Giải
nghi về nhân quả
HT Thích
Thanh Từ
Hôm nay là buổi đầu tiên gặp tất cả
quí vị, trước hết tôi chúc mừng Tăng Ni cũng như
Phật tử được khỏe mạnh an vui, luôn luôn tinh tấn tu
hành để làm sáng tỏ Phật pháp nơi xứ người, giữ được
nền tảng đạo đức cho người Việt của chúng ta. Kế đến
tôi sẽ giảng một thời pháp. Sau thời giảng có những
nghi vấn gì quí Phật tử hỏi, chúng tôi theo khả năng
của mình, trong phạm vi đạo lý sẽ trả lời cho quí
Phật tử hiểu thêm Phật pháp, vững lòng tin tu hành
không còn nghi ngờ nữa. Đề tài hôm nay là Giải nghi
về nhân quả, chớ không phải giảng về nhân quả.Một số
người đặt câu hỏi thế này: “Người tu Phật có thể
thay đổi được quả khổ của đời mình không?” Vì đa số
Phật tử nghĩ mình tu thì bao nhiêu tội lỗi trước,
những điều mình làm đau khổ cho người, đều do công
đức tu hành mà tan biến hết. Nếu thay đổi được thì
có trái với câu nhân nào quả nấy không? Trong kinh
kể đức Phật tu hành đã thành Phật mà còn bị nạn kim
thương, mã mạch, tức là vẫn thọ quả báo như thường.
Nạn kim thương là chân Ngài bị mũi kiếm đâm lủng.
Nạn mã mạch là Ngài phải ăn lúa ngựa hết ba tháng.
Phật nói rõ lý do tại ngày xưa Ngài đã từng gieo
nhân khổ cho người nên bây giờ tuy đã thành Phật
nhưng cũng vẫn phải trả quả cũ. Đệ tử lớn của Ngài
là Mục-kiền-liên nổi tiếng thần thông đệ nhất, khi
già đi khất thực bị một số ngoại đạo vây đánh nhừ
tử. Lúc bị đánh Ngài không dùng thần thông vì muốn
trả hết nợ cũ, sau đó đau nặng rồi tịch luôn. Nếu
các ngài tu chứng A-la-hán rồi, lẽ ra quả ngày xưa
phải tiêu hết, tại sao vẫn phải trả?
Do đó các thầy Tỳ-kheo thắc mắc hỏi
Phật về việc này. Phật giải thích do trước Ngài đã
tạo nhân giết hại nên ngày nay phải bị quả như vậy.
Qua những câu trả lời đó chúng ta nghĩ sao? Nhân đã
tạo phải chịu quả với những người chưa chứng đạo thì
được, nhưng với các vị đã chứng đạo thì có người
thắc mắc.Hoặc như trường hợp vua Kế-tân nghe lời
ngoại đạo hại Tổ Sư Tử. Ông cầm cây gươm tới trước
Tổ hỏi: “Ngài bảo thân năm uẩn đều không, vậy cho
tôi cái đầu được không?” Ngài trả lời: “Thân năm uẩn
đã không, sá gì cái đầu.” Thế là ông chặt đầu Tổ.
Như vậy để nói rằng trước Ngài đã có ân oán với nhà
vua trong nhiều đời, nên đến đời này Ngài phải trả.
Tới Tổ Huệ Khả ở Trung Hoa, sau khi đắc đạo truyền
bá một thời gian, Ngài gặp Tăng Xán truyền y bát rồi
nói: “Ta còn một chút nợ phải trả.” Ngài đi tới xứ
đó giảng đạo, có người tâu với tri phủ Ngài nói tà
thuyết, gây rối loạn quần chúng, tri phủ liền bắt
nhốt Ngài cho tới chết luôn.Chúng ta thấy từ Phật là
vị tu hành đã hoàn toàn viên mãn rồi, đến ngài
Mục-kiền-liên đã chứng A-la-hán, tới các Tổ cũng
phải trả oan khiên đời trước. Vậy nói tu hành có thể
thay đổi được nhân quả, đúng không? Đa số nói không
được, nếu đổi không được thì người ta đặt nghi vấn,
như vậy tu hành để làm gì? Đó là những nghi vấn đối
với lý nhân quả thật khó hiểu. Vì vậy hôm nay tôi
phải giải những nghi vấn ấy để tất cả quí Phật tử
hiểu rõ, không còn ngờ vực thì trên đường tu mới
tiến, đạt được lợi ích cho bản thân, gia đình và xã
hội.Trong đạo Phật nói nhân quả là nói tới sự chuyển
biến luôn trôi chảy không dừng. Cho nên từ nhân đến
quả có thể thay đổi tùy theo sự chuyển biến ấy. Hoặc
thay đổi ở chiều này, hoặc thay đổi ở chiều nọ, chớ
không cố định. Nếu ai nghĩ nhân nào quả nấy cố định
thì không đúng lẽ thật, phải thấy rằng nhân quả tùy
duyên, tùy điều kiện thuận nghịch, nó luôn luôn
chuyển biến. Đã là chuyển biến tức nhiên phải đổi
thay chớ không thế nào nguyên vẹn trước sau như một
được, phải xác nhận nhân quả cho rõ.Chúng tôi dùng
một ví dụ để quí vị thấy dòng chuyển biến của nhân
quả.
