-
LỜI NÓI ĐẦU
-
PHẦN I: CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
-
LỜI DẪN
-
CHUƠNG I: PHÓNG SINH LÀ GÌ?
-
CHUƠNG II: CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
-
CHUƠNG III: NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA
LỊCH ĐẠI TỔ SƯ
Đại sư Trí Giả
Đại sư Vĩnh Minh
Đại sư Huệ Năng
Đại sư Hàn Sơn và Đại sư Thập Đắc
Thiền sư Chí Công
Thiền sư Phật Ấn
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Ngẫu Ích
Đại sư Ấn Quang
Đại sư Hoằng Nhất
Lão Hòa Thượng Hư Vân
Đại sư Diệu Thiện
Cư sĩ Lý Bỉnh Nam
Pháp sư Viên Nhân
-
CHUƠNG IV: GIẢI TRỪ NGHI VẤN
-
CHƯƠNG V: BỐN PHÁP BẢO
Sám hối
Phóng sinh
Ăn chay
Niệm Phật
-
CHƯƠNG VI: PHÓNG SINH LÀ NUÔI DƯỠNG
LÒNG TỪ BI
-
LỜI KẾT
-
PHẦN II.NHỮNG CÂU CHUYỆN PHÓNG
SINH
-
A. PHÓNG SINH ĐƯỢC PHƯỚC BÁU
TÂM TỪ BI CHUYỂN HÓA CÔN TRÙNG
THỰC HÀNH PHÓNG SINH CHUYỂN HÓA ĐƯỢC GIA ĐÌNH
THẢ CÁ ĐƯỢC THOÁT NẠN
DÙNG VOI CHỞ NƯỚC
SA DI CỨU ĐÀN KIẾN
THẦY ĐỒ THẢ CÁ LÝ NGƯ
BẦY CHIM CHÔN CẤT ÂN NHÂN
PHÓNG SINH TĂNG TUỔI THỌ
ĐƯỢC PHƯỚC SỐNG LÂU
ĐÀO AO PHÓNG SINH
THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT
-
B. SÁT SINH CHỊU ÁC BÁO
ĐỨT LƯỠI VÌ DAO MỔ TRÂU
ĐAU ĐỚN SUỐT SUỐT BA THÁNG
CẮT LƯỠI THÚ VẬT – CON BỊ KHUYẾT TẬT
NGƯỜI TÀN ÁC CHẾT ĐAU ĐỚN
NGƯỜI LÀM ÁC PHẢI BỊ CHẾT THÊ THẢM
CÁ LƯƠN TRẢ THÙ
BẮT ẾCH BỊ QUẢ BÁO
CỘNG NGHIỆP SÁT SANH
ẾCH ĐÒI MẠNG
SÁT SINH BỊ NƯỚC CUỐN
CON BA BA ĐÒI MẠNG
QUẢ BÁO HIỆN TIỀN
CẮM ĐẦU VÀO NỒI VÌ BẠO SÁT
GIẾT HEO BỊ QUẢ BÁO THẢM KHỐC
GIẾT DÊ BIẾN THÀNH DÊ
-
MẤY LỜI TÂM HUYẾT
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo lý của đạo Phật tuy rất sâu xa
mầu nhiệm nhưng cũng vô cùng thiết thực, gần gũi;
tuy nói tánh không, giải thoát, nhưng cũng không rời
sự sống của muôn loài; tuy nói hành thiền, quán
tịnh, nhưng nhất cử nhất động cũng đều vì lợi ích
của tất cả chúng sinh. Bậc chân tu giác ngộ từ xưa
nay chưa từng nghĩ đến việc lìa khỏi chúng sinh
phiền não để riêng mình được phần giải thoát. Chính
đức Phật Thích-ca cũng từng thị hiện trải qua biết
bao khó nhọc, suốt bốn mươi chín năm không một phút
nghỉ ngơi để rộng truyền Chánh pháp khắp nơi.
Vì thế, đạo giải thoát không phải chỉ ở nơi thâm sơn
cùng cốc, mà luôn hiển hiện quanh ta. Ngày nào chúng
ta chưa thấy được điều ấy, chưa vận dụng được những
lời dạy của đức Phật vào ngay trong cuộc sống hằng
ngày, thì chúng ta chưa thể thực sự hưởng được phần
lợi ích vô biên của giáo pháp. Và cũng vì thế, việc
nghe hiểu được giáo pháp là điều vô cùng quý báu,
nhưng vẫn chưa thể nào so sánh được với giá trị của
việc thực hành giáo pháp. Chỉ có thực hành giáo pháp
mới mang lại sự an vui lợi lạc cho chính ta và mọi
người quanh ta; chỉ có thực hành giáo pháp mới giúp
ta trực tiếp cảm nhận được những ý nghĩa sâu xa và
mầu nhiệm trong từng lời dạy của đức Thế Tôn; và chỉ
có thực hành giáo pháp mới có thể giúp ta xa lìa
những khổ đau của thế tục, ngày một tiến gần hơn đến
cảnh giới an lạc, giải thoát. Những ai có may mắn
được tiếp xúc với giáo pháp, được đọc hiểu giáo
pháp, nhưng nếu không tự mình thực hành thì cũng
chẳng khác nào kẻ đếm tiền giúp cho người khác, trọn
đời không có được chút giá trị quý báu nào cho chính
mình.
Trong vô số những pháp môn phương tiện mà đức Phật
đã từng chỉ dạy, chỉ có phương pháp phóng sinh là dễ
thực hành nhất mà có thể sớm mang lại hiệu quả nhất.
Sở dĩ như vậy, vì phóng sinh là trực tiếp giải cứu
sinh mạng cho chúng sinh, mà sinh mạng lại chính là
giá trị cao cả nhất, được trân quý nhất của tất cả
chúng sinh. Giải cứu được sinh mạng cho chúng sinh
tức là giúp chúng sinh giữ lại được cái giá trị cao
cả nhất, đáng trân quý nhất. Như vậy, thử hỏi còn có
việc làm nào ý nghĩa hơn, đáng làm hơn chăng? Chỉ
một việc phóng sinh đơn giản dễ làm mà có thể gieo
được cái nhân lành thù thắng không gì so sánh được,
đó là cứu vớt sinh mạng cho những chúng sinh sắp
phải nhận lấy cái chết. Dù là xét theo lý lẽ thường
tình của thế gian hay theo giáo pháp nhân quả của
Phật dạy, cũng đều có thể thấy được là việc làm ấy
đáng trân trọng biết bao nhiêu, chắc chắn sẽ mang
lại kết quả to lớn biết bao nhiêu!
Mặc dù vậy, trong thực tế cũng có nhiều người không
thấy được những ý nghĩa rất thiết thực của việc
phóng sinh. Họ biện luận vòng vo, đưa ra lý này lẽ
khác, luôn cho rằng việc phóng sinh thực ra chẳng có
ý nghĩa gì!!! Vì sao vậy? Điều không thể phủ nhận là
thói quen giết hại của con người từ xưa đến nay đã
quá nặng nề. Có khi giết để ăn thịt, có khi giết để
lấy da, xương, lông, sừng... và các bộ phận khác của
thú vật mà sử dụng, nhưng cũng lắm khi giết hại chỉ
vì lòng hiếu sát, chỉ vì để mua vui, giải trí trong
chốc lát... Than ôi! Những kẻ xem thường sinh mạng
muôn loài như thế ngày nay thật nhiều không kể xiết,
mà người thực hành phóng sinh chỉ lác đác như đếm
được trên đầu ngón tay. Vì thế, mặc cho có những
người tích cực phóng sinh, mà số loài vật bị giết
hại vẫn dường như không thấy giảm thiểu chút nào!
Chính vì nhìn thấy thực trạng như vậy mà rất nhiều
người đã nản lòng thối chí, cho rằng những nỗ lực
phóng sinh chẳng qua cũng chỉ như dã tràng xe cát,
nào có ích lợi gì!
Nhưng cách suy nghĩ như thế thật là cạn cợt và vô
lý. Cho dù kẻ giết hại nhiều, người phóng sinh ít,
cũng không thể vì thế mà chúng ta lại bỏ đi việc làm
tốt đẹp của chính mình. Ví như sau một trận động
đất, người chết nhiều như rơm rạ, mà người còn sống
sót chẳng có bao nhiêu, dù nỗ lực suốt ngày trời
chẳng qua cũng chỉ tìm cứu được một vài sinh mạng.
Nhưng cũng không thể vì thế mà bỏ đi công việc tìm
kiếm cứu nạn. Hơn nữa, lại càng phải dốc sức đào
bới, tìm kiếm tích cực hơn, may ra còn có thể kịp
thời cứu sống được những nạn nhân khốn khổ đang bị
đè trong đất đá. Cũng vậy, đồng loại của chúng ta
càng ra sức giết hại, thì ta càng phải tích cực hơn
trong việc phóng sinh, hầu có thể cứu chuộc được
phần nào những tội lỗi nặng nề mà những kẻ si mê kia
đang ngày đêm tạo tác.
Mặt khác, cũng có không ít người mang nặng ý tưởng
phân biệt giữa sự sống của con người với sự sống của
loài vật. Họ cho rằng chỉ có con người mới thực sự
có quyền được sống, còn loài vật sinh ra vốn chỉ để
phục vụ đời sống con người (!), dù có giết chết bao
nhiêu con vật cũng chẳng có gì là tội lỗi! Thật ra,
những lập luận như thế thường chỉ là tự dối gạt
chính mình, để bảo vệ cho việc làm sai trái của mình
mà thôi. Vì hầu hết những người đưa ra lập luận như
thế nhưng khi nhìn thấy cảnh những con vật bị giết
chết, bị hành hạ đau đớn, cũng đều không thể dửng
dưng vô sự, mà đều có sự động tâm thương xót tự
trong sâu thẳm của lòng mình. Sở dĩ như thế là vì sự
sống vốn không hề có phân biệt, cho dù là những con
vật nhỏ hay lớn, sống trên cạn hay dưới nước, cũng
đều biểu lộ những phẩm tính hoàn toàn giống nhau đối
với sự sống còn. Tất cả đều thực hiệnam sống sợ
chết, đều biết sợ hãi, đau đớn, mừng vui, yêu
thương, oán giận... Như thế thì dựa vào đâu để tự
cho rằng chỉ có con người mới có quyền được sống?
Hơn nữa, nếu như trên thế giới này chỉ còn lại duy
nhất loài người, liệu chúng ta có vui sống được hay
chăng?
Thật ra, muốn thấu hiểu mọi ý nghĩa sâu xa của việc
phóng sinh cũng không phải là việc dễ dàng. Vì thế,
các vị Tổ sư từ xưa nay đã có không ít vị dành trọn
cuộc đời để tuyên dương, giảng giải và khuyến khích
mọi người cố gắng làm việc phóng sinh. Trong tập
sách này, chúng tôi ghi lại những lời dạy của Pháp
sư Viên Nhân, một bậc cao tăng thạc đức, người đã
hết lòng cổ xúy cho việc phóng sinh. Sự giảng giải
của ngài, tuy nhiều chỗ đơn sơ mà không kém phần sâu
sắc, thể hiện rõ trí tuệ của một bậc cao tăng thực
tu thực chứng, hy vọng có thể qua đó mà giúp cho
nhiều người hiểu sâu thêm về ý nghĩa và công đức của
việc phóng sinh.
Chúng tôi biên soạn sách này gồm hai phần, nhắm đến
việc giảng dụ từ những ý nghĩa căn bản nhất cho đến
sâu xa, thâm thúy nhất của việc phóng sinh. Vì thế,
hy vọng là có thể phù hợp với nhu cầu tìm hiểu của
đông đảo độc giả, từ những người đã am hiểu phần nào
cho đến cả những người sơ cơ chưa từng nghe biết
đến.
Về phần giảng, ngoài những lời dạy của Lão Pháp sư
Viên Nhân, chúng tôi cũng dẫn thêm quan điểm, ý kiến
cũng như lời dạy của nhiều vị Tổ sư, các bậc danh
tăng từ xưa nay, kể cả những vị đương đại. Trong
phần này, phần lớn tư liệu là do chư tăng ở Viện
Chuyên tu (Đại Tòng Lâm) cung cấp. Chúng tôi xin
chân thành cảm ơn và ghi nhận sự đóng góp quý báu
của quý thầy.
Về phần dụ, chúng tôi ghi lại những câu chuyện xưa
nay minh họa cho ý nghĩa và kết quả của việc phóng
sinh, chủ yếu là cho thấy việc thực hành phóng sinh
được phước báu ra sao, cũng như việc giết hại sinh
mạng phải chịu những quả báo như thế nào. Trong phần
này, ngoài sự giúp đỡ của quý thầy ở Viện Chuyên tu,
chúng tôi cũng nhận được tập sưu tầm của Sư cô Linh
Lạc, do Sư cô Linh Bửu chuyển đến, và đặc biệt là
chuyện kể của Đại đức Thích Nhuận Châu ở Tịnh thất
Từ Nghiêm (Đại Tòng Lâm). Chúng tôi xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy và quý sư
cô trong việc thực hiện tập sách này.
Qua những lời giảng giải và những câu chuyện có xưa,
có nay, hội đủ các yếu tố cổ kim, chúng tôi hy vọng
có thể giúp cho tất cả mọi người đều thấy rõ được
giá trị của việc cứu vật phóng sinh cũng như sự nguy
hại của việc giết hại sinh mạng mà sớm có một sự
chuyển hướng tốt đẹp trong đời sống.
Tâm nguyện duy nhất của chúng tôi khi thực hiện tập
sách này là mong sao có thể góp được một phần nhỏ bé
trong việc khơi dậy lòng từ bi sẵn có nơi tất cả mọi
người, khiến cho ai ai cũng thực hành việc giới sát
phóng sinh, giúp cho loài vật sớm có được một cuộc
sống an lành, không bị giết hại.
Trong quá trình thực hiện, chắc chắn không thể tránh
khỏi ít nhiều sai sót, kính mong các bậc tôn túc
trưởng thượng rộng lòng chỉ bảo và quý vị độc giả
gần xa niệm tình tha thứ.
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
PHẦN I.
CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
LỜI DẪN
Kinh Phạm Võng dạy rằng “Người Phật
tử nếu lấy tâm từ mà làm việc phóng sinh thì thấy
tất cả người nam đều là cha mình, tất cả người nữ
đều là mẹ mình. Vì mình trải qua nhiều đời đều do đó
mà sinh ra, nên chúng sinh trong sáu đường đều là
cha mẹ của mình. Nếu giết hại sinh mạng để ăn thịt
tức là tự giết cha mẹ mình, cũng là giết thân cũ của
mình. Tất cả đất, nước là thân trước của mình. Tất
cả gió lửa là bản thể của mình. Cho nên, thường thực
hành phóng sinh thì đời đời sinh ra thường gặp Chánh
pháp. Khuyên dạy người làm việc phóng sinh, nếu thấy
người đời giết hại súc vật, nên tìm phương tiện để
giải cứu, khiến cho chúng được thoát khổ nạn.”[1]
Đức Phật có trí tuệ vô thượng, trong kinh Phạm Võng
đã sớm có lời ân cần khẩn thiết khuyên răn chúng ta.
Giới sát phóng sinh thì tiêu trừ nghiệp chướng, lại
trưởng dưỡng được tâm từ bi. Đức Phật còn nói rõ
rằng: “Chúng sinh trong sáu đường đều là cha mẹ ta,
cứu vật sống được tức là cứu được cha mẹ ta.”
Mỗi một chúng sinh đều là anh em, thân quyến, cha
mẹ, con cái từ nhiều kiếp đến nay của chúng ta. Nếu
đem nhãn quan của mình mở rộng đến chân tướng vô hạn
của không gian, thời gian, của vũ trụ, đối diện với
thân quyến của mình lúc bị bắt, bị nhốt, bị giết, bị
ăn thịt... vẫn không cố gắng tận tâm mà rụt rè do
dự; không gấp rút mà giải cứu họ, thật chẳng bằng
loài cầm thú.
Tuy nhiên, chính như Đại sư Ấn Quang,[2]
tổ thứ 13 của Liên tông có nói: “Việc giới sát phóng
sinh tuy cạn cợt dễ thấy, mà cái lý của giới sát
phóng sinh thì sâu mà khó hiểu.” Trong thời mạt pháp
mờ mịt như ngày nay, Chánh pháp suy vi, ma đạo thịnh
hành, tánh người ngu tối thấp hèn, chúng sinh nghiệp
chướng sâu nặng, bị vô minh che lấp, không có trí
tuệ để chọn lấy pháp môn thù thắng, đơn giản dễ thực
hành này; không có phước báu để tiêu trừ sát nghiệp
vô tận nhiều đời tạo nên. Vì vậy nên đề xướng việc
phóng sinh ngày nay thật là khó khăn, thường gặp
phải sự cản trở phê phán rất nhiều. Thường thường
vừa gặp phải sự phê bình, thì có nhiều cư sĩ phóng
sinh đã mất hẳn niềm tin, sinh lòng thối chuyển,
tiếp đó thì bỏ đi cơ hội tiêu trừ nghiệp chướng.
Khó làm mà làm được mới đáng quý! Trong thời mạt
pháp hôm nay, có một vị không sợ bị chê cười, phỉ
báng, dị nghị; bất kể sự phê bình cản trở khó khăn,
đối với việc phóng sinh vẫn cật lực đề xướng. Đó là
Lão Pháp sư Viên Nhân. Lão Pháp sư đối với cư sĩ đến
thỉnh pháp đều khuyến khích: “Phải hết lòng niệm
Phật, lấy giới làm thầy.” Ngoài ra đối với việc giới
sát phóng sinh đặc biệt nhấn mạnh, chú trọng. Lão
Pháp sư thường hay khuyên răn chúng ta: “Phóng sinh
tức là trả nợ, trả vô số nợ sát sinh từ nhiều đời
nhiều kiếp đến nay. Người đời nay nhiều bệnh tật đau
khổ, đều là do thiếu món nợ sát sinh từ kiếp trước
mà có. Trả nợ sát sinh, chỉ có phương pháp hay nhất
là phóng sinh. Cứu mạng kẻ khác cũng như cứu mạng
mình, tức là trả món nợ sát sinh trước kia đã
thiếu.”
Lão Pháp sư Viên Nhân dạy: “Nhân quả báo ứng như
bóng theo hình. Sát sinh tự có ác báo của sát sinh.
Phóng sinh tự có thiện báo của phóng sinh. Đừng nên
để ý đến sự phê bình, hủy báng của kẻ khác. Chúng ta
thực hành thiện nghiệp của mình, kẻ khác tạo ác
nghiệp của chính họ. Mai sau quả báo hiện tiền,
thiện ác nhân quả báo ứng tuyệt đối không bao giờ
sai được.”
Dưới sự chỉ dạy của Lão Pháp sư, những cư sĩ phóng
sinh chẳng những tiêu trừ được túc nghiệp mà trong
quá trình phóng sinh lại càng nuôi dưỡng được tấm
lòng từ bi, thể hội được chân lý: Vạn vật chúng sinh
bình đẳng nhất như, đều có đầy đủ tánh Phật, đều có
thể thành Phật. Sự chuyển biến của loại tâm từ bi
này chẳng phải hạng người chỉ biết phê phán, chỉ
trích kia có thể lãnh hội được trong muôn một.
Trong nghĩa cử cao đẹp của việc phóng sinh, bao
nhiêu những chứng bệnh ung thư, ác tật đều tiêu mất
trong vô hình. Bao nhiêu sự kiện cảm ứng nhiệm mầu
thật chứng, từ miệng các cư sĩ thường xuyên kể lại.
Bao nhiêu hình ảnh của loài vật cảm ơn thị hiện
trước mắt. Quyển sách Công đức phóng sinh này hy
vọng có thể khiến cho càng nhiều người hiểu rõ được
sự thù thắng của việc phóng sinh, từ đó mà tự mình
cố gắng làm công việc từ bi phóng sinh. Cũng hy vọng
khiến cho những người đối với việc phóng sinh có sự
nghi ngờ và phê bình, qua sự giảng giải trong sách
này có thể cải chính một số thiên kiến của chính
mình, không cản trở kẻ khác phóng sinh nữa; lại tiến
thêm một bước để bỏ ác làm lành, rộng khuyên người
đời phóng sinh.
Qua lời dạy của Lão Pháp sư Viên Nhân, mong sao
người nghe có thể một truyền ra mười, mười truyền ra
trăm ngàn... khiến cho người người đều khởi tâm từ
bi, đều thực hiện việc phóng sinh. Nhờ đó mà phát
triển việc giới sát, ăn chay, khiến cho mọi sự tàn
bạo trong xã hội được tiêu trừ, tuần hoàn tăng
trưởng, đất nước an lành, nhân dân thịnh vượng, vạn
vật muôn loài trong trời đất đều được vui thú hồn
nhiên, hưởng trọn tuổi đời.
CHUƠNG I: PHÓNG SINH LÀ GÌ?
Thế nào gọi là phóng sinh? Phóng sinh
tức là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống
đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại,
kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy
ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như
vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy
mạng sống.
Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác,
tội sát sinh là nặng nhất. Trong tất cả các công
đức, không giết hại là công đức lớn nhất.” Tại sao
phải phóng sinh? Nói một cách đơn giản, phóng sinh
tức là cứu chuộc mạng sống. Chúng ta đã tạo sát
nghiệp nặng nề từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay. Kinh
Hoa Nghiêm dạy rằng: “Nếu ác nghiệp này có hình
tướng thì cho đến cùng tận hư không cũng không dung
chứa hết.” Chúng ta ngay trong kiếp này tạo nghiệp
giết hại chúng sinh quả thật đã không thể tính đếm
được, huống chi là đã tạo trong nhiều đời nhiều
kiếp!
Nên biết chân lý: “Có nợ phải trả, có tội phải báo.”
