Chết Và Tái Sanh
( Death & Rebirth)
Thích Nguyên Tạng soạn dịch
Melbourne, Úc Châu 2002
Lời giới thiệu
Sách "Chết và Tái
Sanh" hội đủ nhân duyên dược tái bản do nhu cầu độc giả gia tăng tại
Úc, dựa hai điểm chính sau:
Thứ nhất, ấn bản lần đầu tiên, 1000 cuốn vào tháng 10 năm 2000, đã
phân phối rộng rãi nhiều nơi tại Úc và Việt Nam. Sau hơn 2 tháng,
vào cuối tháng 12, sách đã hết sạch, có nhiều người muốn đọc mà
không tìm thấy sách nữa.
Thứ hai, sách đã được đài phát thanh SBS (Syndey) trang trọng giới
thiệu trong chương trình toàn quốc vào sáng ngày 31 tháng 12 năm
2000, sau đó có rất nhiều thính giả hoặc trực tiếp hoặc bằng điện
thoại hỏi thỉnh sách.
Phần soạn dịch từ các tài liệu tiếng Anh qua ngòi bút lưu lợi của
Ðại Ðức Thích Nguyên Tạng, người đang chăm sóc trang nhà điện tử của
Tu Viện Quảng Ðức, Melbourne (http://www.quangduc.com), thực hiện
gởi đến quý độc giả như món quà Xuân Di Lặc năm 2001 này. Ngoài ra
Ðại Ðức còn chuyên trách biên khảo về Phật Giáo quốc tế, với các bài
viết quen thuộc về đất nước, nhân vật và sự kiện xảy ra đó đây trên
khắp thế giới, được đăng trên các tờ báo Phật giáo Việt Nam ở Việt
Nam và Hải Ngoại như Pháp Bảo (Úc), Pháp Âm (Na-Uy), Giao Ðiểm, Hoa
Sen, Phật Học (Hoa Kỳ), Tạp chí Phật Giáo, Tuần báo Giác Ngộ (Việt
Nam)... Riêng số lượng độc giả vào xem mạng Internet của Tu Viện
Quảng Ðức ngày càng khá đông với số lượng ghi nhận của hệ thống
automatic-counter là có trên 3000 người mỗi tháng.
Qua hai yếu tố văn phong trong sáng và sự làm việc chuyên cần của
bút giả, tôi ân cần giới thiệu đến độc giả tác phẩm nhỏ này của Ðại
Ðức Thích Nguyên Tạng, do Phật tử Tu Viện Quảng Ðức tại Melbourne và
Chùa Pháp Bảo, Sydney hùn phước đóng góp tịnh tài ấn tống, để tác
phẩm sớm được phổ biến sâu rộng đến độc giả.
Sydney ngày 18/01/2001
Thượng Tọa Thích Bảo Lạc
Lời nói đầu
Ð
ạo Phật xuất
hiện trên thế gian này chỉ một mục đích duy nhất là đưa chúng sanh
thoát khỏi cảnh trầm luân đau khổ, ngày nào chúng sanh chưa giải
thoát sanh tử trong ba cõi, sáu đường, ngày đó Ðạo Phật vẫn hiện
hữu. Nói vậy sẽ có nhiều người ỷ lại rằng bên ta luôn có Tam Bảo che
chở, không cần tu tập, và nếu đến lúc chết, vấn đề sinh tử luân hồi
chưa được giải quyết, thì chư Phật và chư Bồ Tát tiếp tục ra đời với
sứ mạng cứu khổ độ sinh .
Ðó là một quan niệm sai lầm. Người xưa từng nói " Chớ hẹn tuổi
già mới học đạo, mồ hoang lắm kẻ tuổi xuân xanh". Sự vô thường
già, bệnh, chết không hẹn trước với ta, nó sẽ đến với ta bất cứ giờ
phút nào, do đó mọi người phải tự biết mình và phải chuẩn bị hành
trang cho một chuyến đi của mình chắn chắn sẽ xảy ra ở phía trước.
Tập sách này phần chính là ghi lại cuộc tham vấn giữa Thượng Tọa
Pende Hawter và các Lạt Ma Tây Tạng, những con người được mệnh danh
là có đủ năng lực để thẩm định sự sống chết.
Thượng Tọa Pende Hawter là một Tăng sĩ người Úc, sáng lập viên Dưỡng
Ðường Tiếp Dẫn Kasura để chăm sóc người sắp lâm chung ở thành phố
Brisbane, tiểu bang Queensland, Úc Ðại Lợi. Ngài đã viếng thăm các
bậc Lạt Ma tên tuổi như Dalai Lama, Dilgo Khyentse Rinpoche, Kirti
Tsen-shab Rinpoche, Garje Khamtul Rinpoche, và Geshe Lamrimpa,
để tìm hiểu về tiến trình hấp hối, chết và tái sinh của con
người. Cuộc tham vấn được thực hiện vào tháng 5 năm 1995 tại tỉnh
Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Ðộ ( nơi các Lạt Ma Tây Tạng đang sống
cuộc đời lưu vong từ năm 1959) và sau đó được đăng tải trên
Nguyệt San Mandala của Hội Bảo Tồn Phật Giáo Ðại Thừa
(The Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition) tại
Hoa Kỳ.
Ngoài ra tập sách này cũng cung cấp nhiều tài liệu khác có liên quan
đến chủ đề "Chết và Tái sinh", những thông tin có thể giúp ta
ít nhiều trong tiến trình chết và sau khi chết.
Tập sách nhỏ này được ấn hành lần đầu
tại Sài gòn vào tháng 10/2000 do một đệ tử góp nhặt các bài ngắn đã
in trên báo trước đó, rồi sách lại được tái bản tại Úc vào tháng
2/2001 để cung ứng cho sự học hỏi của Phật tử tại đây. Và nay nó
được Ðạo hữu Phillip Phạm và một số bạn bè của anh tại Tiểu bang
California lấy xuống từ trang nhà của Quảng Ðức (www.quangduc.com)
để in lại cho quý Phật tử đọc.
Tôi xin ghi lại nơi đây lời tán dương công đức của Ðạo hữu Phillip
và Quý Phật tử tại Mỹ, đã góp phần lăn chuyển bánh xe Pháp đến với
chúng sanh trên thế gian này.
Xin chắp tay nguyện cầu cho Chánh Pháp được trường tồn , chúng sanh
được an lạc. Và cũng xin nguyện cầu cho Cữu Huyền Thất Tổ, Cha Mẹ
nhiều đời của chúng ta sớm tái sinh về cõi giới an lành.
Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát
Melbourne, mùa Báo Hiếu 2001
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
01
CHẾT,
THÂN TRUNG ẤM VÀ TÁI SINH
1. CHẾT:
Qua sự huân tập và ảnh hưởng của tam độc tham, sân,
si, ác nghiệp đã hình thành, thiết lập những mối liên kết với tâm
thức qua những khuynh hướng có mục tiêu. Khi con người chết, nếu có
những khuynh hướng như thế sẽ tiếp tục đầu thai trong vòng sanh tử
luân hồi với thân và tâm được thừa hưởng từ sự tích lũy nghiệp thiện
và ác ở kiếp sống vừa qua.
Một số người chết vì kiệt sức hoàn toàn, một số khác
chết do hao mòn phước đức, chết không đúng thời điểm hay còn gọi là
bất đắc kỳ tử.
Một người chết thường ở một trong ba trạng thái tâm:
Thiện, Bất thiện và Vô ký. Trong trường hợp thứ nhất, người hấp hối
có thể quán tưởng về Tam Bảo hay một vị thầy đức hạnh của mình, bằng
cách đó tâm của vị ấy mới phát sinh tín tâm. Hoặc người hấp hối có
thể nuôi dưỡng niềm hỷ lạc vô biên để thoát khỏi sự ràng buộc của
những phiền não tham dục, luyến ái, thay vào đó bằng cách quán niệm
Tánh không và Tâm từ bi. Ðiều này có thể tự người hấp hối làm hoặc
qua sự trợ niệm của người khác. Nếu những yếu tố trên được nuôi
dưỡng trong thời điểm hấp hối, một người chết với tâm thanh tịnh như
thế thì việc tái sinh của họ sẽ được cải thiện. Ðây là cách tốt nhất
để chuẩn bị cho cái chết. Mặt khác, ta nên tránh đánh thức,
quấy nhiễu người đang hấp hối, điều đó chỉ khiến cho họ nổi giận
thôi. Ðôi khi người thân và bạn bè tập trung quanh tử sàng bày tỏ
niềm tiếc thương và khóc lóc bi thảm, sẽ làm cho người hấp hối khởi
tâm tham ái và quyến luyến. Nếu người chết với tâm niệm bất thiện
như thế, sẽ đẩy họ đầu thai vào cõi xấu, điều này rất nguy hiểm.
Trong bất cứ trường hợp nào, trạng thái tâm của người hấp hối bao
giờ cũng quan trọng trước khi chết. Bởi vì ngay cả một người tu
luyện tâm linh mà bị quấy rầy vào thời điểm ấy cũng làm cho phiền
não phát khởi, chính trạng thái tâm này sẽ tạo ra ác nghiệp và đó là
động cơ chính dẫn dắt người ấy tái sinh vào một cõi bất lợi như bao
đường ba ác: Ð?a ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh. Vì thế, điều tối quan
trọng cho cả người hấp hối lẫn người sống là tránh tạo ra những tình
huống gây bất lợi cho tâm thức của người chết. Chúng ta cần biết
điều này.
Những người chết trong trạng thái tâm thiện đều có
cảm giác mình từ trong bóng tối thoát ra ánh sáng, loại bỏ sự khổ
đau và đạt được hạnh phúc. Có nhiều trường hợp người bệnh rất nặng,
đến lúc gần chết đã nói ra những điều tốt đẹp thoải mái thay vì nói
đến căn bệnh của họ. Còn đối với người bệnh tuy nhẹ nhưng nỗi sợ hãi
quá lớn, giai đoạn cuối cùng này tâm họ luôn hoảng hốt, nên có cảm
giác mình từ nơi ánh sáng đi vào trong bóng tối và từ nơi hạnh phúc
bị rơi vào cảnh khổ đau.
Một số người, thân thể ấm áp của họ đã bị suy yếu qua
cơn bệnh nên họ trở nên khao khát muốn được hơi nóng, bằng cách này
củng cố thêm cho khuynh hướng tái sinh của họ vào nơi như địa ngục
nóng hoặc một nơi có khí hậu nóng. Những người khác thích cái mát
lạnh, thích uống nước lạnh và khiến cho khuynh hướng tái sinh của họ
hướng vào nơi như địa ngục hàn băng hay một nơi có khí hậu lạnh. Vì
thế điều rất quan trọng là tránh khởi những ý niệm tham ái trong lúc
chết và trực tiếp hướng tâm đến những điều thiện.
2. THÂN TRUNG ẤM :
Thân trung ấm (bardo/intermediate state) được
hiểu nôm na là sự sống sau khi chết trước khi thần thức người ấy đi
tái sinh vào một trong sáu cõi nào đó (Trời, Người, A tu la, Ðịa
ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh). Thân trung ấm là thân không có xác
thịt mà chỉ lấy tư tưởng làm thân. Sau khi người ấy chết, thần thức
thoát ra khỏi xác thì trụ lại ở thế giới trung gian này từ một đến
bảy tuần lễ, rồi sau đó tìm kiếm một nơi thích hợp với nghiệp lực
của mình mà đi tái sinh. Nếu trong thời gian này, thân trung ấm chưa
tìm thấy một nơi tương ứng với mình để tái sinh thì nó lại chết đi
sau mỗi bảy ngày, sau đó thần thức lại chuyển qua một thân trung ấm
khác, chu kỳ sinh diệt này cứ lập lại cho đến khi thần thức đi tái
sinh.
Trong thời gian ở lại với cõi trung ấm này, vào những
ngày đầu, vong linh không nhận ra mình đã chết, họ quay lại gia đình
để gặp những người thân nhưng không ai hay biết, họ hỏi thăm từng
người nhưng không ai trả lời, họ cố gắng sinh hoạt trở lại bình
thường như lúc còn sống nhưng không thể được, cho đến khi họ tự phát
hiện ra họ không có bóng hình trên đất, không có ảnh trên gương, họ
mới biết là mình đã chết. Giờ đây, họ lần lượt nhớ lại những thiện
và ác nghiệp mà họ đã tạo ra trong đời sống vừa qua. Tất cả những
cảnh tượng hạnh phúc hay khổ đau trong suốt đời họ hiện ra trước mắt
như một cuộn phim. Nếu là vong linh của người vốn từng tạo phước, tu
tập tâm linh, thì luôn có những cảm giác yên bình, thanh thản và dễ
dàng để tìm đường tái sinh vào cõi lành. Còn nếu những người từng
tạo ra ác nghiệp, sống cuộc đời tiêu cực thì luôn đối mặt với những
cảnh tượng khổ đau, kinh hoàng, sợ hãi, thất vọng và chán chường. Họ
lang thang một cách tuyệt vọng trong cõi trung ấm và muốn tìm một
thân xác để tái sinh tương xứng với nghiệp lực của họ. Nếu thân
trung ấm có tu tập và làm chủ được thần thức của mình, thì người ấy
chọn lựa cho mình một cảnh giới tốt để tái sinh, ngõ hầu tiếp tục tu
luyện hoặc vì hạnh nguyện cứu độ chúng sinh. Bằng như trái lại, thì
không có sự lựa chọn nào, dù muốn hay không thì thần thức của người
ấy cũng buộc phải thọ sinh vào một cảnh giới nào đó khế hợp với
nghiệp lực của mình.
3. TÁI SINH:
Nếu được tái sinh trở lại cõi người, thần thức của
người ấy thấy cha mẹ tương lai của mình đang nằm với nhau. Nếu người
ấy tái sinh thành người nam thì phát khởi tâm muốn chiếm hữu người
mẹ mà rất ghét người cha. Nếu tái sinh trở thành người nữ thì ngược
lại, thần thức người khởi tâm muốn giao hợp với người kia, nhưng lúc
ấy họ chỉ thấy bộ phận sinh dục của người kia (nam hay nữ) mà
không thể thực hiện được, do đó họ nổi giận, chính cơn giận này đã
làm chấm dứt thân trung ấm của họ và thần thức của họ được chuyển
qua đời sống kế tiếp, bằng cách nhập vào bào thai của người mẹ và
bắt đầu với hình dáng của một con người. Khi ấy tinh cha và huyết mẹ
được kết hợp với thần thức của người ấy, họ tự nhiên và dần dần phát
triển thành một con người.
Như đã nói ở trên, khi gần đến ngày tái sinh, thần
thức của người ấy bị lôi kéo về nơi tái sinh tương lai, thậm chí nơi
ấy là địa ngục. Ví dụ, một đồ tể nhìn thấy một con cừu, anh ta muốn
đuổi bắt và giết chết nó, nhưng lập tức anh ta thấy bóng mờ xuất
hiện, nên anh ta giận dữ, cơn giận đã làm kết liễu thân trung ấm và
thần thức của anh ta rơi vào Ðịa ngục hay Súc sinh.
Sự chuyển tiếp sự sống từ đời này sang đời khác là
nghiệp lực. Nghiệp (karma) có một năng lực cá biệt và đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc cấu tạo tâm tánh của con
người. Nghiệp được hình thành dưới sự tập hợp của tam độc tham, sân,
si hay vô minh và ái dục. Chính vô minh (ignorance) và ái dục
(desire) là cội rễ của mọi ác nghiệp. Do ác nghiệp này mà
khiến cho con người trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi. Ðể thoát
khỏi vòng tuần hoàn khổ đau này con người phải nỗ lực tu tập đoạn
diệt cho bằng được cội rễ của vô minh. Khi vô minh bị tận diệt thì
ái dục cũng bị tận diệt, ái dục diệt thì sinh, lão, bệnh, tử, sầu bi
khổ ưu não cũng không còn, khi ấy con người mới thật sự thoát khỏi
vòng vây của sinh tử luân hồi.
02
CUỘC HÀNH TRÌNH ÐI ÐẾN KIẾP SAU
Thượng tọa Pende Hawter,
sáng lập Viện Dưỡng Ðường Tiếp Dẫn Karuna (Từ Bi) để chăm sóc
người sắp lâm chung ở thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland, Úc
Ðại Lợi, đã thực hiện cuộc phỏng vấn các bậc Ðại sư Tây Tạng như
Dalai Lama, Dilgo Khyentse Rinpoche, Kirti Tsen-shab Rinpoche, Garje
Khamtul Rinpoche, và Geshe Lamrimpa, về tiến trình hấp hối, chết và
tái sinh của con người. Cuộc phỏng vấn được thực hiện vào tháng 5
năm 1995 tại tỉnh Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Ðộ.
GIÚP ÐỠ CHO NGƯỜI HẤP HỐI
Hỏi: Xin cho
biết cách nào tốt nhất để chúng ta có thể giúp đỡ cho người đang hấp
hối và người vừa qua đời?
Ðức Dalai Lama: Khi gặp
người đang hấp hối tuyệt đối tránh quấy rầy họ. Ð?c biệt là không
làm cho họ nổi giận hoặc khóc lóc để họ sanh tâm quyến luyến. Ngược
lại, phải nhắc nhở để họ hành trì, tu tập vào giờ phút cuối, ví dụ
như quán tưởng hình ảnh của chư Phật, các vị thầy đức hạnh, Chúa
Jésus, hoặc một lời dạy nào đó tùy theo tín ngưỡng của họ. Nếu người
ấy không theo một tôn giáo nào, nên giúp đỡ cho họ chết trong thanh
thản và yên bình.
Khi người ấy trở nên hôn mê, nếu là hành giả, thì
nhắc nhở pháp môn mà họ công phu thường ngày, đặc biệt là lúc họ sắp
ra đi. Kế đó tụng một số bài cầu nguyện. Nếu thân nhân muốn tốt cho
người đang hấp hối thì tự tụng niệm hoặc cung thỉnh chư tăng về nhà
để cầu nguyện cho họ. Trường hợp không có chư Tăng tiếp dẫn, người
thân trong gia đình có thể tụng thần chú Om mani padme hum,
hoặc những thần chú khác mà họ biết, để tiếp dẫn cho người chết. Sau
tang lễ, gia đình tiếp tục thọ trì, tụng niệm đến ngày thứ 49 cho
hương linh dễ dàng tìm lối tái sinh vào cõi lành.
Công việc mai táng thi hài còn tùy nghi theo mỗi nền
văn hóa hay tập tục của người chết, điều này không mấy quan trọng,
bởi vì một khi thần thức
(consciousness) đã thoát thân thì xác chết ấy cũng giống như một
đống đất. Tại một làng không theo Phật giáo thuộc miền Nam Ấn Ðộ,
tập quán của họ là chôn cất thi hài rồi trồng cây lên mộ. Ðây là một
cách để chấm dứt việc ô nhiễm không khí (air pollution) từ
hỏa táng bằng củi đuốc, một tập tục thường thấy ở Ấn Ðộ, điều này
còn tránh đi việc hủy diệt cây rừng, một tài nguyên quý giá của quốc
gia. Ðây là một phương pháp tốt mặc dù nó không bằng như ở phương
Tây nơi dùng điện để hỏa táng.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Ðối với người hấp hối và người vừa chết, cách tốt nhất mà bạn muốn
giúp đỡ là phát khởi lòng bi mẫn của chính bạn hướng đến với người
sắp lâm chung. Lòng thương yêu và bi mẫn của bạn rất có ích cho
người hấp hối, vì nó phát khởi từ lòng bạn nên bạn dễ dàng tỏ bày
cho người ấy lòng bi mẫn vô điều kiện mà người sắp chết rất cần.
Lòng bi mẫn thật sự của bạn sẽ tạo ra một bầu không khí yên bình cho
người hấp hối nghĩ đến chiều hướng tâm linh cao cả và con đường tu
tập của họ trong tương lai. Một điều quan trọng khác là bạn đừng xa
lánh và bỏ người đang hấp hối một mình. Chết là sự thật và là một
nỗi sợ hãi ghê gớm nhất đối với con người. Do đó, bạn nên ở bên cạnh
họ, hoặc cầm tay họ nói lời an ủi, hoặc nhìn vào mắt họ với niềm cảm
thông. Thân thể cũng có ngôn ngữ yêu thương của nó, hãy sử dụng nó
đừng sợ hãi vì e rằng họ hôi hám, dơ bẩn hoặc sợ họ bắt mình theo,
nếu bạn thể hiện được những cử chỉ trìu mến như thế, thì bạn sẽ đem
lại cho người sắp lâm chung niềm an lạc lớn nhất ở cuối cuộc đời
họ.
Khi bạn chắc chắn người ấy đã chết, bạn vẫn duy trì
lòng bi mẫn vô bờ của bạn và cùng với mọi người ở bên cạnh tử sàng
mà tụng lớn danh hiệu chư Phật như Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di
Ðà hoặc danh hiệu 35 vị Phật v.v... Nếu bạn niệm Phật với lòng bi
mẫn vô biên của bạn sẽ giúp cho người lâm chung một bước đường tái
sinh.