Nhân là hạt hay cái ban đầu, quả là
trái hay cái chót. Ví dụ như chúng ta đem gieo một
hạt bắp xuống đất, từ hạt bắp đó nếu đủ đất, đủ
nước, đủ ánh nắng, nó sẽ chuyển lần lần thành mầm
bắp. Từ mầm bắp chuyển lần lần thành cây bắp con, từ
cây bắp con chuyển lần lần thành cây bắp lớn. Từ cây
bắp lớn dần dần thành trái. Như vậy một dòng chuyển
biến từ một hạt nhỏ lần lần thành cây, rồi có quả có
trái và cuối cùng rụi mất. Chúng ta thấy nó có dừng
ở một chặng nào không? Từ nhân tới quả là một dòng
chuyển biến không ngừng. Chúng ta có thể nói hạt bắp
nhất định sẽ có trái bắp ăn không? Không hẳn. Có hạt
bắp mà không xuống đất, không được nước, ánh nắng,
được săn sóc thì nó không thành trái bắp. Có hạt bắp
là có nhân, nhân đó có thể thành tựu được quả mà
cũng có thể không thành tựu được quả.
Phật pháp có cái nhìn hết sức thật.
Nhìn đời, nhìn đạo, nhìn tất cả hành động của chúng
ta, đều là một dòng thay đổi từ nhân tới quả. Trong
khi thay đổi, nó còn có những nhân phụ trợ là nhân
thuận để giúp thành hình hoặc nhân nghịch làm cho
tiêu tan. Như có hạt bắp gieo xuống đất rồi, nhưng
phải là đất tốt, được nước tưới đều thì hạt bắp mới
nảy mầm. Khi nảy mầm rồi chúng ta phải săn sóc, bón
phân, xem chừng sâu rầy có phá hay không, ta tạo
duyên tốt để cây bắp tăng trưởng đều mới đạt được
kết quả tốt. Nếu chúng ta để hạt bắp xuống rồi bỏ
luôn, không tưới nước, không bón phân, không chăm
sóc kỹ lưỡng thì cây bắp sẽ khô khan rồi chết, chớ
không thành trái bắp được. Như vậy có nhân chưa
khẳng định được sẽ có quả, còn những điều kiện phụ
trợ nữa. Phụ trợ thuận thì tăng trưởng có kết quả.
Ngược lại phụ trợ nghịch thì tiêu mòn hư mất. Đó là
điều hết sức tế nhị, nếu không hiểu quí vị sẽ dễ
thối tâm trên đường tu.Nhiều Phật tử tin gieo nhân
nào được quả nấy, thấy ai nghèo đói ủng hộ giúp đỡ,
sẵn sàng giúp đỡ những khó khổ của mọi người. Nhưng
lâu lâu quí vị gặp một tai nạn xảy ra thì buồn trách
“tôi làm lành, tại sao lại gặp quả xấu”. Điều này
cần phải dè dặt, nếu gặp cảnh xấu không làm lành
nữa, chúng ta sẽ thối Bồ-đề tâm thì không có cơ hội
thành tựu giác ngộ giải thoát.
Ngày xưa tôi có viết một bài đăng báo
Từ Quang, tên là “Nhân hoa quả cỏ”. Sở dĩ tôi viết
bài này vì lúc tôi bị bệnh phổi phải lên Phương Bối
am của thầy Nhất Hạnh ở để trị bệnh và dưỡng bệnh.