Xét lại tự thân mình đã tạo biết bao nghiệp giết
hại, chẳng tránh khỏi phải khủng hoảng, xấu hổ, thật
không đất dung chứa! Sao có thể không tự mình kịp
thời sám hối, cố gắng phóng sinh, hầu mong đền trả
nợ nần trong muôn một! Việc phóng sinh có thể trưởng
dưỡng tấm lòng từ bi của mình. Nên khởi lòng bi mẫn
phóng sinh, xem sinh mạng của loài vật như sinh mạng
của chính mình. Được vậy thì sẽ chẳng cuồng vọng,
điên đảo nữa; sẽ chẳng tạo nghiệp giết hại nữa; sẽ
chẳng thiếu món nợ sát sinh nữa; nên chẳng phải luân
hồi thọ báo nữa.
Kinh Dược Sư Lưu Ly bổn nguyện công đức dạy rằng:
“Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát
khỏi các tai nạn.” Người phóng sinh tu phước, cứu
giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không
gặp các tai nạn.
Phóng sinh có những công đức gì?
Công đức phóng sinh rộng lớn vô biên, không thể tính
đếm. Nay xin nói đại lược như sau:
1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến
tranh tàn sát.
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh tật.
3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai
nạn.
4. Con cháu đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi
không ngừng.
5. Chỗ mong cầu được toại nguyện.
6. Công việc làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp
nhiều thuận lợi.
7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn,
chư Phật hoan hỷ.
8. Giải trừ oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo
buồn, sầu não.
9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn.
10. Tái sinh về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu
có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về thế giới Tây
phương Cực Lạc.
Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện dạy
rằng: “Chúng sinh thương yêu nhất là sinh mạng, chư
Phật thương yêu nhất là chúng sinh. Cứu được thân
mạng chúng sinh thì thành tựu được tâm nguyện của
chư Phật.”
Sau khi phóng sinh, tự mình có những thay đổi gì?
Phóng sinh có thể nuôi dưỡng lòng từ bi của chúng
ta. Trong khi thực hiện việc phóng sinh, chúng ta
nhân đó có thể thấu hiểu được chân lý vạn vật đều
bình đẳng, đều có cảm giác, đều có tánh Phật, đều có
thể thành Phật. Nhờ đó, chúng ta có thể khởi tâm từ
bi với hết thảy chúng sinh, lại còn tôn trọng trân
quí. Tiến thêm một bước nữa, trong cuộc sống hằng
ngày có thể thực hiện việc giới sát, ăn chay, cứu
giúp sinh mạng muôn loài; các điều ác không làm, các
điều thiện cố gắng làm; khởi tâm từ bi đối với tất
cả muôn loài trên thế gian.
Nên biết rằng, tâm Phật là từ bi. Khi chúng ta nuôi
dưỡng lòng từ bi thì tâm ta với tâm Phật hợp nhau,
chư Phật hoan hỷ thì tự nhiên dễ có sự cảm ứng đạo
giao, việc học Phật tự nhiên dễ dàng thành tựu.
Trong kinh Phạm võng, Bồ Tát Giới sám văn có dạy:
“Phật tử không được tự mình giết hại, dạy người giết
hại, dùng phương tiện giết hại, tán thành việc giết
hại, hoặc thấy người khác giết hại mà vui mừng tán
thành. Tất cả các loài có sự sống, có sinh mạng, đều
không được giết hại. Bồ Tát phải luôn phát khởi, gìn
giữ tâm từ bi, hiếu thuận, dùng phương tiện mà cứu
mạng, bảo vệ cho tất cả chúng sinh. Người thích sát
sinh thì làm ngược với bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ,
xả. Như vậy là phạm vào tội ba-la-di của hàng Bồ
Tát.”
Tại sao hiện nay có nhiều người phản đối và chỉ
trích việc phóng sinh? Phóng sinh là phương pháp dễ
dàng nhất để tiêu trừ nghiệp chướng, lại đơn giản dễ
làm. Chỉ cần phát tâm tùy thời, tùy chỗ, một người
hay nhiều người, nhiều tiền hay ít tiền đều có thể
phóng sinh. Chính vì phóng sinh thù thắng nhiệm mầu
như vậy, mà nhiều đời nhiều kiếp đến nay chúng ta có
biết bao nhiêu oan gia trái chủ, tà ma ngoại đạo,
đều không muốn chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng,
thành tựu đạo nghiệp một cách đơn giản như vậy. Vì
thế nên chúng dùng trăm phương nghìn kế để tăng
trưởng vô minh, làm lẫn lộn sự thấy nghe, mê hoặc
nhân tâm, cản trở người ta phóng sinh.
Kinh Chánh pháp niệm có dạy: “Tạo một ngôi chùa
chẳng bằng cứu một sinh mạng.” Công đức phóng sinh
to lớn đến như thế!
Hỏi: Có thể nào nói rõ một cách đơn giản đạo lý của
việc phóng sinh?
Đáp: Có những điểm rất dễ thấy, dễ biết như sau:
1. Nhân quả báo ứng như bóng theo hình, mảy may
không sai chạy. Gieo nhân gì thì gặt quả ấy, đó là
chân lý ngàn đời không thay đổi. Phóng sinh tức là
cứu sống sinh mạng. Đã gieo nhân lành ắt phải được
quả lành. Cản trở và phê phán việc phóng sinh tức là
làm phương hại việc cứu sống sinh mạng. Đã gieo nhân
ác ắt phải gặt quả ác.
2. Muôn loài chúng sinh đều có sự sống, đều biết
tránh nơi hung dữ, tìm chỗ an lành; đều biết tham
sống sợ chết, đều có vui, buồn, yêu, ghét... Người
thực hiện việc phóng sinh thì loài vật đều âm thầm
cảm ơn và luôn mong có dịp báo đáp.
3. Muôn loài chúng sinh đều có đủ tánh Phật như
chúng ta, nếu so sánh với nhau đều không hơn, không
khác. Chỉ vì ác nghiệp trước đây sâu nặng, nên chúng
phải sinh làm các loài súc sinh. Ngày nào nghiệp
chướng tiêu trừ, phát tâm tu tập thì cũng đều có thể
chứng thành quả Phật. Vì thế, ngày nay thực hiện
việc phóng sinh, cứu được một mạng sống, cũng giống
như cứu được một vị Phật trong tương lai.
4. Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi
từ vô thủy đến nay đều đã từng là anh em, thân
quyến. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh
cũng giống như cứu vớt người thân của mình.
5. Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi
quá khứ đều đã từng là oan gia cừu địch. Vì thế,
ngày nay thực hiện việc phóng sinh là cơ hội có thể
hóa giải oán thù, chấm dứt sự oan oan tương báo.
Hỏi: Nay dù chúng ta cố sức làm việc phóng sinh,
nhưng còn biết bao người khác vẫn khăng khăng tìm
cách bắt giết, như vậy thì có ý nghĩa gì?
Đáp: Người phóng sinh có công đức của việc phóng
sinh. Kẻ bắt giết có tội lỗi của việc bắt giết.
Chúng ta là người tạo công đức của chính mình, người
khác bắt giết gây ra tội lỗi của chính họ. Mọi việc
trong thế gian đều tương đối tồn tại: Có thiện tất
có ác, có ngay thẳng tất có gian tà. Lẽ nào vì hành
động tội lỗi của kẻ khác bắt giết mà chúng ta lại
không làm thiện hạnh phóng sinh hay sao? Như bác sĩ
chữa trị cho bệnh nhân, cũng không thể bảo đảm bệnh
nhân sẽ mãi mãi mạnh khỏe. Gặp khi mất mùa phát tâm
cứu tế, cũng không thể bảo đảm dân nghèo về sau mãi
mãi chẳng đói thiếu. Mọi việc trong thế gian đều là
như vậy. Tại sao chỉ có một việc phóng sinh lại đặc
biệt nghi ngờ? Con người hiện nay đối với việc danh
lợi cá nhân trước mắt thì lỗ mãng, nóng nảy, không
chút dè dặt. Nhưng đối với việc làm thiện phóng sinh
thì lại vô cùng do dự, cố sức vạch lá tìm sâu để chỉ
ra những chỗ không nên của việc phóng sinh, quả thật
là điên đảo!
Trong kinh Phật diệt độ hậu quan liệm táng tống có
dạy rằng: “Nên giữ theo tâm từ, ban trải ân huệ đến
muôn loài, xem thân mạng muôn loài chúng sinh như
thân mạng của chính mình. Mở rộng lòng từ bi, dùng
thân mình mà giúp an ổn cho muôn loài, tức là mở con
đường hạnh phúc cho chúng sinh. Bảo hộ thân mạng
muôn loài, thấm nhuần đến cả cỏ cây, khiến cho muôn
loài đều không phải dứt tuyệt.”[3]
Hỏi: Rất nhiều người phê phán rằng: Bỏ tiền mua
những con vật để thả ra nhưng cũng không cứu sống
được chúng. Như vậy thì phóng sinh nào có ý nghĩa
gì?
Đáp: Cần nêu rõ mấy ý như sau. Thứ nhất, những con
vật thả ra mà không sống được chỉ là một số ít.
Tuyệt đại đa số những con vật phóng sinh đều được
sống còn. Nếu ta không làm việc phóng sinh thì tất
cả những con vật ấy đều bị giết hại. Vậy không thể
vì một số ít con vật bị chết mà hoàn toàn phủ nhận
nghĩa cử cao đẹp của việc phóng sinh. Như vậy há
chẳng phải vì mắc nghẹn mà bỏ ăn sao? Như vậy thật
vô lý.
Thứ hai, trong những con vật thả ra, dù có bị chết
thì ít nhất cũng được chết trong tự do, chết trong
môi trường thiên nhiên quen thuộc, cũng còn tốt hơn
là bị cắt xẻo, bị chiên dầu, trải qua cực hình nước
sôi, lửa đốt mà chết, đau khổ gấp trăm ngàn lần!
Thứ ba, đối với những con vật khi phóng sinh thả ra
được sống thì chúng ta vui mừng vì đã tạo cho chúng
cơ hội sống còn; đối với những con vật không may
chết đi thì chúng ta nên thành tâm cầu nguyện sự tốt
lành cho chúng. Bởi vì hôm nay, trong nhân duyên
phóng sinh ngàn năm khó gặp này, ta đã vì những con
vật ấy mà phát nguyện quy y Tam bảo: Phật, Pháp,
Tăng, nên khi nghiệp ác trong kiếp này vừa dứt thì
chúng vĩnh viễn chẳng còn rơi vào trong ba đường ác[4]
nữa. Hơn nữa, đã được nghe ta niệm sáu chữ hồng danh
“Nam-mô A-di-đà Phật” tức là đã được gieo hạt giống
đạo pháp trong tâm, vĩnh viễn không bao giờ hư mất,
chỉ chờ khi hội đủ duyên lành sẽ phát khởi đại diệu
dụng. Kiếp sau nghiệp báo đã hết, được sớm chuyển
thế làm người, được niệm Phật tu hành, chứng thành
Phật quả, còn có thể trở lại Ta-bà cứu độ vô số
chúng sinh khổ nạn.
Trong kinh Phật có dạy rằng, nếu không giết hại, làm
việc phóng sinh thì được quả báo tuổi thọ dài lâu;
giữ giới không giết hại thì giải trừ được mọi oán
thù, nuôi dưỡng được tâm từ bi, làm nảy nở hạt giống
Bồ-đề.
CHUƠNG II: CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
Hỏi: Có thể nào giảng giải thêm về ý
nghĩa sâu xa hơn nữa của việc phóng sinh trong
trường hợp những con vật thả ra bị chết?
Đáp: Chúng ta có thể xem trong phẩm Lưu thủy trưởng
giả tử thứ 16 trong kinh Kim Quang Minh. Tiền thân
của Đức Phật có lần là con nhà trưởng giả, vì không
nỡ nhẫn tâm thấy hàng vạn con cá đang dần dần bị
chết khô trong vũng cạn, nên gấp rút dùng hai mươi
con voi lớn chở nước đến đổ vào để cứu sống sinh
mạng đàn cá, lại vì một vạn con cá ấy mà thuyết
pháp, niệm Phật. Trong ngày mạng chung, số thi thể
cá này tích tụ trên bờ ao, thần thức của chúng được
vãng sinh lên cõi trời Đao-lợi, hưởng phước không
cùng. Nay xin trích dẫn nguyên văn trong kinh làm
chứng: “Bấy giờ, cõi đất nơi ấy chấn động dữ dội,
mười ngàn con cá cùng chết đi trong một ngày. Vừa
chết rồi liền được sinh về cõi trời Đao-lợi.”[5]
Sự thật, phước báu lớn lao của việc phóng sinh còn
là ở chỗ thực hiện nghi thức phóng sinh, bao gồm
việc quy y, niệm Phật. Loài súc sinh trong lúc sắp
chết, thử hỏi có mấy con may mắn được quy y Phật,
Pháp, Tăng? Lại còn được các vị pháp sư và cư sĩ đều
vì chúng mà niệm Phật cầu nguyện cho được siêu độ.
Nhờ đó mà nghiệp báo mau dứt, sớm được ra khỏi ba
đường ác, há chẳng phải phước duyên sâu dày lắm sao?
Nhờ đó mà nghiệp báo súc sinh sớm dứt, được chuyển
sinh kiếp người, biết niệm Phật tu hành, nhanh chóng
được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, há
chẳng phải là nhân duyên thù thắng hay sao? Cho nên
khi cư sĩ khi phóng sinh phải luôn phát tâm từ bi mà
cứu chuộc sinh mạng. Thử đặt mình vào vị trí nguy
kịch ấy, vì cứu lấy mạng sống đang nguy ngập mà làm
việc phóng sinh. Nếu vạn nhất con vật ấy có chết đi
thì chúng ta cũng không có gì phải hổ thẹn với lương
tâm, đồng thời cũng đã dành cho chúng sự cầu nguyện
chân thành vô hạn. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
dạy rằng: “Tâm Phật chính là tâm đại từ bi, dùng tâm
từ không vướng mắc mà hóa độ khắp cả chúng sinh.”[6]
Hỏi: Muôn loài cầm thú có đến hàng ngàn, hàng vạn,
chúng ta phóng sinh làm sao thả cho hết được?
Đáp: Đức lớn của trời đất là sự sống, đạo lớn của
Như Lai là từ bi. Thuận theo đạo trời thì yêu thích
sự sống mà chán ghét sự giết hại. Nay ta cố gắng
thực hiện việc phóng sinh, nuôi dưỡng tâm từ bi là
hợp với lòng trời mà chư Phật lại hoan hỷ. Nếu như
cứu được một mạng sống, công đức đã là vô lượng vô
biên, huống chi là cứu được nhiều mạng sống? Đến như
muôn vạn loài súc sinh, dù hết lòng cứu vớt cũng
không hết, đó là do từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay
cộng nghiệp tạo thành, chẳng phải trong một lúc có
thể dứt hết. Chúng ta chỉ cần đem hết khả năng mình,
tùy duyên mà thực hiện việc phóng sinh. Không thể vì
muôn loài súc sinh quá nhiều không giải cứu hết mà
lại không ra tay cứu lấy những sinh mạng trong muôn
một.
Kinh Đại Bát Niết-bàn dạy rằng: “Lòng đại từ đại bi
gọi là tánh Phật.”[7]
Lại cũng dạy rằng: “Lòng từ bi chính là Như Lai, Như
Lai chính là lòng từ bi.”[8]
Hỏi: Tôi nghĩ, thà đem số tiền làm việc phóng sinh
để cứu tế cho những người nghèo khó đói thiếu, xem
ra có hiệu quả thực tế hơn.
Đáp: Già cả cô độc, bần cùng khổ nạn, tuy thật đáng
thương xót, nhưng mạng sống chưa đến nỗi phải mất đi
trong chốc lát. Còn loài vật đang nguy ngập kia, nếu
chẳng kịp cứu giúp phóng sinh thì tức khắc sẽ bị
giết để nấu nướng, phải bỏ mạng trong miệng con
người. Một bên là cảnh ngộ đáng thương, nhưng vẫn
còn giữ được tính mạng. Một bên là chỉ mành treo
chuông, mạng sống bị đe dọa. So ra bên nào gấp rút
hơn đã có thể thấy ngay.
Nên biết, chúng sinh muôn loài so với chúng ta thì
tánh Phật cũng đồng nhất, không sai khác. Chỉ vì vô
minh che lấp, nghiệp báo nặng nề mà phải trầm luân
trong cảnh giới súc sinh. Đối với tất cả chúng sinh,
đức Phật đều thương yêu như đứa con duy nhất. Cứu
được một mạng sống tức là cứu được một người con
Phật, nên chư Phật đều hoan hỷ. Lại nữa, cứu một
chúng sinh cũng như cứu được một vị Phật tương lai,
vì tất cả chúng sinh đều có tánh Phật, đều có khả
năng thành Phật.
Luận Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội
giết hại là nặng nhất. Trong tất cả các công đức,
không giết hại là công đức lớn nhất.”[9]
Trong kinh Phật cũng dạy rằng: “Tâm từ chính là nhân
duyên đem đến mọi sự an lạc.”
Hỏi: Nếu ai ai cũng làm việc phóng sinh mà không
giết hại, các loài súc sinh sẽ sinh sản càng nhiều,
tương lai thế giới này há chẳng phải sẽ trở thành
thế giới cầm thú hay sao?
Đáp: Như các loài kiến, mối, côn trùng... loài người
không ăn chúng nó, để mặc tình chúng tự nhiên sinh
sản, nhưng thế giới ngày nay có phải là thế giới của
loài kiến chăng? Hay là thế giới của loài mối, của
côn trùng chăng? Thật ra, những loài vật mà ta phóng
sinh, khi được tự do sinh sản, được nuôi dưỡng trong
thế giới tự nhiên, thì tự chúng có sự điều tiết phù
hợp trong sinh thái và sinh sản cân bằng. Nghiệp ác
của chúng ta hiện nay vẫn chưa được giải trừ, nếu
lại cứ một mực lo lắng rằng các loài súc sinh trên
thế giới sẽ quá nhiều, như vậy có khác nào người
nông dân chưa xuống ruộng gieo giống mà lại cứ ngày
ngày lo lắng mai sau lúa thóc chín đầy cả ruộng
đồng, không sử dụng hết. Lo lắng vô cớ như thế há
chẳng phải là buồn cười lắm sao?
Nên biết rằng, nhân quả báo ứng như bóng theo hình,
mảy may không sai chạy. Hiện nay, trên thế giới sở
dĩ cầm thú rất nhiều chính là vì trước kia những
người giết cầm thú quá nhiều, nay phải hóa sinh làm
cầm thú. Như người ăn dê, dê chết rồi thành người,
người chết lại thành dê, sinh sinh tử tử trở thành
báo oán lẫn nhau, đời đời không dứt. Vì sự oan oan
tương báo như thế, cùng làm súc sinh, cho nên có thế
giới cầm thú. Nếu như người người đều có thể bỏ việc
giết hại, làm việc phóng sinh, thì oan nghiệp hận
thù giữa súc sinh và con người sẽ dần dần tiêu mất.
Cầm thú súc sinh do đó dần dần giảm thiểu, cõi
người, cõi trời ngày càng thêm đông. Như nước Sở
chẳng ăn ếch mà ếch lại ít dần. Nước Thục chẳng ăn
cua mà cua tự nhiên ngày càng hiếm. Thời xưa đã có
tấm gương sáng, chúng ta nên tự phản tỉnh, xét soi.
Kinh Đại Nhật có dạy rằng: “Phật pháp lấy tâm Bồ-đề
làm chánh nhân, lấy lòng đại bi làm căn bản.”
Hỏi: Khuyên những người làm nghề sát sinh thay đổi
nghề nghiệp, đó là làm hại sinh kế của người ta. Như
thế là thương loài súc sinh mà không thương người,
có vẻ như không được hợp tình hợp lý chăng?
Đáp: Xã hội có đủ các giới sĩ, nông, công, thương,
đủ các ngành nghề. Mỗi ngành nghề đều có thể kiếm ra
tiền, đều có thể nuôi sống gia đình, lẽ nào cứ phải
lấy việc sát sinh hại mạng để làm phương tiện mưu
sinh cho mình hay sao? Nên biết rằng, nhân quả báo
ứng mảy may không sai lệch. Đã tạo nghiệp giết hại
ắt phải gặp quả báo bị giết hại. Ngày nay tuy có tạm
thời được ăn sung mặc sướng, nhưng tương lai đến lúc
thọ nhận quả báo e rằng chẳng có lúc được ngừng
nghỉ, vả lại còn để họa lây đến con cháu đời sau.
Quả là điều lợi chẳng bằng điều hại! Kinh Phạm Võng
dạy rằng: “Bồ Tát nên sinh khởi tánh Phật, hiếu
thuận từ bi, thường giúp đỡ cho hết thảy mọi người
đều được an vui hạnh phúc.”[10]
Hỏi: Việc phóng sinh có hạn chế đối tượng hay không?
Đáp: Không có hạn chế! Phàm là các loài chim bay
trên trời như bồ câu, se sẻ..., các loài sống trong
nước như tôm, cua, cá, ốc..., các loài sống trên mặt
đất như hươu, nai, dê, thỏ..., các loài chui sâu
trong đất như giun, trùng, kiến, mối... Chỉ cần có
mạng sống thì đều có thể phóng sinh được. Luận Đại
trí độ dạy: “Tâm đại từ là ban vui cho tất cả chúng
sinh, tâm đại bi là cứu vớt khổ nạn cho tất cả chúng
sinh.”[11]
Hỏi: Tại sao khi thực hiện việc phóng sinh thường có
nghi thức thọ Tam quy y và niệm Phật cho loài súc
sinh?