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche:
Có hai hạng người cần xem xét ở đây. Thứ nhất là người có tín
ngưỡng. Thứ hai là người không theo một tôn giáo đặc biệt nào. Nếu
người hấp hối là một Phật tử thì chúng ta tụng kinh và niệm Phật
tiếp dẫn siêu độ cho họ. Nếu người ấy không theo tín ngưỡng nào thì
điều tốt nhất để giúp đỡ họ là khuyên họ nghĩ đến những người tốt và
những điều tốt đẹp nhất trên đời. Khi một người đang hấp hối và
trong giờ phút bối rối ấy, không gì tốt hơn là đem lại cho họ cái
cảm giác bình an và ấm áp của lòng người, cảm giác này rất có ích
cho tâm thức của họ.
Tôi sẽ giải thích chi tiết về những gì để giúp đỡ hai
hạng người này. Ðối với người theo đạo Phật, chúng ta có thể gợi cho
họ hồi hướng về những gì mà họ từng quy y và tu tập. Chúng ta có thể
nhắc cho họ nhớ về Bồ đề tâm, tỉnh thức tâm, thanh tịnh tâm và sự
tập trung thiền định... Ðiều này rất có lợi cho một Phật tử. Ðối với
người không có đạo, chúng ta có thể khuyên họ suy nghĩ rằng: "Cầu
mong cho mọi người được hạnh phúc, cầu mong cho mọi sinh linh được
an vui, cầu nguyện cho mọi chúng sanh thoát khỏi những khổ sầu của
họ". Những ý tưởng muốn sự tốt đẹp đến với người khác, rất có
ích cho người hấp hối.
Ðối với Phật tử lúc sắp chết, nên nhắc cho họ nhớ về
công hạnh của chư Phật, nhớ về hình ảnh của một vị Phật nào đó, có
thể đặt một ảnh Phật trong phòng của họ... Ðiều này rất có ích và là
điều kiện giúp cho vong linh tái sinh vào đất tịnh.
Ngay sau khi người ấy chết, điều rất quan trọng cần
lưu ý là không được đụng chạm đến thi hài của họ để cho tiến trình
chết không bị gián đoạn, tiến trình này chỉ chấm dứt khi thân trung
ấm (Bardo/Intermediate state)
hoàn toàn thoát ra khỏi thân xác. Ở Tây Tạng, người thân phải đợi 48
tiếng đồng hồ sau mới tiến hành tang lễ.
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Nói chung, khi đã xác định người ấy sẽ chết,
điều quan trọng là phải hoàn thành mọi ước nguyện của họ. Nếu họ tỏ
ra luôn luôn giận dữ thì chúng ta nên làm cách nào để ngăn chặn cơn
giận của họ, giữ cho họ luôn ở trạng thái thanh thản và yên bình.
Nên tránh gây ồn ào và di chuyển đi lại thường xuyên bên người ấy.
Nếu người hấp hối quá quyến luyến người thân, vợ (hoặc chồng),
cha mẹ con cái, thì tốt nhất không cho những người thân này đến gần
tử sàng. Hãy cố gắng làm điều này để chấm dứt lòng luyến ái của
người hấp hối. Nếu xác định chắc chắn rằng họ sẽ chết, thì chúng ta
nên cho họ những đồ ăn thức uống và các thứ mà họ đòi hỏi để họ vui
lòng và thỏa mãn, ngay cả thức ăn kiêng cữ trong thời gian điều trị.
Tuy nhiên, không được cung cấp độc dược và thức ăn có thể đe dọa đ?n
mạng sống.
Nếu chúng ta cố gắng nói Pháp cho người hấp hối nhưng
họ không thích nghe, thì tốt nhất là đừng nói, vì điều này tạo cho
họ có ác cảm đối với Chánh pháp. Với ý nghĩ như vậy thì đời sau họ
sẽ không thích gần gũi với Phật pháp.
Tương tự, nếu họ thích ăn uống mà mình không làm thỏa
mãn ước muốn của họ, sẽ làm họ giận dữ và là nguyên nhân khiến họ
đọa vào loài ngạ quỷ
(hungry ghost).
Nếu một người tin tưởng vào sự giúp đỡ của người khác
và cũng là người từng giúp đỡ kẻ khác trong đời này, chúng ta nên
nhắc cho họ nhớ về công hạnh tốt của họ và khen tụng về việc tốt mà
họ đã làm. Việc này làm tâm họ vui và họ sẽ tái sinh ở một nơi đầy
hạnh phúc. Nếu chúng ta giúp cho ước nguyện của người hấp hối hoàn
thành, thì họ sẽ rất mãn nguyện. Ðiều này ngăn ngừa sự trỗi dậy lòng
tham ái, giận dữ, quyến luyến và những tâm tà kiến khác của người
hấp hối, nhờ đó giúp họ tái sinh vào cõi lành mà không đọa vào cõi
xấu.
Ðối với Phật tử và người từng thọ trì một pháp môn
nào đó thì thật là thuận lợi nếu họ được chúng ta nhắc lại mười điều
Phật dạy trước khi chết như sau:
1. Không nên khởi niệm tham đắm chấp thủ mọi
dục vọng ở đời này. Nên cố gắng và tránh hướng tâm ái luyến đến
người thân của mình, vì dẫu đời sau có gặp lại thì cũng phải chia
lìa. Trong thời điểm hấp hối, ta phải bỏ tất cả mọi thứ lại phía
sau. Ta cũng không nên chấp đắm tấm thân của mình, vì lúc chết ta
phải rời bỏ nó. Ta không luyến tiếc các thứ như thức ăn, áo quần,
nhà cửa, vì những thứ ấy cuối cùng cũng từ bỏ ta.
2. Ta nên phát khởi lòng bi mẫn và thương yêu đối với
mọi chúng sanh.
3. Ta nên đoạn tận mọi phẫn uất và thù hằn, nếu không
thì nó sẽ làm hại ta trong kiếp sau.
4. Tất cả các giới pháp mà mình thọ trì nếu đã vi
phạm thì phải cố gắng sám hối cho thanh tịnh trước khi chết.
5. Ta phải phát tâm dõng mãnh trong đời vị lai sẽ thọ
trì và giữ giới pháp thanh tịnh.
6. Ta phải cảm thấy đau xót về những ác nghiệp mà
mình đã gây tạo cho người khác trong đời này và phải sám hối để dễ
dàng tái sanh.
7. Ta phải nhớ đến những công đức mà mình đã làm
trong đời này, những công đức của người khác đã làm và phát tâm sẽ
tiếp tục làm trong vị lai.
8. Ta nên nghĩ đã đến lúc mình phải ra đi để đến đời
sau, không có gì sợ hãi cả, vì đó là quy luật tự nhiên có sinh ắt có
tử.
9. Phải quán thấy mọi sự vật hiện tượng đều do nhân
duyên sinh và cũng do nhân duyên mà hoại diệt.
10. Ta phải quán thấy rằng mọi sự vật hiện tượng đều
vô ngã để ta vượt thoát khỏi sầu và đạt được sự an lạc.
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche: Cách
tốt nhất để giúp cho người hấp hối là lời nói và hành động của mình
phải được thúc đẩy bởi lòng từ bi. Nếu có thể thì cung thỉnh các bậc
thầy đức hạnh đến để làm pháp chuyển di tâm thức (transference of
consciousness) cho người hấp hối. Pháp này Tạng ngữ gọi là Powa,
được xem là một pháp tu đặc biệt có giá trị và hiệu quả nhất để giúp
cho người hấp hối. Bạn quán tưởng hình ảnh đức Phật ở trên đầu người
hấp hối. Quán tưởng những tia sáng chiếu rọi vào người sắp lâm chung
làm sạch bản thể của họ, và quán thấy họ tan thành ánh sáng, hòa
nhập vào ánh sáng của chư Phật. Việc chuyển di tâm thức có thành
công hay không là còn tùy thuộc vào sức thiền định của người đang
thực hiện pháp tu này. Pháp tu đặc biệt này không những dành cho
người sắp chết mà còn có thể giúp tịnh hóa và chữa lành bệnh cho
người còn sống. Các vị Lama vẫn thường dùng pháp này để cầu an thọ
mạng cho người già yếu. Một số vị thầy cho rằng nên thực hiện pháp
chuyển di tâm thức vào khoảng ngừng lại giữa hơi thở vào và hơi thở
ra. Nhiều người khác thì nói rằng nên thọ trì pháp này càng nhiều
càng tốt sau khi người đó chết để hộ trì cho thân trung ấm của họ dễ
dàng tái sinh.
Theo giáo nghĩa của Luật Tông thì nên hỏa táng thi
thể càng sớm càng tốt sau khi chết. Nhưng theo Mật Tông thì tốt nhất
là đừng di dời thân thể sau khi chết trong vòng ba ngàỵ
Hỏi:
Người sắp lâm chung rất đau đớn về thể xác và hãi
hùng với nỗi sợ chết. Phương pháp nào tốt nhất để giúp họ vượt qua
nỗi sợ hãi đó?
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
? phương Tây người ta thường dùng thuốc phiện hoặc thuốc an thần để
giảm cơn đau thể xác của người hấp hối và giúp cho họ chết trong
bình an. Tuy nhiên theo Phật giáo thì con người cần phải chết một
cách đầy đủ ý thức, có sự tự chủ và tỉnh táo càng nhiều càng tốt. Vì
thế cần phải kiểm soát sự đau đớn để nó không thể che mờ ý thức của
người sắp lâm chung, đó là điều kiện cốt yếu của việc làm giảm sự
đau đớn về thể xác.
Thứ hai, làm gì để giúp người sắp chết vượt qua nỗi
sợ chết? Trước hết, bạn phải thật bình tĩnh và chính bạn cũng
phải vượt qua nỗi sợ hãi ấy. Khi giúp đỡ người hấp hối, bạn cần phải
lưu ý từng phản ứng của chính bạn, vì phản ứng của bạn sẽ phản chiếu
trên phản ứng của người sắp chết và nó sẽ góp phần rất lớn vào sự an
ủi của họ hay tàn phá họ. Khi niệm Phật tiếp dẫn, bạn cần chú ý trấn
an người hấp hối rằng trong giờ phút cuối cùng này họ sẽ đối mặt với
vô số những cảnh tượng hãi hùng khác nhau mà lâu nay họ chưa từng
biết, và điều đó khiến cho họ vô cùng sợ hãi. Tuy nhiên, bạn phải
trấn an họ rằng đó chỉ là ảo ảnh hoàn toàn không có thật mà chỉ là
sản phẩm từ ảo giác của người hấp hối. Nếu có thể hãy trao cho họ
chuỗi ngọc Mani, hoặc một xâu chuỗi hạt của các thầy đức hạnh sẽ
giúp đỡ cho họ vượt qua nỗi sợ hãi.
(Chuỗi hạt ở đây là biểu tượng năng lực của bậc đạo sư).
Hỏi:
Ðối với người không phải là Phật tử, họ không theo
một tín ngưỡng nào, thì làm gì để giúp họ?
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Ðối với một người không tin hoặc không biết gì về đạo Phật, chỉ cho
họ viên ngọc Mani cũng như an ủi và giải thích cho họ biết những
cảnh tượng rùng rợn mà họ sắp thấy trong chốc lát chỉ là những ảo
ảnh trong giấc mộng chứ không có thật. Nhờ sự dặn dò trước này, họ
sẽ vượt qua nỗi sợ hãi khi hấp hối.
03
KHI NÀO THẦN THỨC CỦA NGƯỜI MỚI RA KHỎI THỂ XÁC?
Hỏi: Ở phương Tây,
dấu hiệu thông thường của cái chết là chấm dứt hơi thở và tim ngừng
đập. Còn theo Phật giáo thì phải mất bao lâu sau khi việc này xảy
đến thần thức mới thoát ra khỏi thể xác?
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche:
Có lẽ có hai hạng người cần xem xét ở đây. Thứ nhất, những người trẻ
tuổi hoặc những người đã nằm chờ chết trong một thời gian dài. Hạng
người này tâm thức rất tinh tế và thần thức của họ sẽ không lưu lại
trong thể xác lâu, có thể chỉ một ngày thôi. Thứ hai là những người
mạnh khỏe và cái chết đến nhanh, thần thức của họ lưu lại trong thể
xác đến ba ngày.
Những cái chết khác như bất đắc kỳ tử(chưa đến
thời điểm chết mà phải chết), chết vì tai nạn hay vì bạo lực.
Chẳng hạn hai người đánh chém nhau, một người trong số đó chết đột
ngột, thì thần thức của họ không lưu lại trong thể xác lâu. Nói
chung, thời gian bao lâu tùy thuộc vào tâm thức nặng hay nhẹ của
mình mà thoát ra khỏi thân xác sau khi chết.
Ðại sư Geshe Lamrimpa: Khi
hơi thở dứt và tim ngừng đập, nó chỉ rõ rằng phần thô của thần thức
đã tan mất. Tuy nhiên có nhiều trường hợp, phần tinh tế của tâm thức
còn lưu lại trong xác thân người ấy hàng tuần lễ, thậm chí có lúc cả
tháng. Nhưng hầu hết là phần tinh tế của tâm thức rời khỏi thể xác
trong ba hoặc bốn ngày, trong thời gian này thi hài không bốc mùi
hoặc thối rữa.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche: Chưa
thể khẳng định rằng một người bình thường, sau khi chết thần thức
của họ rời khỏi xác trong ba ngày sau đó. Nhiều người lưu lại lâu
hơn, nhưng một số người khác thì trụ lại thời gian ngắn hơn. Có
nhiều ví dụ điển hình trong số các vị Lama Tây Tạng. Như đức Lama
Ling Rinpoche, thầy dạy học của đức Dalai Lama, thần thức của ngài
đã trụ lại trong xác thân cả tuần lễ sau khi viên tịch. Ở trong cộng
đồng người Tây Tạng, những trường hợp tương tự vẫn thường xảy ra.
Tóm lại, việc hỏa táng hoặc tiến hành tang lễ hay di
chuyển thể xác tốt nhất phải đợi ba ngày sau. Tuy nhiên, ngày nay
điều này khó thực hiện vì người ta sợ ô nhiễm, do vậy, nên làm phép
chuyển di tâm thức trước khi động đến thể xác của người quá cố.
Hỏi: Trường hợp của
những người chết vì bệnh quá nặng như ung thư và Aids (Sida) thì
thần thức của họ có thoát xác nhanh hơn không?
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche: Ðiều
này không chắc chắn lắm. Việc thoát xác sớm hay muộn không thực sự
tùy thuộc vào người chết bị tai nạn hay bị bệnh nặng, mà tôi nghĩ
rằng việc ấy có liên hệ mật thiết đến thiện và ác nghiệp của người
mất. Ví dụ, đối với một người tu tập theo pháp Dzogchen hay một pháp
nào khác thì sau khi chết họ tiếp tục quán tưởng Tánh không và thần
thức của họ duy trì lại trong thể xác rất lâu, cho dù họ không hề
luyến ái tấm thân ngũ uẩn này.
Hỏi:
Các ngài có thể cho biết khi nào thì thần thức rời
khỏi thể xác? Những dấu hiệu nào cho chúng ta biết rõ điều này?
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche: Một
lần nữa chúng ta lại thảo luận về hai hạng người thoát xác sau khi
chết. Bây giờ tôi sẽ không đề cập đến hạng người có thần thức lập
tức thoát xác sau khi chết mà chỉ nói đến hạng người có phần tinh tế
thần thức lưu lại trong thi thể nhiều ngày. Người ta nói rằng trước
khi thần thức người ấy thoát ra khỏi xác thì trên thi thể họ sẽ có
một điểm nóng được tụ lại duy nhất có màu đỏ hoặc màu trắng, điểm
nóng tụ lại ở đâu thì thần thức sẽ thoát ra ở chỗ đó. Ví dụ, nếu
điểm nóng hội tụ ở đỉnh đầu thì chúng ta tin rằng người ấy sẽ tái
sinh vào cõi lành, điểm nóng tụ lại ở bàn chân thì chắc chắn người
ấy sẽ đọa vào hạ giới. Dấu hiệu cho biết khi thần thức thoát xác sẽ
có một ít máu chảy ra ở lỗ mũi hoặc tinh dịch thoát ra từ bộ phận
sinh dục.
Tuy nhiên, có một số người không thấy dấu hiệu này,
đó là những người chết đột ngột vì tai nạn hay bị bệnh tim. Dấu hiệu
này chỉ tìm thấy ở những người có tiến trình chết chậm và lâu.
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Hầu hết người nào bị chết vì bệnh nặng thì khi thần thức rời khỏi
thể xác đều có dấu hiệu máu hoặc chất nước vàng chảy ra từ lỗ mũi
hoặc bộ phận sinh dục. Khi thần thức thoát ra thì thể xác mới có mùi
hôi. Ðức Dalai Lama thứ 14 từng nói chuyện với các bác sĩ nổi tiếng
ở phương Tây về vấn đề thần thức rời khỏi thể xác khi bệnh nhân tắt
thở. Các bác sĩ đã trắc nghiệm và nói rằng họ đã thấy một làn khói
trắng nhỏ thoát ra từ một điểm nào đó trên thân của người chết. Kết
quả này được kiểm tra bằng máy móc và phân tích thể xác một cách cẩn
thận.
Những dấu hiệu như giọt máu hoặc nước vàng đều xảy ra
đối với những người chết vì bệnh nặng. Tuy nhiên, thi thể người ấy
thường được di chuyển quá nhiều trước khi thấy những dấu hiệu này,
vì vậy những trường hợp như thế tuyệt đối không bao giờ xảy ra. Ở
Tây Tạng, theo tập quán truyền thống phải giữ thi thể trong ba, bốn
hoặc bảy ngày ngõ hầu giúp cho thần thức có đủ thời gian để thoát
xác. Trong thời gian chờ đợi này, các lễ kỵ siêu cho người quá cố
được tiến hành một cách nghiêm mật.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche: Bạn
có thể biết khi thần thức thoát xác dựa vào sự biến đổi của thi thể.
Khi thần thức còn lưu lại trong thể xác thì bạn cảm thấy người ấy
chưa chết thật sự, nước da của họ còn tươi và sáng lạ thường, giống
như họ đang nằm ngủ. Nhưng một khi thần thức đã thoát xác thì lập
tức ta thấy thi thể thay đổi khác liền, nước da khô, tái xanh đi và
bắt đầu có mùi hôi. Lúc ấy, bạn mới có cảm giác đó là một xác chết
chứ không phải là một người nữa.
Những kinh nghiệm về làn khói hoặc giọt máu xuất ra
khi thần thức thoát xác không phải lúc nào cũng nhìn thấy được,
chúng ta chỉ gặp ở một số ít người. Trong số những người này, khi
thần thức thoát xác, chất nước vàng chảy ra từ lỗ mũi và ở hạ bộ. Có
một vị cao tăng Tây Tạng viên tịch, khi thần thức thoát xác, lỗ mũi
của ngài liền chảy ra hai dòng chất dịch lỏng, một bên thì màu đỏ
còn bên kia màu trắng.
Hỏi:
Có đúng là cho đến khi thần thức thoát xác, thi thể
mới bắt đầu có mùi hôi và có dấu hiệu thối rữa?
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Sự thật đúng như thế.
Hỏi: Khi một người
chết nhưng thần thức vẫn còn lưu lại trong thể xác. Vậy người ấy có
cảm giác gì không nếu bị người khác đụng chạm đến?
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Họ sẽ không có cảm giác gì cả. Khi phần khô của thần thức tan mất
thì người ấy không còn cảm giác nữa. Ðối với các vị Tăng chứng đắc
và người Phật tử có tu tập, khi chết, phần tinh tế của thần thức còn
lưu lại trong thể xác, thì họ có thể chết ở trong tư thế ngồi thiền,
đến khi thần thức thoát xác, thi thể của vị ấy mới ngã xuống.
Mấy mươi năm trước, khi những người Tây Tạng đầu tiên
đến tỵ nạn tại tỉnh Buxa của Ấn Ðộ, một Phật học viện của Phật giáo
Tây Tạng nọ, có hai vị tăng đánh nhau và một người chết. Sau đó, vì
vụ này mà chính quyền Ấn và người dân địa phương chỉ trích rất gắt
gao đối với người dân Tây Tạng, h? nói rằng các tu sĩ Tây Tạng chỉ
biết chém giết nhau mà thôi. Về sau có một Lama đức hạnh tên là
Gyari Rinpoche, đến từ tu viện Gender ở Tây Tạng, vị này đã viên
tịch tại Ấn với tư thế ngồi kiết già trong bảy ngày; Người Ấn được
mời đến chứng kiến cái chết lạ thường của vị Lama này và họ cố gắng
giật mạnh khăn trải giường để làm cho thi thể của ngài ngã xuống,
nhưng ngài vẫn ngồi thẳng như pho tượng, dù trải qua bảy ngày nhưng
thể xác của ngài vẫn không có mùi hôi. Sau sự kiện này, quan điểm
của họ về các Tăng sĩ Tây Tạng đã thay đổi hẳn, họ không còn phê
bình, chê bai nữa.
Hỏi: Nếu đụng chạm
và di chuyển thi thể trước khi thần thức thoát xác có ảnh hưởng gì
đến tâm thức của người chết không? Vì ở trong bệnh viện, sau khi
người hấp hối ngừng thở và tim hết đập, còn nhiều thủ tục khác chi
phối đến tử thi. Sự can thiệp này có hại cho thần thức người chết
không?
