởng. Thế là do
hoà hợp mà có thân, cũng do hoà hợp được sinh trưởng. Đã là duyên
hợp thì không phải một thể, chỉ là hợp tướng từ duyên sinh. Như cái
nhà là hợp tướng của nhiều duyên, trên hợp tướng ấy không có cái nào
là chủ của cái nhà, cái nhà là giả tướng của nhiều duyên hợp lại.
Nếu chúng ta chỉ cây cột cũng không phải cái nhà, cây kèo cũng không
phải là cái nhà, cho đến tất cả không có cái nào là cái nhà. Cái nhà
ấy là một giả tướng do duyên hợp, thân này cũng thế. Mọi sự duyên
hợp đều hư giả, chúng ta tìm đâu cho ra lẽ thật của thân này. Trên
cái không thật mà lầm chấp cho là thật quả thực si mê. Thấy rõ thân
này duyên hợp không thực, là trí tuệ. Thấy thân này không thật rồi,
còn gì tham lam nhiễm trước nơi thân. Đối với thân không tham nhiễm
thì mọi nhu cầu của nó còn có nghĩa lý gì. Thấy thân đúng lẽ thật
thì si mê tan tành tham sanh cũng theo đó biến hoại.
Đến như
suy tư nghĩ tưởng thương ghét... trong tâm đều do sáu căn tiếp xúc
với sáu trần mà phát sinh. Bản thân của những tâm lý ấy không tự có,
do căn trần thức hóa hợp mà sinh. Đã do duyên hợp thì không thật
thể, cái không thật mà cố chấp là thật thực quá si mê. Dùng trí tuệ
soi thấu những tâm tư theo duyên thay đổi đều là hư giả, chúng ta đã
đập tan được cái si mê chấp ngả nơi nội tâm con người. biết rõ bao
nhiêu thứ suy nghĩ tưởng tượng đều là ảo ảnh, còn gì chấp chặt cái
nghĩ mình là đúng, cái tưởng mình là thật nữa. Do đó, chúng ta buông
xả mọi vọng tưởng giả dối, sống một đời an lành trong cái mình làm
của tâm tư.
KẾT
LUẬN:
Tam độc
là cội nguồn đau khổ của chúng sinh. Trừ diệt được nó chúng sinh sẽ
hưởng một đời an vui hạnh phúc. Khổ vui vốn do chứa chấp tam độc hay
tống khứ chúng đi, đây là căn bản của sự tu hành. 3 thứ độc này, si
là chủ chốt, diệt được si thì 2 thứ kia tự hoại. Nhằm thẳng vào gốc
ma đốn thì thân và cành đồng thời ngả theo. Vì thế, trong mười hai
nhân duyên cái đầu là vô minh, muốn cắt đứt vòng mắc xích luân hồi
của nhân duyên, chỉ nhắm thẳng vô minh, vô minh diệt thì hành diệt
v.v.v. si độc là động cơ chính yếu của tam độc, chận đúng được si
thì toàn thể tam độc đều dừng. Đức Phật thấy dược cội gốc của đau
khổ và đầu nguồn của thoát khổ, nên ngài dạy Phật tử cứ theo cái gốc
ấy mà trừ, người ứng dụng đúng như thế sẽ ít tốn công mà kết quả
viên mãn. Si là gốc đau khổ cũng như vô minh là gốc luân hồi vì diệt
tận gốc ấy, đức Phật dạy dùng cây búa trí tuệ đập tan nó hoặc thấp
sáng ngọn đuốc trí tuệ phá tan màn đêm vô minh, bởi lẽ ấy đạo Phật
là đạo giác ngộ chỉ có giác ngộ mới diệt tận cội rễ si mê, chỉ có
mặt trời giác ngộ xuất hiện thì đêm tối vô minh mới hoàn toàn hết
sạch. Diệt được tam độc của mình là tự cứu bản thân, cũng đã đem sự
an ổn lại cho mọi người chung quanh. Một việc làm tự lợi _ lợi tha
đầy đủ, tất cả Phật tử chúng ta phải tận lực cố gắng thực hiện kỳ
được mới thôi. Được vật mới xứng đáng là người Phật tử chân chính.