Đáp: Chánh pháp ngàn năm khó gặp. Chúng ta cùng với
loài súc sinh ấy có nhân duyên, nên phát tâm cứu
được mạng sống cho chúng, nhưng không thể cứu giúp
chúng thoát khỏi luân hồi nghiệp báo. Vì vậy rất nên
phát tâm đại từ bi, vì chúng mà truyền thọ Tam quy
y, để giúp chúng kết duyên lành với Phật pháp. Chúng
sinh nào có duyên lành được quy y Tam bảo (Phật,
Pháp, Tăng) thì không còn phải đọa vào ba đường ác,
nên có thể giúp cho những súc sinh ấy khi nghiệp báo
dứt hết sẽ vĩnh viễn không rơi vào các đường ác nữa.
Ngoài ra, khi thực hành nghi thức như vậy, vị pháp
sư cùng tất cả cư sĩ tham gia đều vì chúng mà trì
niệm danh hiệu Phật: “Nam-mô A-di-đà Phật”. Được
nghe sáu chữ hồng danh ấy tức là đã gieo nhân lành
vào tạng thức, nhờ đó mà kiếp sau chuyển thế làm
người ắt sẽ gặp được Phật pháp, biết niệm Phật tu
hành, được vãng sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc,
vĩnh viễn thoát ly cái khổ của sáu đường luân hồi.
Đây mới chính là ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm nhất của
việc phóng sinh.
CHUƠNG III: NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA
LỊCH ĐẠI TỔ SƯ
Đại sư Trí Giả
Đại sư Trí Giả[12]
được tôn xưng là Phật Thích-ca tái thế. Ngài sống
vào giai đoạn các đời Trần, Tùy ở Trung Hoa.
Đại sư nhìn thấy ngư dân ven biển ngày ngày bắt cá
sát sinh. Ngài khởi lòng từ bi, liền dùng tiền cúng
dường mua được một nơi ven biển Thượng Hải làm ao
phóng sinh. Lại vì ngư dân giảng kinh nói pháp. Nhóm
ngư dân sau khi nghe pháp đều đổi ngành chuyển
nghiệp, tôn trọng mạng sống, ham làm điều thiện, còn
đem hộ lương 63 sở ở ven biển có từ 300 - 400 dặm
làm ao phóng sinh. Đây là nơi phóng sinh đại quy mô
sớm nhất từ trước đến nay trong lịch sử Trung Hoa.
Vật mạng được cứu sống có đến hàng vạn ức. Tây Hồ
hiện nay tức là ao phóng sinh mà năm xưa Đại sư sáng
lập.[13]
Đại sư Vĩnh Minh
Đại sư Vĩnh Minh tương truyền là Phật
A-di-đà từ bi thị hiện vào thời Ngũ đại ở Trung Hoa.
Đại sư trước làm quan coi kho ở huyện Dư Hàn. Thường
muốn làm việc phóng sinh nên lấy tiền trong quốc khố
để mua tôm, cá, chim... mà phóng sinh. Đến khi truy
cứu bị khép tội lấy trộm quốc khố, phải xử tử hình,
nhưng ngài trước sau mặt không đổi sắc. Quốc vương
lấy làm lạ, gạn hỏi nguyên do. Đại sư đáp rằng: “Tôi
vì phóng sinh nên mới làm việc này. Nay đã cứu được
hàng ngàn, hàng vạn sinh mạng. Nhờ công đức này để
vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, vì thế nên
vui mừng chứ không hề lo sợ.” Vua hiểu chuyện, tôn
trọng đức hạnh của ngài bèn ra lệnh xá tội. Từ đó
ngài xuất gia làm tăng sĩ, trọn đời niệm Phật tu
hành, đắc đạo chứng quả. Đời sau tôn xưng ngài là Tổ
thứ sáu của Liên tông (tức Tịnh độ tông).
Đại sư Huệ Năng
Đại sư Huệ Năng là Tổ thứ sáu của
Thiền tông. Từ sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở
Hoàng Mai truyền tâm ấn, vì tránh sự bức hại của kẻ
xấu nên đi về Thiều châu ở phương nam mà ẩn mình,
giấu kín thân phận, cùng sống chung trong một đoàn
thợ săn.
Đoàn thợ săn giao cho ngài giữ lưới. Ngài lấy tâm từ
bi làm hoài bão, gặp những con vật như sói, cọp,
nai, thỏ... bị sa lưới đều tìm cách để phóng sinh.
Phóng sinh như vậy được 16 năm, vật mạng được cứu
sống không thể tính đếm hết, lại còn cảm hóa được
nhóm thợ săn đổi nghề hướng thiện. Sau này, Đại sư ở
tại đạo tràng Tào Khê làm hưng thạnh Thiền tông,
truyền khắp mọi nơi.
Đại sư Hàn Sơn và Đại sư Thập Đắc
Đại sư Hàn Sơn tương truyền là Bồ Tát
Văn-thù-sư-lợi thị hiện, còn đại sư Thập Đắc tương
truyền là Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện.
Đại sư Hàn Sơn hỏi ngài Thập Đắc: “Phóng sinh có thể
thành Phật được chăng?” Đáp rằng: “Chư phật vô tâm,
duy chỉ lấy từ bi làm tâm. Người có thể cứu cái khổ
của sinh mạng tức là thành tựu tâm nguyện của chư
Phật. Cho nên, sinh một niệm từ bi, cứu sống một
sinh mạng tức là tâm nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm
vậy. Ngày ngày làm việc phóng sinh thì tâm từ bi
cũng ngày ngày tăng trưởng, mãi mãi không ngừng,
niệm niệm đều chảy vào biển lớn đại từ bi của đức
Quán Thế Âm. Khi ấy, tâm ta tức là tâm Phật, sao lại
chẳng thành Phật?”
Cho nên biết rằng nhân duyên phóng sinh chẳng phải
những điều lành nhỏ nhặt có thể so sánh được. Phàm
là người đồng nguyện như ta nên rộng hành khuyến
khích, khéo léo khiến cho mọi người đều biết trở về
với tâm từ bi của chính mình mà hóa độ chúng sinh.
Thiền sư Chí Công
Vua Lương Võ Đế hỏi thiền sư Chí Công
rằng: “Công đức phóng sinh như thế nào?” Thiền sư
đáp rằng: “Công đức phóng sinh không thể hạn lượng.
Trong kinh dạy rằng: Muôn loài chúng sinh đều có
tánh Phật, chỉ vì mê vọng nhân duyên nên khiến cho
thăng trầm khác biệt. Cho đến sinh tử luân hồi trở
thành quyến thuộc với nhau, thay đầu đổi mặt chẳng
nhìn ra nhau được nữa. Nếu phát được tâm hỷ xả, khởi
niệm từ bi, người chuộc mạng phóng sinh thì đời này
ít bệnh sống lâu, tương lai chứng được quả Bồ-đề.”
Thiền Sư Phật Ấn
Thiền sư Phật Ấn có kệ rằng:
“Tham tha nhất luyến, luyến hoàn tha,
Cổ thánh lưu ngôn chung bất ngụy.
Giới sát niệm Phật kiêm phóng sinh,
Quyết đáo Tây phương thượng phẩm hội.”
Tạm dịch:
Miếng ăn, miếng trả ắt chẳng sai,
Lời chư thánh xưa nào hư dối?
Giới sát, niệm Phật, thường phóng sinh,
Quyết về Tây phương, bậc Thượng phẩm.[14]
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Liên Trì sống vào triều đại
nhà Minh, từ nhỏ ưa thích làm việc phóng sinh. Sau
khi xuất gia, ngài xây dựng ao phóng sinh ở hai nơi
là Trường Thọ và Thượng Phương. Ngài có trước tác
một bài Giới sát phóng sinh, khuyên dạy hết thảy
người đời nên giới sát phóng sinh. Ngài cũng để lại
cho hậu thế bức vẽ Liên Trì Đại Sư đồ giải. Tranh
vẽ, văn chương của ngài đều đẹp đẽ phong phú, đều ân
cần khẩn thiết khuyên răn người đời chân lý nhân quả
báo ứng, cùng với nhiều sự thực chứng, cảm ứng rõ
ràng nghiệp ác của việc sát sinh và nghiệp lành của
việc phóng sinh. Đời sau tôn ngài làm Tổ thứ tám của
Liên tông (tức Tịnh độ tông). Sau đây là những lời
khuyên của ngài về việc giới sát phóng sinh:
1. Ngày sinh không đuợc sát sinh
Cha mẹ đau đớn, sinh ra ta vất vả. Ngày sinh ra ta
chính là ngày mẹ ta chết dần đi. Vì vậy nên phải cấm
tuyệt việc sát sinh, nên ăn chay, làm nhiều điều
thiện, cầu cho cha mẹ tăng thêm phúc thọ. Cớ sao lại
quên nỗi vất vả của cha mẹ mà nỡ lòng sát hại sinh
linh?
2. Sinh con không được sát sinh
Không có con ắt phải buồn lo, sinh được con thì rất
vui. Sao không nghĩ xem, loài cầm thú cũng biết yêu
thương con, cớ sao mình sinh con ra lại khiến cho
con của loài khác phải chết? Như vậy có thể yên tâm
được sao? Than ôi đứa trẻ vừa mới sinh ra, đã không
vì nó tích đức mà lại sát sinh, thế chẳng là mê muội
lắm sao?
3. Cúng giỗ không được sát sinh
Khi cúng giỗ người đã khuất hoặc tảo mộ vào tiết
xuân thu đều nên cấm việc sát sinh để tạo phước đức.
Trong tự nhiên sẵn có tám loại thực phẩm quý để dâng
cúng,[15]
đâu thể bới xương cốt dưới cửu tuyền lên mà ăn sao?
Sát sinh để dâng cúng chính là đại bất hiếu!
4. Hôn lễ không được sát sinh
Việc cưới hỏi ở thế gian, có đủ nghi lễ thì thành
chồng vợ, nào có phụ thuộc vào việc sát sinh? Khi
lập gia đình là đã bắt đầu nghĩ đến việc sinh con.
Trước lúc sinh con mà làm việc giết hại, quả là
nghịch lý. Như vậy là ngày lễ tốt lành mà lại làm
việc hung dữ, giết hại, chẳng phải là mê muội lắm
sao?
5. Đãi khách không được sát sinh
Ngày lành cảnh đẹp, chủ hiền đãi bạn rau, gạo, quả,
trà không trở ngại chi đến cảnh trí nhà Phật. Cớ sao
lại giết hại mạng sống? Cùng cực béo ngọt, vui ca
say sưa với cốc chén, giết hại oan uổng bao mạng
sống trên mâm ăn! Than ôi! Người có tấm lòng, nhìn
thấy như vậy chẳng buồn lắm sao?
6. Cầu an không được sát sinh
Người đời có thói quen sát sinh để tế thần, mong
thần phù hộ. Không nghĩ rằng mình tế thần là muốn
tránh cái chết, cầu sự sống, nhưng giết hại mạng
sống loài khác để mong cho mạng mình sống lâu quả
thật là nghịch lý, tàn độc hung ác.
7. Buôn bán sinh sống không đưọc sát sinh
Phàm là con người ai cũng phải vì cơm ăn áo mặc.
Hoặc phải đi săn bắt, hoặc phải xuống nước bắt cá,
mò tôm, hoặc phải giết trâu, bò, lợn, chó... cũng
chỉ vì kế sinh nhai. Nhưng xét lại, những người
không làm các nghề này cũng vẫn có cơm ăn áo mặc,
đâu vì thế mà phải chết đói chết rét? Làm nghề sát
sinh ắt sẽ chịu quả báo bị giết hại. Lấy việc giết
hại mà được giàu có thì trăm người chẳng có lấy một!
Ngược lại còn phải chịu ác báo trong nay mai, không
có gì nguy hại hơn thế. Sao không cố gắng thay đổi
nghề nghiệp, chọn những cách sinh nhai hiền lành
chẳng phải tốt hơn sao?
Người Phật tử phải luôn tâm niệm bảy điều này để làm
kim chỉ nam trong đời sống hằng ngày.
Người giữ giới không sát sinh được thiện thần bảo
hộ, tai ách tiêu trừ, tuổi thọ dài lâu, con cháu
hiếu thảo hiền lương, mọi chuyện đều may mắn tốt
đẹp. Nếu dốc hết sức làm việc phóng sinh, lại thêm
chuyên tâm niệm Phật, không những tăng trưởng phước
đức mà còn nhất định sẽ được tùy nguyện vãng sinh,
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, tiến lên địa vị không
thối chuyển.
Đại Sư Ngẫu Ích
Đại Sư Ngẫu Ích dạy rằng: “Giết hại
sinh mạng tức là giết mất các đức Phật tương lai
trong tự tâm mình. Phóng sinh tức là cứu sống các
đức Phật tương lai trong tự tâm mình. Nếu cứu sống
các đức Phật tương lai trong tự tâm tức là phép
tam-muội niệm Phật chân thật. Tu tập phép tam-muội
niệm Phật này tức là thường xuyên chuyển kinh Pháp
Hoa đến trăm ngàn vạn ức bộ vậy.”
Đại sư Ấn Quang
Đại sư Ấn Quang được xem vị đại sư đệ
nhất của Tịnh độ tông kể từ năm Dân quốc (1912) tới
nay. Đời sau tôn xưng ngài là Tổ đời thứ 13 của Liên
tông (tức Tịnh độ tông). Đại sư hết lòng đề xướng
việc giới sát phóng sinh, không tiếc sức lực. Trong
nhiều bài thuyết pháp, Đại sư đều giảng rõ về sự lý
của việc giới sát phóng sinh, khuyến khích đệ tử cố
gắng giới sát phóng sinh. Nay xin ghi lại vài câu
pháp ngữ của Đại sư về việc giới sát phóng sinh như
sau:
“Người giới sát phóng sinh, đời sau được sinh lên
cõi trời Tứ thiên vương, hưởng phước vô cùng. Nếu
lại có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về Tây Phương
Cực Lạc, công đức ấy thật vô bờ bến. Phàm những ai
muốn cho việc nhà được bình an, thân tâm an ổn,
tráng kiện, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, chỉ
cần khởi sự từ việc giới sát phóng sinh, ăn chay
niệm Phật mà cầu thì đều được cả. Phật giáo truyền
sang phương Đông, chỉ rõ lẽ nhân quả báo ứng, khuyên
người giới sát phóng sinh, bỏ việc ăn thịt súc vật
mà theo cách ăn chay.”
Đại sư Hoằng Nhất
Đại sư Hoằng Nhất là vị đại đức của
Luật tông trong thời cận đại, cũng đề xướng việc
phóng sinh. Ngài dạy: “Xin hỏi quý vị, có muốn
trường thọ chăng? Muốn lành bệnh chăng? Muốn khỏi
tai nạn chăng? Muốn được con cái chăng? Nếu ai muốn
thì nay đã có một phương pháp đơn giản, dễ thực
hành, tức là phóng sinh vậy.”
Lão Hòa Thượng Hư Vân
Lão Hòa Thượng Hư Vân là bậc Thiền
tông đại đức, cũng dạy chúng ta giới sát, phóng
sinh, đoạn ác tu thiện. Ngài dạy: “Đây là cơ hội
muôn kiếp khó gặp, chúng ta phải dũng mãnh tinh tấn,
phải trong ngoài cùng tu. Tu tập bên trong tức là
chỉ đơn độc tham một câu thoại đầu: Niệm phật là ai?
Hoặc niệm một câu A-di-đà Phật, không khởi tham,
sân, si, các tạp niệm, khiến cho chân như pháp tánh
được hiển bày. Tu tập bên ngoài tức là giữ giới sát
sinh, đem Mười điều ác chuyển thành Mười điều thiện.
Chớ nên suốt ngày rượu thịt buông lung, tạo thành
tội nghiệp vô biên.”
Đại sư Diệu Thiện
Đại sư Diệu Thiện cũng được Phật tử
tôn xưng là đức Phật sống Kim Sơn. Việc phóng sinh
là một trong các sinh hoạt thường ngày của ngài.
Ngài đối với các loài cầm thú như chim, cá, rùa, ốc,
cua... đều có lòng thương yêu, đối xử bình đẳng. Bất
cứ đi đến đâu ngài cũng đều ưa thích làm việc phóng
sinh.
Ngài từng nói với những người đệ tử đang chịu khổ
báo rằng: “Ta tuy có thể tạm thời làm cho bệnh khổ
của ông giảm thiểu, nhưng nghiệp giết hại từ nhiều
kiếp trước của ông vẫn chưa tiêu mất, e rằng sẽ có
mối lo chết yểu. Có một phương pháp tiêu trừ nghiệp
chướng hay nhất là làm việc phóng sinh và giới sát.
Cho nên, phóng sinh là công đức lớn nhất. Ông nếu
tin được lời tôi, hãy mau mau tùy sức mà mua lấy vật
mạng để phóng sinh thì có thể tăng phước, tăng thọ.”
Cư sĩ Lý Bỉnh Nam
Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam nói về việc
giới sát phóng sinh như sau: “Chúng sinh từ xưa nay
không dứt nổi nghiệp giết hại, ai ai cũng phạm vào
việc sát sinh. Sát sinh có thể chia làm hai loại:
Một là trực tiếp, hai là gián tiếp. Trực tiếp là tự
mình giết hại chúng sinh, cắt xẻo lấy da thịt mà làm
thức ăn. Gián tiếp là vì mình ăn thịt chúng sinh nên
khiến cho người khác phải làm việc giết hại để phục
vụ mình.
“Cái nhân tạo ra của hai loại sát sinh này tích tụ
lâu ngày, gặp duyên thì kết thành cái quả của nạn
đao binh, chiến tranh. Có người cho rằng, muốn cứu
vãn nạn chiến tranh thì phải làm nhiều việc thiện
như sửa cầu, làm đường... Lời nói như vậy không thể
tin cậy được. Bởi vì nay phải chịu nạn đao binh
chẳng phải do cái nhân quá khứ phá hoại cầu cống,
đường sá. Nay muốn lấy việc làm đường, sửa cầu cống
mà giải trừ, thì là hai việc hoàn toàn khác nhau.
“Tôi xin đem phương pháp phóng sinh đơn giản nói với
các vị: Trước tiên phải gia trì chú Đại bi vào một
ly nước sạch, rồi rưới lên mình chúng sinh được
phóng sinh, miệng niệm bài sám hối như sau:
Chúng con xưa nay tạo ác nghiệp,
Đều do ba độc tham, sân, si,
Từ thân, miệng, ý mà sinh ra.
Nay đối trước Phật cầu sám hối.
“Sau khi niệm như vậy ba lần rồi, lại vì những súc
sinh ấy mà niệm Tam quy y:
Quy y Phật,
Quy y Pháp,
Quy y Tăng.
Quy y Phật không đọa địa ngục.
Quy y Pháp không đọa ngạ quỷ.
Quy y Tăng không đọa súc sinh.
“Tại sao đối với chúng sinh phải nói Tam quy y? Bởi
vì tất cả chúng sinh đều có hai cái mạng: Một là
thân mạng, hai là huệ mạng. Phóng sinh chẳng những
cứu lấy thân mạng, mà cũng nên cứu lấy cái huệ mạng
của chúng. Nói Tam quy y cho chúng nghe là tạo nhân
lành cho chúng, nếu nghe mà nhận được thì đời sau sẽ
không phải rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu
được thân người thì có thể phát tâm Bồ-đề, tin sâu
Phật pháp, sẽ có khả năng thành Phật. Đây tức là cứu
cái huệ mạng của chúng.”
Pháp sư Viên Nhân
Pháp sư Viên Nhân dạy rằng: “Tật bịnh, ung thư, tai
nạn... sở dĩ có thể bất hạnh sinh ra là duyên nơi
nghiệp giết hại trước kia chúng ta đã tạo nên mà
chiêu cảm lấy quả báo này. Phương thức giải quyết
chính là phóng sinh. Nhờ vào việc bỏ tiền, bỏ sức để
cứu mạng phóng sinh nên có thể đền trả vô số món nợ
sát sinh trước kia mà chúng ta đã thiếu.
“Điều quý báu nhất của mỗi chúng sinh đều là mạng
sống. Giết hại chúng thì chúng oán hận nhất, oan cừu
kết sâu nhất, cho nên nói nghiệp giết hại là nặng
nhất. Ngược lại, cứu sống được chúng thì chúng cảm
kích nhất, tạo được nhiều phước thiện nhất, cho nên
nói công đức phóng sinh là đệ nhất.
“Những ai phê phán, hủy báng việc phóng sinh, hoặc
cản trở nghi ngờ việc phóng sinh cần phải lưu ý. Vì
cản trở người phóng sinh thì cũng giống như sát
sinh, khiến cho hàng ngàn hàng vạn sinh mạng không
được giải cứu, phải hàm oan mà chết. Tội lỗi đó thật
là vô lượng vô biên. Nhất định phải gấp rút sám hối,
sửa lỗi, nếu không thì khổ hình nơi địa ngục nhất
định không tránh khỏi.”
CHUƠNG IV: GIẢI TRỪ NGHI VẤN
Ý nghĩa phóng sinh, tích cực hay tiêu
cực?
Hỏi: Mỗi lần chúng tôi phóng sinh, thường phải đến
tiệm bán chim để mua chim. Vì tiệm bán chim chỉ có
mấy tiệm cố định, nên mua lâu rồi thì chủ tiệm chim
đều biết trước là chúng tôi sẽ đến mua chim để phóng
sinh. Vì thế, họ cố ý thu gom, tồn trữ, chuẩn bị rất
nhiều chim chờ chúng tôi đến mua. Phóng sinh như vậy
thì sớm đã bị người ta đoán biết, nên cũng như gián
tiếp khuyến khích họ đi bắt chim về để bán cho chúng
tôi thả. Như vậy thì việc phóng sinh vô tình lại tạo
điều kiện giúp người khác tạo sát nghiệp. Vì thế,
rất nhiều người phê phán chúng tôi, chê cười chúng
tôi là ngu si. Ngay cả trong lòng chúng tôi cũng có
chỗ nghi hoặc, nên thật chẳng dám đi mua chim để
phóng sinh nữa. Có thể giải thích mối nghi này như
thế nào?