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche: Trước
hết, nếu đó là một người tinh thông có năng lực thiền định, họ cố
gắng luyện tập thiền định sau khi trút hơi thở, nếu ta lắc mạnh thi
thể của họ vào lúc họ ở trong trạng thái thiền định thì sẽ khuấy rối
tiến trình tập trung thần thức của họ. Do đó, tốt nhất là không đụng
chạm đến thể xác họ trong thời điểm ấy. Ngay cả một người thường
(người không có tu tập) cũng không nên đụng đến thi thể của họ cho
đến ba ngày sau. Nếu một người đang ngủ say, nhưng ta lay mạnh thì
họ sẽ thức giấc ngay, người chết ở đây cũng vậy, khi chạm đến họ,
không có tác hại gì cho thể xác, nhưng có hại rất lớn đến thần thức
của họ.
Thêm vào đó, nếu chúng ta buộc phải thay tấm khăn
trải giường và nệm từ giường của người vừa chết cho sạch sẽ thì cũng
nên thao tác nhẹ nhàng. Tương tự, nếu người chết còn mở mắt và hả
miệng, nên yêu cầu một người thân trong gia đình đến trước tử thi
bày tỏ lòng kính trọng cuối cùng rồi giúp họ khép mắt và miệng lại
để trông dễ nhìn hơn. Ðối với những người bị dị tật, tay chân cong
quẹo, lúc tẩm liệm phải kéo thẳng ra để dễ dàng đưa vào quan tài.
Nhưng mỗi cử chỉ đối với người chết đều phải nhẹ nhàng và thực hiện
ba ngày sau khi người ấy trút hơi thở cuối cùng.
Hỏi: Có lợi ích gì
khi chúng ta chạm hoặc kích thích trên đỉnh đầu của người hấp hối và
người chết, đặc biệt là người vừa chết?
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Khi một người vừa chết, chúng ta có thể sờ chạm vào đỉnh đầu của họ,
đó là vùng huyệt đạo tốt nhất để thần thức thoát ra mà ngài Lama Je
Tsong Khapa gọi là "chiếc cổng vàng". Do đó, bạn nên kích thích vào
vùng đỉnh đầu, nếu thần thức của người chết thoát ra ngoài bằng
đường này thì chắc chắn họ sẽ thác sinh vào cảnh giới an lành.
Nhưng nếu thần thức thoát ra bằng các đường ở hạ bộ,
từ lỗ rốn trở xuống, người ấy sẽ thác sinh vào ác đạo, như cõi ngạ
quỷ hay loài cầm thú. Vì thế, người Tây Tạng không bao giờ tiếp xúc
phần hạ bộ của thi thể người chết, nếu ta chạm vào chỗ nào của họ
thì thần thức sẽ tụ lại chỗ ấy mà thoát ra ngoài
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Tiếp xúc vào đỉnh đầu của người hấp hối được xem như là đang làm
phép "chuyển di tâm thức" cho họ. Thực hiện phép này không phải là
một vấn đề đơn giản, phải làm cẩn thận để giúp cho thần thức của
người hấp hối tập trung ở đỉnh đầu, chỗ mái tóc giáp nhau, gọi là
cửa Brahma. Nếu đầu của người ấy không bị sói thì chúng ta phải nhổ
năm ba sợi tóc bên trên cửa ấy và dùng ngón tay trỏ cạo nhiều lần
vào chỗ ấy, việc làm này nhằm giúp cho thần thức của người chết biết
chỗ mà thoát ra ngoài. Kỹ thuật này cũng thường giúp cho chất nước
vàng chảy ra từ cửa ấy, dấu hiệu đó chứng minh cho phép chuyển di
tâm thức đã thành công.
04
THẦN THỨC PHẢI Ở TRONG
TRẠNG THÁI TRUNG ẤM BAO LÂU
Hỏi:
Sau khi thần thức rời khỏi thể xác và bước vào giai
đoạn thân trung ấm giữa đời này và cuộc sống kế tiếp, phải mất bao
lâu trước khi thần thức này gá vào một bào thai mới?
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche:
Thời gian kéo dài trung bình để một người đi tái sinh vào một cơ thể
mới là bảy tuần lễ. Cứ sau bảy ngày thì thân trung ấm chết đi và rồi
tái sinh lại trong một thân trung ấm khác cho đến khi nó bắt được
liên lạc với cha mẹ tương lai mới đi tái sinh. Tuy nhiên có nhiều
người sau khi chết chỉ mất hai giây họ đã đi tái sinh vào cảnh giới
khác.
Lý do tại sao thần thức phải chịu đựng trong tiến
trình trung gian sinh và tử giống như ma quỷ này? Vì do nghiệp thiện
và ác của người ấy gây tạo đời trước sẽ quyết định dẫn dắt họ đến
nơi thích hợp, do đó phải cần có thời gian nhất định để tìm kiếm cho
một đời sống tương lai.
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Bốn mươi chín ngày là thời gian dành chung cho tất cả mọi người,
nhưng có một số người khác cứ vất vưởng trong thế giới trung ấm này
một thời gian rất lâu, có lúc đến bảy năm mới đi tái sinh. Nếu
trường hợp họ bị kẹt lại trong thế giới trung gian này, họ sẽ trở
thành ma quỷ. Thông thường khi một người đang hấp hối, chúng ta đọc
kinh cầu nguyện hoặc nhắc nhở, họ đ?u nghe thấy, thậm chí người bất
tỉnh cũng thế. Ðối với vong linh trong cõi trung ấm cũng có khả năng
nghe, cảm nhận và hiểu được khi chúng ta đọc sách "Tử thư Tây
Tạng" (Tibetan Book of the Death) để cảnh tỉnh họ. Vì
thế, trong bảy tuần lễ đầu sau khi chết là thời gian rất quan trọng
để cho người sống làm mọi việc có thể giúp sức tái sinh cho người
chết.
Còn thần thức của những bé chết trước khi sinh (bị
sẩy thai), trong lúc sinh hoặc tuổi còn nhỏ, sẽ đi qua các trạng
thái trung ấm một lần nữa và nhận thấy một hiện hữu khác. Cha mẹ của
họ cũng có thể tạo phước
(meri-forious acts) để hồi hướng công đức cho vong linh hoặc
thực hiện các pháp dành cho người chết như thọ trì thần chú Kim
cương Tát đỏa một trăm âm (Hundred - syllable mantra of
Vajrasattva), đủ túc số 100 biến, cúng dường đèn, bố thí, phóng
sinh các loài vật... để giúp cho thần thức của hài nhi đó được nhẹ
nhàng và dễ dàng tìm lối tái sinh.
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Không thể xác định thời gian chính xác là bao lâu. Nếu một người
không phải tái sinh vào cõi người thì họ liền thác sinh đến cõi khác
chứ không qua giai đoạn thân trung ấm. Nhưng nói chung một người có
thể ở trong cõi trung ấm trung bình là 49 ngày, có người ở một ngày,
bốn ngày và có khi bảy ngày... Trong thời gian trụ lại trong trung
ấm thân, vong linh tìm kiếm một đời sống tương lai khế hợp với
nghiệp của mình để tái sinh.
Ðại sư Gerje Khamtul Rinpoche:
Ðối với một số người thời gian dài nhất là bảy tuần lễ, nhưng có một
số khác chỉ ở trong thân trung ấm ba ngày. Phần lớn mọi người đều
phải đầu thai sau hai mươi mốt ngày.
Không phải ai chết cũng qua giai đoạn thân trung ấm.
Có một số người tu tập chứng ngộ, có một đời sống phạm hạnh và lợi
lạc, khi chết họ trực tiếp tái sinh vào cảnh giới tốt lành chứ không
qua giai đoạn trung gian này. Một người phạm tội ngũ nghịch (giết
cha mẹ, phá hoại chánh pháp...),
hoặc có một đời sống tiêu cực, ác độc... thì sẽ đọa liền vào địa
ngục, hoặc một cõi xấu nào đó chứ không qua giai đoạn thân trung
ấm.
05
QUAN ÐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
VỀ VIỆC TỰ SÁT
Hỏi: Xin cho biết
quan điểm của Phật giáo như thế nào về vấn đề tự sát?
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche:
Ðối với người Phật tử, tự giết mình là một tội rất lớn. Vì sao? Bởi
vì có được thân người là một trong những điều khó và làm bị thương
hoặc hủy diệt thân ấy là một điều sai lầm rất lớn. Tự tử thường bắt
nguồn từ kết quả của những cơn nóng giận. Chỉ có giận dữ người khác
mà không làm gì được nên trở lại giết chết mình. Ðối với một người
không theo đạo Phật cũng thế, tự tử là một hành vi đáng trách và tội
lỗi. Sau khi chết, thần thức của họ không có một nơi nào khác là
phải lao theo nghiệp ác của mình. Vì thế chúng ta phải nghĩ cách làm
thế nào để giúp họ vượt qua những cơn khủng hoảng tinh thần và nỗi
khổ đau của họ. Ở trong tình trạng rối loạn, bế tắc và tuyệt vọng,
cơn khủng hoảng trầm trọng này có thể đẩy con người đến chỗ tự sát.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Nhà Phật cho rằng tự tử là một điều tồi tệ nhất mà con người có thể
làm. Ðây là một hành động tiêu cực khiến cho thần thức của kẻ ấy gặp
khó khăn trong việc tái sinh. Theo truyền thống của Phật giáo Tây
Tạng thì có hàng trăm vị nam và nữ thần ở trong thân của chúng ta,
nếu phạm vào tội tự sát, đồng thời ta cũng giết cả họ. Còn theo Phật
giáo Ðại Thừa thì dưới chân của mỗi sợi tóc thì có hàng ngàn tế bào
sống khác..., khi ta giết ta thì đồng thời ta cũng hủy diệt chúng.
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Theo Phật giáo thì tự tử là một hành vi tiêu cực và là nguyên nhân
khiến cho thần thức của người ấy rơi rớt vào cõi xấu.
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Khi một người tự tử, thần thức của họ thường phải đi theo nghiệp xấu
của mình, rất có thể họ sẽ bị một ác ma bắt lấy và chiếm đoạt sinh
lực. Ðể giúp cho những người này, các vị thầy có năng lực phải làm
nhiều lễ cầu siêu đặc biệt như năm cuộc lễ và những nghi thức khác
để siêu độ thần thức cho người chết.
Hỏi:
Trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam, có nhiều
Tăng sĩ đã tự thiêu, với động cơ là làm cho thế giới chú ý đến nỗi
khổ đau chiến tranh ở VN. Việc tự thiêu của họ phải chăng là hành vi
tiêu cực?
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Các vị Bồ Tát được phép thực thi một số hành vi mà người thường cho
đó là tiêu cực. Tuy nhiên, Phật giáo Nguyên thủy phản đối hành động
này, vì thế tự tử luôn được xem là hành vi tiêu cực trong truyền
thống này. Nếu bạn phân tích kỹ hơn, xem động cơ khiến các vị Tăng
này tự thiêu là gì thì chúng ta mới phán xét là tiêu cực hay tích
cực. Trong một bộ kinh của Phật giáo có ghi lại câu chuyện về một vị
Tỳ kheo trẻ bị một phụ nữ ép buộc phải lấy bà ta. Vị này biết rõ
rằng nếu mình chịu lấy thì sẽ phá bỏ giới luật; mặt khác, nếu không
chịu lấy, bà ta sẽ vu khống rằng mình đã có những hành vi tồi bại.
Vì thế, để giải quyết tình cảnh bế tắc này mà không phạm giới, vị ấy
quyết định tự kết liễu đời mình. Suy nghĩ như thế rồi, vị ấy giả vờ
đồng ý và nói với bà ấy đợi một chút. Vị ấy vào phòng trong, đóng
cửa và tự đâm vào cổ họng mà chết. Trước khi tắt thở, vị ấy kính lễ
mười phương Tam Bảo và nói rằng: "Vì tôn kính Tam Bảo và gìn giữ
giới hạnh mà con quyết định từ bỏ thân này".
Trong Kinh nói đây là hành vi tích cực và có công
đức. Nếu trường hợp các Tăng sĩ Việt Nam vì động cơ muốn cứu vãn
Chánh pháp của đất nước họ không lún sâu vào chiến tranh, vì một
động cơ cao cả như thế thì hành vi tự thiêu của họ không thể cho là
tiêu cực mà phải được xem là hành vi của các vị Bồ Tát.
Hỏi: Quan điểm của
Phật giáo như thế nào về việc chấm dứt mạng sống trước khi người ấy
chết? Bệnh nhân yêu cầu để cho họ chết tự nhiên bằng cách không dùng
thuốc hay những phương pháp y học nào đó vì họ quá đau đớn về thể
xác và tinh thần trong khi việc điều trị không mang lại kết quả.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Trong trường hợp này rõ ràng bạn muốn đem lại lợi ích cho người
khác, chấm dứt sự đau đớn của họ. Tuy nhiên, cần phải xem xét cẩn
thận chứ đừng nên hành động thiếu suy nghĩ, bởi vì giết một mạng
người là một tội ác, vì vậy, dù đau đớn dữ dội, thay vì để cho họ
chết thì cố gắng dùng hết khả năng để điều trị cho họ, có thể cho họ
uống thuốc giảm đau hoặc thuốc an thần chẳng hạn. Mặt khác, nên nhớ
rằng thân người rất khó khăn mới có được. Do vậy, các nhà điều trị
phải suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết định việc này.
Ðại sư
Geshe Lamrimpa: Người ta nên tiếp tục chữa trị để giữ mạng
sống cho họ. Nếu người ấy chết với trạng thái tâm giận dữ, bất an,
tiêu cực hay hôn mê thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu
thai và sẽ gặp bất lợi cho đời sống tương lai của họ. Tuy nhiên, nếu
cho họ uống thuốc để rút ngắn mạng sống thì cũng không thích hợp.
Hỏi:
Ðôi khi họ muốn được chết thì sao?
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Họ muốn chết trước thời hạn, bởi vì họ không chịu đựng nổi sự đau
đớn ngay trong đời này. Nhưng họ đâu biết rằng nỗi khổ đau ấy họ vẫn
phải đối mặt trong đời sau, vì thế, tốt hơn hết nên giúp họ điều
trị.
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Sử dụng máy móc để kéo dài mạng sống của một người không còn cơ may
lành bệnh là điều vô lý và hãi hùng. Tốt hơn cứ để cho họ chết một
cách tự nhiên trong bầu không khí yên bình. Khi sử dụng máy móc mà
không có hy vọng hồi phục cho người bệnh thì việc chấm dứt điều trị
bằng máy không phải là tội ác. Rõ ràng không cần thiết để kéo dài sự
sống nhân tạo cho họ. Theo cách nhìn của nhà Phật, thì chúng ta nên
làm bất cứ điều gì có thể để trợ giúp cho người ấy đối phó với sự
xuống tinh thần trong giờ phút đau đớn và sợ hãi, đem lại cho họ
niềm bình an vào phút cuối của cuộc đời.
06
HIẾN TẶNG THỂ XÁC CÓ TỐT KHÔNG?
Hỏi: Ở phương Tây, hiến
tặng những bộ phận trong cơ thể người vừa chết là việc bình thường,
như hiến tặng cặp mắt, quả thận để cho người khác, việc làm này có
ảnh hưởng hay làm trở ngại gì cho thần thức của người chết không?
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Việc hiến tặng thi thể là một điều tốt, bởi vì nó phát khởi từ động
cơ làm lợi lạc cho người khác với lòng bi mẫn chân thật. Và một khi
nó là ước nguyện cuối cùng của người chết thì tuyệt nhiên không có
ảnh hưởng hoặc có hại gì cho thần thức của họ khi họ rời bỏ thể xác.
Trái lại, việc làm tích cực này sẽ góp phần tạo thiện nghiệp cho
người ấy trong đời sống vị lai.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Nếu một người muốn hiến tặng thi thể của họ thì nên lấy những bộ
phận cần thiết ấy sau khi người đó chết. Ðiều này không có gì ảnh
hưởng đến tiến trình thần thức thoát xác và tái sinh của họ.
Hỏi: Có nhiều
trường hợp nếu các bộ phận của thi thể được lấy đi mà thần thức của
họ chưa rời khỏi thể xác thì sao?
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Ðiều này tùy thuộc vào lòng bi mẫn và ước nguyện của người chết. Nếu
người ấy đã từng bày tỏ nguyện vọng bố thí lớn lao đó một cách chân
thành, thì có thể lấy đi những bộ phận cần thiết ngay cả trước khi
tim ngừng đập, cũng không có hại gì cho thần thức.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Như tôi đã nói trên, thần thức sẽ rời khỏi thể xác khi ta đụng chạm
đến thi hài của họ, chẳng hạn như ta kích thích vào vùng đỉnh đầu để
chỉ dẫn cho thần thức thoát ra. Một khi thần thức đã ra rồi thì bạn
có thể lấy đi những thân phần cần thiết. Do đó, nên lưu ý giúp người
chết làm phép chuyển di thần thức trước khi lấy những thân phần của
họ.
Hỏi: Còn phương
pháp đông lạnh (Cryonics) thi hài sau khi chết thì sao ?
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Việc ấy hoàn toàn vô nghĩa, không đem lại một lợi ích nào. Thần thức
người ấy không thể quay lại thi thể một khi người ấy đã chết thật
sự.
07
LÀM GÌ ÐỂ CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT?
Hỏi: Có phương pháp
nào tốt nhất để chuẩn bị cho cái chết của mình không?
Ðại sư Dilgo Khyentse Rinpoche:
Phương pháp tốt nhất để chuẩn bị cho cái chết của mỗi người là nên
tu tập tâm linh trong suốt cuộc đời mình.
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche:
Một lần nữa tôi phải đề cập đến hai hạng người, thứ nhất là tín đồ
theo đạo Phật, thứ hai là những người không có đạo.
Ðối với hạng người thứ nhất đã từng quy y và tu học
theo Chánh pháp, khi họ biết rằng cái chết đang đến với họ thì đó là
thời gian giúp họ tinh tấn hơn trong việc tu tập của mình.
Ðối với hạng người thứ hai, chưa hề nghĩ gì về con
đường đạo trong cuộc đời họ, nên khuyên họ cố gắng phát khởi tâm
đạo, tâm đạo ở đây nghĩa là suy nghĩ về điều tốt, nghĩ và cầu mong
điều tốt đến với người khác. Ðây là cách tốt nhất dành cho những
người không có đạo chuẩn bị cái chết.
Ðại sư Garje Khamtul Rinpoche:
Giống như ta đi đến một nha sĩ, đó là điều không ai tránh khỏi, việc
cuối cùng cũng phải xảy ra, chết cũng thế, vì vậy có gì tốt đẹp bằng
nếu ta bắt đầu suy nghĩ về nó ngay bây giờ. Ð? biết rõ về cái chết
ta nên hỏi các bậc thầy của mình, những người có kiến thức về cái
chết, các ngài sẽ cho chúng ta biết con người sẽ chết như thế nào.
Nếu ta có những hiểu biết như thế, ta thật sự không sợ chết và nó sẽ
giúp đỡ ta rất nhiều.
Ðại sư Geshe Lamrimpa:
Nếu một người đang chuẩn bị một nơi tái sinh
hạnh phúc thì sẽ loại bỏ tham sân si và tịnh hóa mười ác nghiệp nếu
đã phạm phải trong quá khứ, bày tỏ sự hối tiếc và lập nguyện không
vi phạm giới pháp trong tương lai. Ðây là lời dạy chung cho tất cả
mọi chúng sinh. Ðối với một người đã thọ giới để tu hay một hành giả
Mật giáo, họ phải sám hối và tịnh hóa tất cả giới luật và lời phát
nguyện mà họ đã phá bỏ.
Mặt khác, nếu muốn đời sau giàu sang thì phải thực
hành pháp bố thí, muốn được hạnh phúc thì phải giữ giới hạnh, muốn
được trường thọ nên tránh sát sinh, muốn được ngưỡng mộ và tôn kính
phải tu pháp nhẫn nhục. Muốn giải thoát thì tu tập sáu hạnh của Bồ
Tát, v.v... Nói chung, nếu chúng ta loại bỏ hết ác nghiệp, tịnh hóa
hết tất cả nghiệp chướng và hướng đến hành vi công đức, tạo cho ta
có một sức mạnh hỷ lạc về nội tâm. Khi cái chết đến với ta, chính
năng lực công đức và giới hạnh ấy sẽ tiếp sức cho ta đi tới một đời
sống khác an toàn và hạnh phúc. Ðó là cách tốt nhất để chuẩn bị cho
cái chết của mọi người.
Hỏi: Ở trong Phật
giáo có một vài phương pháp thiền quán niệm về cái chết và kể lại
tiến trình chết. Loại thiền này có lợi ích gì không ?
Theo triết học của Phật giáo, phương pháp thiền quán
tưởng về cái chết là nhắm vào mục đích để ta ý thức được cuộc đời là
vô thường và ta sẽ trở nên quen thuộc với những diễn biến khác nhau
về cái chết mà con người sẽ phải đi qua. Ðiều đó rất có ích. Trong
pháp tu này, hành giả biết rõ những dấu hiệu xảy ra trong tiến trình
đưa đến cái chết như sự suy yếu của sáu giác quan, và sự tan rã dần
của thân tứ đại... Rồi tiếp đó, ta cũng nhận ra rằng khi ta tái sinh
vì sự hỗn hợp giữa tinh cha, huyết mẹ và thần thức của ta; một lần
nữa, ta lại thấy cái chết đến với ba thứ này, tiến trình sinh tử này
không dứt cho đến khi ta giác ngộ. Theo triết học Phật giáo Tây Tạng
thì luyện tập quán tưởng về cái chết là một pháp tu rất quan trọng.