TỪ BI
I - MỞ
ĐỀ
Tình
thương là nguồn an ủi vô biên của chúng sanh đang đau khổ, là
bể nước cam lồ mát ngọt để cho những người đang bị lửa trần gian
thiêu đốt mặc tình nhảy ùm tắm gội. Song phải là tình thương hoàn
toàn vị tha, không nhuốm một tí xíu mùi vị kỷ. Nếu là tình thương vị
kỷ, chẳng những không làm vơi được nổi khổ của chúng sinh, trái lại
còn dìm họ chìm sâu trong biển khổ. Tình thương vị tha là vô biên
không giới hạn, tràn ngập mọi loài, chan hoà trong nhân loại. Người
mang tình thương này ra chan rải cho chúng sinh, quả là một từ mẫu
đang săn sóc đàn con dại. Bao nhiêu khổ đau, mọi đều ấp nạn vừa gặp
tình thương này chúng đều tan biến. Cao cả thay! Quí báu thay! Đẹp
đẽ thay! Những ai đã cưu mang ôm ấp tình thương vô bến hạn này.
II -
ĐỊNH NGHĨA
Từ là
ban vui. Bi là cứu khổ. Cứu khổ ban vui cho người gọi là từ bi. sự
vui khổ của người xem như vui khổ của chính mình, chia vui sớt khổ
cho nhau đấy là lòng từ bi. Vì thế, ban vui cứu khổ cho người mà
không thấy ta là kẻ ban ơn, kia là kẻ thọ ơn. Tận tâm tận lực vì
người, không có một niệm một mảy may vì mình, là từ bi. Đây mới thật
là tình thương chân thật. Nếu có một điểm nhỏ xíu vì mình là không
phải tình thương chân thật. Có vì mình mà thương người, chính đó là
thương mình không phải thương người. một tình thương vì mình thì
không phải là thương, bởi trái sở cầu của mình liền giận. Hoàn toàn
vì người hoàn toàn cho người mới là tình thương vô biên không giới
hạn. Tình mẹ thương con chưa hẳn là từ bi, vì con không nghe lời mẹ
liền giận. Tình thương từ bi là tình thương đồng hóa khổ vui của
người như của mình. Mình khổ càng kíp lo giải quyết cho hết khổ,
mình không cần biết ơn mình, mình không kể ơn với mình. Cảm thông sự
khổ vui của mọi người như thế, khởi tình thương ban vui cứu khổ là
lòng từ bi. Cứu giúp để mong đền đáp là sự đổi chác không phải lòng
từ bi. thương yêu để thoả mãn nhu cầu riêng của mình, là lợi dụng
tình thương, không phải từ bi. mọi sự xót thương cứu giúp người
không xen lẫn một ý vì mình thật là lòng từ bi.
III -
MỚI TẬP TỪ BI
Muốn
phát âm từ bi, chúng ta phải tập cảm thông sự khổ vui với mọi người.
Thấy người khổ cảm như chúng ta chịu khổ, nỗi khổ của người xem như
nổi khổ của chúng ta. Dùng mọi khả năng sẵn có dẹp khổ cho người
cũng như tiêu diệt khổ của chính bản thân mình. Người hết khổ là
chúng ta hết khổ, không cần đòi hỏi nào, ngoài sự hết khổ của người.