Đáp: Chúng ta thả chim, đến tiệm bán chim không nỡ
nhìn thấy chúng bị bắt, bị giam, sắp bị giết, nên
phát lòng từ bi cứu lấy chúng nó, đem chúng nó đi
phóng sinh. Đó là một công đức đơn thuần, chỉ trong
một ngày thì có thể hoàn thành. Nhờ đó mà vô số chim
có được cơ hội sống còn trong tự nhiên, khác nào như
được tái sinh lần nữa!
Chủ nhân tiệm chim biết được chúng ta sẽ mua chim
phóng sinh, vì thế mà trước đó đã thu gom, tồn trữ,
tìm khắp các nơi để mua sỉ, mua lẻ, mang về một chỗ
chờ đợi chúng ta đến mua. Như vậy thì lại càng phải
cố gắng mua cho thật nhiều, điều này có gì mà phải
phân vân, do dự? Chỉ cần khả năng cho phép, họ thu
gom được càng nhiều chim thì ta càng nên mua chim để
phóng sinh.
Ông hãy suy nghĩ cho kỹ việc này. Vì biết chúng ta
phóng sinh nên chủ nhân tiệm chim mới tìm mọi cách,
nghĩ ra mọi biện pháp để thu gom những con chim bị
bắt được ở khắp nơi, toàn bộ đều mang về một chỗ để
chờ chúng ta giải cứu phóng sinh. Tất cả những con
chim khổ nạn kia được giải cứu ắt phải mừng đến rơi
lệ; tất cả thiên long hộ pháp phải hết lòng tán thán
việc lành này; chư Phật, Bồ Tát đều hết lòng hoan hỷ
khen ngợi; tất cả oán thân trái chủ của chúng ta
phải cúi đầu thất vọng; Ma vương, tà chúng phải tức
giận đến dựng mày trợn mắt!
Chúng ta hãy thử đặt câu hỏi: Nếu như ngày nay chúng
ta không phóng sinh nữa, không thả chim nữa, thì
những thợ săn bắt chim kia sẽ thôi không bắt chim
nữa chăng? Các tiệm bán chim kia sẽ đóng cửa không
buôn bán được nữa chăng? Câu trả lời chắc chắn là
không. Chim vẫn bị người ta tung lưới ra bắt. Tiệm
bán chim vẫn mở cửa buôn bán như trước. Nhưng khi
ấy, những con chim xinh đẹp, quý giá thì bị bán cho
người ta nhốt vào lồng để thưởng ngoạn, còn những
con chim xấu xí, giá trị không cao có thể bị bán cho
người đem đi tiềm, nướng, làm thành từng xâu chim
nướng rao bán bên lề đường... Lại có những con quá
xấu xí, gầy ốm, không thể bán được nhưng rủi ro sa
vào lưới, khi ấy thợ săn chỉ chọn một số chim có giá
trị đem bán, còn những con chim tội nghiệp ấy thì
đưa tay bẻ cổ một cái rồi quăng thây trong rừng núi
hoang vắng.
Vì thế, nếu như thật có tiệm bán chim chỉ chuyên bán
chim để phóng sinh thì cũng chẳng sao cả. Cứ mặc
tình chúng ta đến mua, mặc tình mang đi thả. Phóng
sinh là phóng sinh. Phóng sinh tuyệt đối là một việc
tốt đẹp. Tiệm bán chim để phóng sinh thì cũng chẳng
khác nào một trại tập trung tù giam để chờ đợi đại
ân xá. Những con chim kia, hoặc là mừng vui, mừng
vui vì có cơ hội gặp người thiện tâm phóng sinh cứu
mạng; hoặc là lo sợ, lo sợ rằng chúng ta đánh mất
tâm niệm phóng sinh. Nếu chúng ta nhụt tâm thối chí,
nghe theo những kẻ năm lần bảy lượt đẩy đưa cản trở,
thì chúng nó dù một mảy may cơ hội sống còn đều
chẳng có!
Một cuộc đối thoại: Phóng sinh hay phóng tử?
Một thanh niên nhìn thấy bà cụ già đang thả cá phóng
sinh. Chàng chú ý quan sát rồi đến gần bà cụ thắc
mắc thưa hỏi.
Chàng thanh niên: Thưa cụ, cụ hãy xem kìa! Số cá vừa
thả ra đã chết đi rất nhiều, thi thể nổi lên mặt
nước. Phóng sinh như vậy chắc hẳn phải gọi là phóng
tử, như vậy thì có ý nghĩa gì đâu?[16]
Bà cụ: Này cậu thanh niên, cậu hãy nhìn lại cho thật
kỹ, lẽ nào không thấy được sao? Vẫn còn một số cá
lớn sống trên mặt nước, vui mừng tung tăng bơi lội
đó. Trong quá trình phóng sinh giải cứu vật mạng,
khó lòng tránh khỏi có một phần nhỏ cá bị chết. Điều
này không thể tránh được Cũng như trong chiến tranh,
quân nhân giải cứu đồng bào bị vây. Trong quá trình
giải cứu cũng khó tránh khỏi có một vài người không
may tử vong. Tuy nhiên, cũng không phải vì thiểu số
bị tử vong mà bỏ đi hành động giải cứu. Lại cũng như
trong khi cấp cứu, bác sĩ cứu chữa bệnh nhân đang
lâm nguy. Trong quá trình cấp cứu cũng khó tránh
khỏi một số bịnh nhân không may tử vong. Vẫn không
thể vì thiểu số bệnh nhân tử vong mà bác sĩ bỏ đi
hành động cứu chữa.
Chàng thanh niên: Thưa cụ, lời cụ thật có đạo lý.
Nếu chúng ta không làm việc phóng sinh thì tất cả
những con cá kia chỉ duy nhất có một đường chết mà
thôi. Toàn bộ đều sẽ bị bán đi, bị giết chết, bị ăn
thịt! Nhờ có chúng ta làm việc phóng sinh nên ít
nhất những con cá kia vẫn còn một tia hy vọng, một
cơ hội sống sót, tối thiểu cũng có một phần cá được
lấy lại tự do, được cơ hội sống còn. Còn những con
cá không may chết đi thì ít nhất cũng tránh được cực
hình cắt xẻo, lửa đốt, nước sôi... Không có người
phóng sinh thì những con vật bị bắt chỉ có duy nhất
một con đường chết, vả lại còn phải chết một cách vô
cùng thê thảm. Nhờ có người phóng sinh, ít nhất cũng
có thể cho những con vật tội nghiệp kia một cơ hội
sống sót. Vạn nhất chẳng may chết đi thì cũng được
chết trong lòng tự nhiên, chết được toàn thây, giảm
được sự đau khổ rất nhiều.
Bà cụ: Cậu thanh niên này! Xem ra cậu rất có căn
lành, vừa nói qua thì cậu đã hiểu được ngay. Kỳ
thật, còn có ý nghĩa sâu xa hơn nữa của việc phóng
sinh là quy y Tam bảo và niệm Phật. Chúng ta được
biết, quy y Phật không đọa địa ngục, quy y Pháp
không đọa ngạ quỷ, quy y Tăng không đọa súc sinh.
Trong pháp hội phóng sinh, dưới sự chủ trì của pháp
sư, những súc sinh trong nhân duyên ngàn năm khó gặp
này sẽ được quy y Tam bảo. Nhờ đó mà trải qua đời
này, nghiệp báo súc sinh dứt hết thì có thể nhờ công
đức quy y Tam bảo mà thoát được ba đường ác. Lại có
pháp sư và nhiều cư sĩ thiện tâm cùng chí thành vì
súc sinh tụng niệm Phật hiệu “Nam-mô A-di-đà Phật”,
nhờ đó mà gieo vào tạng thức của súc sinh một hạt
giống lành tròn đầy. Trong tương lai, hạt giống niệm
Phật ấy sẽ đâm chồi thành thục, giúp súc sinh được
sinh làm người, biết niệm Phật tu hành, vãng sinh về
thế giới Tây Phương Cực Lạc, vĩnh viễn thoát khỏi
luân hồi, chứng đắc quả Phật. Đây mới là ý nghĩa
tích cực nhất trong việc phóng sinh.
Chàng thanh niên: Thưa cụ, vô cùng cảm ơn những lời
giải thích của cụ. Con hôm nay cuối cùng đã hiểu rõ
được ý nghĩa chân chánh của việc phóng sinh. Kỳ
thật, chết chỉ là một hình thức. Những con cá bị
chết quả nhiên đáng thương, nhưng ngày nay đã được
quy y Tam bảo, lại được nghe câu thánh hiệu bất khả
tư nghị “Nam-mô A-di-đà Phật” thì thọ mạng của súc
sinh sớm được kết thúc, sớm được giải thoát, sớm
được siêu sinh, sau này sớm biết niệm Phật tu hành,
vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Xét như
vậy thì những con cá bị chết kia cũng là có phước
báu. Con trước đây cứ mãi phê phán việc vật mạng
phóng sinh bị chết, nay mới biết được chính mình là
ngu si biết chừng nào.
Bà cụ: Cậu thanh niên này! Tất cả chúng sinh trong
sáu đường luân hồi đều là khổ, gồm cả chúng ta trong
đó. Chúng ta phóng sinh đương nhiên phải hy vọng
toàn bộ súc sinh đều được sống. Hết lòng hết dạ làm
cho chúng được sống còn. Nhưng nếu vẫn không may có
một số chết đi, chúng ta cũng thành tâm cầu nguyện
cho chúng sớm được giải thoát, được chuyển sinh, sớm
biết niệm Phật, được vãng sinh về thế giới Cực Lạc.
Chúng ta tự mình cũng chán lìa cõi Ta-bà, cầu sinh
Cực Lạc. Hy vọng chính mình cũng sớm dứt nghiệp báo,
được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.
Chàng thanh niên: Thưa cụ, đúng vậy! Kỳ thật cái
chết cũng chẳng phải thực sự bất hạnh. Có cái chết
nhẹ như lông hồng, có cái chết nặng như Thái sơn.
Sau khi chết được siêu sinh, được vãng sinh Tây
phương Cực Lạc thế giới, đó mới là đại giải thoát
chân chánh, mới là nơi quy trú tốt nhất của tất cả
chúng sinh trong sáu đường luân hồi. Từ nay trở đi
con nhất định cố gắng phóng sinh, lại còn rộng
khuyên tất cả mọi người phóng sinh. Càng phải nói
với mọi người rằng ngày nay con được hiểu rõ giá trị
và ý nghĩa chân chánh của việc phóng sinh. Cảm ơn
cụ, cảm ơn cụ!
Bà cụ: Cậu thanh niên này, cậu nhất định phải ghi
nhớ: Phóng sinh tức là cho súc sinh một cơ hội sống,
một sự tự do, lại có được một cơ hội quy y Tam bảo,
một cơ hội được nghe niệm Phật. Dù thế nào cũng đừng
vì những sự hủy báng cản trở mà khiến cho vô số súc
sinh đang thọ khổ nạn kia phải mất đi cơ hội sinh
tồn.
Chàng thanh niên: Thưa cụ, đúng vậy! Phóng sinh cũng
là dành cho chính chúng ta một cơ hội cứu thân chuộc
mạng, đền trả nợ giết hại, một cơ hội rộng chứa
phước điền, tiêu trừ nghiệp chướng. Nhất định không
thể vì bất cứ sự cười chê nghị luận, phê phán nào mà
thối tâm nhụt chí, bỏ lỡ đi cơ hội quý báu nhất để
tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình.
CHƯƠNG V: BỐN PHÁP BẢO
1. SÁM HỐI
Khi chưa học Phật thường cống cao ngã
mạn, tự cho mình là đúng. Sống trong đời mỗi ngày
đều mưu tính làm cách nào để cho mình được hơn người
một bậc; làm cách nào để có được gia tài đồ sộ; làm
cách nào để thân mình đeo đầy vàng bạc; làm cách nào
để thanh danh vang xa... Suốt một ngày có 24 giờ,
mỗi khi thức dậy đều đuổi theo tham, sân, si. Ngay
cả trong giấc ngủ cũng bị ba món độc này trói buộc,
nhưng tự mình ngu si không giác ngộ, vẫn ở trong hầm
phẩn mà chẳng tự biết, thật đáng xấu hổ đến cùng
cực. Kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện dạy rằng:
“Chúng sinh trong cõi Nam Diêm-phù-đề, mỗi một cử
động, mỗi một ý nghĩ đều phạm vào tội lỗi.”
Sau khi được học pháp Phật mới bừng tỉnh ra, nhận
thấy chính mình quả thật xấu xa độc ác. Toàn thân
đều là những nghiệp sát sinh, trộm cướp, tà dâm,
vọng ngữ... tội nghiệp sâu nặng. Trong sinh hoạt
hằng ngày, nhất cử nhất động, khởi tâm động niệm đều
là xấu ác. Ngày ngày đối diện với tham, sân, si của
mình mà chiến đấu, vẫn cứ thất bại, rồi lại chiến
đấu... Từ đó mới thể hội được sâu sắc bốn chữ: cụ
phược phàm phu kẻ phàm phu đầy dẫy phiền não). Trong
nhiều kiếp từ vô thủy đến nay đã tích lũy biết bao
tập khí nghiệp chướng; sớm đã đem sáu căn (mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý) buộc chặt vào đến nỗi không
thoát ra được.
Muốn thoát khỏi tập khí, tiêu trừ nghiệp chướng nào
phải dễ dàng. Như hôm nay ta chỉ có một con đường là
sám hối. Kinh Kim Quang Minh, phẩm Sám hối (phẩm thứ
3) dạy rằng:
Sở vị Kim Quang,
Diệt trừ chư ác,
Thiên kiếp sở tác,
Cực trọng ác nghiệp,
Nhược năng chí tâm,
Nhất sám hối giả,
Như thị chúng tội,
Tất giai diệt tận.
Ngã kim dĩ thuyết,
Sám hối chi pháp,
Thị Kim Quang Minh,
Thanh tịnh vi diệu,
Tốc năng diệt trừ,
Nhất thiết nghiệp chướng.
Tạm dịch:
Chỗ gọi là Kim Quang
Diệt trừ các điều ác.
Cho dù trong ngàn kiếp,
Tạo nghiệp ác nặng nề.
Nếu có thể một lần,
Chí tâm cầu sám hối,
Thì những tội lỗi ấy,
Hết thảy đều tiêu trừ.
Ta nay đã thuyết dạy,
Pháp sám hối nhiệm mầu,
Gọi là Kim Quang Minh.
Pháp thanh tịnh vi diệu,
Có thể diệt trừ nhanh,
Hết thảy mọi nghiệp chướng.
Pháp sám hối Kim Quang Minh này là pháp bảo vô giá.
Chúng ta là phàm phu trong thời mạt pháp của cõi thế
giới có đủ năm sự xấu ác mà nghe được pháp môn này,
chính là nhờ đã từng đối trước trăm ngàn vạn ức đức
Phật trồng các căn lành, nay mới có được phước báu
này.
Nguyện cho tất cả mọi người đều có thể thành tâm sám
hối, phát lộ tội lỗi, cầu mong chư Phật, Bồ Tát gia
hộ, sớm diệt trừ tội chướng sâu nặng, và nhờ vào
công đức sám hối này mà hồi hướng cho khắp các chúng
sinh hữu tình rộng lớn, cầu cho khắp nơi thảy đều
thoát ly biển nghiệp, cùng sinh về cõi Tịnh độ Cực
Lạc.
2. PHÓNG SINH
Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất
cả các tội ác, tội giết hại là nặng nhất. Trong tất
cả các công đức, không giết hại là công đức lớn
nhất.” Vì đối với tất cả chúng sinh, điều quý báu
nhất chính là mạng sống. Bị giết hại thì sinh ra oán
thù sâu nặng nhất; được cứu sống thì cảm kích, mang
ơn nhất.
Pháp đầu tiên trong sáu pháp ba-la-mật là Bố thí. Bố
thí gồm có: tài thí, pháp thí và vô úy thí, mà chỗ
đáng quý của việc phóng sinh là tự nó bao gồm đủ cả
ba việc tài thí, pháp thí và vô úy thí. Vì gồm đủ ba
cách bố thí nên công đức của việc phóng sinh là cao
quý, lớn lao nhất.
Pháp sư Viên Nhân đã chỉ dạy cho chúng ta pháp bảo
vô thượng thù thắng là việc phóng sinh, mọi người
càng nên trân quý, nỗ lực thực hành, để chẳng phụ
lòng pháp sư đã khổ tâm lao nhọc dạy dỗ chúng ta.
3. ĂN CHAY
Kinh Lăng-già dạy rằng: “Ăn thịt cùng
với sát sinh đồng tội. Trong tất cả tội nghiệp,
nghiệp giết hại là nặng nhất.” Vì đã tạo nghiệp giết
hại ắt phải nhận chịu quả báo bị giết hại. Nhân quả
báo ứng là thảm khốc nặng nề nhất.
Ngờ đâu, điều bất hạnh nhất của chúng ta là suốt đời
mải mê tạo nghiệp giết hại mà không tự biết. Bởi vì
ăn thịt đồng tội với sát sinh, nên ăn thịt tức là
sát sinh. Chúng ta ngày ngày ăn thịt, tức là ngày
ngày tạo nghiệp giết hại. Ba bữa ăn thịt túc là ba
bữa vay nợ giết hại. Chúng ta vì ăn thịt chúng sinh
mà kết thành mối oán thù sâu như biển lớn, vô lượng
vô biên không thể tính đếm, nên quả báo trong tương
lai thật khiến cho người ta không thể tưởng tượng
nổi, không dám nghĩ đến.
Kinh Niết-bàn dạy rằng: “Người ăn thịt là đoạn mất
hạt giống đại từ.”[17]
Tâm Phật tức là tâm từ bi. Chúng ta tu hành học
Phật, tức là học theo tâm đại từ bi của Phật. Học
được một phần tâm từ bi của Phật thì đạo nghiệp của
chúng ta thành tựu một phần. Học được mười phần từ
bi của Phật thì đạo nghiệp của chúng ta thành tựu
mười phần. Những người ăn thịt, sớm đã đoạn mất hạt
giống đại từ bi, thì còn biết làm sao được? Tâm từ
bi không được nuôi dưỡng, không nảy nở. Không có tâm
từ bi thì sớm đã lìa xa tâm Phật. Nên tất cả việc tu
hành đều chỉ còn là sự thất vọng buồn chán!
Kinh Lăng nghiêm dạy rằng: “Người ăn thịt thì chỗ
cầu công đức đều không thành tựu.” Chúng ta muốn cầu
cho thân thể khỏe mạnh, cuộc sống bình an, con cháu
hiển đạt, sự nghiệp thuận lợi; muốn cầu cho nghiệp
chướng tiêu trừ, đạo nghiệp thành tựu, liễu sinh
thoát tử, vãng sinh Tây phương; nhưng nếu là người
ăn thịt thì chỗ cầu tất cả công đức đều không thể
thành tựu. Đây là lời dạy bảo từ kim khẩu đức Phật.
Nếu chúng ta không thể ăn chay, vẫn cứ ăn thịt, tạo
sát nghiệp như cũ, thì tất cả tâm nguyện của chúng
ta xem như vô phương thực hiện! Chính vì việc ăn
chay quan trọng như vậy, nên Pháp sư Viên Nhân vẫn
luôn giữ theo lời dạy của đức Phật, một lần rồi hai
lần, hai lần rồi ba lần, nỗ lực không ngừng khuyên
dạy mọi người phải cố gắng học Phật, nhất định phải
mau mau ăn chay, mau mau dứt bỏ cái thói quen ăn
thịt từ lâu ngày.
Nếu có thể lập tức sửa đổi thành người ăn chay hoàn
toàn là hay nhất. Nếu không có cách chi lập tức sửa
đổi như vậy, thì vẫn phải luôn thôi thúc chính mình,
đốc thúc chính mình hướng hoàn toàn về mục tiêu bỏ
thịt ăn chay mà thực hiện dần dần. Vì ăn một lần
thịt là tạo một lần sát nghiệp, kết một lần oán thù.
Ăn mười lần thịt là tạo mười lần sát nghiệp, kết
mười lần oán thù. Mỗi một lần ăn thịt là tạo ra sát
nghiệp, là kết thành mối oán thù sâu đậm với chúng
sinh. Tương lai nhân quả báo ứng vẫn phải chính mình
đền trả. Tạo được vô biên công đức thì chính mình
được hưởng, gây ra vô biên tội lỗi thì cũng chính
mình nhận lãnh lấy. Mỗi một người học Phật đều phải
nghiêm chỉnh trong việc này. Dù thế nào cũng không
thể xem thường!
4. NIỆM PHẬT
Kinh Đại Tập dạy rằng: “Thời mạt
pháp, muôn ức người tu hành cũng ít có được một
người đắc đạo. Chỉ có y theo pháp môn niệm Phật mà
được độ thoát sinh tử.”
Đại sư Thiện Đạo dạy rằng: “Đức Như Lai sở dĩ xuất
hiện trên thế gian này, mục đích duy nhất là giảng
thuyết về bổn nguyện to lớn của đức Phật A-di-đà.”
Chỉ một câu A-di-đà Phật là tinh hoa cao trổi nhất
của đức Phật thuyết pháp trong 49 năm; là con đường
tắt trong đường tắt; là diệu pháp trong diệu pháp.
Nương nhờ đại từ đại nguyện của đức A-di-đà Phật,
nương nhờ sức Phật mà cắt ngang qua dòng trược lưu
sinh tử, siêu thoát luân hồi quả báo.
Thời mạt pháp tu hành, nếu lìa khỏi pháp môn niệm
Phật thì trong muôn ức người tìm không ra một người
thành tựu. Niệm Phật có đầy đủ công đức không thể
nghĩ bàn. Chúng ta nên chỉ theo một môn này mà thâm
nhập. Đời này, kiếp này nên hết lòng niệm Phật,
không xen tạp, không lòng này ý khác. Vì niệm một
câu Nam-mô A-di-đà Phật thì tương đương như tụng hết
3 tạng, 12 phần giáo điển.