***
CHỦ NGHĨA VỊ THA
LÀ TRÁI TIM CỦA PHẬT GIÁO
Hỏi: Ở phương Tây,
nhờ Phật giáo mà trong những năm gần đây có sự phát triển rất nhanh
về phong trào thiết lập những Tiếp Dẫn Ðường để chăm sóc cho những
người sắp lâm chung. Các ngài có nghĩ rằng chúng ta có thể đem lại
lợi lạc cho người chết không?
Ðại sư
Garje Khamtul Rinpoche: Tôi cho rằng phong trào này rất tốt
bởi vì người phục vụ và người được chăm sóc đều biết rõ mình cuối
cùng cũng đi đến cái chết, do đó khi còn sống trên đời này họ cố
gắng làm mọi điều tốt đẹp và nhất là giúp đỡ những người sắp lâm
chung. Giống như khi bạn đi máy bay, biết rằng bạn đang ở trên không
trung và có cảm giác sợ hãi. Nhưng khi bạn thấy xung quanh có đủ tất
cả những tiện nghi để giúp đỡ bạn thì bạn cảm thấy như mình đang ở
nhà, bạn cảm thấy hạnh phúc về điều đó. Tóm lại, tôi thấy rằng các
Tiếp Dẫn Ðuờng ở phương Tây rất tốt, vì nó giúp cho người sắp lâm
chung cảm thấy an toàn, tự tin và không sợ hãi nữa.
Ðại sư Kirti Tsenshab Rinpoche:
Ý tưởng thành lập các dưỡng Ðường Tiếp Dẫn cho người sắp lâm chung
là biểu trưng cho lòng bi mẫn vô biên của chúng ta đối với người sắp
chết. Ðây là một phong trào rất tốt mà tôi cho rằng phát triển nhiều
Trung tâm thêm chừng nào tốt chừng ấy. Ở phương Tây xưa nay không
quan tâm đến vấn đề tu tập tâm linh, nên người sắp chết rất cần sự
nâng đỡ về tinh thần ở cuối đời, điều này giúp cho họ có một sức
mạnh nội tâm để vượt qua nỗi hãi hùng của cái chết.
Cuối cùng, trái tim của Phật giáo là lòng vị tha,
nghĩ đến người khác và giúp đỡ cho họ. Chúng ta phải nỗ lực nhiều
hơn nữa để có thể đem lại sự an ủi, nâng đỡ tinh th?n cho họ mà xã
hội đã một thời bỏ rơi và thiếu quan tâm.
Từ đáy lòng mình, tôi muốn nói lời cảm ơn Thầy (người
thực hiện cuộc phỏng vấn này) rất nhiều và tôi phải nói rằng Thầy
đừng nghĩ rằng mình đang đơn độc với trong công việc này. Vì tất cả
những gì mà Thầy đang làm hiện nay là đại diện cho một đường hướng
hoạt động của Phật giáo trong thời hiện đại. Chư Phật, Bồ tát và các
vị Thiên thần Hộ pháp luôn ủng hộ và luôn ở phía Thầy.
08
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA CÁI CHẾT
R
ich Fields, một nhà thơ, nhà văn, đệ t?
của Hòa thượng Chogyam Trungpa Rinpoche và nhiều bậc thầy nổi tiếng
người Tây Tạng, ông được ghi nhận là mắc bệnh ung thư phổi từ năm
1995. Hiện nay ông đang giữ chức Tổng biên tập tạp chí Yoga và Phó
tổng biên tập nguyệt san Phật giáo Tricyle
(xuất bản tại Hoa Kỳ). Ông đang cư ngụ tại Fairfax, bang
California với người điều dưỡng là bà Marcia Cohen. Ông là tác giả
của nhiều quyển sách Phật giáo có giá trị như "Làm sao những con
thiên nga đến được bờ hồ, Lịch sử Phật giáo nước Mỹ...". Cuộc
phỏng vấn này do đạo hữu Helen Tworkov (Tổng biên tập tờ Tricyle)
thực hiện vào tháng 5 năm 1997 để tìm hiểu quan điểm về cái chết
của ông.
Tricycle:
Lần đầu tiên khi biết mình ung thư, ông đã làm gì ?
Fields: Vào tối hôm
ấy, một vị Lama cho tôi một lời dạy của Ðức Phật Dược Sư (Medicine
Buddha) và tôi cảm thấy an ủi. Tôi xem căn bệnh nan y này là một
cơ hội tốt để tôi trả nghiệp. Ðó là một trong những Bồ tát hạnh mà
bạn phải thực hành. Quan điểm này rất khác biệt so với quan điểm của
phương Tây. Quan điểm của Bồ tát làm đảo lộn hết mọi thứ xung quanh
nó. Ðây là một pháp môn luyện tập của Kim Cương thừa, chấp nhận bất
cứ mọi hoàn cảnh khó khăn nào và phải đưa nó vào con đường tu tập,
không cứ là hoàn cảnh tốt mà bất cứ một tình huống nào cũng biến nó
trở thành phương tiện để tu luyện. Bạn có thể mong rằng "chứng
bệnh này giúp tôi mang lấy hết bệnh của tất cả chúng sinh, nhận lấy
hết đau đớn của chúng sinh, để cho họ hết bệnh và hết đau đớn".
Bằng cách này, bạn tấn công vào "bản ngã tự thương xót lấy mình"
và nhiều vấn đề cơ bản khác phát sinh khi chúng ta mắc bệnh, chẳng
hạn như chúng ta tự hỏi "tại sao tôi... ?".
Tricycle:
Các bậc thầy của ông đã nói gì ?
Fields: Câu nói đầu
tiên của họ luôn luôn là: "Mọi người đều phải chết. Chết là một
sự thật". Hoặc "Chúng ta có thể điều trị bệnh này và con sẽ
khỏi thôi". Hay "Ồ, con chờ đợi cái gì nào? Có sanh ắt phải
có tử". Rồi một ý kiến khác "Con may mắn vì nó là một cơ hội
tốt cho việc tu luyện của con".
Tricycle:
May mắn, bởi vì ông là một hành giả tu luyện?
Fields: May mắn
là vì có thời gian để chuẩn bị mọi thứ, dù bạn là một hành giả hoặc
không. Quan điểm thông thường ở phương Tây là "Ồ, may mắn là vì
họ đã chết trong lúc ngủ hay chết vì cơn đau tim hoặc chết đột
ngột". Tuy nhiên, bệnh ung thư là đặc biệt tốt cho bạn, bởi vì
bạn có đủ thời gian để tiên liệu mọi việc và giải quyết nó. Về việc
tu tập thì theo lời dạy của thầy Trungpa Rinpoche rằng: "Chết là
sự thật, nó đến mà không báo trước. Thân này sẽ trở thành một xác
chết". Chết chỉ là một phần trong đời sống của chúng ta. Nền văn
hóa của phương Tây giúp đỡ chúng ta phớt lờ với cái chết, nhưng
phương Ðông thì phải nhìn thẳng vào cái chết, từ một quan điểm ấy,
một căn bệnh ở vào giai đoạn chót rất có thể hữu ích cho việc tu tập
tâm linh.
Tricycle:
Những ý kiến "nó tốt cho việc tu tập của bạn" có quấy rầy ông
không?
Fields: Ở những
trung tâm tu học điều đó thường được xem là chuyện đùa. Ðối với một
người chưa có kinh nghiệm thì điều đó thật phiền hà, họ lập tức phản
kháng, đầu hàng hay chấp nhận. Còn đối với tôi thì không.
Tricycle:
Ông quan tâm đến việc tiên đoán sự phát triển của căn bệnh không?
Fields: Không,
quan điểm của tôi là "Tôi sẽ sống cho đến lúc chết", một việc
mà tất cả mọi người đều có thể làm. Tôi không hiểu hết giá trị của
những câu nói mà mọi người thường nói rằng: "Anh còn bốn tháng
nữa để sống". Và tôi không muốn tạo ra bất cứ một gánh nặng nào
cho ai. Tôi không bao giờ quan tâm đến những lời nói may mắn.
Tricycle:
Ông sẽ chọn giải pháp nào giữa việc chấp nhận cái chết và cố gắng
điều trị căn bệnh ở đoạn cuối?
Fields: Chúng ta có
quyền chọn lựa sao? Cuối cùng tất cả chúng ta đều phải chết. Chết là
sự thật, nó đến mà không cần báo trước, và thân này sẽ trở thành cái
xác. Phật giáo luôn luôn kiên định về vấn đề này. Những bác sĩ đầu
tiên nói với tôi rằng số lượng thống kê bệnh ung thư phổi giống như
tôi đều không có cơ may chữa khỏi. Tôi đã từng nói với các bác sĩ,
tôi không quan tâm đến việc nghe họ. Tôi sẽ sống cho đến khi tôi
chết dù bốn tháng hay năm năm. Các bác sĩ cũng như thế, họ cũng sống
cho đến lúc chết. Ông ta biết khi nào tôi chết nhưng ông ta thì
không biết khi nào đến lượt mình. Nếu tôi chống lại cái chết, có thể
tôi sẽ chết sớm hơn.
Tricycle:
Khi ông chống lại bệnh ung thư, nó có trở nên là một cái gì đó phân
ly giữa nó và ông không?
Fields: Trước hết, tôi
cảm thấy nó giống như một cái gì đó đã tấn công tôi. Dĩ nhiên, các
tế bào tôi đã bảo vệ tôi. Những phản ứng đầu tiên của tôi là xác
định mình là một chiến binh đầy sức mạnh. Tôi phải chiến đấu. Sau
đó, có một lần chữa bằng hóa trị, tôi dùng Mật Chú và quán niệm thần
Phẫn nộ để tiêu diệt các tế bào ung thư trong thời gian hóa trị.
Tricycle: Việc công
phu tu tập của ông có thay đổi khi ông được chẩn đoán không?
Fields: Công việc tu
tập của tôi càng trở nên tích cực. Tôi thấy có kết quả rõ ràng hơn
trong một thời gian ngắn so với những thành tựu thiền định mà tôi
phải bỏ ra trong một thời gian dài như trước đây.
Tricycle:
Ông có bắt đầu dành nhiều thời gian cho công phu buổi
sáng không?
Fields: Có, tôi
vẫn công phu như mỗi ngày. Tôi cảm thấy không có vấn đề là tôi ngồi
bao lâu hoặc có liên hệ đến chỗ ngồi. Việc hành trì của tôi vẫn
không thay đổi.
Tricycle: Nó có ảnh
hưởng đến cách cư xử của ông không?
Fields: Có thể.
Tuy nhiên tôi vẫn có những thói quen thông thường. Tôi vẫn làm việc
như mọi ngày, vẫn giữ các mối quan hệ, vẫn viết bài và vẫn sống. Ðôi
khi tôi nghĩ mình nên gia nhập vào một trại tu dưỡng và tôi nỗ lực
tu tập để đắc đạo trước khi chết (cười lớn). Nhưng đồng thời
tôi thích chờ đợi từng phút giây, bình an và chiến đấu để sống một
cách trọn vẹn, và đó là những gì mà tôi chọn.
Tricycle: Ông
có tự thương hại mình không?
Fields: Tôi nghĩ tự
thương hại mình là đi cùng với bản ngã. Khi điều này xảy ra lần đầu
tiên, nó mong muốn tất cả những nghiệp của tôi đến đậu đúng trên
chóp mũi của tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, liếc nhìn tôi và tôi bắt
đầu liếc nó trở lại. Ðó là bộ mặt của một chiến binh. Sau đó, tôi
được chẩn đoán. Allen Ginsberg gọi điện và nhắc cho tôi nhớ lời của
thầy Trungpa Rinpoche đã nói với Billy Burroughs, một người sống nhờ
ghép bộ phận gan mới. Rinpoche nói rằng: "Con sẽ sống hoặc sẽ
chết, cả hai cái đều tốt cả". Tôi không muốn cái chết của tôi là
một kẻ đối đầu. Chết không phải là một kẻ thù. Chết là một phần
trong đời sống của chúng ta. Ung thư có thể xem như là kẻ thù. Nhưng
chính cái chết tự nó đến và đến bất cứ lúc nào, nó không phải
là một kẻ thù. Ðó là cái đã được chấp nhận và đó là thế đứng của một
chiến binh. Ðối với một chiến binh, chết không phải là kẻ thù. Khi
các sĩ quan đội quân cảm tử của Nhật Bản ra chiến trận, họ thường
được lãnh tiền thưởng cảm tử. Nếu bạn bước vào chiến trận với sự can
đảm không sợ hãi và biết rằng cái chết có khả năng xảy ra, thì bạn
sẽ chiến đấu giỏi hơn và bạn sẽ chiến thắng! Nhiều pháp môn tu tập
của Phật giáo nói chung là nhắm vào việc loại bỏ sự sợ hãi về cái
chết, một loại sợ hãi về tái sinh hay sợ hãi về cuộc sống của chúng
ta.
Tricycle:
Ông đã chẩn đoán biết mình đang bệnh ung thư còn tôi thì
không. Có sự khác biệt nào giữa chúng ta? Có phải ông hấp hối trước
tôi? Có phải tình cảnh của ông có thức tỉnh về cái chết trong khi
tôi vẫn ở trong vòng ảo tưởng là tôi sẽ sống mãi?
Fields: Không
phải là bạn sẽ sống mãi mãi. Nhưng sự tính toán thời gian có hơi
khác biệt. Tôi được nói rằng tôi đang ở trong cơn nguy cấp. Sự lựa
chọn thời gian chính xác là một vấn đề. Nhưng tôi nói với một bác sĩ
ở Stanford về ý kiến thứ hai, tôi nói "Mọi người đều nói đây là
bệnh không thể cứu chữa được", và ông ta nói "Có phải ai đó
nói với anh là "không thể chữa được" ở giai đoạn cuối phải không?".
Và tôi trả lời: "Không có ai đề cập đến việc đó cả". Có
nhiều căn bệnh không thể chữa được hoặc mãn tính, nhưng có thể xoay
xở và cứu vãn được ở giai đoạn chót. Tôi đang sống với thời kỳ thay
đổi thư?ng xuyên. Hiện nay tôi đang ở trong tình trạng thuyên giảm.
Bệnh ung thư giống như một con tê giác (Rhi-noceros) bề ngoài
của nó trông rất xấu xí, đôi mắt nhỏ, làn da sần sùi, ruồi bu xung
quanh, trông giống như một con kỳ lân hung dữ; và đó là con tê giác
hiền lành, đang nhai cỏ trong đầm lầy, không chú ý đến bạn, bạn cảm
thấy thuyên giảm và khỏe mạnh. Nhưng vào lúc nào đó, con tê giác
nhìn quanh quẩn, chạy như điên đến chỗ bạn... Sự khác biệt ở đây là
tôi luôn có một con tê giác ở xung quanh.
Tricycle:
Ông tin điều gì sẽ xảy ra sau khi chết?
Fields: Tôi không biết.
Tôi nghĩ tôi cảm thấy thoải mái với một người theo thuyết bất khả
tri, có xảy ra hoặc không xảy ra cũng vậy thôi. Và tôi nghĩ là tôi
đồng ý với những gì mà cư sĩ Stephen Batchelor nói với mọi người có
lý khi tu tập để có một nơi tái sinh tốt, đó không phải là kinh
nghiệm của tôi. Tôi tu luyện tâm linh để có đời sống hiện tại tốt
hơn, an vui hơn... Và nếu kết quả tu tập giúp tôi trong đời sống này
thì tôi chắc rằng nó cũng giúp tôi lúc tôi chết, vì chết là một phần
của đời sống.
Tricycle:
Ông muốn an táng thi thể của mình như thế nào?
Fields: Tôi muốn
nghe ý kiến của bạn trước.
Tricycle:
Tôi muốn theo phương pháp "không táng" (sky burial) ở
Nova Scotia. Ðặt thi hài trên vùng St. Lawrence để làm thức ăn cho
chim đại bàng, quạ, chó sói và côn trùng. Dĩ nhiên điều này bất hợp
pháp, nhưng đó là sở thích của tôi.
Fields: Tôi cũng thích
kiểu "không táng" này, tuy nhiên hỏa táng
(cremation) thì dường như là một sự lựa chọn tốt hơn. Nhưng phải
là hỏa táng theo kiểu của người Ấn Ðộ, đặt thi thể lên đống củi để
thiêu. Ý kiến của tôi bị ảnh hưởng bởi lời dạy của thầy Trungpa
Rinpoche là không di chuyển thể xác chỗ khác trong 3 ngày đầu, bởi
vì cần có đủ thời gian để cho thần thức rời khỏi xác thân hoàn toàn.
Lý tưởng nhất là đặt thể xác trong chánh điện rồi đắp chiếc mền lên,
để cho mọi người nhìn thấy, chiêm nghiệm hoặc để quán tưởng tử thi,
và rồi có một buổi lễ đặc biệt được thực hiện. Nếu có một người nào
đó đến làm phép chuyển di tâm thức thì thật là tuyệt vời. Tôi nghĩ
thật là tốt biết bao cho mọi người có một buổi tiệc vào ngày ấy. Nói
chung, một lần nữa, tôi thích hỏa táng ngoài trời theo kiểu của
người Ấn.
Tricycle:
Ông có thể khuyên điều gì cho những người có hoàn cảnh tương tự như
ông?
Fields: Tôi là nhân
vật trung tâm của cuộc nói chuyện này, mọi người có thể tìm thấy
những điều hữu ích cho bản thân mình về sự lựa chọn phương pháp điều
trị theo y học truyền thống. Trong một số truyền thống tâm linh, có
một quan điểm cho rằng mọi việc đều xuất phát từ tâm, cho nên mọi
căn bệnh cũng phải được chữa trị từ tâm hay bằng cách luyện tập tâm
linh, tư duy tích cực hoặc có niềm tin. Có người nói rằng cả thân và
tâm đều có sự ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng một số người khác thì cho
rằng chỉ quan tâm đến việc điều trị bằng y khoa, kinh nghiệm của tôi
là chữa trị bằng thuốc Tây, bằng phương pháp xạ và hóa trị, nếu điều
trị đúng cách đúng lúc thì sẽ có kết quả tốt, thậm chí có một số
người chữa trị bằng độc dược nữa. Nói chung, theo tôi nguời bệnh
phải theo dõi và kiểm tra thường xuyên căn bệnh của mình rồi chọn
lựa phương pháp điều trị. Tôi thấy một số người đã chết vì bị hỗn
loạn giữa các lối điều trị.
Tricycle:
Vai trò của người chăm sóc bệnh như thế nào?
Fields: Tôi thấy
người săn sóc gặp khó khăn nhiều hơn người bị ung thư. Sức chịu đựng
của họ còn nhiều hơn người bệnh. Tôi may mắn có được Marcia săn sóc.
Cô ấy phát nguyện giúp đỡ tôi trong thời gian điều trị này. Cô ấy
cùng tôi đi bác sĩ, ghi chép, hỏi han và chuẩn bị mọi thứ cho cuộc
giải phẫu phức tạp. Giúp đỡ một người chống lại ung thư thật sự là
một điều khó khăn thử thách.
Tricycle:
Ông có quan tâm đến việc chẩn đoán bệnh không?
Fields: Lại đề
cập đến vấn đề này một lần nữa. Thừa là không tốt. Một trăm phần
trăm là tôi sẽ chết. Nhưng tôi sẽ sống cho đến khi tôi chết. Có một
điều tôi muốn nói ở đây là giáo pháp của đạo Phật rất tuyệt vời ở
phần đầu, phần giữa và phần cuối, mọi người nên cầu học và tu tập
trước khi quá trễ.
09
BẠN MUỐN "NGÀY ẤY" NHƯ THẾ NÀO?
"Tôi
muốn được chết như một người phụ nữ mà tôi đã từng săn sóc, đã qua
đời hai tuần trước. Bà là một người bình thường. Nhưng bà có phước
chết vào lúc tuổi già mà không bệnh hoạn, đầu óc hoàn toàn tỉnh táo,
có đầy đủ thân quyến và Tăng Ni bên cạnh bà vào giờ phút cuối cùng.
Vào ba tuần lễ cuối, bà tỏ ra sáng suốt lạ lùng giống như thể bà là
một bậc thầy. Bà cung cấp các nhu cầu cần thiết cho mọi người, một
việc mà bà vẫn luôn làm. Cuối cùng bà bày tỏ lòng biết ơn mọi người
và bà ra đi..."
Ni sư Ani Lodro
(63 tuổi, Tu viện Samye Ling ở Scotland)
"Tôi muốn chết trong trạng thái yên bình, lúc nào thì
không thành vấn đề. Tôi không biết lúc đó như thế nào nhưng bây giờ
đây tôi rất an lạc. Hy vọng rằng tôi sẽ an lạc khi cái chết đến với
tôi".
Thích Giác Hạnh
(Làng Hồng, Pháp quốc)
"Cháu không muốn chết. Nhưng cháu đoán là mình sẽ
sống lâu như cháu mong muốn".
Bé Nandita
(10 tuổi, ở Santafe, New Mexico, Hoa Kỳ)
"Tôi muốn hoàn tất mọi việc trước khi ngày ấy
đến...".
Lee Moore
(24 tuổi, ở Kent, bang Ohio, Hoa Kỳ)
"Tôi muốn chết tỉnh thức, vì thế tôi sẽ biết rằng tôi
đang chết. Tôi muốn chết trong chánh niệm và tỉnh giác. Tôi không sợ
chết".