Đã xem cái khổ của người như của mình, nên nhiệt tình sốt sắng cứu
giúp mà không điều kiện. Người khỏi khổ là mình an vui, không có một
hậu ý gì với người mình cứu giúp. Nếu có hậu ý, chỉ mong đem lại cho
họ sự an vui vĩnh cửu. Thấy người vui cũng như mình được vui. Những
cái vui của mình đã sẵn sàng chia sớt với người, bằng cách giải bày,
bằng cách chia sẻ, bằng cách mong mỏi, chia sớt với nhau cùng được
vui chung thật là hạnh phúc trên trần gian. Chỉ để một mình vui, ai
sao mặc kệ, là kẻ ích kỷ xấu xa, chính họ không bao giờ thấy sự an
vui chân thật. Chúng ta phải thấy cái vui của mình là cái vui của
mọi người, cái vui của người chính là cái vui của mình. Cùng khổ
cùng vui mới là tình thương chan hòa tràn ngập. Chỉ biết cái khổ vui
riêng tư của mình là tự đóng khung trong một nhà giam riêng biệt, kẻ
ấy suốt đời không bao giờ biết vui. Chúng ta trải lòng mình ra hòa
nhịp với mọi con tim, chứa chan tình thương không bến hạn. Bởi cảm
thông nhau trên nỗi khổ vui, chúng ta mới có nhiệt tình tích cực
cùng sớt khổ chia vui. Mọi bức tường ngăn cách mỗi bản ngã con
người, chúng ta mạnh dạn đạp đổ cho sự cảm thông không bị giới hạn.
Thông cảm được sự khổ vui của mọi người, chúng ta bắt đầu phát tâm
từ bi. Vì thế, mới tập từ bi là tập cảm thông.
Tuy
nhiên lòng từ bi là không giới hạn, song mới tập từ bi phải phát
xuất từ gần lan dần ra xa. Chúng ta tập cảm thông từ những người
sống chung, thân thuộc với chúng ta, dần dần đến những người xa lạ
bên ngoài, đó là trá hình từ bi, chớ chưa phải thực chất từ bi.
Chúng ta phải tập lòng từ bi cho có căn bản, sự kết quả chắc chắn sẽ
đúng như nguyện.
IV - ĐÃ
TẬP TỪ BI
Lòng từ
bi đã phát hiện nơi chúng ta, mọi sân hận tham lam theo đó tiêu
diệt. Người từ bi không thể nổi nóng chửi đánh kẻ khác. Đã thấy sự
đau khổ của người chính là đau khổ của mình. Chỉ thấy kẻ khác với
mình không liên hệ nhau mới đành lòng làm họ khổ. Quả thật cảm thông
được nổi khổ đau của người, lòng sân vừa dấy khởi liền tắt ngúm. Bởi
nước từ bi tràn ngập thì không có lý do lửa sân nổi dậy. Lửa sân
cháy hừng hực, chính là lúc nước từ bi đã khô cạn. Tự người gặp cảnh
khổ, người có lòng từ bi còn không nở lấy mắt ngó, cần phải tìm đủ
mọi cách để giải khổ cho người. Nếu khả năng chúng ta không thể giải
cứu được, lòng vẫn xót xa đau đớn. Huống là, đích thân mình làm khổ
cho người, lòng từ bi không cho phép dùng ngôn ngữ hành động làm khổ
kẻ khác. Bao giờ chúng ta thích làm khổ mình, chừng đó mới vui vẻ
làm khổ người. Gặp khổ chúng ta biết rầu buồn than thở, nỡ nào làm
khổ kẻ khác cho đành. Kết quả đầu của lòng từ bi là diệt sạch sân
hận của chính mình.
Người từ
bi đâu đành tranh giành hơn thua được mất với người. Bởi kẻ được thì
vui người mất phải khổ , giành giật nhau là làm khổ cho nhau. Lòng
từ bi là cứu khổ, vô lý lại đi làm khổ người. Tham lam là thu góp,
giành giật. Từ bi là ban bố cứu giúp. Mang lòng từ bi là mọi hành
động có tính cách tranh đua giành giật không còn. Chính của mình còn
đem ra ban bố cho người, không thể có giành giật của người về cho
mình. Lòng từ bi với tham lam là 2 con sông chảy ngược. Có cái này
thì không thể có cái kia. Lòng từ bi đi đến đâu thì đau khổ tan đến
đấy, như ánh nắng soi đến đâu thì băng tuyết đều tan. Từ bi không
dung đau khổ, dĩ nhiên từ bi không chứa chấp tham lam. Từ bi tràn
lấn tham lam phải rã rời.