Một câu A-di-đà Phật cũng tức là pháp thiền. Kinh
Đại Tập dạy rằng: “Nếu ai nhất tâm niệm được câu
Nam-mô A-di-đà Phật thì gọi là pháp thiền vô thượng
thâm diệu.”
Một câu A-di-đà Phật cũng tức là pháp mật. Sáu chữ
hồng danh toàn y theo Phạn văn, chưa phiên dịch một
chữ nào, là câu chú chân thật nhất, đơn giản nhất.
Thế nên, một câu niệm Phật cũng vừa là pháp thiền,
vừa là pháp mật, lại vừa có thể bao quát cả 3 tạng
12 phần giáo điển.
Trong kinh dạy rằng: “Hàng Bồ Tát Thập địa xưa nay
vẫn chưa từng rời bỏ câu niệm Phật.” Khi chúng ta
niệm Phật, mười phương chư Phật đều đến hộ niệm.
Trên từ các vị Bồ Tát đẳng giác, dưới đến bao chúng
sinh nhiều tội nghiệp, một niệm đó đều như nhau,
chính là một câu Nam-mô A-di-đà Phật.
Thử nghĩ xem, chúng ta là phàm phu đầy dẫy phiền
não, có phước đức năng lực gì mà được phước báu cùng
các vị Đại Bồ Tát cùng tu một pháp môn? Các vị Bồ
Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí đều dạy
chúng ta niệm Phật. Pháp môn niệm Phật thù thắng như
vậy, khó gặp như vậy, đời này kiếp này chúng ta càng
phải nắm vững. Nếu không có thiện căn của nhiều đời
nhiều kiếp thì chúng ta không thể được nghe, càng
không thể tin nổi câu Phật hiệu này.
Pháp sư Viên nhân đem một câu Nam-mô A-di-đà Phật mà
dung hội vào mọi việc ăn, mặc, ngủ nghỉ trong sinh
hoạt hằng ngày. Nhất cử nhất động đều không lìa khỏi
việc niệm Phật. Đối với ngài thì chim hót, ếch kêu,
mỗi tiếng đều là tiếng niệm A-di-đà. Ngài lấy thân
giáo thị hiện mà chỉ dạy chúng ta một lòng niệm
Phật.
Chúng ta may mắn được gặp pháp sư Viên Nhân là bậc
mẫu mực trong sự hành trì niệm Phật chân chánh, lại
còn được thân cận thỉnh ích. Đây là một phước báu
hết sức to lớn. Nguyện cho tất cả mọi người niệm
Phật đều có thể một lòng một dạ niệm Phật cầu vãng
sinh, một đời thành tựu để chẳng cô phụ đại từ bi
nguyện của đức Di-đà, cũng chẳng quên ơn dạy dỗ với
sự lao nhọc và ân cần chỉ dạy của pháp sư.
CHƯƠNG VI: PHÓNG SINH LÀ NUÔI DƯỠNG
LÒNG TỪ BI
Câu chuyện sau đây được ghi theo lời
kể của bác sĩ Quách Huệ Trân. Bản thân vị bác sĩ này
là một người tinh tấn tu tập, tín tâm sâu vững, về
sau xuất gia trở thành Pháp sư Đạo Chứng.
Tôi có một người bạn đồng học hiện là giáo sư tại
một trường đại học ở Hoa Kỳ, cũng là một nhà khoa
học về thực phẩm nổi tiếng trên thế giới. Khi anh
còn đang học trung học, bỗng nhiên mắc phải một cơn
bệnh nặng. Cha mẹ đưa đi bác sĩ khắp nơi, làm rất
nhiều xét nghiệm cực khổ. Một hôm, tại Tổng y viện
Vinh Dân, kết quả xét nghiệm tìm thấy trong phim
chụp X quang phần ngực của anh có một vết đen lạ.
Nhưng lúc đó bác sĩ cũng chưa có kết quả chẩn đoán
chính xác.
Người bạn học này của tôi vì chịu rất nhiều đau khổ
nên khởi tâm từ bi, rất cảm thông với nỗi đau khổ
của người khác. Lúc học lên đến bậc đại học, anh bắt
đầu học Phật pháp, lại còn phát tâm thọ trì Năm
giới. Sau khi thọ giới, anh càng chí thành, tinh
tấn.
VÌ KIÊN TRÌ GIỮ GIỚI MÀ TỪ BỎ HỌC VỊ THẠC SĨ
Sau đó, lúc đang học chương trình cao học ở Hoa Kỳ,
bài vở và việc thực nghiệm rất bận rộn. Mỗi ngày anh
phải thức đến 12 giờ đêm hay 1 giờ sáng. Lâu ngày,
do học nhiều và làm việc quá sức, lại thiếu ngủ nghỉ
cũng như ăn uống thất thường, nên dần dần anh thấy
xuất hiện một số triệu chứng: môi trở nên trắng
bệch.
Khi anh sắp lấy được học vị thạc sĩ, lần cuối cùng
phải làm một cuộc thí nghiệm, đòi hỏi phải giết rất
nhiều chuột trong khi thực hiện. Anh vốn đã có bản
tính từ bi, lại thêm tinh thần trì giới, nên kiên
quyết không làm việc sát sinh, quyết định từ bỏ học
vị thạc sĩ sắp có được. Người nhà và bè bạn đều chê
trách: “Tại sao đã chịu cực khổ học hành ở Hoa Kỳ
lâu như vậy mà cuối cùng lại bỏ đi? Biết bao người
mong muốn có được học vị này, nay anh sắp có được
sao lại từ bỏ? Chẳng lẽ chỉ vì không muốn giết chuột
lại từ bỏ một công trình khó nhọc lâu ngày như vậy
hay sao?...”
LÒNG TỪ BI VƯỢT THẮNG DỤC VỌNG CÔNG DANH
Anh là một người rất ôn hòa nên không muốn biện
luận, phân trần gì cả. Nhưng tâm từ bi và trí tuệ
học Phật của anh đã vượt thắng lòng ham muốn công
danh, lợi lộc của thế gian. Do đó anh đổi ngành học
để không còn phải sát sinh trong việc nghiên cứu.
Anh lại phải khó nhọc rất lâu, nhưng cuối cùng cũng
có được học vị thạc sĩ. Do tích lũy sự mệt nhọc lâu
ngày thành bệnh, và anh mắc bệnh ung thư máu. Anh đã
trải qua đủ mọi cách xét nghiệm khổ sở, anh cũng
biết được trình trạng vô phương cứu chữa của mình
nên từ chối nhập viện.
Anh kiên trì ăn chay trường, kiên trì và chí tâm
niệm Phật. Trong thời gian này, anh lại tiếp tục đeo
đuổi học vị tiến sĩ ở trường đại học Wisconsin tại
Hoa Kỳ. Ở vào tình trạng bệnh tật như anh, đối với
người khác hẳn đã không thể nào duy trì được ý chí
và nghị lực, nhưng cuối cùng anh vẫn lấy được học vị
tiến sĩ ở trường đại học Wisconsin.
Trong khi theo đuổi việc học tập, cho dù bận rộn đến
đâu anh cũng không từ bỏ việc sớm tối tụng kinh,
niệm Phật. Nhờ sức Phật gia hộ, cũng như nhờ sức
công đức giữ giới không sát sinh, thành tâm niệm
Phật, khiến anh có thể duy trì được cuộc sống an
lạc, bình thường. Đây là một sự cảm ứng âm thầm
không thể nghĩ bàn. Cuối cùng, anh đã khỏi hẳn bệnh
ung thư máu trước sự ngạc nhiên của giới y khoa.
PHÓNG SINH LÀ CỨU LẤY SINH MẠNG CỦA CHÍNH MÌNH
Qua câu chuyện của người bạn nói trên, tôi nhận ra
rằng ai có tâm từ bi thì người đó có một phước báu
đặc biệt. Phóng sinh chính là sự khai phóng, sinh
khởi lòng từ bi. Anh thà từ bỏ học vị mà mọi người
mong muốn để giữ lại mạng sống cho những con chuột
thí nghiệm. Khi làm như vậy, anh vốn cũng không có
chỗ mong cầu, chỉ vì không đành lòng trước nỗi đau
khổ của chúng sinh, lại tôn trọng giới luật của đức
Phật nên quyết không sát sinh.
Anh đã ở vào tình trạng kiên quyết “thà trì giới mà
chết”, nhưng kết quả ngược lại đã không chết mà cũng
không phải khổ! Anh hiện nay còn có thể đi đến các
nơi trên thế giới để diễn giảng học thuật, sắc mặt
cũng hồng hào, bình thường trở lại.
TIỀN BẠC, HỌC VỊ ĐỀU KHÔNG ĐỔI ĐƯỢC MẠNG SỐNG
Khi mạng sống của chúng ta kết thúc, cho dù tiền bạc
có nhiều bao nhiêu, học vị có cao bao nhiêu cũng
không cách nào mua lại được một phút sinh mạng. Sinh
mạng đáng quý như vậy, cho dù là một con trùng nhỏ,
chúng ta cũng không cách nào khiến nó đã chết rồi
sống lại. Cho nên khi nó còn sống, phải biết trân
quý, tôn trọng sự sống tự do, an ổn của nó.
Lúc bình thường, chỉ cần dùng rất ít tiền bạc là có
thể cứu giúp, tránh được sự sợ hãi của loài vật khi
bị giết, có thể đem lại cho nó sự sống, sao ta lại
không chịu làm? Nếu chúng ta thử đặt mình vào tâm
trạng phải đối diện với cái chết, hoặc bỗng nhiên
mạng sống bị rơi vào trong tay kẻ khác, sắp bị giết
hại, thì chúng ta sẽ cảm nhận ngay được tâm trạng
khát vọng, mong mỏi được phóng sinh như thế nào!
Không nỡ để chúng sinh khổ,
Không nỡ để thánh giáo suy.
Do nhân duyên như vậy,
Phát khởi tâm đại bi.
TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI SẮP BỊ GIẾT HẠI
Có một người họ Hứa làm việc ở trường trung học Đông
Sơn. Một hôm, ông ở lại trong ký túc xá của nhà
trường. Ban đêm, có một bọn trộm lẻn vào, bắt ông
trói lại và bịt kín mắt. Trong bóng tối, ông nghe
bọn chúng bàn với nhau là phải giết chết ông, vì ông
đã thấy mặt bọn chúng, e rằng sẽ gây bất lợi về sau.
Bọn cướp tay cầm hung khí, trói gô ông lại. Ông
thuật việc đó như sau:
“Tuy chỉ có ba tiếng rưỡi đồng hồ mà đối với tôi như
cả một đêm dài dằng dặc, dài nhất trong cả cuộc đời
tôi...”
Ông trải qua một tâm trạng cực kỳ kinh sợ, rối loạn,
chẳng khác nào một con vật đang chờ đợi bị giết. May
sao, trong lúc hoảng hốt đó ông chợt nhớ đến đức
Phật A-di-đà, nhớ đến thế giới Cực Lạc là nơi mình
có thể sinh về. Do đó, ông vội một lòng niệm Phật,
cầu Phật tiếp dẫn vãng sinh. Không ngờ, ông niệm
Phật hồi lâu thì bọn cướp cuối cùng đổi ý không giết
ông, kéo nhau bỏ đi.
Tâm trạng được sống sót sau khi đối diện với cái
chết thực sung sướng làm sao! Ông họ Hứa này từ đó
về sau hết sức đề xướng, cổ động cho việc không sát
sinh, làm việc phóng sinh. Bản thân ông đã cảm nhận
một cách sâu sắc rằng: giảm một phần nghiệp giết hại
là thêm một phần khí chất từ bi, an lành; cũng như
công đức niệm Phật thật không thể nghĩ bàn, có thể
khích lệ người phát tâm từ bi và thay đổi nhân quả
xấu ác cho cả hai bên.
LỜI KẾT
Thời mạt pháp suy vi, yêu ma mê hoặc
mọi người. Thường thường nghe nói việc giới sát
phóng sinh là hành vi ngu si chẳng có ý nghĩa gì.
Tuy nhiên, hy vọng mọi người có thể thâm thiết thể
hội và suy nghĩ: Đức Phật lẽ nào có thể nói dối hay
sao? Các vị Tổ sư như Trí Giả, Vĩnh Minh, Liên Trì,
Ấn Quang... lẽ nào là ngu si cả hay sao?
Hàng ngàn, hàng vạn sự thực chứng cảm ứng về việc
giới sát phóng sinh từ xưa nay vẫn còn rành rành, đó
là giả tạo hay sao? Hy vọng chúng ta có thể thấu
hiểu sâu sắc được tấm lòng của các bậc thánh nhân,
hiểu rõ đạo lý sâu xa. Nguyện cho tất cả mọi người
đều thấu hiểu sâu xa, nỗ lực đề xướng việc phóng
sinh, nắm lấy cơ hội thân người khó được này để
tuyên dương, vận động cho việc giới sát, phóng sinh,
mang lại sự sống yên vui cho muôn ngàn sinh mạng. Đó
mới thật là một việc làm vô cùng vĩ đại, xưa nay
hiếm có!
PHẦN II. NHỮNG CÂU CHUYỆN PHÓNG SINH
A. PHÓNG SINH ĐƯỢC PHƯỚC BÁU
TÂM TỪ BI CHUYỂN HÓA CÔN TRÙNG
Câu chuyện sau đây được ghi lại theo
lời kể của Đại đức Thích Nhuận Châu. Thầy hiện nay
đang tu học tại Tịnh thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm.
Đại đức Thích Nhuận Châu từ khi mới xuất gia theo
học với Thượng tọa Thích Quảng Hạnh, cùng với một số
huynh đệ khác tu tập tại chùa Đức Sơn, thuộc huyện
Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Vào những năm cuối
thập niên 1980, chùa được xây dựng trong vùng dân
mới lập nghiệp, điều kiện kinh tế nói chung còn rất
khó khăn. Dân cư trong vùng đa số chỉ sống nhờ vào
nông nghiệp. Nhà chùa cũng có được một khoảnh đất
khá rộng để trồng tỉa, tự túc một phần lương thực
cho đồ chúng.
Vụ mùa năm ấy, cũng như thường lệ, quý thầy trồng
đậu phộng để ép dầu ăn quanh năm. Khi đậu vừa lên
xanh tốt, bỗng thấy bắt đầu xuất hiện nạn sâu rầy ăn
lá, khiến cho những cây đậu đang tươi tốt chẳng bao
lâu trở thành vàng vọt, không phát triển. Những
người nông dân quanh đó liền lập tức sử dụng thuốc
trừ sâu phun xịt liên tục. Vì thế, đám đậu phộng của
nhà chùa trở thành nơi trú ẩn của đám côn trùng.
Trong khi những ruộng đậu chung quanh ngày càng xanh
tốt trở lại thì ruộng đậu của chùa vẫn cứ vàng vọt,
tưởng như sắp chết cả.
Mấy chú tiểu trong chùa thấy vậy nóng lòng, muốn sử
dụng thuốc trừ sâu để cứu lấy ruộng đậu, nhưng thầy
Nhuận Châu và các thầy khác đều ngăn lại. Quý thầy
nói: “Vì sự sống của mình mà diệt sự sống của muôn
loài, như vậy đâu có hợp với lòng từ bi của nhà
Phật? Huống chi, ruộng đậu này có mất sạch thì chúng
ta cũng chưa đến nỗi phải chết, vậy sao lại nỡ dứt
đi con đường sống của muôn vạn côn trùng?”
Tuy nói thì nói vậy, nhưng trong điều kiện kinh tế
khó khăn khi ấy, phần thu hoạch mỗi năm của đám đậu
phộng này là một phần chính yếu cho sự sống của tăng
chúng trong chùa, nên quý thầy cũng không khỏi lo
lắng. Vì thế, mấy hôm sau thầy Nhuận Châu liền mời
thêm mấy thầy nữa cùng đi lên đám đậu phộng. Thầy
đứng ở đầu đám đậu phộng, lâm râm khấn nguyện rằng:
“Hết thảy các chúng sinh côn trùng xin hãy nghe đây.
Quý vị cũng vì sự sống mà nương náu nơi đây. Chúng
tôi cũng vì sự sống mà phải gieo trồng đám đậu phộng
này. Nay chúng tôi không đành lòng làm hại quý vị,
chỉ mong quý vị hạn chế sự tàn phá, để tăng chúng
trong chùa còn thu hoạch được đôi chút.” Khấn nguyện
như vậy rồi, các thầy cùng nhau trì chú Đại bi ngay
tại đám đậu phộng, cầu sức gia hộ của thần chú để
chuyển hóa tình trạng bế tắc này.
Thật kỳ diệu! Khoảng vài tuần sau đó, khi ra thăm
lại đám đậu phộng, quý thầy đều ngạc nhiên khi thấy
sự tàn phá trên đám đậu phộng dường như không còn
nữa. Đám đậu phộng tuy vẫn chưa hết màu vàng vọt
nhưng đã thấy đâm lá non và phát triển đôi phần.
Kỳ lạ hơn nữa, đến vụ thu hoạch thì mỗi gốc đậu của
nhà chùa đều sai trái, chắc hạt, dù cây đậu rất vàng
vọt, ốm yếu. Trong khi đó, những đám đậu quanh đó
tuy xanh tốt, rậm rạp nhưng khi nhổ lên lại chẳng
được mấy trái! Năm ấy, chùa Đức Sơn được một mùa bội
thu kỳ diệu, và cũng được một bài học thực tế vô
cùng quý giá rằng lòng từ bi có thể chuyển hóa được
tất cả.
THỰC HÀNH PHÓNG SINH CHUYỂN HÓA ĐƯỢC
GIA ĐÌNH
Cách đây ít lâu, tôi lại có dịp ghé
thăm thầy Nhuận Châu và vô cùng ngạc nhiên khi thấy
thầy đang sử dụng một chiếc máy tính xách tay đời
mới nhất! Là những người làm công việc biên khảo và
dịch thuật kinh điển, chúng tôi ai cũng ao ước có
được một chiếc máy tính xách tay cấu hình mạnh, vì
như vậy sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công việc, nhất là
những khi có việc phải đi lại nhiều nơi. Tuy nhiên,
với một tăng sĩ sống đời đạm bạc như thầy Nhuận Châu
mà có tiền để mua chiếc máy tính xách tay này thì
quả là điều khác lạ. Dù được quen biết thầy đã lâu,
nhưng tôi cũng thấy khó hiểu được sự kiện này.
Khi tôi đánh bạo thưa hỏi, thầy bật cười vui vẻ rồi
nói: “Chuyện dài lắm, nhưng nói tóm một điều là tôi
làm gì có tiền để ‘xài sang’ đến thế! Chiếc máy tính
này là của một người Phật tử mua gửi cúng dường cho
tôi. Còn nhân duyên vì sao mà có sự cúng dường này
tôi sẽ kể cho anh nghe. Tôi nghĩ, khi nào có dịp anh
cũng nên kể lại cho nhiều người cùng biết.”
Và rồi thầy chậm rãi kể lại cho tôi nghe đầu đuôi
câu chuyện.
Số là, cách đây khoảng một năm, có một nữ Phật tử là
Việt kiều về thăm quê, được một người đệ tử của thầy
Nhuận Châu giới thiệu về thầy nên sau khi trở về nhà
ở nước ngoài liền viết cho thầy một bức thư khá dài.
Trong thư, bà than vãn về vô số những chuyện rắc rối
gần đây liên tục xảy ra với gia đình bà, nhất là
những bất đồng giữa mọi người trong gia đình mà hầu
như chẳng bao giờ có thể thấy được nguyên nhân rõ
ràng. Cuối cùng, bà khẩn thiết xin thầy một lời chỉ
dạy, một lời khuyên bảo, rằng bà phải làm gì để có
thể sớm giải tỏa được những khó khăn trong cuộc sống
như thế này?
Thầy Nhuận Châu nói: “Thú thật, có lẽ đây là yêu cầu
khó nhất đối với tôi từ xưa nay. Tôi chưa từng biết
qua người nữ Phật tử này cũng như gia đình của bà,
càng không thể hiểu được nội tình những sự rắc rối,
khó khăn mà bà đang gánh chịu. Như vậy làm sao có
thể giúp bà ấy một lời khuyên cụ thể? Nhưng bà cứ
một mực đặt niềm tin nơi tôi, khẩn thiết cầu mong
tôi chỉ giúp cho bà một lối thoát trong hoàn cảnh bế
tắc hiện tại. Vì thế, tôi nghĩ chỉ có một phương
pháp duy nhất là phải tạo phước đức để hóa giải
những tội nghiệp từ trước. Mà muốn tạo phước đức một
cách nhanh chóng nhất thì không gì bằng thực hành
phóng sinh. Thế là tôi viết thư cho bà ấy, khuyên bà
hãy kiên trì thực hành hạnh phóng sinh trong 6
tháng, sau đó hãy viết thư cho tôi biết kết quả. Ý
tôi là sau thời gian này, với hạt giống thiện căn đã
gieo trồng, hy vọng bà ta có thể sẽ sáng suốt hơn
trong việc nhìn lại vấn đề. Và như vậy tôi mới có
thể giúp bà đưa ra một lời khuyên, một giải pháp cụ
thể nào đó...”
Sáu tháng sau, quả nhiên thầy nhận được thư trả lời
của người nữ Phật tử này. Kết quả hoàn toàn bất ngờ.
Thầy không cần phải đưa ra thêm bất cứ một lời
khuyên nào khác, vì bà ta không còn đòi hỏi gì hơn
nữa ngoài việc hết lời cảm ơn sự chỉ dạy của thầy.
Mọi vấn đề đều đã được giải quyết một cách tốt đẹp
đến không ngờ. Và hiện tại bà ta vẫn tiếp tục thực
hành việc phóng sinh như một phần trong cuộc sống
hằng ngày. Câu chuyện được bà kể lại như sau.