Thượng tọa Bimal Tishya
(Tu viện Bodhi Carya, bang Calcutta, Ấn Ðộ)
"Tôi muốn chết trong tỉnh thức".
Chân Hội (Montreal,
Canada)
"Tôi muốn chết một mình. Một nơi nào đó cách biệt và
giữa những hàng cây đẹp với những con chó yêu dấu của tôi".
Gretel Ehrlich
(Bang California, Hoa Kỳ)
"Tôi muốn chết trong hạnh phúc".
Harrison Hoblitrelle
(74 tuổi, Massachusetts, Hoa Kỳ)
"Tôi muốn chết một cách tự nhiên, ngay cả lúc tôi bị
bệnh. Tôi muốn chết trong cách chết của con người: Máy móc của nền y
học hiện đại ngày nay kéo dài mạng sống của con người làm cho họ
không thể chết theo thời gian của họ, con người không thể chết với
phẩm cách của họ".
Thượng tọa Nakagana
(Chùa Daihizan Fumon, Ðức quốc)
10
CHẾT, MỘT PHÁP MÔN TU
N
hiều người sẽ ngạc nhiên hỏi tại sao chết
cũng là pháp tu. Theo giáo lý đạo Phật, đó là pháp tu rất quan
trọng. Chết xuất phát từ tính vô thường, sự thay đổi và biến chuyển,
vạn vật có sinh có tử, có hợp có tan, là trung tâm điểm của việc tu
tập Tuệ giác.
Quán niệm về cái chết không phải là một bài luyện tập
về sự bi ai, cũng không phải sự bất hạnh của cuộc sống. Thật ra khi
quán niệm về cái chết được thực hành đúng, nó sẽ mang lại sự bình
yên biết bao. Có lẽ không có gì phải ngạc nhiên vì hầu hết mỗi chúng
ta đều bối rối khi nói đến cái chết. Chúng ta đã không thỏa hiệp với
bản chất của cơ thể và không thấy cái chết là quá trình tự nhiên. Vì
vậy chúng ta có những phản ứng buồn cười, đùa cợt quá mức, lẫn tránh
hay bi lụy. Quán niệm về cái chết có thể mang lại cho chúng ta sự
cân bằng.
Trong Kinh Sattipatana đức Phật có dạy nhiều phương
pháp quán niệm, trong đó có pháp quán niệm về nghĩa địa (cemetery
contemplation). Vào thời đức Phật còn tại thế, các hành giả đi
đến các nghĩa địa và đôi khi họ sống ở đó trong một thời gian dài.
Các tử thi không được chôn cất hay hỏa táng mà vứt bỏ tại nghĩa
trang làm thức ăn cho những con kên kên và những con thú ăn thịt
khác. Vì thế, các hành giả phải quan sát thi thể con người qua những
giai đoạn hôi hám, sình ươn, mục rữa... Vấn đề chính mà hành giả
phải thấy là dù thân thể này của ai đi nữa thì cũng phải chịu cùng
một quy luật sinh diệt.
Hiện nay, pháp tu quán niệm về nghĩa trang này vẫn
còn áp dụng ở các tự viện trong rừng sâu tại châu Á. Ðạo Phật cho
rằng, nay ta còn trẻ áp dụng pháp tu này sẽ giúp ta vượt qua nỗi sợ
hãi về cái chết.
Quán niệm về cái chết là tu tập về Tuệ giác. Trí tuệ
này có thể nhìn thấy rõ bản chất như thật của sự vật. Bạn có thể
thấy rằng quán niệm về cái chết sẽ khiến cho bạn mạnh mẽ, giúp bạn
vượt qua những khó khăn trong tu tập, chẳng hạn như cảm giác bồn
chồn, buồn ngủ hay đau đớn. Như chính trường hợp của người viết, khi
tôi thấy mình buồn ngủ trong lúc tọa thiền thì tôi nghĩ ngay đến cái
chết của chính mình, nó lập tức đánh thức tôi. Hay lúc tôi khó chịu,
cau có hoặc thả hồn đâu đâu, thì tôi cũng nghĩ về cái chết của chính
tôi. Rất ít điều cản trở khi bạn chiếu ánh sáng của cái chết lên nó.
Hãy xem cái chết như một người cố vấn của bạn.
Trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), chứa đựng
nhiều lời dạy độc đáo của Phật, rằng con người sẽ không đánh nhau
hay tranh cãi khi họ biết rõ rằng tất cả đều sẽ chết. Khi quán về
cái chết chúng ta cũng đang bày tỏ lòng từ bi với kẻ thù. Chúng ta
thấy rằng chúng ta cùng là đồng sự với nhau. Tâm chúng ta sẽ mềm đi
khi ta nhận ra tất cả mọi người đều có chung một số phận: chết.
Có nhiều lợi ích khác khi chúng ta thực hành pháp
quán niệm về cái chết. Hiện tại bạn đang bận rộn làm mọi việc, dành
nhiều thời giờ để ăn và ngủ. Chỉ một lời thỉnh cầu ở đây là bạn hãy
suy gẫm về cái chết, điều đó có thể giúp bạn đánh giá năng lượng các
bạn đã tiêu phí. Một khi bạn biết rằng không có sự vĩnh cửu
(forever) thì có lẽ bạn sẽ thay đổi tích cực và dành nhiều thời
gian để tu tập.
11
THỰC HÀNH PHÁP QUÁN VỀ CÁI CHẾT
I. Nội dung của pháp quán :
Cái chết không thể tránh khỏi.
1. Mọi người đều phải chết.
2. Tuổi thọ của ta đang giảm xuống theo thời
gian.
3. Thời gian dùng để tu tập trong đời ta rất ngắn
ngủi.
Không thể biết khi nào ta chết.
4. Tuổi thọ con người không chắc chắn.
5. Có nhiều nguyên nhân đưa đến cái chết.
6. Cơ thể con người quá mong manh.
Thực tế chỉ có tu tập mới có thể giúp chúng ta lúc
chết.
7. Tài sản và thú vui không thể giúp ta.
8. Người thân của ta cũng không thể giúp ta.
9. Chính cơ thể của ta cũng không thể giúp ta.
II. Quán niệm như thế nào ?
Nhiều hành giả đang tu pháp thiền quán niệm
(Vipassana) có thể chưa bao giờ niệm về cái chết, vì pháp thiền
này nhấn mạnh trực tiếp đến những gì đang xảy ra ở thời điểm hiện
tại. Khi hành thiền quán niệm bạn không được khuyến khích tư duy.
Tuy nhiên trong thiền quán niệm về cái chết bạn phải sử dụng tiến
trình tư duy một cách sáng tạo để tạo ra một trợ thủ cho việc phát
triển Tuệ giác.
Thật hữu ích khi bắt đầu pháp quán này bằng cách chú
tâm vào hơi thở hay tận dụng những kỹ thuật khác để làm tâm bạn an
tịnh. Mỗi ngày bạn có thể luyện tập 20 phút. Trước hết là tìm cách
tĩnh tâm. Chọn một trong những đối tượng niệm để quán tưởng và đi
sâu vào đó. Khi chấm dứt quán niệm ở phần này bạn lướt qua phần khác
(xem lại trong bản nội dung ở trên).
Cụ thể bạn quán tưởng như sau: Bạn chọn ý tưởng và
nói: "Mọi người đều phải chết".
Rồi bạn đem ý tưởng đó vào trong suy tưởng và quán niệm nó. Ðây là
lúc việc thực hành trở nên rất sáng tạo. Mỗi người đều có thể thực
tập theo cách riêng của mình. Bạn có thể quán tưởng chính bản thân
mình hay một người bạn của mình đang hấp hối, hay quán tưởng những
nấm mồ của người thân trong nghĩa địa, hoặc bộ xương của chính bạn.
Mức độ định tĩnh và tập trung mà bạn có được từ quán niệm có liên
quan rất lớn đến chất lượng và kết quả tu tập của bạn. Nếu bạn đã có
định lực rồi, bạn sẽ trở nên rất linh hoạt, bạn có thể chất vấn, suy
niệm và ngay cả chơi đùa với nó: cái chết.
12
HIẾN XÁC THEO QUAN ÐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
V
iệc hiến tặng các cơ quan nội tạng đối
với nhiều Phật tử là một vấn đề đầy mâu thuẫn. Một mặt, chúng ta
luôn muốn thực hành Bồ tát hạnh ở mọi nơi có thể, vì ở Hoa Kỳ hằng
ngày có chín người hấp hối trong sự chờ đợi tuyệt vọng những người
hiến tặng. Mặt khác, theo giáo lý đạo Phật, chỉ khi thần thức rời
khỏi thể xác mới gọi là chết, chứ không phải sau khi trút hơi thở
cuối cùng, và người ta thường tin rằng chính hoàn cảnh tử vong lâm
sàng và thời gian sau đó, trước khi thần thức thoát đi, là thời điểm
then chốt quyết định sự tái sinh hoặc đầu thai của người đó. Theo
quan niệm này, tốt nhất là không được cắt xẻ thi hài trong vòng ba
ngày sau cái chết lâm sàng, nếu không nó sẽ gây ra sự rối loạn cho
tiến trình tái sinh.
Tuy nhiên, theo y học, để cấy ghép cơ thể có hiệu
quả, những bộ phận đó trong cơ thể người chết phải được cắt càng
nhanh càng tốt sau khi trút hơi thở sau cùng, như vậy nó có thể làm
rối loạn nghiêm trọng đến quá trình tự nhiên của ý thức quan về dạng
vô hình. Nhiều Phật tử đã phát nguyện hiến xác theo yêu cầu không
được cắt cơ thể họ sau ba ngày, nhưng làm như vậy không đảm bảo chất
lượng cấy ghép các cơ quan nội tạng, các mô đã hiến tặng.
Thiền sư Sheng Yen và Tangen Harada cho rằng dù việc
hiến tặng có thể làm rối loạn đến tiến trình chuyển hóa ý thức của
người hiến tặng, nhưng nếu người ấy có tu tập và có ước nguyện mạnh
mẽ giúp đỡ người khác thì sự chi phối đến thể xác của họ ít làm ảnh
hưởng đến sự tán loạn ở giai đoạn chuyển di thần thức.
Quan điểm khác thì cho rằng vì ta không biết mình sẽ
phản ứng như thế nào đối với quá trình hiến tặng trong giai đoạn
trung chuyển này, vì vậy tốt nhất là nên tránh. Những người theo
quan niệm này thường nhấn mạnh đến khía cạnh thương mại phiền toái
của việc hiến tặng, như chi phí cao và sự ưu tiên mang tính độc đoán
trong việc phân phối. Họ cũng cho rằng sự hấp tấp quá mức có thể dẫn
đến việc cắt đi các cơ quan trong khi bệnh nhân đó vẫn còn có khả
năng hồi sinh.
Cái chết của não
(Brain death) cũng đưa ra nhiều vấn đề khác. Phần lớn các cơ
quan hiến tặng là bệnh nhân bại não, khi cơ thể vẫn được tiếp tục
nuôi sống, gia đình và người thân đã sắp xếp việc hiến tặng. Tuy
nhiên, từ chết não cũng không chính xác vì não cho thấy có một số
còn hoạt động ngay cả sau nhiều giờ ngừng thở. Ðến nay, chúng ta vẫn
chưa hiểu hết về mối quan hệ giữa thần thức và chết não. Tuy nhiên,
ta dễ đoán ra rằng hoạt động của não sau khi trút hơi thở cuối cùng
có liên quan đến hoạt động của thần thức.
Ðối với một số người, một phương pháp khác có thể
tránh được sự rối loạn trong quá trình chuyển tiếp của thần thức do
việc hiến tặng các bộ phận cơ thể mà vẫn có ích cho người khác. Sau
hăm bốn giờ khi tim ngừng đập, ngoại trừ việc cắt đi các cơ quan nội
tạng người ta có thể hiến xương và các mô sống. Mặt khác, có ba cách
nữa để trở thành người hiến tặng khi ta còn sống và khỏe mạnh là
hiến tặng máu, tủy hay thận.
13
CƠ THỂ SAU KHI CHẾT
P
hương thức chăm sóc thi hài người chết
tùy thuộc theo tập tục và truyền thống văn hóa khác nhau. Những đề
nghị sau đây là xuất phát từ kinh nghiệm của chị Joan Hallifax, một
Phật tử, chị săn sóc những người hấp hối tại một Tiếp Dẫn Ðường
ở Hoa Kỳ.
w Ngay sau khi chết:
Giữ cho bầu không khí đơn sơ và yên bình quanh người
chết. Nếu có thể, tránh đụng chạm di dời cơ thể ngay sau khi chết.
Nếu cần thì phải thật nhẹ tay.
Khi người ấy đang hấp hối thì cầu nguyện hoặc niệm
Phật tiếp dẫn. Sau khi chết, nếu thích hợp thì hãy tụng kinh siêu độ
hay tiến hành các nghi lễ truyền thống.
w Trước khi xác bắt đầu lạnh cứng :
Khoảng hai giờ sau tử thi mới lạnh cứng, bạn có đủ
thời gian để tắm và thay đồ cho người chết. Những thành viên trong
gia đình hay bạn bè có thể làm việc này như biểu lộ hành động thân
yêu và kính trọng người chết lần sau cùng. Ta biết rằng trước khi
mất, người hấp hối có thể ói mửa, đổ mồ hôi hay tiểu tiện. Bạn có
thể tắm cơ thể bằng khăn thấm trà thơm và một ít rượu để bịt lỗ chân
lông. Nhét bông gòn vào hậu môn, âm vật hay bao cao su bịt dương vật
để tránh các chất bài tiết thoát ra. Răng và miệng có thể lau sạch
nhưng đừng lấy răng giả ra, vì bạn sẽ gặp khó khăn khi lắp vào lại
sau này. Những phản xạ co giật ở cơ mặt và tứ chi cũng thường xảy
ra.
Nên chú ý đến việc ăn mặc và xếp tư thế của tử thi
trước khi tử thi lạnh cứng. Hãy mặc đồ vải mỏng, tránh che phủ tử
thi bằng khăn trải giường. Tử thi cần an trí ở một nơi càng thoáng
mát càng tốt. Quạt máy, máy điều hòa hay cửa sổ mở có thể giúp cho
tử thi tươi tốt.
Một số người chết còn mở mắt, một người thân trong
gia đình đến nhẹ nhàng khép mí lại hoặc dùng băng keo dán lại. Miệng
cũng có thể mở, bạn có thể dùng một khăn quàng cột quanh đầu để khép
lại. Nơi cuối cùng còn ấm là vùng tim hoặc một chỗ nào khác. Theo
truyền thống Phật giáo cho biết hơi ấm tụ ở đầu hoặc ở ngực, là dấu
hiệu cho biết người ấy sẽ tái sinh vào cõi lành.
w Làm gì với tử thi?
Bạn thường lo lắng là giữ tử thi trong nhà không tốt,
nhưng không có gì nguy hiểm cả. Chăm sóc tử thi giống như bạn săn
sóc một người đang sống, bạn cũng chú ý về y tế, đặc biệt là những
người chết vì bệnh dễ lây nhiễm. Cần phải có bác sĩ ký tờ khai tử.
Trước khi đến bác sĩ xin giấy khai tử, tốt nhất nên tiếp xúc với cơ
quan mai táng, nếu bạn muốn tử thi không bị quấy rầy. Nhớ cởi đồ
trang sức của người chết trước khi đưa tử thi đến nhà tang lễ, nếu
muốn thì thân nhân có thể mang lại cho người mất trước giờ phút tẩm
liệm.
Một thi thể không ướp phải chôn cất hay hỏa táng
trong vài ngày để tránh vi trùng lây lan từ người chết vì bệnh. Cơ
quan phục vụ mai táng chỉ đòi hỏi phải ướp xác khi phải đưa tử thi
ra nước ngoài, hay đông lạnh trong vòng hai mươi bốn đến bốn mươi
tám tiếng sau khi chết. Chú ý việc ướp xác không phải khử trùng xác.
Hóa chất dùng trong việc ướp xác là chất độc đối với người sống.
Ðiều quan trọng nhất là hãy làm theo ý nguyện của
người chết.
14
MỘT LẠT MA TÂY TẠNG
TÁI SINH Ở HOA KỲ
N
gày 3/2/1993, đó là ngày đầu tiên tại
thành phố Victorville, tiểu bang California, Hoa Kỳ, Hội Phật giáo
Tây Tạng ở nước ngoài đã tổ chức lễ thụ phong (enthronement)
Lama cho một cậu bé người Hoa, năm tuổi, tên là Simon Hen, được xem
là hậu thân của Lama Lobsang Phakpa.
Simon Hen có thể là một cậu bé năm tuổi bình thường,
nhưng các tu sĩ Phật giáo Tây Tạng tin rằng cậu chính là hậu thân
của một Lama tiền bối người Tây Tạng. Vị Lama này viên tịch tại Tây
Tạng đã hơn 50 năm qua. Hen mới được khám phá khi cậu bé gặp vị
Thượng tọa Geshe Lobsang Tsepel, một tăng sĩ coi sóc Trung tâm PG
của người Tây Tạng ở cách San Diego 140 km. Cậu bé được cha mẹ đưa
đến tham quan phong cảnh tại tu viện này và lần đầu tiên cậu Simon
nhìn thấy Thượng tọa Tsepel, cậu liền nói: "Tôi biết ông, ông
từng là bạn tôi". Tuy nhiên, Thượng tọa Tsepel không để ý đến
những lời "đùa giỡn" này của cậu bé. Nhưng sau đó không lâu, vị tu
sĩ này nằm mơ thấy Thầy bổn sư Lobsang Phakpa của mình, người mất
vào năm 1950. Thượng tọa Tsepel hoang mang và lo lắng, không biết
cậu bé ấy có phải là hóa thân của thầy mình hay không. Thượng tọa
Tsepel quyết định viếng thăm, tìm hiểu về thân phận của cậu bé Simon
Hen, và được biết rằng cha mẹ cùng gia đình của Simon cũng có thắc
mắc tương tự, vì cậu bé đã tỏ ra là một đứa trẻ "không bình thường".
Bà nội của Simon cho biết cậu bé đã có những lời tiên đoán chính xác
trong ba tháng vừa qua, cậu cho biết những tai nạn sắp xảy ra, cho
biết ai là người tốt, ai là người xấu, hoặc cậu muốn đi Ấn Ðộ để trở
thành một Lama...
Ðể kiểm chứng lại các sự kiện này, Thượng tọa Tsepel
đã viết thư thỉnh cầu ý kiến của đức Dalai Lama thứ 14 (lãnh đạo tối
cao của Phật giáo Tây Tạng) ở Ấn Ðộ. Ðức Dalai Lama nói rằng nên
theo dõi và kiểm tra lại cậu bé một thời gian rồi sẽ quyết định. Sau
một thời gian trắc nghiệm về khả năng nhận thức của cậu bé theo một
số phương pháp truyền thống của Phật giáo Tây Tạng, cậu Simon Hen đã
được nhìn nhận đúng là người tái sinh của một Lama Tây Tạng từng
mang pháp hiệu là Lobsang Phakpa.
Tất cả những tín đồ Phật giáo đều tin rằng có sự đầu
thai hoặc tái sinh (rebirth) sau khi con người chết. Nhưng tín đồ
Phật giáo Tây Tạng tin tưởng một cách mãnh liệt rằng những vị lãnh
đạo tôn giáo cao cấp của họ sẽ quay trở lại với một dáng hình khác
để tiếp tục công việc hoằng pháp lợi sanh.
Việc chọn lọc những người tái sinh và quyết định
phong chức Lama ít khi được xảy ra ở nước ngoài, (trước năm 1959
tổ chức ở Tây Tạng, sau năm này các lễ nghi quan trọng như thế
được tổ chức ở Ấn Ðộ). Nhưng đây là lần đầu tiên một cậu bé Lama
được tìm thấy và chính thức được thụ phong trên nước Mỹ.
15
MỘT THẾ HỆ MỚI CỦA LAMA TÂY TẠNG
C
hết không phải là hết, mà chỉ là một sự
thay đổi về hình hài, dòng tâm thức vẫn lưu chuyển cho đến khi con
người ấy đạt đạo. Ðặc biệt theo truyền thống của Phật giáo Tây Tạng,
các vị Cao tăng sau khi viên tịch thường chọn phương pháp tái sinh
(Reincarnation) vào một cảnh giới khác để tiếp tục tu tập hoặc
tái sinh trở lại kiếp người trong những điều kiện thuận lợi hơn để
hoàn tất hạnh nguyện độ sinh mà họ còn dở dang ở kiếp trước.
Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu bốn vị Lama tái
sinh Tây Tạng nổi tiếng ở thế kỷ 20 đã viên tịch đầu thập niên 80 và
tái sinh trở lại kiếp người. Hiện tại các "hài đồng Lama" này đang
tu học tại các Phật học viện Tây Tạng ở miền Nam nước Ấn Ðộ. Ðại đức
Roger Kunsang, phóng viên tạp chí Mandala, USA, đã viếng thăm các vị
để thực hiện một cuốn băng video về sinh hoạt hằng ngày của các vị
Lama tý hon này.
w Ling Rinpoche
Lama Ling Rinpoche năm nay 10 tuổi, hiện đang tu học
tại Phật học viện Drelung, là hậu thân của cố Ðại sư Kyabje Ling
Rinpoche (1903-1993), từng là Viện trưởng Ðại học Phật giáo Gander,
thầy dạy học cao cấp của đức Dalai Lama thứ 14 và nhiều Lama nổi
tiếng khác. Từ năm 1986 đến những năm cuối đời, ngài được cung thỉnh
sang châu AÂu và châu Mỹ để truyền giới pháp cho người Tây phương tu
học.