Lên đó tôi thích trồng một ít hoa chung quanh thất,
nên có vài Ni cô trên Đà Lạt tới thăm, mấy cô mua
giùm một ít hột hoa xuống cho. Tôi xới một thửa đất
theo đúng qui tắc của người làm vườn, rải hạt hoa
xuống, mỗi ngày tưới đều đều. Tôi đinh ninh trong
bụng chừng nửa tháng hạt hoa lên đầy hết. Đúng vậy,
nửa tháng sau tôi thấy lấm tấm thật nhiều, tôi mừng
quá. Tới chừng nó lên cao một chút nhìn lại toàn là
cỏ không, chẳng có cây hoa nào. Tôi ngạc nhiên, đi
quanh luống hoa xem xét kỹ lưỡng, mới phát hiện ra
mấy con kiến đi thành lằn giống như đường xe chạy.
Chúng lội tứ tung trong mấy luống hoa và ăn hết hạt
hoa của tôi. Chừng đó tôi mới vỡ lẽ ra rằng mình
ương hạt hoa, tưới tắm đều đặn nhưng quên chăm sóc
ngừa kiến, cho nên kiến tha hạt hoa đi hết, chừa lại
hạt cỏ thôi. Mình cứ tưới, rốt cuộc hoa đâu không
thấy, chỉ thấy toàn là cỏ. Nhân đó tôi viết bài
“Nhân hoa quả cỏ”. Đó là sự thật tôi đã chiêm
nghiệm.Sự thật đó đã làm cho tôi nghĩ ngợi nhiều.
Ngày xưa đi giảng, Phật tử thắc mắc tại sao con làm
lành mà cứ gặp tai nạn. Một Phật tử kể hai vợ chồng
nọ có vài đứa con, làm ăn tương đối khá. Khi ông anh
chồng vô, không biết tại sao hai ông bà chết hết,
chỉ còn lại hai đứa con. Người thím dâu thấy thương
đem về nuôi. Đó là nhân tốt. Bà nuôi lớn lên, cho đi
học đàng hoàng, nhưng tới khi hai cháu ra trường, nó
đối xử với bà rất lạnh nhạt. Bà buồn nên gặp chúng
tôi, hỏi tại sao con làm tốt mà quả trả lại xấu. Tôi
không trả lời được. Lúc ấy mới kêu mấy đứa nhỏ lại
hỏi: “Sao thím tốt với tụi con mà tụi con lại xử sự
như vậy?” Chúng trả lời thế này: “Buổi đầu thím thật
tốt với chúng con, chúng con mang ơn lắm. Nhưng thưa
Thầy, mỗi lần làm việc trong nhà, nặng là phần tụi
con, còn nhẹ là phần mấy em. Khi đi coi hát thím cho
em con mười ngàn, còn tụi con có năm ngàn.” Chúng kể
ra đủ thứ chuyện đối xử không công bằng của người
thím dâu. Tôi thấy nhân tốt ban đầu nếu chúng ta
không khéo giữ gìn, nó sẽ mất. Đứa nhỏ biết nhưng
khi còn yếu thế phải nương nhờ thì nó chịu, khi đủ
khả năng tách ra rồi, nó lơ là vì cách đối xử của
người thím không trọn vẹn thủy chung. Tốt ở ban đầu
mà khoảng giữa không tốt, giống hệt như tôi trồng
hoa vậy. Có lý do chớ không phải ngẫu nhiên.Chúng ta
thấy rằng, đối với nhân quả nếu chỉ nhìn sơ qua thì
không bao giờ thấy tường tận. Như người thím nếu
thấy kỹ hành động của mình chắc không trách cháu.