Với sự hướng dẫn chi tiết trong thư của thầy Nhuận
Châu, người nữ Phật tử này lập tức kính cẩn làm
theo. Bà dành nhiều thời gian và tiền bạc để tìm mua
các loài vật như chim, cá... và thả cho chúng trở về
với tự nhiên. Chồng bà là một người nước ngoài, thấy
bà làm như vậy thì lấy làm lạ, liền hỏi nguyên do.
Theo lời dạy của thầy, bà nói rằng làm như vậy để
được phước đức, cầu sự an ổn trong gia đình. Chồng
bà không tin lắm, nhưng cũng không có ý cản trở.
Không ngờ chỉ ít lâu sau đó, ông ta chợt nhận ra một
điều lạ là mỗi khi họ dừng xe ở đâu đều có những bầy
chim bay đến đậu quanh đó, cất tiếng kêu ríu rít.
Khi xe lăn bánh rồi chúng vẫn còn bay theo một đoạn
xa như tiễn biệt. Rồi ít lâu sau nữa, sáng nào khi
họ chạy xe ra khỏi nhà cũng đều có những con chim
bay đến chào mừng.
Người chồng bắt đầu tin rằng việc phóng sinh không
phải là vô ích. Ông đã nhận ra rằng loài vật cũng có
những tình cảm và sự biết ơn không khác loài người.
Vì thế, ông cũng bắt đầu cùng tham gia vào việc mua
chim phóng sinh với vợ mình. Khi cùng nhau làm việc
này, tình cảm của họ đối với nhau bắt đầu thay đổi
rõ rệt. Cả hai đều trở nên hòa nhã và biết lắng
nghe, luôn tôn trọng và cảm thông với nhau. Những
bất đồng giữa họ hóa ra chẳng có gì là phức tạp và
khó giải quyết cả. Nhờ có dịp tìm đến tiếp xúc với
những con vật trong điều kiện bị bắt nhốt, bị giam
cầm, bị đe dọa mạng sống, nên họ mới nhận ra rằng
cuộc sống tự do của họ là đáng trân quý biết bao
nhiêu. Và những va chạm xích mích hằng ngày trước
đây đều trở nên vụn vặt không đáng kể khi so với sự
may mắn lớn lao là họ đang được sống khỏe mạnh và tự
do, không bị giam cầm hay đe dọa đến mạng sống. Nhờ
vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó thì hai
người đã trở nên một cặp vợ chồng hạnh phúc, hòa
thuận.
Dần dần, có những con chim tìm đến làm tổ quanh nhà
họ, vì dường như chúng cảm thấy rằng sẽ được an ổn,
được che chở. Thế là họ liền nghĩ đến việc mua thực
phẩm để cho chúng ăn vào mỗi buổi sáng. Sân nhà của
họ không bao lâu trở thành một sân chim vào mỗi
sáng, và cả hai đều không ngờ rằng việc “nuôi chim”
lại có thể mang đến cho họ niềm vui vô cùng lớn lao
như vậy. Chỉ cần nhìn những con chim thật dễ thương
nhảy nhót vui vẻ và vô tư trên sân, không một chút
lo lắng hoảng hốt, họ cảm thấy như mọi sự mệt nhọc
của công việc đều tan biến.
Một thời gian sau, công việc đòi hỏi họ phải chuyển
đi một nơi xa, đành phải bán căn nhà đang ở. Lúc
này, với tâm từ bi đã được nuôi dưỡng trong thời
gian qua, họ thực sự lo lắng cho đàn chim khi không
có họ nơi đây. Vì thế, họ đã đưa ra một điều kiện
trước khi chấp nhận bán nhà là người chủ mới phải
cam kết bảo vệ đàn chim quanh nhà. Ngoài ra, họ còn
trích từ tiền bán nhà ra một số tiền lớn và để lại
cho người chủ mới để mua thực phẩm cho chim ăn.
Người mua nhà hết sức ngạc nhiên trước những yêu cầu
của những người bán nhà mà ông ta cho là quá kỳ lạ,
nên cố gạn hỏi nguyên do. Sau khi nghe hai vợ chồng
người “nuôi chim” này kể lại cặn kẽ mọi việc xảy ra
kể từ khi họ thực hành phóng sinh, thật bất ngờ là
người mua nhà liền phát tâm sẽ bỏ tiền mua thực phẩm
cho chim ăn mà không cần hai vợ chồng người kia phải
để lại số tiền ấy.
Sau khi viết thư kể lại cho thầy Nhuận Châu nghe về
mọi sự chuyển biến trong thời gian thực hành phóng
sinh theo lời dạy của thầy, vị nữ Phật tử kia cũng
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và mong muốn được kính
biếu thầy một món quà nhân dịp này. Được nghe nói về
công việc biên khảo và dịch thuật của thầy, bà quyết
định mua gửi tặng thầy một chiếc máy tính xách tay
đời mới nhất.
Có một điều thú vị là, cho đến nay thầy Nhuận Châu
vẫn chưa từng gặp mặt vị nữ thí chủ kia!
THẢ CÁ ĐƯỢC THOÁT NẠN
Có một người đáp thuyền đi xa. Lên
thuyền, nhìn thấy có hai con cá đang bơi lội rất vô
tư trong một cái thùng, có thể đến trưa sẽ bị giết
để nấu nướng. Người ấy động lòng mới nói với chủ
thuyền: “Anh bán hai con cá này cho tôi đi!” Chủ
thuyền đáp: “Được, nhưng giá 2 con cá này rất đắt,
đến 300 đồng. Lúc nào anh muốn ăn, tôi sẽ làm thịt
nấu nướng giúp anh.” Người ấy vui vẻ lấy ra 300 đồng
tiền đưa cho chủ thuyền để mua hai con cá, lại nói
rằng: “Hôm nay tôi không thích ăn cá, xin ông đừng
nấu.”
Cách một ngày sau, chủ thuyền lại hỏi: “Hôm nay nấu
cá cho anh ăn nhé?” Người ấy lúng túng trả lời:
“Đừng! Đừng! Hôm nay tôi ăn chay!” Thật ra anh ta
không ăn chay, nhưng chẳng qua muốn viện lý do để
không phải giết chết hai con cá đang bơi lội trong
thùng, nên mới nói dối rằng mình ăn chay. Rồi anh ta
thả cá xuống sông, trả lại mạng sống và sự tự do cho
chúng.
Lại cách một ngày sau, thuyền đang giong buồm trên
sông, bỗng cuồng phong nổi dậy, sóng cao ngút trời,
cả thuyền đều sợ khiếp vía. Đang lúc mọi người hốt
hoảng quỳ lạy khẩn cầu Trời Phật cứu mạng, bỗng
nhiên thấy từ trên mây hiện ra hai chữ “giả chay”.
Mọi người ai cũng thấy rất rõ. Có người liền hỏi
lớn: “Trên thuyền chúng ta có người nào giả chay?”
Hỏi đến mấy lần như thế thì người ấy nghĩ thầm:
“Chắc là mình giả ăn chay, xúc phạm luật trời. Nếu
giấu không nói ra ắt là làm hại tất cả mọi người.”
Nghĩ vậy rồi lập tức lớn tiếng trả lời: “Là tôi, là
tôi đây!” Mọi người đều nói: “Vậy ông nhảy xuống
nước đi.” Rồi hè nhau xô đẩy anh ta xuống nước. Bỗng
đâu trên mặt sông trôi đến một tấm ván lớn. Người ấy
vừa bị đẩy xuống sông, bắt được tấm ván liền bám
chặt vào một cách an toàn. Ngay khi ấy, một trận gió
lớn đẩy anh tấp vào bờ và được người cứu sống. Nhìn
lại chiếc thuyền kia không chịu nổi sóng to gió lớn
đã lật úp, toàn bộ những người trên thuyền đều chết
chìm, làm mồi cho cá.
Chúng ta thử nghĩ xem, người giả ăn chay này, chính
nhờ khởi lên một niệm từ bi làm việc phóng sinh mà
hóa ra đã cứu được mạng sống của chính mình!
DÙNG VOI CHỞ NƯỚC
Từ khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni giáng
sinh nơi cõi đời ô trược này, thuyết pháp giáo hóa
muôn loài, chúng sinh mới hiểu được lý nhân quả báo
ứng, sát sinh, phóng sinh. Trong kinh Kim Quang
Minh, phẩm Lưu thủy trưởng giả tử có nói về tiền
thân của ngài khi còn hành đạo Bồ Tát, đã trải lòng
từ bi dùng voi chở nước cứu mạng chúng sinh. Câu
chuyện như sau.
Thuở xưa, ở Ấn Độ có một hiền giả, là con của một vị
trưởng giả, có lòng nhân từ. Ngày kia, nhân có việc
ra ngoài, nhìn thấy bên cạnh núi có một ao nước rộng
lớn đang bị khô cạn. Trong hồ, có một đàn cá đến
hàng vạn con đang sống. Trên trời thì nắng gắt, còn
dưới ao lại cạn khô dần trong nay mai, tất cả những
con cá đều đang nằm thoi thóp chờ chết.
Vị hiền giả thấy rồi liền sinh lòng thương xót, lập
tức về triều, vào cung yết kiến quốc vương, xin vua
mở rộng lòng từ bi cấp cho 20 con voi trắng lớn để
vận chuyển nước về đổ vào ao, giúp cho những loài
động vật kia thoát nạn khô cạn. May thay! Vị quốc
vương này là đệ tử Phật, trước đã quy y Tam bảo. Sau
khi nghe lời cầu thỉnh của vị hiền giả, quốc vương
hoan hỷ chuẩn tấu.
Sau đó, hai cha con hiền giả cùng đi đến quán rượu,
mượn nhiều bình chứa rượu lớn, cho nước vào đầy rồi
dùng voi chở đến đổ vào ao khô. Cứ mang nước đến rồi
trở về lấy nước, nhiều lần qua lại mà không cảm thấy
mệt nhọc chút nào, chỉ nghĩ đến sự sống còn của bầy
cá dưới ao mà cố gắng không ngừng. Ông trời hình như
cảm động tấm chân tình đó, nên đã bắt đầu rưới xuống
những trận mưa lớn, thấm nhuần muôn loài cùng vạn
vật, ban sự sống cho muôn vạn sinh linh. Cuối cùng,
hàng vạn mạng sống trong hồ đã được cứu sống. Vị
hiền giả thấy thế lòng vô cùng hoan hỉ, lại còn vì
đàn cá nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã... Đàn
cá số đông đến mười ngàn con, đã có phúc duyên được
cứu sống lại nhờ nghe pháp, hiểu rõ lý nhân quả báo
ứng, phát tâm bỏ ác làm lành, nên ngay trong ngày
cùng bỏ thân cá, thần thức thác sinh lên cõi trời
Đao-lợi, hưởng phước vô cùng.
SA DI CỨU ĐÀN KIẾN
Chuyện kể rằng có chú sa-di là đệ tử
của một bậc cao tăng. Vị này đã tu chứng Túc mạng
thông, biết đệ tử của mình sẽ bị chết yểu và thời
gian sống chỉ còn 7 ngày thôi. Ngài bèn gọi chú
sa-di đến cho phép về gia đình thăm mẹ và người
thân, dặn đến ngày thứ tám hãy trở lại chùa. Bổn ý
của ngài là muốn chú sa-di khi từ giã trần gian này
được chết trong vòng tay ấm cúng của gia đình, bên
cạnh người thân.
Khi thăm mẹ và người thân xong, chú sa-di trở về
chùa đúng thời hạn quy định. Vị thầy thấy đệ tử
chẳng những không chết mà dung mạo lại thêm tươi
tắn, trong lòng cảm thấy kỳ lạ. Ngài liền nhập định
tìm xét lý do. Hóa ra, chú sa-di trên đường trở về
thăm nhà gặp một trận mưa lớn, nên tìm nơi trú. Sau
khi hết mưa, chú định tiếp tục lên đường, chợt thấy
bên hè nhà có một đàn kiến rất đông đang bị nước
cuốn trôi. Chúng cố dùng chân quờ quạng tìm chỗ bám
víu, cố chống chọi với cơn đại nạn. Có con vì yếu
sức đành buông xuôi, mặc cho dòng nước cuốn trôi số
phận nhỏ nhoi của mình. Thấy rồi, chú sa-di chạnh
nghĩ: “Bầy kiến kia nào có khác chi người, cũng đang
cố gắng giành giật lấy sự sống trong tự nhiên. Trong
lúc gian nan nguy cấp này, sao ta lại không cứu
giúp?” Thế là, chú sa-di nhặt một cành cây bên cạnh
bắc qua làm cầu, lần lần cứu đàn kiến ra khỏi dòng
nước.
Khi ấy, vị thầy liền gọi chú sa-di đến và nói: “Ta
cho con về quê thăm mẹ là vì biết mạng sống của con
chỉ còn không quá 7 ngày. May nhờ con biết khởi lòng
từ bi cứu sống cả đàn kiến đông đảo, nên công đức
lớn lao ấy đã giúp con được kéo dài tuổi thọ, được
thêm tướng tốt”.
Quả nhiên, về sau chú sa-di ấy thọ đến 80 tuổi. Và
sau sự việc đó chú càng tinh tấn tu hành, chứng được
quả A-la-hán, vĩnh viễn dứt mọi nỗi khổ trôi lăn
trong sáu đường.
THẦY ĐỒ THẢ CÁ LÝ NGƯ
Ở tại địa phương kia có một thầy đồ
họ Khuất. Một hôm đang đi dạo bên bờ sông, thấy ngư
phủ câu được một con cá lý ngư màu đỏ, định đem ra
chợ bán. Khi nhìn con cá đang giãy giụa, thầy Khuất
bỗng khởi lòng từ bi, thấy như ánh mắt đau đớn của
nó đang hướng về thầy cầu cứu. Lòng không nỡ nhìn
thấy cảnh ấy, thầy liền bỏ tiền mua lại con cá, xong
đem đến chỗ vắng thả lại xuống sông.
Về sau, thầy mang chứng bệnh trầm trọng, sắp phải
qua đời. Một đêm, đang nằm thoi thóp trong phòng,
bỗng mơ thấy có một người tướng mạo oai phong lẫm
liệt, tự xưng là Long vương. Long vương bảo thầy
Khuất: “Thọ mạng của tiên sinh lẽ ra đến đây đã dứt,
song vì thầy có lòng từ bi cứu mạng con ta là thái
tử Long cung nên được phước báu, có thể sống thêm 12
năm nữa.” Nói xong biến mất. Năm ấy, Khuất tiên sinh
mới được 48 tuổi.
Thầy Khuất tỉnh dậy, bệnh tật dường như tiêu mất,
trong người khỏe khoắn bình thường. Từ đó tiếp tục
sống cho đến 60 tuổi, rồi không bệnh mà chết, con
cháu đông vầy, nhiều đời vinh hiển.
BẦY CHIM CHÔN CẤT ÂN NHÂN
Tôn Lương vốn là người quê mùa nhưng
lòng dạ rất nhân hậu, tuy cảnh nhà nghèo túng nhưng
thường làm việc cứu vật phóng sinh.
Mỗi lần đi đâu, thấy những con chim bị người giăng
bẫy bắt nhốt trong lồng, ông liền đem tiền dành dụm
mua chim rồi thả chúng bay đi. Lúc mở cửa lồng để
thả chim, nghe tiếng chim kêu ríu rít, rồi bay lượn
vòng trên hư không trông rất tự do tự tại, lòng ông
cảm thấy vui thích, khoan khoái. Và như thế, ông
cũng không biết là mình đã thả được bao nhiêu bầy
chim rồi, cho dù cuộc sống của ông vẫn nghèo thiếu.
Ông mất vào năm 70 tuổi. Do không có người thân cũng
không có bằng hữu, lại thêm gia cảnh nghèo khó nên
không có tiền của để lại lo việc tang ma, không
người chôn cất. Cuối cùng, người ta đem thi thể của
ông bỏ nằm ở vùng núi ngoài thành, trông rất thê
thảm.
Bỗng dưng, có một bầy chim cả ngàn vạn con cùng bay
đến, đông rợp cả bầu trời. Trong miệng mỗi con ngậm
một cục đất, bay nhả thành hàng trên thi thể của Tôn
Lương. Không quá một ngày đã chất đầy đất lên như
một ngọn đồi lớn.
Tôn Lương đã được an táng một cách hy hữu như thế.
Mọi người chung quanh thấy việc kỳ lạ, họ cố tìm
nguyên nhân. Cuối cùng mới hiểu, do vì lúc sanh tiền
Tôn Lương thường mua chim phóng sinh, bầy chim cảm
ơn cứu mạng nên ngậm đất đắp mộ để báo đáp.
PHÓNG SINH TĂNG TUỔI THỌ
Niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh
(1821-1850), có vị Thái thú Đồ Cầm Ô, trước lúc làm
quan đã từng bệnh rất nặng, lại thêm uống nhầm thuốc
nên suýt phải mất mạng. Trong lúc nguy ngập sắp từ
trần, Thái thú phát nguyện: “Nếu được tai qua nạn
khỏi, nguyện sám hối nghiệp chướng đã gây tạo, làm
tất cả việc lợi ích cho mọi người.” Công danh phú
quí đối với ông giờ đây như nước chảy mây bay, không
còn vướng bận nữa.
Đêm nọ, Thái thú nằm mộng thấy đức Quán Âm Đại sĩ
hiện ra nói rằng: “Đời trước ngươi đã từng làm quan
ở nước Sở, do xử lý công việc quá nghiêm khắc nên
tổn thương đến lòng nhân hậu. Tuy công tâm làm việc
nhưng cũng bị quả báo giảm mất tước vị và bổng lộc,
thêm nữa là hay sát sinh hại vật nên đời nay quả báo
phải bị chết yểu. May sao trong lúc bệnh ngươi đã
phát thệ nguyện kiên cố, niệm niệm đều mong được làm
lợi ích cho chúng sinh, không mảy may có tâm oán
trách, nên thay đổi được nghiệp báo, có thể tạm qua
được cơn bệnh này. Nhưng chỉ có mỗi một việc phóng
sinh mới có thể tăng thêm phúc lộc và tuổi thọ,
ngươi cần phải cố gắng.
Sau khi tỉnh giấc, Thái thú ghi nhớ rõ ràng từng lời
trong giấc mơ và hối hận về những lỗi lầm của mình
đã tạo từ trước, nên càng quyết tâm sửa ác tu thiện
và cùng gia đình đồng giữ giới không sát sinh, lại
thường xuyên làm việc phóng sinh.
Mùa đông năm ấy, vua ban chiếu lệnh đưa ông đến nhậm
chức Thái thú Cửu Giang - Viên Châu. Phước báo đến
với ông quá bất ngờ, ân đức vượt trội, khiến ông
càng tích cực làm lành hơn nữa. Sang mùa đông năm
sau, ông lành bệnh, lại còn khỏe mạnh hơn xưa. Đó là
do phước báo phóng sinh cảm nên vậy.
ĐƯỢC PHƯỚC SỐNG LÂU
Trước kia, ở Tô Châu có một người tên
Vương Đại Lâm, cả đời rất thương mến loài vật. Bất
kể là loài vật nào ông cũng yêu thương và thường mua
những con vật bị bắt đem phóng sinh.
Khi thấy trẻ em trong thôn làng bắt các loài vật như
cá, chim để vui chơi, ông liền dùng lời nhẹ nhàng
khuyên răn, giải thích là làm như thế sẽ giảm lòng
từ bi. Sau đó còn đem tiền cho bọn trẻ để đổi lấy
con vật, rồi tìm chỗ an toàn thả chúng đi.
Ông thường khuyên nhủ thanh thiếu niên: “Khi còn
trẻ, các con cần rèn luyện đức tính nhân từ, thương
mến sinh mạng chúng sinh, các con không nên nuôi
dưỡng thói quen tàn nhẫn, giết hại chúng nó.”
Đám trẻ trong làng đều nghe theo lời khuyên dạy chân
tình của ông, nên trở thành những đứa trẻ hiền lành,
ngoan ngoãn, hiếu thảo, thương người. Cha mẹ, người
thân của chúng, ai cũng vui mừng khôn kể. Cho đến
các bậc phụ huynh của những làng lân cận thấy thế,
cũng bắt chước phương pháp ấy mà dạy dỗ con mình.
Có thời gian, Vương Đại Lâm bệnh nặng sắp chết,
trong cơn mê sảng bỗng nghe có người nói với ông:
“Ông cả đời thương vật phóng sinh, phước báu và công
đức vô lượng, nên được tăng tuổi thọ, sống thêm 36
năm nữa”.
Sau đó, ông được lành bệnh. Sống thọ đến năm 97 tuổi
mới từ biệt cõi đời. Con cháu năm đời đều vinh hiển
và cùng sống chung trong một đại gia đình, thật hạnh
phúc.
ĐÀO AO PHÓNG SINH
Vào thời Trần - Tùy, Đại sư Trí Khải
là Tổ sư của tông Thiên Thai. Vua Tùy Dạng Đế kính
ngài là bậc đạo hạnh, nên ban hiệu là Trí Giả.
Đại sư cảm thương cho sự tàn ác của người đương
thời, giết hại muôn vạn sinh linh chỉ vì tìm cầu
chút vị ngon nhất thời của cái lưỡi. Ngài muốn
khuyến hoá mọi người phát triển tâm từ bi, nên đã
cùng với nhiều đệ tử đi quyên góp khắp nơi. Số tiền
xin được, ngài mua một miếng đất rộng dài, ra sức
đào ao thả cá, lại khuyên dạy người đời giữ giới
không sát sinh và phóng sinh. Đồng thời, ngài tâu
lên triều đình xin vua hạ lệnh cấm không được bắt cá
trong ao. Đến niên hiệu Trung Quán nhà Đường vẫn còn
giữ nguyên lệnh ấy.