Roger:Kính chào,
chú khỏe không?
Ling: Cảm ơn, tôi
khỏe.
Roger: Xin hỏi,
năm nay chú bao nhiêu tuổi?
Ling: Mười
tuổi.
Roger:
Uớc mơ lớn nhất của chú là gì?
Ling: Uớc mơ lớn nhất
của tôi là mong ước một nền hòa bình thực sự trên hành tinh này.
Roger: Còn hạnh phúc
dành cho riêng chú?
Ling: Dành cho mọi
người.
Roger: Làm sao chú có
thể đạt được ước mơ đó?
Ling: Cầu nguyện, thiền
định và học hành. Không phải một người mà tất cả mọi người.
Roger: Chú sẽ hóa độ
cho mọi người chứ?
Ling: Sẽ làm tất cả
với khả năng của mình.
Roger:
Khi nào chú mới bắt đầu?
Ling: Khi việc học và
tu của tôi hoàn tất.
Roger: Sẽ phải mất bao
lâu?
Ling: Tôi không biết,
nhưng tôi phải hoàn tất.
Roger: Theo chú, thiền
định cần thực hành như thế nào?
Ling: Thiền à? Bạn nên
quán tưởng đến đức Phật hoặc tập trung vào một đề mục nào đó để tâm
bạn được yên tịnh. Làm sao cho tâm bạn không dao động là cốt lõi của
thiền.
Roger: Chú có lời
khuyên nào cho các đệ tử (của vị tiền thân) trên thế giới?
Ling: Hãy nỗ lực tu
học, kiên nhẫn và không nên ích kỷ.
w Trijang Rinpoche
Năm nay ngài 14 tuổi, hiện đang tu học tại Phật học
viện Gander (ở Nam Ấn Ðộ), được xem là hóa thân của cố Ðại sư Kyabje
Trijang Rinpoche (1904 - 1981), là thầy dạy học trung cấp của đức
Dalai Lama thứ 14.
Roger:
Kính chào chú, chú có khỏe không?
Trijang: Khỏe, cảm ơn.
Roger:
Chú có nhớ gì về kiếp trước không?
Trijang: Không, hiện
tại tôi đang ôn lại những gì mà tôi từng biết.
Roger:
Chú học thuộc lòng có dễ không?
Trijang: Dễ.
Roger:
Thời khóa biểu sinh hoạt của chú một ngày như thế nào?
Trijang: Tôi thức dậy
vào lúc 5 giờ 30, tôi đi đảnh lễ bảo tháp vị tiền nhiệm. Sau đó tôi
có một thời kinh sáng, rồi dùng điểm tâm. Từ 7g30 đến 9g tôi đọc
kinh. Sau đó tôi nghỉ và chơi khoảng nửa giờ. Từ 9g30 đến 10g30 tôi
ôn lại các bộ kinh mà tôi từng thuộc trước đây. Từ 10g30 tôi học văn
phạm Tạng ngữ; 11g tôi thọ trai, 11g30 tôi tập viết. Từ 1g đến 2g30
tôi nghỉ trưa. Thức dậy tôi uống trà rồi bắt đầu với lớp học tranh
luận đến 5g. Sau đó là giờ tiểu thực; 6g tôi học giáo lý với thầy
Khensur Lati Rinpoche; 8g tôi tranh luận với các bạn cùng lớp và 9g
đến 11g tôi tiếp tục học thuộc lòng kinh. Sau đó tôi đi ngủ.
w Zong Rinpoche
Mười tuổi, hiện đang tu học tại Phật học viện Gander,
là hậu thân của cố Ðại sư Kyabje Zong Rinpoche (1905-1983), ngài
từng là Viện trưởng Ðại học Gander nổi tiếng ở Tây Tạng (từ năm
1959, trường này được dời sang Ấn Ðộ), được xem là một người có
nhiều pháp thuật trong giới Lama Tây Tạng. Từ năm 1978 đến 1980,
ngài thường đến phương Tây để thuyết giảng, hàng ngàn tín đồ tại Ấn
Ðộ và các nước ở phương Tây đã tìm thấy sự an lạc và hạnh phúc từ
lời dạy của ngài.
Roger: Kính chào chú.
Zong: Xin chào!
Roger:
Hôm nay là ngày nghỉ của chú?
Zong: Vâng.
Roger:
Chú đang làm gì?
Zong: Tôi đang chơi.
Roger:
Còn ngày mai?
Zong: Ngày mai thứ hai,
cũng là ngày nghỉ của tôi.
Roger:
Buổi sáng, bình thường chú làm gì?
Zong: Tôi thức dậy vào
lúc 6 giờ. Tôi tụng kinh đến 8g, rồi ăn sáng và nghỉ đến 9g. Sau đó
tôi học giáo lý.
Roger:
Hiện nay chú đang học giáo lý gì vậy?
Zong: Tôi đang học đến
chương hai cuốn "Con đường hướng đến Trung đạo".
Roger:
Chương thứ nhất là gì?
Zong: Gander Lha
Gyema.
Roger:
Buổi sáng, học xong chú làm gì?
Zong: Tôi nghỉ trưa và
chơi đến 15 giờ. Sau đó tôi học đến 17 giờ. Học xong tôi đi tắm, ăn
tối và đi ngủ.
Roger:
Chú có học tiếng Anh không?
Zong: Có chứ!
Roger:
Chú có thích sang các nước phương Tây không?
Zong: Có.
Roger: Chú nghĩ là chú sẽ
thuyết pháp cho Phật tử phương Tây chứ ?
Zong: Tất nhiên.
Roger: Khi nào chú mới bắt
đầu?
Zong: Thầy Tenzin biết
việc ấy.
Tenzin (vị thị giả
của Zong Rinpoche): Chúng tôi có dự kiến viếng thăm phương Tây
vào năm tới. Chú có thể nói một số thời pháp ngắn. Tuy nhiên, chú
thực sự sẽ làm công tác truyền giáo sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ.
Roger:
Rinpoche, quốc gia nào chú sẽ đến trước?
Zong: Canada và Hoa
Kỳ.
Roger:
Chú sẽ ở đó bao lâu?
Zong: Khoảng ba tháng.
Roger:
Chú có nhắn nhủ với Phật tử phương Tây điều gì không?
Zong: Xin đừng quên lời
dạy của cố Ðại sư Zong Rinpoche (tiền thân của chú).
Roger:
Chú có thích thú vật không ?
Zong: Có.
Roger:
Chú thích loài nào nhất ?
Zong: Rùa.
Roger:
Tại sao chú lại thích rùa ?
Zong: Vì nó không bỏ
chạy, nó sẽ ở lại với bạn. Tôi đang nuôi 5 con.
Roger: Chú có biết câu
chuyện nào về thú vật không ?
Zong: Ồ rất nhiều,
nhưng tôi thích nhất là câu chuyện về chú rùa con. Chuyện kể rằng,
một hôm rùa con đến hỏi bố mẹ: "Tại sao con cứ mãi mang cái "tòa
nhà" nặng nề này trên lưng hoài vậy?". Bố mẹ rùa nói: "Con
may mắn lắm mới có được nó, nó rất có ích khi con đi ra ngoài".
Rùa con không đồng tình với giải đáp kia nhưng chú nghĩ mình phải
nghe và chấp nhận lời dạy của bố mẹ. Rồi một ngày nọ, rùa con gặp
bạn của chú, bạn ếch cũng thắc mắc: "Tại sao bạn phải mang cái
nhà trên lưng vậy
?". Rùa chưa kịp trả lời, vừa lúc ấy có một người cưỡi ngựa chạy
đến, ếch cấp tốc nhảy xuống cái ao gần đó, còn rùa thì chậm chạp
nhưng chú nhanh chóng nhớ đến lời dạy của bố mẹ nên chú liền thụt
đầu vào "ngôi nhà" của mình. Bạn ếch lo lắng "chắc rùa đã chết
rồi". Nhưng sau khi con ngựa chạy qua rồi, chú rùa từ từ di động
và bò đi. Chú không làm sao cả. Chú nhớ lại lời của bố mẹ:
"Này con trai, con may mắn mới có được
ngôi nhà ở trên lưng!".
w Osel Rinpoche
Mười hai tuổi, hiện đang tu học tại Phật học viện
Sera, là hậu thân của cố Ðại sư Thubten Yeshe (1935-1984), một Pháp
sư nổi tiếng Tây Tạng, người góp sức san bằng các chướng ngại địa dư
và nối liền những phân cách văn hóa, chủng tộc để dòng tuệ giác mặt
trời đầu nguồn Tây Tạng có thể tuôn chảy xuống vùng đất lạ Tây
phương, người đã giảng giải giáo lý tái sinh bằng chính sự thong
dong đôi bờ sinh tử và chuẩn bị sắp xếp cho mình để có thể tái sinh
như ý và để người khác có thể nhận ra hóa thân của mình. Bậc thầy vĩ
đại ấy đã qua đời vì bệnh tim tại bang California, Hoa Kỳ ở tuổi 49,
để lại phía sau mình một tổ chức khổng lồ. [Ông là người sáng lập
Hội Hộ Trì Phật giáo Ðại Thừa (FPMT) và cho xuất bản tạp chí Mandala
tại Hoa Kỳ, hiện nay tổ chức này phát triển thêm hàng trăm chi nhánh
trên khắp thế giới]. Hai năm sau (từ ngày mất) người ta phát hiện ra
ngài trong một dáng hình khác, đó là Osel Rinpoche, sinh ngày
12/2/1985 tại Bubion, Tây Ban Nha. Giới Phật giáo Tây Tạng đã đưa
chú bé tái sinh này trở lại Ấn Ðộ để tiếp tục tu học.
Sau đây là thời khóa sinh hoạt hàng ngày của Osel
Rinpoche:
6g thức dậy, 6g10-7g tụng kinh, 7g-8g điểm tâm, 8g-9g
học kinh, 9g-9g30 chơi, 9g30-10g30 học tiếng Tây Ban Nha, 10g30-11g
nghỉ giải lao, 11g-12g học tiếng Anh, 12g-14g thọ trai và nghỉ trưa,
14g-16g học tiếng Anh, 16g-17g chơi, 17g30-19g học tiếng Tây Tạng,
19g-20g tiểu thực, 20g-20g30 nghỉ, 20g30-21g học văn phạm, 21g tắm
và đi ngủ.
16
TÁI SINH Ở PHƯƠNG TÂY
C
ô Vicki Mackenzie, một ký giả người Anh,
từng là tác giả quyển sách nổi tiếng "The Boy Lama", kể
chuyện về cậu bé tái sinh người Tây Ban Nha Tenzin Osel Rinpoche,
hậu thân của cố Ðại sư Thubten Yeshe (1935 - 1984). Ðó là một người
truyền dạy minh triết, kẻ vượt qua mọi chướng ngại địa lý, phong tục
tập quán định kiến tôn giáo, để đánh thức khơi dậy những điều tốt
đẹp nhất đang bị chôn kín trong lòng người. Một con người mà y học
của thời đại "chim sắt" phán quyết là phải chết nhưng vẫn
sống và sống hùng tráng như một mặt trời... Quyển sách in lần đầu
tiên vào năm 1989 bởi Nhà xuất bản Bloomsbury (Luân Ðôn) và lập tức
được dịch ra nhiều thứ tiếng trên khắp thế giới (đến nay đã chuyển
ngữ ra mười thứ tiếng, bản dịch mới nhất là tiếng Nhật. Bản dịch
Việt ngữ "Hài đồng Lama" in năm 1994.)
Quyển sách thứ hai của Vicki là "Tái sinh ở phương
Tây" (Reborn in the West) cũng do Nhà xuất bản Bloomsbury
ấn hành vào tháng 4 năm 1995. Quyển sách lần này viết về năm vị thầy
tái sinh người Tây phương - bốn nam và một nữ - những người được
thừa nhận là hậu thân của các Lama người Tây Tạng. Quyển sách đề cập
đến một số người khác tái sinh ở phương Tây nhưng họ không phải là
Phật tử.
Adèle Hulse, phóng viên tạp chí Mandala, nói chuyện
với Vicki Mackenrie (đang cư ngụ tại Melbourne, Australia) để biết
thêm về nội dung quyển sách này. Cô Vicki tâm sự:
"Ðiểm chính của tôi khi viết cuốn sách này là an ủi
mọi người rằng họ không bao giờ bị lãng quên khi họ chết và sau khi
chết họ còn có một cuộc sống mới khác. Các Nhà xuất bản yêu cầu tôi
viết một cuốn sách về tái sinh, nhưng khi tìm hiểu thì tôi thấy
người ta chỉ thừa nhận việc tái sinh xảy ra trong cộng đồng
người Tây Tạng, vì thế tôi sử dụng "tái sinh ở phương Tây" để làm
chủ đề chính ngõ hầu đánh tan sự ngộ nhận vốn có bấy lâu nay của mọi
người. Tôi cũng giới thiệu những sự kiện tái sinh của người phương
Tây không theo Phật giáo. Tôi đã phỏng vấn tiến sĩ Roger Woolger,
một tu sĩ đạo Do Thái, người nghiên cứu về tái sinh trong cộng đồng
người Do Thái. Tôi đã thử so sánh những kết luận của người phương
Tây về vấn đề này với những giáo lý về tái sinh của Phật giáo Tây
Tạng.
Ðiều kích thích tôi hơn tất cả là sự nhận ra rằng
hiện nay là thời điểm lịch sử của các bậc thầy phương Ðông hiện thân
ở phương Tây và sự trùng khớp đầy ý nghĩa này với cuộc tranh luận
gắt gao trong giới khoa học về tâm thức và não bộ có giống không. Dĩ
nhiên các bậc thầy thì nói rằng tâm thức là một phần độc lập đối với
cơ thể.
Tôi cũng đề cập đến vấn đề "vun trồng" Phật giáo Tây
Tạng thông qua những bậc thầy trên mảnh đất phương Tây là một quá
trình đầy khó khăn vì phải va chạm sự cách biệt giữa các nền văn
hóa”.
17
TIN PHẬT TRƯỚC KHI CHẾT
"Là một người đồng tính luyến ái mắc bệnh Aids
(Sida), con có nhiều thời gian để chấp nhận hoàn cảnh bi đát của
mình. Nhưng khi nói chuyện với Sư cô về vấn đề chết và hấp hối, con
cảm thấy mình có một nhận thức sâu sắc về cuộc sống và chấp nhận căn
bệnh quái ác này. Qua phương pháp thiền chữa bệnh, kỹ thuật khống
chế cơn đau và nhiều lần tranh luận với Sư cô... giờ đây con có cảm
giác yên bình kỳ lạ, một cảm giác mà chưa từng bao giờ có trong cuộc
đời của tôi. Theo cái nhìn của nhà Phật thì mỗi chúng sinh đều bị
sinh, lão, bệnh, tử chi phối, nhưng dòng tâm thức thì vẫn lưu chuyển
từ đời này sang đời khác. Quan niệm này rất chí lý và an ủi con..."
Trên đây là lá thư cuối cùng của Tim Sulliwan đề ngày
26/6/94 gửi cho tôi (Sư cô T. Wongmo) từ bang Chicago. Tim
đến trung tâm tu học Togmay Sangpo tìm kiếm sự bình ổn cho tâm hồn
vì tự biết mình sẽ chết trong vòng mấy tháng nữa vì bệnh Aids.
Giống như một người bị ruồng bỏ, Tim dành hết thời
giờ để học Phật. Ðọc sách, bàn thảo về Phật tánh, sự tái sinh, nhân
quả, nghiệp báo... tất cả đều làm cho anh say mê và nó đã tạo cho
anh một cảm giác dễ chịu. Anh là một người có từ tâm, dù rõ ràng bị
đau đớn và đối diện với cái chết, nhưng cái đau lớn nhất của Tim là
vẫn lo lắng cho gia đình và bạn bè, những người đang đau khổ vì căn
bệnh nan y của anh. Tim tổ chức một buổi họp mặt với số người thân
này lại để tôi có dịp giải thích về cuộc hành trình của tâm thức đi
tới kiếp sau. Vai trò hộ niệm của người thân rất quan trọng đối với
việc chuyển sanh của tâm thức. Người thân có thể cầu nguyện, phóng
sanh, bố thí, cúng dường, hồi hướng công đức đó cho người mạng chung
thọ sanh vào cảnh giới an lành. Bằng cách tập trung hộ niệm của
quyến thuộc và bạn bè như thế sẽ giúp cho tâm thức của người đó tự
động nâng lên. Tim và người thân của anh ta nhận thấy ý tưởng này
mới lạ và tích cực so với những cảm giác bình thường của sự bơ vơ và
chán nản đi kèm với cái chết.
Ngay cả lúc khó chịu với cơ thể bệnh hoạn của mình,
Tim vẫn cố gắng tập thiền và niệm danh hiệu Ðức Phật Dược Sư mỗi
ngày. Ðặc biệt, vào những ngày cuối cùng anh quá đau đớn không làm
được gì cả, tôi đến hướng dẫn cho anh phương pháp thư giãn khống chế
cơn đau. Tim để cho trí não của mình đi theo sự dẫn dắt của thiền và
cuối cùng dễ dàng đi vào giấc ngủ.
Tim thành thật nói với mọi người đừng lo buồn, rằng
anh sẽ sẵn sàng đón nhận cái chết. Tim cho thấy sự từ bỏ đó của anh
đối với tiền bạc bằng cách ban phát từ thiện. Khi Tim phàn nàn về
việc tóc rụng do liệu pháp hóa học
(chemotherapy), tôi đề nghị Tim nên cạo nó đi. Thoạt đầu anh ta
cảm thấy bồn chồn vì sợ dư luận, nhưng sau đó anh ta cũng cạo nó và
bắt đầu mặc chiếc áo thun màu vàng cam. Vì thế chúng tôi thường chế
nhạo anh ta trông giống như một "tu sĩ" Chicago.
Rồi thời gian trôi qua, Tim tự theo dõi khi nỗi lo âu
hiện lên trên diện mạo của mình, anh ta cười khúc khích và nói: "đừng
quyến luyến nữa!".
Khi người nhà biết rõ Tim đang hấp hối, tôi được mời
đến nhà Tim. Tôi đến anh ta đang vật lộn với bình ôxy và gần như
không thể nói chuyện được. Như đã hứa, tôi bắt đầu trì trú hộ niệm
và nhắc nhở anh ta nên nhiếp niệm trong giờ phút căng thẳng đó. Tôi
hỏi Tim có cần gì nữa không, anh ta tháo mặt nạ ôxy ra và nói : "Không
cần gì cả, cảm ơn cô đã lo cho con". Ðó là những lời sau cùng
của Tim.
Tôi nói với Tim:
"Mọi thứ đều ổn cả, con có thể ra đi được rồi, đừng quyến luyến và
sợ hãi, thôi con có thể ra đi". Tim đáp lại những lời này bằng
cách gật đầu và ngừng thở trong yên bình.
Ðại đức Jangchup tiếp tục niệm Phật tiếp dẫn cho Tim.
Bầu không khí trong phòng yên lặng và nghiêm trang giữa tiếng cầu
kinh như để đưa lối cho Tim ra đi.
Sau khi hỏa táng, với tro của Tim, Ðại đức Jangchup
đã tạo ra một pho tượng Chuẩn Ðề. Tim đã có dịp tạo ra công đức của
mình.
(Theo MANDALA Journal, tháng 10/1994 )
18
MỘT BẰNG CHỨNG SỐNG
VỀ THUYẾT TÁI SINH
T
hượng tọa Thubten Zopa Rinpoche, là đồng
sáng lập viên "Hội bảo vệ truyền thống Phật giáo Ðại thừa" (năm
1975, văn phòng trung ương đặt tại bang California, Hoa Kỳ).
Hiện tổ chức này có gần một trăm chi nhánh trên khắp các châu lục.
Vừa qua, một tu viện tại Nepal đã cử hành lễ "thụ phong cho một chú
bé bốn tuổi mà giới Phật giáo Tây Tạng xem đây là người tái sinh của
cụ bà Amala (mẫu thân của Thượng tọa Zopa Rinpoche). Dưới đây
là bài viết của Sư cô Robina Courtin, đúc kết lại những gì đã nghe
thấy về cuộc "hành trình chuyển tiếp" khá lý thú này.
"Tôi đã tìm thấy được mẹ tôi",
Ngawang Samten, chị của Thượng tọa Zopa, reo lên một cách vui sướng
khi vừa gặp lại cô Merry Colony vào tháng 8 năm 1993, sau hai năm
vắng mặt từ ngôi làng bé nhỏ nằm trong vùng núi đá lởm chởm thuộc
vùng Khumbu, nước Nepal.
Cụ bà Amala, bà thân sinh của Thượng tọa Zopa
Rinpoche, được rất nhiều người biết đến, đã qua đời vào đầu năm
1991. Merry nghĩ rằng chắc Ngawang Samten muốn ám chỉ một điều gì đó
có liên quan đến sự tái sinh của cụ Amala.
Merry rất thân với cụ Amala và Ngawang Samten trong
dịp cô đến tu thiền trong một hang động gần đó và thường đến thăm họ
ở chùa Lawudo. Cả hai đều là nữ tu, công việc chính của họ là chăm
sóc các hang động và ngôi chùa này. Họ đến đây từ Thami, Tây Tạng.