Cũng như tôi không thấy kiến nên khi cỏ lên tôi ngạc
nhiên. Nếu tôi thấy kiến bò vô, tôi sẽ không ngạc
nhiên. Có nhân mà không khéo bảo vệ, gìn giữ, giúp
nó tăng trưởng thì quả sẽ mất, không nhất định thành
quả. Nhân chúng ta đã gieo rồi, từ đó nó là một dòng
chuyển biến liên tục. Trong dòng chuyển biến liên
tục ấy chia ra hai phần: một phần chuyển biến theo
sự tăng trưởng, một phần chuyển biến theo sự hư
hoại. Cái gì giúp cho nó chuyển biến để tăng trưởng,
nhà Phật gọi là thuận nhân hay thuận duyên. Ví dụ
như hạt bắp có đủ đất tốt, có nước, có nắng cũng như
sự săn sóc sâu bọ v.v... đó là thuận nhân giúp nó
tăng trưởng. Nếu thuận nhân đủ thì bảo đảm hạt bắp
sẽ tiến triển thành cây bắp, cho ra quả bắp. Ngược
lại, nó không có đủ các thuận nhân thì sẽ bị sâu bọ
ăn hoặc thiếu nước, thiếu nắng… mà chết. Nên tuy có
nhân hạt bắp mà quả bắp không bao giờ có.Hiểu như
vậy quí Phật tử phăng ra, sẽ tìm thấy được ý nghĩa
của sự tu hành. Sự tu hành của chúng ta cũng là một
dòng chuyển biến. Tại sao? Vì chúng ta tu là tu ba
nghiệp của mình, tu ở thân, ở miệng, ở ý. Thân khẩu
ý chúng ta luôn luôn khéo tu. Ví dụ Phật tử phát
nguyện qui y Tam Bảo, gìn giữ năm giới, đó là gieo
nhân tốt rồi. Nhưng từ khi qui y, quí vị cứ nghĩ
mình đã qui y Tam Bảo, đã thành người hiền lành,
không chịu tu sửa, đinh ninh rằng mình qui y rồi,
nhất định Phật đón về Cực Lạc, đó là sai lầm.Nhiều
Phật tử nghĩ rằng qui y là cốt sống được mạnh khỏe
an vui, chết được theo Phật. Nhưng trên thực tế, quí
vị qui y rồi có mạnh khỏe luôn không, nhắm mắt được
theo Phật không? Như vậy qui y chỉ là nhân thôi. Từ
đó cho tới ngày trăm tuổi là một dòng chuyển biến.
Phật tử qui y là nhân lành, từ đó về sau thân miệng
ý luôn luôn nghĩ lành, làm lành, nói lành thì nhân
lành mới tăng trưởng. Ngược lại chúng ta được nhân
lành mà nói dữ, nghĩ xấu, làm ác, thì nhân lành đó
không tồn tại. Như vậy đừng tự mãn mình qui y rồi là
mọi việc tốt lành, được như ý.
Đừng bao giờ nghĩ như vậy.Chúng ta
mới gieo nhân, còn phải tạo thuận duyên giúp đỡ cho
nhân tăng trưởng. Đó là ý nghĩa của sự tu. Người cứ
tự mãn qui y là xong việc thì chưa biết tu. Tôi nhắc
thêm, nhiều vị có con hai ba tuổi, đem vô chùa qui y
để nó mạnh giỏi. Qui y với ý niệm cho con mạnh giỏi,
chớ không phải cho con tu. Do đó nên nhiều chùa có
tập tục nuôi con nít. Thầy lên bàn Phật nhất là bàn
thờ đức Quan Âm, để một miếng vải đỏ đội trên đầu,
tụng chú thuật chi đó, kế thầy xé miếng vải nhỏ cột
cho thằng bé. Như vậy bảo đảm nó mạnh giỏi. Thành
thử ý nghĩa qui y để tu hành không còn nữa.Chúng ta
tu Phật, nên biết nhân quả là một giáo lý căn bản
của đạo Phật, không thể nào hiểu lơ là hay sơ sài,
mà phải hiểu cho tường tận mới khỏi những ngờ vực.
Như Phật tử hồi trước làm điều xấu ác, bây giờ tu
rồi có thể chuyển đổi được quả xấu do mình làm trước
kia không? Tôi khẳng định rằng nếu chúng ta tu chân
chánh có thể chuyển đổi được, còn hết hay không thì
tùy, chớ có chuyển đổi. Tôi nói như vậy để quí vị
hiểu rõ, không phải hồi xưa mình làm cho người khác
khổ trăm phần, bây giờ tu suốt đời cũng bị trả quả
khổ trăm phần như xưa. Như vậy tu làm gì? Cho nên
nhất định phải có thay đổi nhưng thay đổi thế nào,
đó là vấn đề khác.Ở đây để tường tận hơn, chúng tôi
chỉ cho quí vị thấy ý nghĩa nhân quả mà lâu nay
chúng ta chỉ hiểu một chiều. Ví dụ có người làm được
việc lành, cứ nghĩ mình làm lành cho ai đó, mai kia
sẽ được quả lành trở lại. Nhưng nếu quả lành không
đến, vị ấy đâm ra thối tâm. Như vậy là chưa hiểu hết
lý nhân quả.Trong nhà Phật nói nhân quả có hai
trường hợp: một là tạo nhân tốt được quả tốt, hai là
tạo nhân tốt nhưng không được quả tốt. Tại sao vậy?