Sang các đời vua khác, đều là các vị minh quân cùng
các bậc cao tăng đồng xướng đạo dẫn đường dạy mọi
người tu Mười điều lành. Niên hiệu Càn Nguyên, đời
vua Đường Túc Tông, triều đình từng hạ chiếu ra lệnh
cho các châu, huyện đều phải đào ao phóng sinh. Niên
hiệu Thiên Hi năm đầu, đời Tống Chân Tông, cũng hạ
chiếu lệnh bắt mọi người mở rộng việc đào ao thả cá.
Tây Hồ ở Hàng Châu trước kia cũng là một ao phóng
sinh, hiện nay là một thắng cảnh danh tiếng tại
Trung Quốc.
Khi nhà Minh lên ngôi, Đại sư Liên Trì đã từng ở nơi
đây tạo thêm hai ao phóng sinh, còn lập bia ghi chép
sự lợi ích của việc phóng sinh hộ vật, và truyền
rộng khắp thiên hạ. Từ đó cho đến nay, phong tục hay
đẹp này đã ảnh hưởng sâu rộng trong nhân gian, người
có lòng nhân, phát tâm từ bi thật vô số kể.
THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT
Đời Tấn bên Trung Hoa, tại xứ Nhữ Nam
có một người tên Hứa Chân Quân, thuở thiếu thời có
thú vui săn bắn. Ngày kia, anh vào rừng săn thú, bắn
trúng một nai con. Vừa định buông cung đến bắt nai,
bỗng đâu có bóng con nai lạ từ xa phóng lại gần xác
nai con, dùng miệng liếm trên vết thương của con
vật. Nó không màng đến kẻ thù đang đứng bên cạnh,
bao nguy hiểm đang rình chờ, chỉ cất lên tiếng kêu
sầu não và bày tỏ cử chỉ yêu thương với con vật đã
chết.
Hứa Chân Quân nghĩ chắc đây là con nai mẹ, mới có cử
chỉ trìu mến với chú nai nhỏ như thế, nên cũng chạnh
lòng thương cho tình mẫu tử của chúng nó. Chỉ lát
sau, nai mẹ ngã xuống đất chết. Hứa Chân Quân mang
hai con nai trở về nhà, định xẻ thịt nấu thức ăn,
phần còn lại sẽ đem phơi khô làm lương thực khi cần.
Anh dùng dao mổ bụng nai mẹ trước, mới thấy là lá
gan của nó đã nát ra, còn ruột thì đứt thành từng
đoạn nhỏ. Thấy rồi, Chân Quân cảm động cho tình mẫu
tử sâu đậm của loài vật, càng nghĩ càng thương đến
ứa nước mắt. Từ đó, Quân vô cùng hối hận, bẻ gảy
cung tên và từ bỏ nghề săn bắn.
Tất cả loài vật đều có tình mẫu tử thiêng liêng như
con người không khác. Giây phút sinh ly tử biệt,
người mẹ nào không thương xót con mình. Hơn nữa,
người mẹ còn bất chấp cả nguy hiểm đang chờ, chỉ một
bề muốn cứu con thoát khỏi hoạn nạn.
Nai mẹ kia nào khác với con người, thương con đến
tan nát cả ruột gan. Ôi! Trên đời còn có gì sâu nặng
hơn tình mẫu tử ư! Người ta sao nỡ vì miếng ăn ngon
mà gây ra sự chia lìa sinh ly tử biệt?
Về sau, Hứa Chân Quân được tiến cử làm quan. Nhân ý
thức cuộc danh lợi chỉ như sương trên đầu ngọn cỏ
nên đã sớm từ quan, lui về ở ẩn, theo thầy học đạo.
Sau đó, ông chu du khắp nơi cứu dân độ thế, dạy
người làm lành, lánh dữ. Sau khi tạ thế, vẫn còn
hiển linh giúp dân. Vua Tống truy phong là Thần Công
Diệu Tế Chân Quân, người đời gọi là Hứa Chân Quân
hay Hứa Tinh Dương.
B. SÁT SINH CHỊU ÁC BÁO
ĐỨT LƯỠI VÌ DAO MỔ TRÂU
Trước đây, ở vùng Giang Tô, huyện
Thường Thục, cạnh sông Hoàng Hà, trong ngôi nhà
tranh nghèo lụp xụp có một người sống bằng nghề giết
trâu. Cứ mỗi lần người ấy sắp làm thịt trâu, thì
việc đầu tiên là cắt lấy lưỡi. Tội cho những con
trâu bạc phước, đang còn sống mà bị người cắt lấy
lưỡi, đau đớn vô cùng, rống tiếng kêu đau. Vậy mà
người ấy không một chút động lòng, thản nhiên coi
như chuyện bình thường. Khi hoàn tất công việc,
người ấy đem lưỡi trâu về nhà ngâm rượu, đúng ngày
đem ra nhâm nhi, hả hê với thức ăn đặc biệt do mình
chế biến, chỉ riêng trâu ngậm ngùi.
Có một hôm, ông để con dao mổ trâu phía trên cánh
cửa ra vào, chợt nghe tiếng hai con chuột kêu rúc
rích trên ấy. Tò mò, ông muốn biết xem chúng làm gì,
nên bước lại gần ngước đầu nhìn lên. Thì ra hai con
chuột kia nghe mùi tanh từ con dao mổ, tưởng là có
thức ăn ngon nên đến tranh nhau, nào ngờ đụng vào
con dao rơi xuống trúng ngay miệng của người đồ tể
ấy, khiến cho đầu lưỡi của ông đứt lìa. Ông đau đớn
giẫy giụa hồi lâu rồi mới chết.
Người đồ tể kia một đời sát sinh hại vật, thói quen
thành nghiệp, nên dửng dưng trước những đau đớn của
loài vật. Ưa thích rượu thịt, cắt lưỡi chúng sinh,
tội nhiều biết bao! Nếu ông hiểu được lý nhân quả
nghiệp báo thì có lẽ đã lường trước được sự báo ứng
mà dè dặt trong hành động, không để cho tâm hiếu sát
sai khiến, hẳn đã biết dừng dao tạo nghiệp, không
gây thương tổn cho loài vật như thế!
ĐAU ĐỚN SUỐT SUỐT BA THÁNG
Nơi miền Giang Tô, thuộc trấn Nam
Tường, huyện Gia Định, bên cạnh sườn núi phía nam,
có một người tên Tào Thăng Nguyên, rất thích ăn thịt
chó, thường giết chó để ăn thịt.
Hôm ấy, Tào Thăng Nguyên đem con chó đã giết chết
ngâm vào trong chậu nước, đang lúc tính toán sẽ phân
chia thịt chó ra mấy phần. Bỗng con chó từ trong
chậu nước ngồi bật dậy nhảy cao khoảng một thước,
đầu sấn vào Tào Thăng Nguyên há miệng thật lớn cắn
một cái, máu từ thân người của hắn chảy ra dầm dề.
Quá đau đớn nên hắn hôn mê bất tỉnh. Trong cơn mê
hắn nhớ lại tất cả cảnh hắn đã từng giết chó, và bị
vô số chó chạy theo rượt cắn, nên sợ hãi kêu la.
Người bàng quan không một ai dám nhìn tình trạng thê
thảm của hắn.
Sau khi Tào Thăng Nguyên bị chó cắn, kiếm tìm thầy
thuốc trị bệnh, nhưng thuốc thang đều vô hiệu, bệnh
không chút thuyên giảm. Thế rồi, vết thương càng
ngày càng thêm lở loét, đau nhức thấu ruột gan, kêu
khóc suốt ngày đêm, trọn ba tháng rồi mới chết.
Quanh vùng ấy, những người thích ăn thịt chó, thấy
sự việc xảy ra như thế, lòng lo sợ bị quả báo nên
không dám giết chó ăn thịt nữa.
CẮT LƯỠI THÚ VẬT – CON BỊ KHUYẾT TẬT
Trong sách Pháp Uyển Châu Lâm có ghi:
Đời Đường Cao Tổ, niên hiệu Vũ Đức, có một nông phu
rất hung ác. Sáng nọ, như thường lệ ông ra thăm đồng
ruộng. Từ xa, ông trông thấy con trâu của nhà hàng
xóm đang nhởn nhơ ăn lúa và giẵm đạp lên đám ruộng
tươi tốt của ông. Giận quá, ông chạy đến nắm chặt
lấy đầu trâu, lấy dây dàm quấn vào lưỡi trâu rồi
dùng sức kéo mạnh một cái. Tức thời, lưỡi con vật bị
đứt lìa, trông tình trạng của con vật trông thật thê
thảm, đáng thương. Miệng đầy máu tuôn ra xối xả,
khua dậm chân nhìn thấy rất đau đớn, nhưng hình như
biết lỗi nên không dám rên la. Mọi người thấy vậy
đến vây quanh xem rất đông. Thấy thảm cảnh của con
trâu, ai nấy đều chỉ trích sự tàn nhẫn của người
kia.
Thời gian sau, người nông phu ấy lập gia đình, sinh
được ba đứa con. Cả ba đứa trẻ đều bị câm. Mọi người
nhân sự việc này mà xét đoán lý nhân quả. Bởi do
lòng dạ tàn nhẫn mà ngay trong cuộc sống hiện tại
của người nông phu kia bị chiêu cảm quả báo đau khổ
như thế. Lý nhân quả không sai chạy chút nào.
NGƯỜI TÀN ÁC CHẾT ĐAU ĐỚN
Trước đây có một vị tri huyện họ
Trương, đặc biệt thích ăn món chân ngỗng và trái tim
của con dê còn sống.
Mỗi lần muốn ăn món chân ngỗng, trước tiên ông sai
người bắt ngỗng bỏ vào chảo sắt, sau đó đốt lửa.
Nhưng phải là lửa lớn thì chân ngỗng mới ngon. Do
vậy, ngọn lửa từ dưới lò được quạt cháy dữ dội, đỏ
rực một vùng. Thương cho con ngỗng bị sức nóng của
lửa đốt, hoảng hốt nhảy loạn cả lên. Nó quạt đôi
cánh cố vùng lên khỏi nắp chảo, xoay bên này, bên
kia, miệng kêu la nghe rất thảm. Ban đầu con ngỗng
còn phản ứng mạnh, nhưng dần rồi nó quằn quại trong
lòng chảo nóng, đến nỗi không còn cất tiếng kêu được
nữa. Đôi chân của nó bị đốt phồng to lên, máu toàn
thân tụ về, đau đớn khôn xiết, nhưng đó là chỗ mà
người đời cho là món ăn đặc biệt. Thế rồi, nó liền
bị người cắt đứt đôi chân. Lại tiếp tục đun nấu cho
đến khi toàn thân ngỗng đều chín tới.
Thử tưởng tượng như việc này mà xảy ra với chúng ta
hoặc người thân của chúng ta thì quả là một cực hình
không sao tưởng tượng nổi! Vậy mà có người lại nỡ
làm như vậy với con vật chỉ vì một miếng ăn ngon.
Thật tàn ác biết bao!
Còn khi muốn ăn món dê, thì ông bắt trói con dê treo
trên đầu cây cột sau bếp. Rồi dùng dao đâm xuyên
ngực, xương sườn của con dê, sau đó mới moi lấy trái
tim dê đem đi nấu nướng. Con dê đau đớn kêu la thảm
thiết! Tiếng kêu của nó nghe rất sầu não, đôi mắt
ngoái nhìn quanh quất như tìm vị cứu tinh, hai chân
lay động như muốn vượt khỏi xích xiềng.
Thế rồi, sau thời gian thụ hưởng như thế, thân của
vị Tri huyện kia bỗng sưng phù lên, đầy mụn nhọt
độc, chạy chữa thế nào cũng không hết, rên la đau
đớn suốt ngày. Và tri huyện bị quả báo hiện tiền
kia, mang chứng bệnh thống khổ hành hạ rất lâu mới
chết.
NGƯỜI LÀM ÁC PHẢI BỊ CHẾT THÊ THẢM
Đời Thanh, niên hiệu Ung Chính, tại
huyện Quỳ Hưng, tỉnh Triết Giang có người họ Ngụy
thường theo nghiệp săn bắn. Người này dùng súng bắn
chim thú và các loài ếch, nhái, rùa... rất giỏi,
chuyên pha thuốc độc để giết cá, phá hủy tổ chim,
sát sinh hại vật vô số kể, nghiệp ác của hắn thật
không kể xiết.
Mọi người chung quanh thấy thế tìm đủ mọi cách
khuyên nhủ, còn đưa ra những việc về nhân quả báo
ứng, mong rằng ông Ngụy biết sợ hãi hối hận mà giảm
bớt việc sát sinh. Nhưng ông Ngụy không những chẳng
nghe lời khuyên bảo mà còn cười chê những lời ấy là
vô căn cứ.
Càng về sau, ông ta tạo tội càng nhiều. Nhưng chẳng
bao lâu, trên người ông mọc lên nhiều mụn nhọt độc,
khắp thân phồng lên vô số bọc nước. Trong mỗi mụt
nước có chỗ cứng như một viên sắt tròn. Tiếp đó da
dẻ bị cháy sém, bắp thịt lở loét, ung mủ rồi dần dần
thối rửa. Ông nằm trên giường bị bệnh khổ hoành
hành, đau đớn kêu la không sao kể xiết. Căn bệnh kỳ
lạ ấy hành hạ ông cho đến chết.
Sau khi ông Ngụy chết, bỗng đâu có vô số loài vật
như cá, ếch, rùa, chim, lớp bò, lớp bay vào trong
phòng mổ xé thi thể của ông mà ăn.
Người vợ của ông thấy thế buồn thương vô hạn. Song,
nghĩ đến chồng mình đã giết hại biết bao chúng sinh,
nên ngày nay phải bị nghiệp báo như thế. Bà không
dám làm hại chúng nữa. Chỉ trong chốc lát, thi thể
ông Ngụy đã bị các con vật ăn hết sạch, chỉ còn trơ
lại một bộ xương trắng.
Ông Ngụy đã bị chết thê thảm lại thêm quả báo xấu là
không có con để nối dõi phụng thờ. Thật là một việc
đáng cho chúng ta suy xét mà ngăn ngừa tâm ác đối
với loài vật.
CÁ LƯƠN TRẢ THÙ
Có người họ Lục ở Quý Châu, đã hơn 60
tuổi, rất thích ăn lươn. Ông thích đến nỗi mỗi bữa
cơm hằng ngày nhất định phải có món lươn hầm thì mới
chịu ăn và ăn rất ngon. Thật chua xót thay, để đổi
lấy sự ngon miệng cho ông mà biết bao nhiêu con lươn
đã bị sát hại.
Có một hôm, ông đến chợ mua lươn. Ông đòi chọn những
con mập lớn. Bấy giờ, người bán lươn mới nhường cho
ông tự chọn lấy. Ông Lục liền xắn tay áo thò vào
chum mò bắt lươn, nào ngờ bầy lươn hè nhau cắn chặt
vào cánh tay ông. Bị cắn đau, thêm phần hoảng sợ,
nên sắc mặt ông tái xanh, té xỉu ngay xuống đất.
Nhưng bầy lươn vẫn không chịu nhả ra, chụm thành một
xâu đeo lủng lẳng trên tay ông.
Lúc ấy, người trong chợ vây quanh đứng nhìn rất
đông. Con ông hay tin liền chạy đến, nhờ mọi người
phụ khiêng ông về nhà. Trước tình cảnh ấy, người nhà
của ông đành phải dùng dao cắt đứt mấy con lươn.
Song, phần đuôi lươn thì rơi xuống, mà đầu lươn vẫn
không chịu nhả rời cánh tay ông. Không biết trải qua
thời gian bao lâu, chúng nó mới chịu nhả ra. Nhưng
hỡi ôi! Trên cánh tay ông, chỗ bị lươn cắn đã không
còn một chút thịt. Ông họ Lục rên la hồi lâu rồi tắt
thở!
BẮT ẾCH BỊ QUẢ BÁO
Năm Đạo Quang thứ 16 (1836), ở Tô
Châu có vị quan ra cáo thị nghiêm cấm việc bắt ếch.
Trong vùng có một nông dân tên Trương A Hỷ, vốn sinh
sống bằng nghề bắt ếch, nên y vẫn lén lút bắt ếch
đem bán. A Hỷ là người quê mùa ngu dốt, lại thêm bản
tính hung bạo, ngang bướng. Có người thấy hắn làm
nghề bị cấm nên khuyên nhủ: “Ếch là loài động vật
bảo vệ cây nông nghiệp, rất có ích. Quan phủ đã dán
cáo thị nghiêm cấm không cho bắt ếch, ông nên đổi
nghề đi, còn có rất nhiều cách để sinh sống không
phạm pháp, lại cũng không tổn hại lòng từ bi. Tội gì
phải lén lút khổ sở như thế?”
Mặc dù được nhiều người thương tình khuyên bảo,
nhưng A Hỷ vẫn không đổi nghề.
Một bữa nọ, sau trận mưa lớn, nước sông dâng lên
cao, A Hỷ đến bờ sông bắt ếch. Vì vô ý nên trượt
chân té xuống sông bị chết đuối. Hai ngày sau, thi
thể hắn nổi phình lên mặt nước, có nhiều con ếch
xanh bu trên thây chết tranh nhau cắn rỉa thịt. Cư
dân ở gần thấy vậy rủ nhau đến xem rất đông. Tất cả
đều sợ hãi mà bảo nhau rằng: “Có lẽ đây là quả báo
hiện tiền do việc bắt giết ếch của hắn.”
Cứ tưởng tượng lại hình ảnh khi hắn bắt ếch sống
chặt đầu rồi lột da, ếch kia oằn oại lâu lắm mới
chết. Sự đau đớn của những con vật ấy thật là vô kể.
Nếu chúng ta là những con ếch ấy thì sự đau đớn về
thân xác cũng như niềm oán hận trong lòng sẽ sâu đậm
lắm, cho nên đối với việc ếch trả thù như thế cũng
là lẽ đương nhiên. Song nhìn thấy người vì sát sinh
hại vật, thương tổn lòng từ bi mà bị quả báo đến thế
kia, thì chúng ta cũng không khỏi thượng xét lại
mình mà dè dặt không nên để cho ba nghiệp tạo ác.
CỘNG NGHIỆP SÁT SANH
Cư dân sống quanh vùng Thái Hồ, thuộc
tỉnh Triết Giang hầu hết đều sống bằng nghề lưới
chim, bắt cá. Cứ thế, cha truyền con nối, hết đời
này đến đời khác, mọi người đều quen với nghề nghiệp
ấy và không hề nghĩ là mình đang sống trên sự khổ
đau của loài vật.
Trong vùng ấy, riêng có gia đình ông Trần Văn Bảo
lại thích làm việc lành. Mỗi khi thấy ai lưới chim,
bắt cá, thấy mình đủ khả năng cứu giúp thì gia đình
ông liền xuất tiền mua lại rồi đem phóng sinh, lại
còn ân cần khuyên nhủ mọi người cùng nhau làm việc
từ thiện. Ông thường nói rằng: “Chỉ một việc sát
sinh đã làm thương tổn lòng từ bi, mất phước đức,
giảm tuổi thọ, lại còn bị báo ứng rất đáng sợ, gần
nhất là ngay trong đời này, xa nữa là trong nhiều
đời sau.”
Chuyện kể lại như sau: Đêm hôm ấy, có một người dân
trong vùng đang trên đường ra chợ, chợt thấy có hai
con quỷ, trong tay cầm rất nhiều lá cờ, vừa đi vừa
nói với nhau: “Trừ gia đình ông Trần Văn Bảo ra, vì
những người ấy thương người cứu vật, được miễn khỏi
cắm cờ ngay nhà của họ, còn lại ta và ngươi cứ theo
thứ tự cắm mỗi nhà một lá cờ.”
Chỉ một thời gian ngắn sau đó, cả vùng ngư phủ đều
bị bệnh dịch truyền nhiễm, có hơn 300 gia đình do bị
bệnh dịch mà chết. Riêng gia đình ông Trần Văn Bảo
không một ai bị bệnh cả. Cả đời ông Bảo làm việc
thiện, lúc về già vẫn còn mạnh khỏe, sống rất thọ.
Khi từ giã cõi đời, ông ra đi thật an nhiên tự tại.
ẾCH ĐÒI MẠNG
Năm Dân Quốc thứ nhất (1912), ở huyện
Vô Vi thuộc tỉnh An Huy có một người thợ hớt tóc.
Những bữa cơm hằng ngày của ông không bao giờ thiếu
món thịt ếch. Vì thích ăn món thịt ếch mà ông đã
giết không biết bao nhiêu con ếch vô tội.
Có một đêm, khi chuẩn bị lên giường ngủ, ông chợt
thấy ếch nằm đầy giường, trên gối, mền cho đến trên
cổ áo, tay áo của ông đều có ếch bu đông nghẹt. Ông
ngồi dậy, bước ra ngoài nhóm bếp lửa đun một nồi
nước sôi, bắt hết những con ếch ấy bỏ vào nồi nước
sôi cho chết. Xong rồi, tiếp tục leo lên giường định
ngủ. Nhưng lại thấy ếch cũng đầy giường như khi nãy,
còn nhiều hơn nữa là khác! Ông lại tìm cách đánh xua
đuổi, bắt ếch bỏ ra ngoài, nhưng không bắt xuể. Suốt
đêm như vậy, hình ảnh những con ếch khiến ông không
hề chợp mắt được.
Hôm sau, ông kể lại cho những người hàng xóm nghe sự
việc lạ lùng này. Ngay khi ông đang thuật chuyện,
bỗng la lên hoảng hốt: “Kìa, chúng nó lại đến, nhảy
bám trên cổ tôi.” Nói xong, dùng tay phủi lia lịa.
Kỳ lạ là mọi người chung quanh lại không hề nhìn
thấy ếch!
Chốc lát sau, ông lại la lên: “Kìa, ếch bu đầy trên
đầu, trên mặt, trên mí mắt của tôi rồi!” Ông vừa
phủi vừa chạy đi tìm dao cạo, cạo sạch cả lông mày,
cả tóc trên đầu, mà vẫn chưa yên, cứ la ếch bu hoài!