"Gia đình tôi rất nghèo",
Ngawang Samten nhớ lại, "bố tôi qua đời
lúc em trai tôi Sangye còn trong bụng mẹ. Mẹ tôi suốt ngày đi chặt
củi đổi lấy gạo để nuôi cả gia đình. Bà chỉ kiếm vừa đủ để nuôi anh
em chúng tôi và bà thường lượm những mảnh vải người ta vứt trong
thùng rác để may áo quần cho chúng tôi".
"Và bà thường đến biên giới Tây Tạng (hai ngày đi bộ)
mua muối đem về bán cho người trong làng - Merry nói - Bà cụ là một
người nhỏ nhắn nhưng rất khỏe mạnh, bà làm mất đi nhiều ngón tay của
mình khi chặt củi. Giống như nhiều người ở miền núi, bà cụ không
biết chữ, bà cũng không biết nhiều về giáo lý. Nhưng bà tin tưởng
Ðức Bồ tát Quán Thế AÂm và siêng năng thọ trì câu thần chú : "OM
MANI PADME HUM" trong mọi lúc, mọi thời. Bà cụ rất tận tụy với các
tăng ni. Mỗi ngày bà đều chăm sóc hang động, quét dọn, cúng dường
hương đèn lên các bàn thờ".
Gần đây, Thượng tọa Zopa Rinpoche cũng cho biết rằng:
"Sau khi làm xong mọi việc trong chùa mỗi ngày, bà cụ
đều đến đảnh lễ Phật và cầu nguyện cho tôi. Bà cụ nói là bà cụ cầu
nguyện cho tôi ba lần trong một ngày, sáng, trưa và buổi tối".
"Mẹ cầu nguyện những gì
?", tôi hỏi bà cụ, "Bà
nói rằng bà chỉ cầu mong chư Phật gia hộ cho tôi vượt qua mọi chướng
ngại trên con đường tu học của mình".
Vào tháng 12 năm 1990, cụ Amala muốn đi thăm Ð?c
Dalai Lama (ở Ấn Ðộ) trước khi cụ qua đời. Già và yếu, nhưng bà vẫn
cố gắng băng núi đèo để đến Kathmandu, và rồi đến tỉnh Sarnath (Bắc
Ấn), đi cùng với bà có cậu út Sangye và Ngawang Samten.
"Ðó là ngày trăng tròn tháng giêng năm 1991",
Sangye nhớ lại, "cũng là ngày cuối cùng của
khóa tu Mật tông Kalachakra. Suốt ngày hôm đó cụ Amala, chị Ngawang
và tôi đã dự lễ điểm đạo của Ðức Dalai Lama. Sau đó chúng tôi trở
lại túp lều và cụ Amala bảo: "Mẹ muốn nghỉ ngơi, đừng quấy rầy mẹ".
Chúng tôi linh cảm có một điều gì đó sắp xảy ra, chúng tôi ngồi
quanh giường của cụ, khoảng mấy phút sau, cụ trở mình nghiêng bên
phải và rồi mất tại đó. Khuôn mặt bà như đang ngủ".
"Bà cụ vẫn nằm trong tư thế "kiết tường" như vậy
trong ba ngày, nét mặt đẹp hơn, sáng hơn. Chúng tôi không chạm đến
thi thể của cụ cho đến chiều ngày thứ ba, nét mặt vẫn không thay
đổi. Chúng tôi tiến hành tang lễ và hỏa táng sau đó. Có hơn 200 Tăng
Ni và Phật tử đến dự.
Rõ ràng vào ngày cụ Amala qua đời là ngày trăng tròn,
người dân trong vùng Lawudo (ở Nepal) nhìn thấy một con chim ưng
lông trắng bay lượn ba vòng ở trong vùng rồi sau đó bay về hướng
đông Tây Tạng. Sau này họ nói cho tôi về điều đó, họ nói là họ rất
ngạc nhiên".
Trên đây là toàn bộ câu chuyện mà Ngawang đã kể cho
cô Merry nghe, khi cô đến thăm Lawudo vào tháng 8 năm 1993.
Vào đầu tháng 7 năm đó (1993), Ngawang Samten hay tin
một người bạn láng giềng của chị là Lhakpa bị tai nạn, vì thế chị
quyết định đi thăm cô ta. Ngawang không gặp cô ta từ khi cụ Amala
qua đời. Gia đình cô dời về ở một ngôi làng Genukpa cách chùa Lawudo
khoảng mười lăm phút đi bộ.
Ðó không phải là nơi gần với Lawudo, nên Ngawang
Samten và Lhakpa ít khi gặp nhau. Lhakpa bị thương ở chân nhưng
không nặng lắm, cô ta rất mừng khi gặp lại Ngawang Samten.
Lhakpa có bốn đứa con, đứa nhỏ nhất là một cậu bé
được sanh sau khi cụ Amala mất vài tháng ở Ấn Ðộ. Lhakpa bắt đầu nói
với Samten về đứa con trai út của mình. Nó là một đứa trẻ thông minh
lạ thường, cô ta nói, từ khi nó tập nói lúc 2 tuổi, chú bé thường
nhắc đến chùa Lawudo, một ngôi chùa mà chú chưa từng biết đến bao
giờ. Vì thế, điều này làm cho chị và cả gia đình rất kinh ngạc.
Và khi Ngawang Samten gặp riêng chú bé, chú dường như
nhận ra chị, và chú yêu cầu chị đưa chú đi thăm chùa Lawudo. Chú bé
là một đứa trẻ đẹp và khỏe mạnh, chú bày tỏ sự quen thuộc đối với
Lawudo - nhắc đến tên của ba con bò chẳng hạn. Và chú tiếp tục nói
là chú muốn đi đến đó: "Ðó là nơi cháu đã từng sống", chú
nói. Ngawang Samten rất ngạc nhiên, chị bắt đầu đến thăm chú bé
thường xuyên hơn và luôn luôn tìm thấy những điều tương tự. Chú yêu
cầu chị: "Hãy đưa cháu về Lawudo đi".
Một điều đáng chú ý hơn, là chú thường nhắc đến
Sangye, Thượng tọa Zopa Rinpoche và ngôi tu viện Kopan của ngài,
trong khi tu viện đó ở dưới thung lũng Kathmandu. "Cháu tự hỏi
không biết khi nào Thượng tọa và Sangye sẽ đến thăm cháu", chú
nói. Ngawang Samten đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi chú
đưa ra những thông tin mới hơn: "Con đường đi đến tu viện Kopan
rất xấu, có lẽ họ đang bận rộn sửa sang lại nó". Rõ ràng đó là
sự thật. Chú bé cũng thường bày tỏ ý định muốn đến Kopan một mình.
Một ý tưởng nảy sinh, phải chăng chú bé này là một
bằng chứng tái sinh của mẹ chị? Ý tưởng đó đã ngự trị và trở nên rối
bời trong đầu óc của Ngawang Samten. Chị nghĩ rằng mình không thể
ngạc nhiên và bỏ qua cơ hội này; chị quyết định trắc nghiệm chú bé.
Cuối cùng, chị đưa bé về thăm chùa Lawudo. "Ngay
khi bước vào phòng ăn", chị nhớ lại, "Chú bé bắt đầu mô tả
nhà bếp, những băng ghế, lò sưởi; điều đáng chú ý là chú chạy lên
chánh điện và đi kinh hành mấy vòng - giống như cụ Amala đã từng
làm. Dù ở đây chú hay bị vấp và té, bởi vì chú nhỏ quá".
Ngawang Samten cùng kiểm tra với Hòa thượng Wangchuk,
một người địa phương lừng danh trong việc quan sát các trường
hợp như thế, và ngài đã xác nhận chú bé này đúng là người tái sinh
của cụ Amala.
Ngawang Samten cũng viết thư cho Hòa thượng Trulshig
và Thượng tọa Nyingma thuộc tu viện Thubten Choeling ở Jumberi. Hai
ngài đã trả lời thư, chứng nhận rằng chú là một hình dạng khác của
cụ Amala và khuyên chị phải làm lễ cầu an cho chú cũng như chăm sóc
chú một cách cẩn thận. Ngài Trulshig đã đặt tên cho chú là Ngawang
Jigme.
Ngawang Samten rất sung sướng. Chị quyết định tổ chức
lễ cầu an cho Ngawang Jigme, mời tăng ni và bà con trong làng đến
dự.
Trong buổi lễ ở chùa Lawudo, chú bé lại một lần nữa
làm cho mọi người phải ngạc nhiên bởi việc đi kinh hành ba vòng
trong chánh điện và sau đó chú lễ Phật giống như cụ Amala đã làm
trước đây.
Ngawang Samten may cho chú mấy bộ đồ và trong số đó
có cả chiếc mũ len của cụ Amala. Giật lấy chiếc mũ một cách vui
mừng, chú reo lên "đây là cái mũ của cháu", và lập tức chú
nhận ra một số nút áo cũ mà cụ Amala đã để dành trước kia, nay được
khâu vào chiếc áo ấm mới: "Cái nút này của cháu", chú la lên
một cách sung sướng.
Sangye đã nhớ lại trong buổi lễ hôm đó mọi người đều
tặng khăn trắng Khatas cho chú, chú đều biếu lại họ theo truyền
thống như một cử chỉ ban phước. Ðiều này không có ai dạy cho chú
biết trước đó.
Kể từ hôm đó, chú thường xuyên đến chùa Lawudo, và
chú tiếp tục làm cho mọi người phải chú ý về sự hiển lộ trí nhớ của
mình. Chú chỉ ra mọi việc trong chùa, trong nhà bếp, trong hang
động. Chú biết rõ những thứ đó là gì và dùng để làm gì. Chú cũng hỏi
thăm các đồ vật thuộc về cụ Amala mà chú không thấy ở chỗ cũ.
"Cây đèn của cháu ở đâu".
Chú hỏi. Cụ Amala gìn giữ các đồ dùng riêng trên một chiếc kệ trong
phòng ngủ của cụ: Một cái kính đeo mắt, một bánh xe pháp luân nhỏ
(dùng để cầu nguyện), một xâu chuỗi, một cây đèn dầu...
Chú bé dường như quyết định tìm các đồ vật và chú tỏ
ra bực mình khi không tìm thấy chúng. Cầm tay Ngawang Samten, chú
chỉ về phía chiếc kệ:
"Cháu muốn lấy cây đèn của cháu về nhà,
cháu sẽ mang nó trở lại vào ngày mai".
"Chú bé rất kỳ lạ", Sangye
cảm nhận, "và mọi người gặp chú cũng đều cảm thấy như thế".
Cách cư xử của chú quá lạ lùng so với các đứa trẻ khác. Chú hành xử
và nói năng như người lớn một cách tự nhiên. Về trí nhớ của chú cũng
hoàn toàn chính xác.
Vào tháng 5 năm 1994, bố mẹ của Ngawang Jigme cảm
thấy đã đến lúc đưa đứa con của họ đến tu viện Kopan. Buổi lễ thụ
phong được tổ chức để chính thức xác nhận chú là tái sinh của cụ
Amala, một nữ tu người Tây Tạng, bởi 250 Tăng ni và Phật tử.
Cuối cùng, chú cũng đã bước vào tu viện như là một tu
sĩ thực thụ và chú sẽ được giáo dục theo một phương pháp dành riêng
cho người được xem là tái sinh. Tu viện và các bậc cao đức sẽ tạo
cho chú có cơ hội để tiếp tục công việc tu tập, hóa giải nghiệp lực,
phát triển tâm linh và hoằng pháp lợi sinh sau này.
Khi Ðức Dala Lama lần đầu tiên gặp chú bé tái sinh
người Tây Ban Nha, Tenxil Osel Rinpoche (1), và Ngài đã thừa nhận
chú ấy là hóa thân của cố Lama Thubten Yeshe. Ngài nói: "Tất
nhiên, khi chú lớn hơn một chút, tự chú sẽ để lộ ra những chứng cứ
cho người ta biết chú thật sự là ai". Và trường hợp của Ngawang
Jigme ở đây cũng tương tự như vậy.
Nhưng nếu bằng chứng đã có giá trị bề mặt thì chú là
một minh chứng hùng hồn nhất về công hiệu của luật nhân quả. Ðó là
suốt một quãng đời cống hiến và tận tụy mà cụ Amala đã đặt trọng
niềm chánh tín của mình cho Chánh pháp để cuối cùng đổi lấy một kết
quả thấy rõ, đó chính là sự "quay lại" của mình trong một dáng hình
nam tử mà trước đây cụ đã hằng mong ước.
*
Ghi chú:
1. Tenzil Osel, sinh ngày 12/02/1985
tại Tây Ban Nha, được xem là hậu thân của cố Lama Thubten
Yeshe (một pháp sư nổi tiếng của Phật giáo Tây Tạng ở phương
Tây, là thầy của Thượng tọa Zopa Rinpoche). Hiện tại Lama
Tenzil Osel 2 tuổi đang sống và tu học ở tu viện Sera, nước Ấn Ðộ.
19
ALAN MOLLOY
MỘT BÁC SĨ PHẬT TỬ NGƯỜI ÚC
L
àm thế nào bạn có thể áp dụng việc
tu tập trong đời sống bận rộn hằng ngày?
Ðây là một trong những câu hỏi mà phóng viên tờ Mandala đã phỏng vấn
bác sĩ Alan Molloy, một thành viên lâu năm của Viện Phật học Tara ở
tiểu bang Melbourne, Úc, một người đã chứng kiến sự phát triển của
đạo Phật tại quốc gia này từ cuối thập niên bảy mươi đến nay. Trong
bài nói chuyện này, ông chia sẻ với độc giả những kinh nghiệm tu học
của mình trong đời sống hằng ngày.
Bác sĩ Alan Molloy đang làm việc toàn thời gian ở một
bệnh viện ung thư lớn nhất tại tiểu bang Melbourne, Úc và khoa Lão ở
một viện dưỡng lão. Gần đây, ông còn là giảng viên thỉnh giảng về
môn "Tôn giáo Tỷ giáo" ở các đại học Australia.
Công việc vẫn không ngừng khi bác sĩ Alan về nhà. Nhà
ở đây là Viện Phật học Tara (VPH Tara), nơi ông đã cư trú chín năm
qua với một nhóm ba mươi lăm thành viên khác. Ở VPH Tara, Alan là
một trong những giáo viên Phật học đứng lớp hằng tuần. Ông cũng phụ
trách giảng dạy giáo lý ở nhiều trung tâm khác. Và như một học trò,
Alan đang theo học lớp Phật học cao cấp hằng tuần do TT Geshe Doga
và HT Tsong Khapa hướng dẫn. Năm rồi, Alan đã thành lập và điều hành
một cơ sở in ấn tài liệu cho viện. Năm nay, Alan là một thành viên
trong ban tổ chức chuyến viếng thăm Úc của đức Ðạt Lai Lạt Ma vào
tháng 9 tới.
Lần đầu tiên, BS Alan tiếp xúc với Phật giáo vào năm
1975. Lúc đó, ông thấy tờ áp-phích quảng cáo dán ở Ðại học Melbourne
về một buổi diễn thuyết của một Tăng sĩ Tây Tạng. Ông đã đến nghe và
liền xin theo học giáo lý tại một ngôi nhà nhỏ ở ngoại vi Melbourne,
đó là tiền thân của VPH Tara bây giờ. Năm 1979 trong kỳ nghỉ phép,
Alan cùng với ba người bạn sang thăm Nepal và kết thúc chuyến đi này
bằng một lễ quy y. Alan trở thành một tín đồ Phật giáo và phát
nguyện giữ gìn năm giới.
Trở lại Melbourne, ông tiếp tục học giáo lý với TT
Dawo. Năm 1985 TT Dawo thuyên chuyển về Ấn Ðộ và TT Geshe Doga thay
thế. Nói về vị Thầy này, Alan cho biết: "TT Doga là giáo sư thuộc
phái Hoàng Mạo, xuất thân từ Phật học viện Sera, có công đào tạo
nhiều thế hệ Tăng sĩ Tây Tạng. Ngài rất thông hiểu tập tục và ngôn
ngữ của người Tây phương. - Sera, Ngài là thầy của chúng tôi, chúng
tôi thực sự rất may mắn". Năm 1985, BS Alan đi Thụy Sĩ dự khóa
tu Mật tông Kalachakra do đức Ðạt Lai Lạt Ma làm đàn chủ và sau đó
theo hầu TT Zopa Rinpoche trong một chuyến đi hoằng pháp thế giới.
Tiếp đó, Alan làm việc năm tháng trong một bệnh viện nhi đồng ở
Dharamsala, Ấn Ðộ. Sau đó, Alan đi Anh quốc để tu nghiệp về một khóa
học đặc biệt.
Hoàn tất khóa tu nghiệp ở Luân Ðôn, Alan trở lại
Melbourne và đi làm ở bệnh viện. Sau đó ông được cử làm trưởng ban
điều hành công trình xây dựng VPH Tara. Ông bắt đầu tìm kiếm, vận
động và mua một miếng đất để xây dựng VPH Tara. Vì lúc ấy, Tara quá
nhỏ không thể làm nơi sinh hoạt cho số lượng Phật tử đang gia tăng.
Lúc đầu công việc gần như bế tắc, vì không có nơi
thích hợp và không đủ kinh phí. Nhưng cuối cùng BS Alan cũng tìm và
mua được một nơi đàng hoàng, đó là một dinh thự được xây dựng từ
cuối thế kỷ thứ 19 trên một mẫu đất nằm ở ngoại ô Melbourne. BS Alan
nhớ lại việc mua lúc đó:
"Mua được VPH Tara, theo tôi, đó là một
bước nhảy vọt phi thường ngoài khả năng của chúng tôi. Viện đã cung
cấp cho chúng tôi thêm sức mạnh trong công tác truyền bá PG vào thế
giới phương Tây. Lúc đó chúng tôi không có một đại thí chủ nào ủng
hộ. Nhưng với tấm lòng thành, nỗ lực và kết hợp của hàng ngàn Phật
tử, họ đã làm việc đều đặn, cặm cụi trong nhiều năm để đóng góp kinh
phí cho Tara. Chính tính cần cù và đều đặn này của Phật tử đã giúp
cho VPH Tara thành công".
Thật vậy, trong khoảng mười năm qua, VPH Tara ở Úc là
một trong những trung tâm PG lớn nhất thuộc PG Tây Tạng ở phương
Tây. Chương trình học giáo lý hàng tuần vẫn diễn ra đều đặn gồm tối
thứ hai giới thiệu các lớp, tối thứ ba môn triết học PG, tối thứ tư
thảo luận những gì đã học, cuối tuần là thời gian để tụng niệm và
thiền định. Tuần lễ đông nhất có đến trên 300 Phật tử về dự.
VPH Tara cũng điều hành các khóa học thiền cho người
bệnh kinh niên và các khóa học cho những người tình nguyện giúp đỡ
người lớn tuổi và người bệnh. Viện cũng ủng hộ cho các tổ chức cộng
đồng địa phương và điều hành một ngân quỹ từ thiện. Ðặc biệt, VPH
Tara đã cung cấp nhiều giảng viên Phật học để làm công tác giảng dạy
cho nhiều cộng đồng ở Úc.
Về công tác chuyên môn ở bệnh viện, BS Alan đối diện
với cái chết hằng tuần, thậm chí hằng ngày. Theo kinh nghiệm ông cho
rằng người già trong xã hội phương Tây luôn đối diện, cô đơn và sợ
hãi trước cơn vô thường của bệnh tật và chết chóc. Ðó là một nhu cầu
rất lớn cho các trung tâm ở thành phố như Tara phải cung cấp và
hướng dẫn họ về đời sống tâm linh. BS Alan nói "Tuổi
già là cái mất mát kéo theo những mất mát khác như sức khỏe, tính
năng động, nhục dục, cha mẹ, vợ con, tài sản... Cái chết, vô thường
và nghiệp lực là cái đáng sợ hãi của tuổi già. Ðiều quan trọng là
người ta có được giải thích tại sao họ chết và cái gì xảy ra sau khi
chết?".
"Cái chết thường đi kèm sau cái bệnh, có nghĩa là
chúng ta không thể tu tập được. Vì thế rất quan trọng để nghĩ rằng
hiện tại chúng ta đang khỏe mạnh, ta đang có cơ hội để tu tập, chuẩn
bị con đường tâm linh cho mình. Tôi có được cái may mắn là trong
nghề nghiệp chuyên môn tôi nhận ra điều này trong mọi lúc và tôi
không ngừng được nhắc nhở về điều đó. Chính nó đã tạo cho tôi có một
sức mạnh để tu tập. Người Tây phương cần được hiểu về cái chết và
giáo lý vô thường để họ có thể vượt qua khổ đau trong giai đoạn cuối
của cuộc đời".
Hiện nay, BS Alan đang chờ đợi sự tái sinh của vị
thầy bổn sư của ông, đó là HT Geshe Dhargyey vừa viên tịch vào năm
rồi ở Tân Tây Lan. Năm nay, BS Alan bận rộn cho công tác chuẩn bị
chuyến viếng thăm và truyền pháp của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma ở Úc (từ
16/9 đến 1/10/1996). Ông cũng là người tổ chức hai chuyến viếng thăm
trước đây (năm 1982 và 1992) của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ðặc biệt, năm
1992 BS Alan muốn cho mọi người tận mắt thấy Ðức Ngài, nên ông đã tổ
chức buổi diễn thuyết tại Trung tâm quần vợt quốc gia, có trên
20.000 người về dự trong dịp đó.