Ví dụ hồi xưa mình đã cư xử với người đó rất xấu,
bây giờ thấy họ khó khăn mình giúp. Hồi xưa xấu trăm
phần trăm, bây giờ giúp mới bốn năm chục phần trăm,
mà nghĩ đã có ơn với người ta rồi. Khi thấy họ không
thèm biết ơn, lúc đó mình tức tại sao giúp đỡ như
vậy mà không biết ơn? Nhưng so với quá khứ mình xấu,
cái tội cũ trả chưa đủ mà bây giờ đòi ơn, làm sao
chấp nhận được? Cho nên tuy giúp mà người kia vẫn
chưa thỏa mãn. Nếu hiểu được nhân quả chúng ta chỉ
cười thôi, giận làm chi.
Ngược lại có những người mình giúp họ
một chút thôi, mà họ rất biết ơn, rất nhớ mình. Vì
ta không nợ họ, nên giúp một chút họ cũng thấy mình
tốt. Hiểu vậy, khi giúp ai ít mà người đó nhớ ơn,
muốn tìm cách đền đáp lại, chúng ta biết mình với
người đó chưa có nợ nần cũ. Còn người mình lo thôi
là lo mà họ vẫn không thèm biết ơn, cũng không có gì
trách, cười thôi. Hiểu được nhân quả như vậy quí
Phật tử mới yên lòng tu. Nếu không nắm rõ lý nhân
quả, chúng ta nhìn cuộc đời rất bực bội.Phật tử nào
tu hành khá, khi tạo nhân liền được hưởng quả. Như
quí thầy quí cô hoặc Phật tử giúp ai, không nghĩ họ
phải trả ơn mình. Thấy người khổ cứ giúp, khả năng
tới đâu giúp tới đó, miễn họ bớt khổ là mình mừng,
họ vui mình vui, như thế đủ rồi, không mong cầu chi
hết. Như vậy nhân mình tạo ra là giúp người bớt khổ,
được vui. Thấy người vui mình vui theo, đó là gieo
nhân gặt quả liền. Nhân quả có ngay hiện đời, không
trông đợi xa xôi. Cả ngày mình giúp người này vui,
người nọ vui. Họ vui bao nhiêu mình vui bấy nhiêu.
Rõ ràng tạo nhân liền có quả. Nếu chúng ta trông chờ
đền đáp, nhiều khi người ta đáp không như mình mong
muốn thì dễ bực bội, hờn trách. Chỉ cần thấy người
ta hết khổ được vui, mình vui theo đó là quả tốt
rồi.Bởi vậy Bồ-tát giúp tất cả chúng sanh mà không
chán. Vì chúng sanh hết khổ được vui thì Bồ-tát vui
rồi, đâu có chờ đợi. Còn chúng ta giúp chúng sanh dễ
chán lắm. Tại sao? Tại mình giúp ai thì muốn người
ta biết ơn và đền ơn lại. Nếu họ không biết ơn đền
ơn thì mình buồn, không muốn giúp nữa. Bồ-tát thấy
chúng sanh đang đói, đưa miếng bánh mì cho họ ăn. Ăn
xong họ cười là Bồ-tát vui rồi, khỏi cần nghĩ gì.
Như vậy hai thái độ tạo nhân quả khác nhau, một cái
mong có sự thù đáp, một cái không mong sự thù đáp
dẫn tới hai kết quả khác nhau. Nhân quả không mong
sự thù đáp là nhân quả của người biết đạo sâu xa.
Tạo nhân quả như thế mới là lẽ chánh của người tu
Phật.Nhân quả cũng có hai cách chuyển biến: thứ nhất
là chuyển biến do tác động bên ngoài, thứ hai là
chuyển biến do nội tâm. Ví dụ như hồi xưa mình ở địa
vị cao, có những người phụ giúp mình ở địa vị thấp.
Bấy giờ ta không nghĩ tới cái khổ của người dưới,
nên hiếp đáp làm họ khổ. Vì họ ở dưới nên mình làm
khổ, họ không dám nói, không dám tỏ thái độ oán hờn,
nhưng trong lòng ôm ấp một trăm phần trăm oán hờn.