Thật ra, nào có ếch bám trên đầu người ấy! Đây chỉ
là ảo giác do ông giết hại quá nhiều ếch mà sinh ra
đó thôi. Mọi người thấy ông không còn tự chủ, la
sảng như vậy mãi, đều bảo nhau: “Chắc ông này bị
điên rồi.”
Từ đó, ngày ngày ông thường la khóc vang trời, ngày
đêm hốt hoảng, không một lúc nào tỉnh táo. Gia đình
ông vì thế cũng rối bời, bất an không dứt. Chứng
bệnh kỳ lạ ấy hành hạ ông suốt 6 năm trời rồi chết.
SÁT SINH BỊ NƯỚC CUỐN
Cư dân ở vùng Giang Tô, Nhuận Châu
chuyên nghề đánh cá sinh nhai. Họ sống bằng nghề sát
sinh như thế đã nhiều đời, tập nhiễm thành tính ác.
Mỗi ngày, mọi người đều bắt ếch, bắt ốc, chài cá làm
thức ăn, người lớn dạy trẻ em biết cầm dao để chặn
bắt ếch. Người dân vùng này lấy sát sinh làm sở
trường, đồng thời nuôi dưỡng, dạy dỗ con cháu như
thế.
Nhưng lạ một điều là trong vùng lại có một bà lão họ
Khổng, tính thương người thương vật, tuổi đã 70 vẫn
còn lao nhọc dệt vải kiếm sống qua ngày và dành tiền
mua vật phóng sinh. Bà thường khuyên mọi người giảm
bớt việc sát sinh hại vật, đem hết khả năng của mình
cứu loài vật được đến đâu hay đến đó. Bà nói: “Hãy
tránh giết loài trùng, kiến, ốc, nhái... Chớ cho đó
là việc thiện nhỏ. Mọi người cần phải có tâm từ bi,
thương xót mạng sống loài vật chung quanh. Nếu người
trong thôn này cứ mãi sát sinh hại vật, thì mai sau
ắt không tránh khỏi quả báo nặng nề.”
Đời vua Càn Long, sáng ngày mùng 9 tháng 9 năm Ất
Dậu, bờ đê sông Hoàng Hà bị sạt lở, nước tuôn tràn
vào những vùng lân cận, gây tai họa khủng khiếp,
trong đó có thành Nhuận Châu. Cả thành Nhuận Châu
đều bị chìm trong biển nước. Nhà cửa, ruộng vườn,
trâu bò... vô số kể đều chịu chung số phận nước cuốn
trôi. Người, vật chết nổi phình lên giữa biển nước
mêng mông, không biết đâu là bờ.
Trước đó một ngày, người trong thôn nhìn thấy Khổng
bà bồng đứa cháu nhỏ trong nhà đi đến ngôi chùa trên
núi cao, vào điện lễ Phật rồi xin ở lại qua đêm. Nhờ
vậy, bà thoát được tai nạn hãi hùng này. Phải chăng,
chính nhờ lòng nhân từ, yêu thương loài vật của bà
Khổng đã giúp bà được an lành không phải chịu chung
quả báo khủng khiếp của cả vùng?
CON BA BA ĐÒI MẠNG
Miền nam tỉnh Giang Tô có một vị phú
ông, tiền của nhiều đến ức vạn, cuộc sống xa hoa,
lại thích ăn món ngon vật lạ. Một hôm, nhà ông chuẩn
bị tổ chức yến tiệc linh đình, người đầu bếp đi chợ
mua về một con ba ba lớn. Lúc chuẩn bị giết con ba
ba ấy, nhìn thấy con vật chảy nước mắt, người đầu
bếp không nỡ xuống tay, liền bẩm với chủ nhân hết sự
tình và xin thả con vật. Phú ông chẳng những không
thương xót, trái lại nổi giận tự cầm dao chặt đứt
đầu con ba ba. Lưỡi dao sắc bén, nên chỉ một nhát là
đầu con ba ba đứt lìa khỏi cổ. Nhưng việc xảy ra
ngoài dự đoán đến không ngờ. Là cái đầu con ba ba
lại nhảy lên bám chặt trên sàn nhà bếp. Ông và người
đầu bếp đều kinh dị, nhưng vì đang chuẩn bị tiệc lớn
nên cũng bỏ qua, cứ để đầu con ba ba trên sàn nhà
như vậy, định sau rồi hãy tính.
Khi thịt của con vật chế biến thành thức ăn thơm
ngon, được chia thành hai dĩa dọn lên bàn tiệc. Ai
nấy nghe mùi thơm đều thích chí đồng ăn Song đến khi
phú ông gắp đũa thịt thứ nhất ăn rồi, lập tức nhức
đầu, hoa mắt, xây xẩm và hôn mê bất tỉnh. Ông lại
thấy cái đầu ba ba trên sàn nhà nhảy tới, nhảy lui
trước mặt ông. Người nhà đưa ông vào phòng nghỉ, ông
cũng lại thấy giường, nệm, màn, mùng ... nơi nào
cũng có cái đầu của con ba ba. Ông còn lải nhải một
mình: “Ở đâu mà có đến ngàn vạn đầu con ba ba cắn
vào mình mẩy, tay chân của tôi, làm cho đau nhức đến
tận xương tủy.” Ông lải nhải như thế suốt ba ngày
đêm, cuối cùng chịu không nổi sự đau đớn nên tắt thở
mà chết.
QUẢ BÁO HIỆN TIỀN
Trong quyển bút ký của tiên sinh Ký
Hiểu Lam có ghi câu chuyện: “Quê ông có một người họ
Cổ, tướng mạo xấu xí, thân hình to lớn, sống bằng
nghề mổ giết trâu. Vợ con của ông cũng rất giỏi nghề
này. Cách sử dụng dao của bà cũng nhanh nhẹn như ông
không khác. Ngày qua tháng lại, cuộc sống của gia
đình ông được sung túc ấm no. Nhưng ngậm ngùi thay,
sự êm ấm, no say của họ được đổi bằng nỗi bất hạnh
của những con vật bị giết.
Thời gian sau, mắt ông Cổ bị đau nhức nhiều, tìm hết
thầy này thầy nọ chữa trị, tiền của hao tổn mà vẫn
không hết, lần hồi ông không nhìn thấy được gì nữa.
Đôi mắt ông đã mù.
Riêng phần vợ ông lại bị chứng bệnh lở loét hôi dơ.
Máu mủ ung đầy, chảy ra tanh hôi, quần áo bị dính
chặt vào người, hễ động đậy là đau nhức không chịu
nổi. Suốt ngày rên la trên giường không nghỉ, lảm
nhảm nói: “Đây là do lúc trước ta cắt cổ và lột da
trâu, chúng đau đớn thế nào thì nay ta phải chịu gấp
đôi như vậy. Ôi! Biết bao giờ mới khỏi cực hình
này.” Nói xong, rên la liên tục suốt ngày đêm. Mọi
người đến thăm, thấy tình cảnh ấy cũng thương tình,
nhưng không biết làm sao!
Thế rồi, sau thời gian bị hành hạ vì chứng bệnh quái
ác, bà nhắm mắt lìa đời trong đau đớn, hãi hùng.
Việc này đã được cô con dâu nhà họ Thẩm chính mắt
trông thấy và kể lại.
Ôi! Nghiệp giết hại loài vật tội báo rất nặng. Xét
như con trâu thật có công rất lớn đối với con người,
đã giúp chúng ta biết bao việc nặng nề, vì sao lại
giết trâu ăn thịt? Quả báo hiện tiền, nhân quả không
sai chạy, rất mong mọi người hãy để tâm suy nghĩ
việc này thật thấu đáo.
CẮM ĐẦU VÀO NỒI VÌ BẠO SÁT
Có một người làm nghề đồ tể ở huyện
Lâm Thanh – Đông Sơn. Một hôm, người ấy đem tiền mua
một con trâu. Con trâu linh tính tự biết mình sẽ bị
giết chết nên đứng hoài không chịu đi. Người kia nắm
dây mũi kéo mạnh rồi đánh con trâu túi bụi, con trâu
cố né đòn roi và nhất định không đi, cho đến khi sức
gượng yếu dần, thế rồi để mặc cho người đồ tể kia
kéo lôi quát tháo.
Khi con trâu đi ngang trước cửa nhà phú hộ, nhìn
thấy người chủ của nhà ấy, bỗng nhiên hai chân quỳ
xuống, nước mắt chảy đầm đìa, như muốn xin người kia
cứu mạng. Ông phú hộ thấy tình cảnh như thế, cảm
động vô cùng, hỏi người đồ tể đã mua con trâu này
với giá bao nhiêu? Đáp: Tám vạn quan tiền. Ông phú
hộ ngỏ ý mua lại con trâu ấy để cứu mạng nó. Nhưng
người đồ tể vì giận con trâu quá ương ngạnh, trì trệ
không đi, làm ông mệt nhọc, nên nhất định không bán.
Phú ông cứ năn nỉ mãi, song người ấy một mực từ
chối, còn nói: “Bởi vì con trâu này đáng ghét, nên
tôi nhất định đem nó về làm thịt mới hả giận của
tôi.” Con trâu nghe lời người đồ tể nói, biết không
còn hy vọng nào sống sót, liền từ từ bước đi theo
ông.
Người đồ tể giết trâu xong, đem thịt trâu bỏ vào
trong nồi chưng nấu, rồi về phòng ngủ một giấc. Đến
3 giờ sáng ngày hôm sau mới đi xuống bếp nếm thử vị
mặn lạt của nồi thịt trâu, nhưng đi lâu rồi mà chưa
trở lại phòng ngủ tiếp. Vợ người đồ tể thấy kỳ lạ,
nên đi tìm. Vừa bước xuống nhà sau, bà ấy liền hoảng
kinh hồn vía. Trời ơi! Nửa phần trên của chồng bà đã
đâm đầu vào trong chảo, bị chưng nấu chung với nồi
thịt trâu.
Thử nghĩ xem! Tất cả loài động vật cũng như con
người đều tham sống sợ chết, thấy con trâu sợ hãi
khi biết mình sẽ bị giết, đồ tể đã không có lòng
thương xót, trở lại còn thêm lòng sân hận, ắt là
nghiệp sát của người đồ tể này quá nhiều. Khi ấy,
nỗi oán hận trong lòng của con trâu, rõ ràng thêm
sâu. Hai nỗi sân hận đồng cảm với nhau, nên đồng
chung số phận bị chưng nấu.
GIẾT HEO BỊ QUẢ BÁO THẢM KHỐC
Tại trấn Bà Đầu, huyện Hợp Phì, tỉnh
An Huy, có người tên là Tuyên Tứ, hành nghề mổ heo
đã hơn 20 năm. Ông tạo được 3 căn nhà: một căn để ở,
còn hai căn kia thì cho người thuê, cộng thêm 200
mẫu ruộng.
Cứ vào lúc 3 giờ sáng mỗi ngày, Tuyên Tứ dậy nấu
nước làm heo, vợ ông cũng thức dậy phụ chồng. Vừa ra
ngoài nhà sau, người vợ thấy trong chuồng heo có
dáng 2 người đàn bà nằm. Bà dụi mắt nhìn kỹ mấy lần,
cũng vẫn thấy như thế. Lúc ấy, sợ quá bà liền đi tìm
chồng thuật lại sự việc, còn nói thêm một câu: “Thôi
mình hãy tìm nghề khác đi.” Ông không tin còn cười
nhạo bà.
Người vợ lấy con dao mổ heo ném vào trong cầu tiêu.
Nên hôm ấy, Tuyên Tứ không thể giết heo, nhưng vẫn
không hề có tâm đổi nghề.
Hôm sau, người vợ mời hết thảy gia tộc đến thưa là
nếu Tuyên Tứ không đổi nghề thì bà sẽ chia tay.
Tuyên Tứ chấp nhận chia tay, chứ không bỏ nghề.
Thế rồi, hai người chia đôi gia sản. Người vợ mang
đứa con ra riêng nuôi dưỡng. Chỉ thời gian sau, đứa
con mà hai vợ chồng yêu thương lại qua đời. Đến đây,
Tuyên Tứ mới có một chút niềm hối hận. Vì buồn việc
đứa con mất sớm, nên Tuyên Tứ đem tiền của dành dụm
nướng vào trong cờ bạc. Cuối cùng, tất cả gia sản
đều tiêu tan như mây khói. Ông lại mua mấy con heo
nuôi để xây dựng lại sự nghiệp nhưng đều thất bại
cả. Một tháng sau, miệng mũi của ông lúc nào cũng
tuôn máu mủ, đau đớn vô cùng, nằm kêu la suốt ngày
đêm như bị người thọc dao vào yết hầu vậy. Mãi một
năm sau, ông mới chết.
GIẾT DÊ BIẾN THÀNH DÊ
Tại huyện Thường Thục, tỉnh Giang Tô,
có người họ Tiết tên Khánh Quan, chuyên sinh sống
bằng nghề giết dê, nhà rất giàu có sung túc. Hàng
ngày, cứ vào lúc 3 giờ sáng là ông đã thức dậy nấu
nước sôi để làm thịt dê. Mặc cho những con dê hoảng
sợ, kêu la thống thiết, ông vẫn thản nhiên cầm dao
đâm tới. Nhiều người thấy nghe cảnh tượng đau lòng
đó, không nhẫn tâm nhìn thêm nữa. Bạn bè thân tình
cũng hết lời khuyên ông đổi nghề, nhưng ông nào có
nghe. Trải qua 10 năm tạo nghiệp, số dê đã bị ông
giết không biết là bao nhiêu nữa.
Làm ác mà không thấy hối hận, nên quả báo xấu cuối
cùng cũng đến. Khi Tiết Khánh Quan hơn 40 tuổi, bị
một chứng bệnh kỳ quái, tìm thầy chữa trị biết bao
nhưng vẫn không thuyên giảm, đến nỗi gia tài hao
mòn, lần hồi kiệt quệ mà bệnh không thuyên giảm, lại
còn sinh thêm biến chứng.
Mũi của ông tự nhiên dài ra, rồi mặt từ từ biến
thành mặt dê, rất đáng sợ. Ông vô cùng khổ sở, trốn
tránh tất cả mọi người, ngày đêm hoang mang sầu
thảm, lo không biết còn điều gì xảy ra nữa đây!
Những đêm khuya lăn lộn vì chứng bệnh hoành hành,
bấy giờ ông mới nghĩ đến lý nghiệp quả báo ứng, nên
khuyên bảo gia đình bỏ hết đồ nghề giết dê và đổi
nghề sinh sống.
Năm sau, ông ta mang 300 lượng vàng cùng với người
láng giềng đi đến tỉnh An Huy mua gạo về bán. Trong
lúc đi đường, vì vô ý nên ông bị té xuống sông chết.
Người nhà cố tìm vớt thi hài nhưng không thấy.
MẤY LỜI TÂM HUYẾT
Thuyết pháp giảng kinh, viết sách
giáo lý nhà Phật, hoặc phát hành kinh sách, băng đĩa
Phật pháp, biếu tặng cho mọi người, giúp cho họ được
sớm hiểu đạo lý, thay đổi nếp sống tốt đẹp hơn, được
như thế là hạnh phúc không gì bằng, đó gọi là pháp
thí. Nếu không đủ điều kiện làm những việc ấy thì có
thể thỉnh một số kinh sách, băng, đĩa, rồi chịu khó
đem đến từng nhà cho mọi người mượn xem, hoặc đọc
cho người khác nghe, nhất là cho những người không
biết chữ. Việc làm này thật quý giá vô biên, đây
cũng gọi là pháp thí. Chính đức Phật đã dạy: “Trong
các sự bố thí, pháp thí có công đức lớn nhất.”
Đời người trôi qua trong thoáng chốc, đường lợi danh
dù rạng rỡ đến đâu cũng không giúp được gì khi nhắm
mắt xuôi tay. Chỉ mỗi một việc tu tập theo Chánh
pháp mới có thể giúp chúng ta được an vui trong hiện
tại, thanh thản lúc qua đời. Vì thế, tích lũy vật
chất của cải nhiều đến đâu cũng không có ý nghĩa
bằng việc rộng truyền Chánh pháp giúp cho mọi người
đều được phần lợi ích. Đó là việc làm thiêng liêng
và cao cả nhất mà tất cả chúng ta đều nên góp sức.
Việc truyền bá Chánh pháp luôn cần đến sự chung lưng
góp sức của tất cả chúng ta.
Khi làm việc hoằng pháp cũng không nên mong cầu công
đức, hãy nghĩ nhiều đến những người quanh ta đang
lầm đường lạc lối, đắm chìm trong tội lỗi không lối
thoát. Hãy mau giúp đỡ, cứu vớt họ, cảnh tỉnh họ để
cùng quay về chân lý, tìm ra lẽ sống an vui. Được
như thế là chính ta đã làm lợi ích cho Phật pháp rồi
vậy.
Bất cứ ai trong chúng ta, nếu có điều kiện đều nên
phát tâm góp sức vào việc phát hành kinh sách, sang
băng, đĩa cho mọi người xem. Được vậy, cuộc sống
hiện thời chắc chắn được an vui, mà con đường tương
lai cũng sẽ ngày thêm tươi sáng! Biếu tặng cho người
thân một số tiền nhỏ thì lòng ta không vui, nhưng
không đủ sức biếu tặng nhiều hơn nữa! Chỉ có một
cách là biếu tặng các loại kinh sách, băng đĩa giảng
truyền Phật pháp, hướng dẫn việc tu tập để xây dựng
đời sống thanh cao, thì dù chỉ một quyển sách, một
cuốn băng... giá chỉ mấy ngàn nhưng quý giá hơn cả
tiền trăm bạc triệu. Mấy lời tâm huyết, mong các vị
thiện hữu cùng suy xét!
[1]
Kinh Phạm Võng: (Nhược Phật tử dĩ từ tâm cố hành
phóng sanh nghiệp. Nhất thiết nam tử thị ngã phụ
,nhất thiết nữ nhân thị ngã mẫu. Ngã sanh sanh vô
bất tùng chi thọ sanh. Cố lục đạo chúng sanh giai
thị ngã phụ mẫu. Nhi sát nhi thực giả, tức sát ngã
phụ mẫu, diệc sát ngã cố thân. Nhất thiết địa thuỷ
thị ngã tiên thân, nhất thiết hỏa phong thị ngã bản
thể. Cố thường hành phóng sanh, sanh sanh thọ sanh
thường trụ chi pháp. Giáo nhân phóng sanh, nhược
kiến thế nhân sát súc sanh thời, ưng phương tiện cứu
hộ, giải kỳ khổ nạn.)
[2] Đại sư Ấn Quang (1862-1940): Tổ sư đời
thứ 13 của Liên tông, tức Tịnh độ tông.
[3] Phật diệt độ hậu quan liệm táng tống kinh:
(Đương tuân từ nhân. Phổ huệ ân cập quần sanh. Thị
thiên hạ quần sanh thân mạng nhược kỷ thân mạng. Từ
tế bi mẫn, thứ dĩ an bỉ đạo hỷ khai hoá, hộ bỉ nhược
thân, nhuận đãi thảo mộc, vô hư cơ tuyệt dã.)
[4] Ba đường ác: tức ba cảnh giới địa
ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Chúng sinh do tạo nhiều
ác nghiệp nên phải sinh vào trong 3 cảnh giới này.
[5] Kinh Kim Quang Minh, phẩm thứ 16, Lưu
thủy trưởng giả tử: (Nhĩ thời kỳ địa thốt đại chấn
động, thời thập thiên ngư, đồng nhật mạng chung, ký
mạng chung dĩ, sanh Đao-lợi thiên.”
[6] Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh:
(Phật tâm giả, đại từ bi tâm thị. Dĩ vô duyên từ phổ
nhiếp chúng sanh.)
[7] Đại Bát Niết-bàn kinh, quyển 32: (Đại từ,
đại bi danh vi Phật tánh.)
[8] Kinh Đại Bát Niết-bàn: (Từ tức Như Lai, Như
Lai tức từ.)
[9] Đại Trí độ luận, quyển 22: (Chư dư tội
trung, sát tội tối trọng. Chư công đức trung, bất
sát đệ nhất.)
[10] Kinh Phạm Võng: (Bồ tát ưng sanh Phật tánh,
hiếu thuận từ bi, thường trợ nhất thiết nhân sanh
phước sanh lạc.)
[11] Đại Trí độ luận: (Đại từ dữ nhất thiết
chúng sinh lạc, đại bi bạt nhứt thiết chúng sinh
khổ.)
[12] Tức Đại sư Trí Khải, sinh năm 538, mất năm
597.
[13] Xem thêm chuyện Đào ao phóng sinh ở phần
sau.
[14] Người tu Tịnh độ tùy theo công đức tu tập
mà khi vãng sinh về cõi Cực Lạc chia ra thành chín
phẩm (cửu phẩm), ba phẩm thuộc về bậc hạ, ba phẩm
thuộc về bậc trung và ba phẩm thuộc về bậc thượng.
Thượng phẩm là những người có công đức cao nhất,
được chia ra Thượng phẩm hạ sinh, Thượng phẩm trung
sinh và Thượng phẩm thượng sinh.
[15] Chỉ các loại hoa quả, ngũ cốc.
[16] Trong thực tế, điều này vẫn thường gặp khi
chúng ta phóng sinh. Do những chim, cá mà chúng ta
mua thả có khi đã bị giam hãm quá nhiều ngày, trong
điều kiện lồng, chậu vô cùng chật chội, thiếu dưỡng
khí, chen chúc lẫn nhau, nên đến khi được trả về với
tự nhiên thì đã có một số vì không chịu đựng nổi đã
phải tử vong. Nhưng rõ ràng là điều này không liên
quan gì đến tâm niệm tốt đẹp của người phóng sinh.
[17] Kinh Đại Bát Niết-bàn, quyển 4, phẩm Như
Lai tánh: (Phù thực nhục giả, đoạn đại từ chủng.)