Với mọi
lớp người trong mọi cảnh huống, chỉ một bề mang tình thương chân
thật đến với họ. Không một hành động ngôn ngữ khiến cho họ phải
phiền hà, thuần túy ban vui cứu khổ. Hành động như thế là thuận hạnh
từ bi. Lòng từ bi này một bề thể hiện tình thương, chiều theo sở
nguyện của người. Làm trái ý người là khiến họ đau khổ, thuận hạnh
từ bi là không trái ý nguyện của chúng sinh.
Song tâm
ý chúng sinh điên đảo, có cái khổ trá hình an vui họ lại thèm thuồng
ưa muốn, người sẵn lòng từ bi, có khi cần đổi cái khổ nhỏ cho họ cái
vui lớn, vẫn phải làm. Hoặc những chúng sinh ngỗ nghịch mãi tạo tội
không chán người từ bi cần phải ngăn chặn bằng cách trừng trị dữ
dằn. Hiện tướng dữ để điều phục đưa người về chỗ an vui, là nghịch
hạnh từ bi. Hạnh từ bi này vừa mới trông như kẻ ác, nhưng mãi kia
mới thấy rõ lòng từ. Người thể hiện hạnh từ bi này phải sáng suốt,
thật là làm một việc khó làm. Dù thuận hay nghịch thì hạnh cũng là
một nguồn ban vui cứu khổ. Bản chất từ bi là nhẹ nhàng mát mẻ, nên
mọi chúng sinh bị nhiệt não gặp từ bi là đều được an lành.
V - CỨU
CÁNH TỪ BI
Lòng từ
bi được viên mãn khi nào mọi vọng thức không còn. Vì vọng thức chạy
theo nghiệp phân biệt có yêu có ghét, khó mang tình thương chân thật
bình đẳng lại cho chúng sinh. Khi nghiệp thức đã sạch, chỉ một tâm
thể thênh thang bình đẳng bao trùm tất cả chúng sinh, không phân
biệt ngã nhân bỉ thử, làm gì có thương ghét nảy sinh. Sống với tâm
thể này chỉ tràn trề lênh láng một tình thương. Tình thương không
phân biệt, không còn chủ khách đối đãi, bao dung không giới hạn, mới
là tình thương chân thật hay viên mãn lòng từ bi. Còn thấy đối đãi
là còn phân biệt, còn dụng công, mọi sự đối đãi đã tiêu dung, biết
lấy đâu làm giới hạn. Cho nên ví lòng từ bi thênh thang như trời
cao, bát ngát như bể cả. Từ bi trong chỗ không phân biệt không dụng
công nên gọi là vô duyên từ.
VI - KẾT
LUẬN
Từ bi là
tình thương hoàn toàn bất vụ lợi. Bọn ác quỷ sân hận tham lam tật đố
gặp từ bi đều chắp tay quỳ gối quy hàng. Có mặt từ bi ở đâu thì mọi
khổ đau tan biến ở đó. Từ bi ngọt ngào như dòng sữa mẹ, từ bi mát
nhẹ như dòng gió chiều thu, từ bi trong sáng như ánh trăng rằm, từ
bi phát sinh muôn ngàn công đức như lòng đất phì nhiêu nuôi dưỡng
vạn vật. Chúng ta tôn trọng kính mến những ai đã mang sẵn lòng từ
bi, tán thán ca ngợi ai phát tâm từ bi, ước mơ mong mỏi ai sẽ học
tập từ bi. Mọi người chúng ta gắng công khơi dậy dòng suối từ bi, để
một ngày kia chảy tràn ngập trần gian đang nhiệt não. Hạnh phúc ở
nhân gian nếu có, khi nào nguồn nước từ bi tràn về. Tất cả chúng ta
đừng mong đấng nào cứu khổ, chỉ chắp tay cầu nguyện mọi người hãy
phát tâm từ bi. Ngọn lửa khổ đau dập tắt, khi được trận mưa từ gội
nhuần. Chân thành mong ước mọi người đều phát lòng từ bi.