Tới lúc nào đó thay đổi, họ có địa vị cao hơn
mình, bấy giờ họ sẽ khởi niệm trả thù mình. Nhưng
rất may, khi đó mình thức tỉnh học đạo và biết tu.
Nhờ thế mình hiểu được luật nhân quả nên vui vẻ đón
nhận những quả khổ do mình đã tạo ra lúc trước,
không than van oán hờn người ta.
Đó là một cách chuyển nhân quả.Quí vị
Phật tử tụng kinh Bát-nhã “chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhất thiết khổ ách” là thấy thân năm uẩn
không thật, liền vượt qua tất cả khổ ách. Thân năm
uẩn không thật thì lời khinh chê, chửi mắng cũng
không thật. Hồi xưa mình khinh bỉ chửi mắng người ta
một trăm phần trăm, bây giờ họ tìm tới trả thù, cũng
khinh bỉ chửi mắng mình một trăm phần trăm. Nếu hiểu
đạo, thấy thân năm uẩn không thật, khi bị chửi mắng
mình thù giận hay cười? - Cười. Ngày xưa bị mình
hành phạt họ khổ sở, bây giờ họ hành phạt mình cười
không khổ, như vậy trả hay không trả? Trả hay không
trả, không thể nói khẳng định được. Nếu không trả
tại sao họ chửi mắng, hành phạt mình? Họ chửi mắng
hành phạt mình là trả thù rồi. Đối với người kia họ
thấy trả, nhưng đối với mình không thấy trả gì hết.
Khi mê mình nói họ con bò, họ giận quá chừng. Bây
giờ mình tỉnh, họ nói mình con bò, mình cười vì biết
người ấy nói bậy. Như vậy là trả mà như không trả gì
hết.Người thế gian chịu mê hay chịu tỉnh? Chịu mê.
Bởi vậy Phật nói chúng sanh đáng thương. Tất cả
chúng ta đau khổ là vì mê lầm. Từ mê lầm cứ liên
miên chịu khổ những chuyện không đáng giận, không
đáng buồn, không đáng khổ. Nếu tỉnh nghe người ta
nói những lời sai lời bậy mình cười thôi, có gì buồn
có gì khổ.Nhiều Phật tử nói, mình quấy họ chửi nhịn
được, mình không quấy họ chửi làm sao nhịn. Tôi sẽ
trả lời mình không từng quấy mà họ chửi, mình thương
họ tại vì họ điên, không hiểu gì hết mới chửi như
thế. Mình làm quấy người ta chửi, mình nhận để sửa.
Mình không từng làm quấy, họ chửi mình thương họ.
Như vậy có tu chưa? - Tu. Học đạo là học tỉnh giác,
chớ đừng mê. Phật tử tuy học Phật mà gặp mấy cảnh
trái nghịch chịu mê hơn chịu tỉnh. Đó là điều đáng
thương.Trường hợp thứ hai, nếu ngày xưa mình làm
người ta khổ nhiều, lẽ ra bây giờ họ có cơ hội trả
thù lại, nghĩa là làm khổ mình, nhưng trong thời
gian khổ họ đến với đạo và biết tu, nhờ thế họ thấy
nếu trả qua trả lại thì tất cả oán hờn cứ chồng chập
không bao giờ hết, hiểu vậy rồi họ liền hỉ xả, bỏ
hết.
Hồi xưa mình làm họ khổ, bây giờ có
đủ cơ hội nhưng họ vẫn không làm mình khổ, đó là do
họ biết tu. Tâm của người nhận oán hờn biết tu thì
quả cũng bớt cho người gây oán hờn.Chúng ta biết tu
thì ai thù oán, ta tha thứ hỉ xả. Ai tạo nhân khổ
cho mình, ta không trả lại. Cũng như mình biết tu dù
người khác muốn đến trả quả xấu, mình cũng vẫn an
lành tự tại. Như vậy sự tu chuyển biến cả tâm hồn
của người tạo quả và người trả quả, hai bên đều
chuyển biến tốt. Ngược lại, nếu hai bên không biết
tu thì trả đủ, hồi xưa vay một trăm phần trăm, ngày
nay trả tới hai trăm, tại vì nó lớn theo thời gian,
cũng như cho vay có lãi vậy. Như thế vay vay trả trả
không cùng.Cho nên Phật dạy tu là phải hiểu thấu đáo
đạo lý để gỡ bỏ những oán hờn, đau khổ. Chúng ta
được an vui, người khác mới an vui. Tu là đem lợi
lạc lại cho bản thân và mọi người. Nếu không biết
tu, chúng ta cứ gay cấn người này người kia, vay trả
trả vay, kiếp kiếp đời đời sống trong oán hờn thù
hận, không bao giờ hết khổ đau.