Phật giáo là một tôn giáo phát triển nhanh nhất ở Úc.
Với hàng trăm ngàn tín đồ của 18 triệu dân. Phật giáo Tây Tạng có
mặt ở Úc từ giữa những năm bảy mươi của thế kỷ này và đến nay đã có
mười ba Trung tâm PG của người Tây Tạng ở Úc. BS Alan rất hồ hởi và
nói về chuyến viếng thăm lần này của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma: "Lần này
chắc sẽ vui lắm. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14 rất thương mến và quan
tâm đến Phật tử ở Úc châu. Lần này Ngài trở lại Australia giống như
ghé thăm một người bạn cũ. Nhiều người sẽ đến nghe Ngài giảng và
cuộc sống của họ sẽ thay đổi".
(Tổng hợp theo các tạp chí Mandala và Tricycle từ năm
1995 đến 1997)
20
Lời cuối sách
Chuẩn bị cho một chuyến đi...
C
hết là một sự thật hiển nhiên mà cuối
cùng ai cũng phải đối mặt dù mình có muốn hay là không. Ðó là một
chân lý mà mỗi chúng ta phải ghi nhớ và chấp nhận, để khi nó đến, ta
không còn phải ngạc nhiên, lo âu và sợ hãi. Ôn Như Hầu từng nói:
" Biển khổ mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió
Rốt cuộc rồi trong bể thảm thôi"
Thật vậy trong cái biển khổ mênh mông ấy, chúng ta
chỉ là những "khách trần" lai vãng, đến rồi đi, và nếu chết
vẫn chưa hết, ta sẽ phải tiếp tục trôi lăn trong "biển khổ"
sinh tử luân hồi này. Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu từng nhắc nhở rằng:
"Vô thường già, bệnh, chết không hẹn trước với ta", tức là
cái chết sẽ đến với ta bất cứ giờ phút nào. Một điều quan trọng mà
tất cả chúng ta cần phải khắc trong lòng là sau khi chết, thần thức
của ta sẽ không mất, mà nó được lưu chuyển sang một đời s?ng khác.
Theo giáo lý nhà Phật, sau khi chết nếu ta chưa đạt Ðạo, giác ngộ và
giải thoát, ta sẽ có thể tái sinh, đầu thai vào một trong sáu cõi
giới: Cõi trời, Cõi người, A-tu-la, Ðịa ngục, Ngạ quỹ và Súc Sanh.
Kết quả được thác sanh vào cõi nào đã được ta thiết lập ngay trong
đời sống vừa qua, có nghĩa là trong đời sống hiện tại hôm nay, chính
ta đang tạo dựng một đời sống ngày mai của ta vậy. Do đó chúng ta
phải chuẩn bị mọi thứ cần thiết để có thể mang theo làm hành trang
cho riêng mình trong cuộc hành trình vô tận đang chờ đợi ta ở phía
trước.
Ta phải chuẩn bị điều gì?
Ðó là một câu hỏi lớn, không dễ trả lời. Tuy nhiên,
như ở đầu tập sách này, các bậc Thầy người Tây Tạng đã khuyên dạy
chúng ta rằng: phương pháp tốt nhất để chuẩn bị cho cái chết
là mỗi người nên làm điều lành và tránh làm điều ác trong suốt cuộc
đời mình. Lời dạy này đã cho chúng ta hiểu rằng, tất cả
những nghiệp thiện và nghiệp ác mà mình tạo ra trong suốt cuộc đời,
từ lúc mới sinh đến khi nhắm mắt lìa đời, sẽ là hành trang mà ta sẽ
phải mang theo sau khi ta trút hơi thở cuối cùng ở kiếp này và chính
nó sẽ dẫn dắt chúng ta đi tiếp trong các đời sống vị lai.
Do thấy rõ được cảnh khổ của chúng sinh trong sáu cõi
giới luân hồi này, mà Bồ tát Ðịa Tạng đã hơn một lần nhắc nhở chúng
ta về những quả báo khổ đau mà chúng ta sẽ phải gánh chịu ở tương
lai, nếu ta phạm phải ở kiếp này:
Ngài dạy rõ "Nếu gặp kẻ sát hại loài sinh vật, quả
báo sẽ bị chết yểu; nếu người trộm cướp, sẽ bị quả báo nghèo cùng
khốn khổ; nếu người tà dâm (không chung thủy với vợ hoặc chồng), sẽ
bị quả báo làm chim se sẻ, bồ câu, uyên ương; kẻ nói lời thô ác, sẽ
bị quả báo quyến thuộc hay kình chống nhau; nếu kẻ hay khinh chê, sẽ
bị quả báo không lưỡi hay miệng lở; nếu người thường nóng giận, sẽ
bị quả báo thân hình xấu xí; nếu người có tánh bỏn xẻn, sẽ bị quả
báo cầu muốn không được toại nguyện; nếu người thường tổ chức săn
bắn, sẽ bị quả báo kinh hãi điên cuồng, mất mạng; nếu kẻ trái nghịch
với cha mẹ, sẽ bị quả báo trời đất tru lục; nếu người đốt núi rừng
cây cỏ, sẽ bị quả báo cuồng mê đến chết; nếu cha ghẻ, mẹ ghẻ ăn ở ác
độc, sẽ bị quả báo thác sinh trở lại hiện đời sẽ bị roi vọt; nếu
người dùng lưới bắt chim non, sẽ bị quả báo thân quyến chia lìa; nếu
người hủy báng Tam Bảo, sẽ bị quả báo đui, điếc, câm, ngọng; nếu
người hay khinh chê giáo pháp, sẽ bị quả báo ở mãi trong ác đạo; nếu
kẻ lạm phá của Thường trụ, chùa chiền, sẽ bị quả báo ức kiếp luân
hồi nơi địa ngục; nếu kẻ làm ô nhục người hạnh thanh tịnh và vu báng
Tăng già, sẽ bị quả báo ở mãi trong loài súc sanh; nếu kẻ dùng nước
sôi, hay lửa, chém chặt, giết hại sinh vật, sẽ bị quả báo phải luân
hồi thường mạng lẫn nhau; nếu kẻ phá giới phạm trai, sẽ bị quả báo
làm cầm thú đói khát; nếu người phung phí, phá tổn của cải một cách
phi lý, sẽ bị quả báo tiêu dùng thiếu hụt; nếu kẻ thường tự cao kiêu
mạn, sẽ bị quả báo hèn hạ, bị người sai khiến; nếu kẻ đâm chọc gây
gổ, sẽ bị quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi; nếu kẻ tà kiến hay mê
tín dị đoan, sẽ bị quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh..."
(lược theo Phẩm thứ hai, Kinh Ðịa Tạng, bản dịch của
HT Trí Tịnh).
Nếu ta biết rõ những nguyên nhân và kết quả trên, ta
phải cố gắng tránh tạo những ác nghiệp(tham lam, sân hận, si mê,
giết hại sinh vật, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu...), và nỗ
lực làm những điều thiện (không tham lam, không nóng giận, bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, cúng dường, phóng
sinh...) để đem an lạc, hạnh phúc cho mình và cho người. Bài học
công bằng mà tất cả chúng ta đều thuộc lòng, đó là, nếu mình đem
hạnh phúc cho người, thì mình sẽ được an vui, ngược lại, đem khổ đau
cho người, thì chính mình sẽ chịu sự bất hạnh. Niềm hạnh phúc và an
lạc hoặc sự bất hạnh và khổ đau , đã, đang và sẽ được chính ta tạo
ra và chính ta thừa hưởng ngay trong đời sống này cũng như sau khi
chết.
Những điềm báo trước khi chết:
Những người tu hành đã đắc đạo, họ an lạc, tự tại,
thong dong giữa hai bờ sống chết, họ có thể tái sinh về bất cứ cõi
giới nào họ muốn. Còn chúng sanh mê muội, phàm phu tục tử đều phải
tùy nghiệp mà thọ sanh, tức là sau khi chết, phải chịu sự dẫn dắt
của nghiệp lực mà thọ sanh về cảnh giới thích ứng với nghiệp mà mình
đã gây tạo. Nói vậy không có nghĩa là Phật tử tin vào thuyết định
mệnh, tức là cái đã sắp đặt sẵn mọi chuyện, mình phải đi theo cái có
sẵn ấy. Ở đây, không phải vậy, người Phật tử tin rằng mình là chủ
nhân của chính mình, tuy nhiên, một khi mình không làm chủ được mình
để cho ác nghiệp đã được xảy ra, thì chính cái nghiệp ấy sẽ trở lại
điều khiển mình. Do đó người Phật tử hãy thận trọng trong mọi hành
vi, lời nói và ý nghĩ của mình, từ nơi đó sẽ đưa chúng ta tới an
lạc, và cũng từ nơi đó sẽ đưa chúng ta đến khổ đau.
Theo kinh điển nhà Phật, một người trước khi chết có
những điềm báo trước, có thể tùy theo mỗi người mà có cảm thọ khác
nhau về cảnh giới thiện hay cảnh giới ác, và những điềm này sẽ giúp
cho ta dự đoán được nơi thọ sanh của người quá cố.
w Những điềm lành báo trước sẽ có thể sinh về Tịnh
độ:
Tâm hồn không bị bối rối
Biết trước ngày giờ chết
Tâm niệm chân chánh không mất
Biết trước giờ chết mà tắm rửa và thay quần áo.
Tự mình niệm Phật, niệm có tiếng hoặc niệm thầm
Ngồi ngay thẳng, chắp tay niệm Phật mà chết
Mùi thơm lạ lan tỏa khắp nhà
Có hào quang sáng soi vào thân thể
Nhạc trời vang dội giữa hư không
Tự nói ra bài kệ để khuyên dạy người ở lại.
w Những điềm báo trước sẽ có thể thác sinh lên cõi
trời:
Móng lòng thương mến
Phát khởi thiện tâm
Lòng thường vui vẻ
Chánh niệm được rõ ràng
Thân thể không bị hôi hám
Sống mũi không xiên xẹo
Tâm không giận dữ
Tâm không luyến ái tài sản, vợ, chồng, con, dòng họ
Mắt luôn trong sáng
Ngửa mặt lên trời và mỉm cười
w Những điềm báo trước sẽ có thể tái sinh trở lại cõi
người:
Ðến khi chết vẫn nhớ nghĩ đến điều lành
Thân không đau khổ
Ít nói lời phô trương, thường nghĩ nhớ đến cha mẹ
Tai thường muốn nghe tên họ của anh chị em và bầu bạn
Ðối với việc lành dữ nhận rõ không lầm loạn
Tâm tánh ngay thẳng không ưa sự dua nịnh
Biết rõ bà con bạn bè giúp đỡ cho mình
Thấy bà con trông nom sinh lòng vui mừng
Dặn dò mọi việc trong nhà trước khi chết
Sanh lòng chánh tín, thỉnh Phật, Pháp, Tăng đến đối
diện quy y.
w Những điềm xấu báo trước sẽ có thể đọa vào địa
ngục:
Gặp phải tình trạng con cái và bà con đều nhìn kẻ sắp
chết bằng đôi mắt ghét bỏ
Người sắp chết thường đưa hai tay lên mà rờ mó hư
không
Dù bạn lành có khuyên bảo điều hay cũng không tùy
thuận
Người sắp chết kêu gào than khóc
Ði ra đại tiện, tiểu tiện mà không hay biết
Nhắm nghiền đôi mắt
Thường hay che úp mặt mày
Nằm nghiêng mà ăn uống
Mình mẩy miệng mồm đều hôi hám
Gót chân, đầu gối luôn run rẩy
Sống mũi xiên xẹo
Mắt bên trái hay động đậy
Hai mắt đỏ ngầu
Úp mặt mà nằm
Thân hình co rút và tay bên trái chấm xuống đất
w Những điềm báo trước sẽ có thể thác sinh vào cõi
giới ngạ quỹ:
Ưa liếm môi miệng
Thân nóng như lửa
Thường lo đói khát và hay nói đến việc ăn uống
Mắt thường hay trương lên mà không nhắm
Hai mắt khô khan như mắt chim gỗ.
Ðầu gối bên phải lạnh trước
Tay bên phải thường nắm lại
w Những điềm báo trước sẽ có thể thác sinh vào loài
súc sanh:
Yêu mến vợ con, đắm đuối không bỏ
Ngón tay và ngón chân đều co quắp
Khắp trong thân mình đều toát ra mồ hôi
Tiếng nói ra khò khè
Miệng thường ngậm đồ ăn
w Hộ niệm cho người hấp hối:
Nếu người hấp hối đang ở trong bệnh viện, người thân
nên đến chùa (hoặc điện thoại) thỉnh quý Chư Tăng Ni và Ban Hộ Niệm
đến giường bệnh để tiếp dẫn cho người mất. Nếu gia đình không quen
biết chùa nào, có thể tìm đến khoa Chăm sóc về tinh thần (Pastoral
Care - các tu sĩ, giáo sĩ các Tôn giáo chính, được mời vào làm việc
toàn thời hoặc bán thời tại nơi đây. Phân khoa này cũng có một Trung
Tâm Cầu Nguyện (Worship Center) nằm ngay trong khuôn viên bệnh viện
để cung ứng cho niềm tín ngưỡng của bệnh nhân) ngay trong bệnh viện
đó để nhờ văn phòng này mời quý Thầy đến hộ niệm.
Nếu không cung thỉnh được quý Thầy, Cô đến hộ niệm,
hoặc nhà ở xa chùa, thì có thể mở băng cassette niệm danh hiệu Phật
cho người hấp hối và con cháu trong nhà đứng xung quanh giường bệnh
để niệm lớn câu: Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật,
niệm liên tục cho đến lúc người ấy trút hơi thở cuối cùng, chứ không
được khóc kể, sầu thảm. Nếu cứ khóc than như thế sẽ khiến cho thần
thức của người sắp ra đi quyến luyến mãi không rời khỏi thân xác,
hoặc nếu có rời khỏi thi thể thần thức người ấy vẫn quanh quẩn trong
nhà chứ không thể siêu thoát được. Một người thân hoặc người lớn
tuổi trong gia đình nên đến bên cạnh người hấp hối nhắc nhở họ về
nguyên lý vô thường: "
Cõi đời là huyễn ảo, vô thường, mọi sự vật hiện
tượng sinh rồi diệt, hội họp rồi chia ly, xin người đừng quyến luyến
nữa, hãy xả bỏ tất cả và ra đi trong thanh thản".
Sau khi người bệnh vừa tắt thở: người thân nhất nên
điều chỉnh thi thể trở lại cho ngay ngắn, mọi động tác đều phải thật
nhẹ nhàng, tránh đụng chạm mạnh đến thi thể, vì lúc ấy thần hồn của
người chết chưa ra khỏi thi thể, dễ có cảm giác đau đớn và khó chịu,
chính sự khó chịu ấy sẽ khiến cho thần thức của người thác sinh vào
cõi ác xấu. Cho nên phải cố gắng càng hạn chế chạm đến thi thể người
vừa tắt thở càng tốt. Ba hoặc năm tiếng đồng hồ sau khi tắt thở, gia
đình có thể dùng nước ấm, nước hoa hoặc rượu cồn (alcohol) để tắm
cho người chết và thay quần áo mới. Tất cả nữ trang phải được tháo
ra, để ngăn ngừa kẻ tham lam có thể xâm phạm đến tử thi. Nếu là tín
đồ Phật giáo nên mặc lót bên trong một bộ đồ màu trắng, mới và sạch,
bên ngoài mặc áo tràng màu nâu hoặc màu lam và đắp một cái mền Quang
Minh bên trên.
w Tang sự:
Lễ tang được bắt đầu sau khi người thân của mình qua
đời, có nhiều việc cần thiết phải làm. Những người có trách nhiệm
phải thật bình tĩnh mới có thể giải quyết được công việc. Nếu người
mất theo tín ngưỡng nào thì nên tôn trọng niềm tin của họ mà tổ chức
tang lễ theo nghi thức của tôn giáo ấy. Riêng Phật tử, nên tổ chức
theo nghi lễ của Phật giáo. Nghi lễ này được diễn ra gọn gàng, đơn
giản, trang nghiêm, ít tốn kém, và không theo tập tục mê tín của thế
gian, như đốt vàng mã, lầu đài, nhà kho...
Công việc đầu tiên là một hay hai người trong gia
đình phụ trách liên lạc với quý Thầy để chọn ngày giờ thích hợp cho
việc tẩm liệm, phát tang, di quan và an táng, một mặt liên lạc với
Sở Mai táng, để lo mua quan tài, đặt xe tang, nơi an táng... Những
người còn lại trong gia đình chia nhau mỗi người mỗi việc, thông báo
cho thân nhân ở xa, viết cáo phó gởi báo, đài, quét dọn nhà cửa, bàn
thờ Phật, Tổ Tiên, sắm sửa đèn nến, hương hoa, trang hoàng bàn vong
để thờ phụng người quá cố.
Bàn thờ Phật cần được trần thiết trang nghiêm với một
hình hoặc tượng Phật đặt ngay ngắn ở giữa, hai chân đèn, lư hương,
đĩa trái cây, bình hoa, hai ly nước trong...
Bàn thờ Vong, cũng phải trang hoàng cho đẹp đẽ với
cặp chân đèn, đĩa trái cây, bình hoa, ba ly nước, một bài vị (gồm có
tên tuổi, ngày sinh, ngày mất) do Thầy viết. Và đặc biệt là di ảnh
của người chết, phải chọn một tấm hình đẹp, rõ ràng của người quá cố
để thờ.
w Tẩm liệm, phát tang, cúng cơm và an táng:
Ðến thời điểm thích hợp đã định trước, quý Thầy Cô,
ban Hộ Niệm cùng tang quyến và bạn bè thân hữu vân tập trước bàn thờ
Phật để tụng Kinh và cầu nguyện cho vong linh người quá cố. Sau khi
nắp quan tài đậy lại là lễ Phát tang (còn gọi là lễ Thành phục).
Tất cả con cháu đều quỳ ngay thẳng trước linh đài của người mất. Quý
Thầy tụng Kinh và sái tịnh vào khăn tang, rồi phát tang cho tang
quyến. Mỗi người đều lạy hai lạy và nhận chiếc khăn màu trắng, rồi
chít khăn lên đầu và mặc quần áo tang.
Theo tục lệ truyền thống, người con gái chỉ đeo khăn
tang, quần tang mà không có áo. Người con rể, chỉ quấn khăn tang là
đủ. Riêng hàng cháu, chắt, trên khăn tang có đính thêm một miếng vải
nhỏ hình tròn màu xanh hay màu đỏ tùy theo bên nội và bên ngoại. Vợ
chồng để tang cho nhau, chỉ cần bịt một khăn tang là đủ.
Sau khi lễ phát tang là lễ cúng cơm (tiến linh).
Tất cả nên cúng thức ăn chay, cúng nước trà thay vì cúng rượu. Tiếp
đó là lễ tụng kinh cầu siêu cho hương linh. Trong tang lễ, phần quan
trọng nhất là tụng kinh cầu nguyện cho thần hồn người chết siêu
thoát, chứ không phải chú trọng về hình thức cúng kiến, đờn trống,
nhạc Tàu, nhạc Tây.... Những hình thức bề ngoài chỉ cốt để làm nở
mặt nở mày của tang quyến đối với người ngoài, chứ không ảnh hưởng
gì đến thần thức người quá cố.
Ðến ngày an táng linh cữu, tang quyến cùng bè bạn
thân hữu cùng quý Thầy Cô và ban Hộ niệm tiễn đưa linh cữu đến nơi
an táng (địa táng hay hỏa táng
tùy theo sự chọn lựa của người quá cố), tất cả nên thành tâm
niệm Phật để tiếp dẫn vong linh đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Sau lễ an táng, chủ nhà rước vong linh về nhà hoặc
chùa để làm lễ An Sàng, tức là lễ an vị vong linh và di ảnh của
người quá cố. Có nhiều người hiểu lầm lễ này gọi là lễ ăn sàng, nên
bắt buộc tang quyến phải tổ chức tiệc tùng để được ăn uống. Ðây là
một sự thật đáng buồn.
Sau lễ An sàng, là cúng tuần thất (7 ngày sau khi qua
đời), cúng Bách nhật (100 ngày), cúng Tiểu tường (giáp năm,
365 ngày) và cúng Ðại tường (ba năm xả tang, còn gọi là mãn tang hay
mãn khó, tức là đúng 1095 ngày), rồi từ đó mỗi năm cúng lễ giỗ tưởng
niệm (cúng đúng vào ngày mất gọi là Chánh kỵ, trước ngày mất gọi là
Tiên Thường). Và nếu gia đình tang quyến có điều kiện nên tổ chức lễ
Trai Tăng cúng dường, bố thí, phóng sanh các loài vật, đi lễ Phật và
cúng dường 10 chùa, để hồi hướng công đức ấy cho vong linh người quá
cố, giúp họ tái sinh vào cõi giới an lành.
Tóm lại, theo giáo lý nhà Phật, chết chưa phải là hết
mà còn nhiều vấn đề khác nữa, nếu người quá cố chưa giác ngộ giải
thoát, chưa giải quyết được vấn đề sinh tử ngay trong kiếp sống hiện
tại này, thì còn vô số đời sống khác đang đợi chờ họ ở phía sau.
- HẾT -