KẾT LUẬN
Những
vấn đề đã trình bày qua, chúng tôi cố gắng trong một khuôn khổ rất
nhỏ hẹp, giống như việc “lấy thúng úp voi”, khó tránh khỏi lỗi khó
hiểu và thiếu sót. Chúng tôi chỉ mong độc giả nhận được then chốt
của mỗi vấn đề, cần đi sâu vài chi tiết, sẽ nhờ những quyển kinh
sách khác, hoặc nhờ sự dắt dẫn của Tăng NI hay Thiện Hữu. Tóm lại
then chốt thiết yếu có thể nói:
Phật là
người đã giác ngộ và giải thoát sinh tử, đó là vị trí căn bản của
Ngài. Chúng ta đừng xê dịch, đừng tô điểm, đừng ép buộc Ngài phải
rời chỗ căn bản ấy.
Phật
pháp là những lời giảng dạy chỉ ra lẽ thật: Lẽ thật trên hình tướng
sự vật là nhân quả, lẽ thật trong sự cấu tạo kết hợp là duyên sinh,
lẽ thật thầm lặng trong bản thể là chân không hay Phật tánh.
Học Phật
là tiến bước trên con đường giác ngộï, là nhận hiểu phán xét những
lẽ thật của Phật dạy, đem chỗ nhận hiểu ứng dụng vào cuộc sống của
con người. Thực hiện được những điều này, cần nhờ cặp mắt trí tuệ
sáng suốt mới thành công.
Tu Phật
là ứng dụng những lẽ thật đã nhận xét vào cuộc sống hằng ngày của
mình. Gỡ sạch mọi phiền não kiến chấp đang trói buộc khắn chặt trong
tâm tư của chúng ta, đem lại sự an lạc ngay trong hiện tại và miên
viễn ở vị lai. Chẳng những thế, tu Phật còn có nghĩa vượt ra ngoài
vòng đối đãi sinh diệt, thoát khỏi mọi khuôn khổ hạn buộc, làm người
tự do tự tại.
Với
những điểm chủ yếu trên, chúng ta nhận thức chắc chắn sâu xa, là
trong tay đã có sẵn ngọn đuốc sáng, trên con đường về quê ắt không
đến nỗi lạc lầm. Giá trị của Phật pháp là biết để hành, không phải
biết để nói. Thật hành sâu chừng nào, càng thấy giá trị Phật pháp
cao chừng ấy. Biết để nói, là người trình bày đủ mọi thức ăn, mà
bụng vẫn đói; là nhân viên phát ngân trong ngân hàng cả ngày đếm
tiền, khi ra về chỉ hai tay không. Chúng tôi ước mong độc giả của
quyển sách này không đến nỗi như thế. MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM
1.
Nghĩ đến thân thể đừng
cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sinh.
2.
Ở đời đừng cầu không
hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nỗi dậy.
3.
Cứu xét tâm tính thì
đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu
đáo.
4.
Xây dựng đạo hạnh thì
đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện
không kiên cường.
5.
Việc làm đừng mong dễ
thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo.
6.
Giao tiếp đừng cầu lợi
mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
7.
Với người thì đừng mong
tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất
kiêu hãnh.
8.
Thi ân đừng cầu đền
đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ.
9.
Thấy lợi đừng nhúng
vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.
10.
Oan ức không cần biện bạch, vì biện
bạch là nhân quả chưa xả. BỞI VẬY ĐỨC PHẬT DẠY
|
|
| ||||||