Đó là ý nghĩa nhân quả.Trường hợp
khác, nhân quả có thể tiêu giảm mà không do nội tâm
của người hoặc của ta. Như ngày xưa mình hung dữ, xử
sự với một kẻ khác tàn nhẫn, bây giờ họ có thế lực
muốn trả thù lại. Nhưng từ khi chúng ta thức tỉnh
biết tu, làm lành, giúp người này người nọ, chung
quanh ai cũng thương, cũng quí. Người kia tới trả
thù, thì hàng xóm liền khuyên can vì thấy mình hiền
tốt. Nhờ nhiều người khuyên can, kẻ kia giận mười
cũng giảm còn năm bảy thôi. Đó cũng là nhân quả
chuyển biến theo chiều giảm bớt. Nhờ tu quả khổ của
chúng ta giảm, cho nên nhân quả luôn đổi thay, không
cố định. Có khi đổi thay chiều thuận, có khi đổi
thay chiều nghịch. Đứng về mặt nhân quả, chúng ta
tin chắc nhân nào dù xấu mấy, nhưng nếu chúng ta cố
gắng chuyển đổi nó cũng đổi thay đôi phần.Như ngài
Mục-kiền-liên bị người ta đánh cho tới chết, Ngài
nhớ đời trước đã từng hại họ, bây giờ họ trả thù.
Ngài chịu đòn để trả hết mối nợ cũ, được giải thoát
sanh tử, lúc đó Ngài buồn giận hay vẫn thản nhiên?
Vẫn thản nhiên, đau mà không tức, không buồn vì biết
đây là chuyến chót trả cho rồi. Như vậy trả nợ đối
với Ngài là chuyện vui, trả mà không khổ. Như Tổ Huệ
Khả khi bị nhốt trong khám, Ngài nói còn chút nợ
phải trả chuyến này cho rồi.Quí Phật tử vay nợ của
ai năm mười năm, tới bây giờ còn chút ít, nếu có
tiền nên trả hay để thiếu nợ? Có tiền trả phứt cho
rảnh tay. Cho nên đem tiền trả vui chớ không buồn
giận. Vì vậy Tổ Sư Tử nói thân năm uẩn này không
thật, sá gì cái đầu. Đối với các ngài nợ cứ trả,
cười trả chớ không khổ như chúng ta. Càng học đạo
quí Phật tử thấy càng vui. Bởi vì tất cả những gì
đến, chúng ta thấy tường tận rồi cười, không buồn
phiền.
Người chưa hiểu đạo khổ đủ thứ, người
ta nói hơn mình một tiếng là chịu không nổi, bị lấn
lướt một chút chịu không nổi, bị khinh một chút chịu
cũng không nổi. Cái gì cũng chịu không nổi hết, riết
cả lồng ngực chứa đầy oán hờn thành ra bệnh tim, gần
chết khổ sở vô cùng. Bây giờ hiểu rồi chúng ta nhìn
mọi thứ chỉ cười thôi. Quí vị thấy chúng ta giận ai
chứa trong lòng, mỗi khi đang ngủ ngon giấc, giật
mình thức dậy nhớ lại chuyện oán thù thì ngủ không
được nữa. Cứ trằn trọc nhớ sao họ làm như vậy, lăn
qua trở lại mất ngủ, rồi mất ăn, đó là nhân của
bệnh. Hiểu rồi mình cười thôi, cái gì qua cho qua
luôn, hơi đâu phiền giận. Như vậy chúng ta thản
nhiên tự tại, sống trong cuộc đời rất vui. Tu là như
vậy, chớ không phải qui y để được mạnh giỏi.Nhiều
Phật tử hiểu lầm tu là mọi tai nạn qua hết. Làm sao
qua hết được! Tu là tu, còn chuyện hờn oán do mình
gây ra từ trước, người ta vẫn hờn oán. Ngày xưa mình
làm cho người đó khổ quá, họ giận mình. Bây giờ biết
tu thì tâm mình an ổn thanh tịnh, nhưng người kia
đâu có hết giận. Mai mốt gặp mình, họ xả ra một lần
cho đã giận, nếu chúng ta biết tu thấy những việc ấy
không có giá trị, chỉ đáng thương thôi thì mình
không khổ. Như vậy mình sẵn sàng trả nợ, nhưng trả
một cách nhẹ nhàng thảnh thơi.Tôi thường nói cuộc
đời này đã dành sẵn cho chúng ta rất nhiều điều bất
như ý. Muốn được an ổn chúng ta phải khéo tu, chỉ
khéo tu mới thoát khỏi những điều đau khổ khi gặp
bất như ý, chớ đừng có cầu nguyện. Phật tử hay cầu
nguyện quá, cầu nguyện cho con hết phiền não, cho
tai qua nạn khỏi. Cầu nguyện như vậy có được không?
Nhiều khi tôi xấu hổ vì chỗ này. Phật tử tin tưởng,
ai cũng muốn gởi tên cho thầy cầu an, mà thầy bệnh
phải đi bác sĩ, không tự làm an cho mình được. Thành
ra tôi rất xấu hổ không đủ sức làm cho Phật tử an.
Tôi chỉ dạy giáo lý cho Phật tử hiểu, rồi tự quí vị
giải cho mình an, mình tỉnh, chớ cầu an chưa chắc
được an. Chừng nào suốt ngày suốt tháng suốt năm tôi
không bệnh, không bất như ý tôi mới dám cầu an cho
Phật tử. Chớ quí thầy còn bệnh, còn gặp những việc
bất như ý thì cầu cho quí Phật tử khó quá. Đó là lẽ
thật, mà lẽ thật nói ra đôi khi mếch lòng một
chút.ho nên tôi xin nhắc cho quí Phật tử nhớ, chúng
ta đã tu là phải tỉnh giác, thấy được lẽ thật, thấy
được chân lý. Hiểu được lẽ thật rồi, mọi khó khăn
chúng ta giải quyết một cách hết sức dễ dàng.
Ngày xưa người ta hay nói do oan trái
mới làm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh chị em… oan
trái trong thù hận hay thương yêu. Những đứa con
trái nghịch cha mẹ lại thương nhiều, còn mấy đứa
hiếu thảo lại thương ít. Đó cũng là nhân quả, bởi vì
thương mới trả hết nợ, còn ghét trả không hết. Cha
mẹ phải thương những đứa con ngỗ nghịch, đuổi không
đành để trả, trả chừng nào hết, không đuổi nó cũng
đi. Còn những đứa con có hiếu là nợ cha mẹ, nên nó
phải trả, nhiều khi cha mẹ không ngó ngàng tới nữa.
Bởi vì nếu nó trả mà cha mẹ cứ săn sóc trở lại nhiều
quá thì chừng nào hết nợ? Cho nên người nào trả mà
cha mẹ không ngó ngàng nên mừng, như vậy mau hết
nợ.Hiểu thế, gặp hoàn cảnh nghịch làm chúng ta đau
khổ mình cũng cười, nợ thì phải trả không oán trách
ai hết. Người có tâm tu hành là đã có nhân lành, quí
Phật tử biết đến chùa, nghe quí thầy giảng là điều
hết sức tốt. Bởi có sẵn nhân lành nên ngày nay tìm
tới chỗ lành. Như vậy từ đây về sau quí vị phải khéo
tạo những trợ nhân tốt để duyên lành của mình mãi
mãi liên tục không dứt. Có thế quí Phật tử mới sống
cuộc đời an vui tự tại, được nhiều điều tốt đẹp. Cho
nên khéo tu là điều hết sức hệ trọng, chúng ta cần
phải thực hành triệt để, chớ không thể nói suông.
Càng tu càng hết khổ, càng tu càng tăng trưởng niềm
vui, tăng trưởng sự an lạc. Ai tu không được như vậy
là tu chưa đúng với Phật pháp.Để kết thúc, tôi nhắc
quí Phật tử ráng tạo duyên tốt, làm tăng trưởng nhân
lành của mình. Làm sao mỗi năm quí vị mỗi tỉnh giác
sáng suốt, để trở thành người Phật tử chân chánh,
sống cuộc đời an vui hạnh phúc, tự tại trong thế
gian nhiều buồn khổ này.