Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Giảng Ký
Hán văn: Pháp sư Thích Diễn Bồi
Việt dịch: Sa môn Thích Trí Minh
-o0o-
B.2. ÐÀM KHINH GIỚI TƯỚNG (tuyên
thuyết các tướng trạng của giới khinh)
B.2.1. TỔNG TIÊU KHINH GIỚI (Nêu
tổng quát các giới khinh)
Kinh văn:
1. Phiên
âm:
Câu “Phật cáo chư Bồ Tát ngôn: - Dĩ thuyết thập
Ba La Ðề Mộc Xoa, cánh tứ thập bát khinh kim
đương thuyết”.
2. Dịch nghĩa:
Ðức Phật bảo các vị Bồ Tát rằng:
“Trước đã giảng mười giới trọng rồi, nay ta sẽ
nói về bốn mươi tám giới khinh”.
Lời giảng:
Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới này do Ðức Phật chế
lập và được chia thành hai phần lớn: mười giới
trọng và bốn mươi tám giới khinh.
Giảng đến đây, Ðức Phật lại bảo các vị Bồ Tát
rằng: “Từ trước đến nay, ta đã vì quý vị giảng
nói mười pháp Ba La Ðề Mộc Xoa rồi. Giờ đây, ta
sẽ tiếp tục vì quý vị giảng nói bốn mươi tám
giới khinh”.
Có người hỏi:
Sự quan trọng của mười giới trọng là ngăn cấm
một cách triệt để nghiêm mật, đó là điều dĩ
nhiên, không có gì phải nói. Còn nói bốn mươi
tám giới khinh thì không quan trọng gì lắm,
nhưng vì sao Ðức Phật lại phải chế lập?
Nên biết bốn mươi tám giới khinh sắp giảng, vừa
mới xem qua thì dường như không quan hệ gì lắm.
Nhưng Ðức Phật vì muốn đề phòng sự chê bai bàn
luận của thế gian, có thể xảy ra, nên phải chế
lập. Vì có những việc, về phía người thế tục làm
thì không ai chỉ trích, phê bình gì. Nhưng nếu
một vị Bồ Tát làm thì mọi người sẽ chê bai, phê
bình rằng: Bồ Tát sao lại làm như thế? Như thế
là trái với tinh thần của Bồ Tát v.v... Vì muốn
ngăn chặn sự chê bai, bình luận ấy nên Ðức Phật
phải chế lập bốn mươi tám giới khinh này.
Hơn nữa, có những việc mới xem qua rất là nhỏ
nhặt, nhưng nếu thường làm, sẽ từ việc nhỏ mà
thành việc to, từ giới khinh mà thành giới
trọng. Dần dần đi đến chỗ vi phạm vi phạm mười
giới trọng. Vì thế, để ngăn chặn trước những
nhân vi tế dần dà thành đại sự, vì muốn tạo
những phương tiện phòng xa để hỗ trợ sự tuân giữ
giới trọng được nghiêm cẩn, nên Ðức Phật phải
chế lập những điều giới khinh này.
Có người cho rằng: Bồ Tát không câu chấp tiểu
tiết và cái gì cũng đều có thể dễ dãi chấp
thuận, cho phép hành động. Quan niệm ấy hoàn
toàn sai lầm. Vì nói đúng theo đạo lý, Bồ Tát
nhập thế độ sanh, thân tâm cũng như mọi hành vi
đều phải theo đúng quy củ, hầu nêu gương mẫu cho
chúng sanh. Tuyệt đối không được tùy tiện tự ý
hành động. Cả đến niệm tưởng rất vi tế trong nội
tâm cũng phải diệt trừ cho sạch hết. Vì thế nên
Ðức Phật đặc biệt vì Bồ Tát chế lập bốn mươi tám
giới khinh này.
Bồ Tát nếu giữ gìn giới khinh này được hoàn toàn
thanh tịnh, chẳng những làm rạng rỡ cho đạo pháp
xuất thế của Bồ Tát, mà còn giúp sự tăng trưởng
của Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát, cho nên đối với
bốn mươi tám giới này, Bồ Tát tuyệt đối không
được xem thường.
Sở dĩ gọi là khinh giới, trọng giới, giải thích
theo danh từ:
- Khinh là nhẹ.
- Trọng là nặng.
Trong kinh Thiện Giới và Ðịa Trì đều gọi là giới
khinh là Ðột Kiết La.
Ðột Kiết La là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Ác
Tác Ý, việc làm không hợp với đạo lý gọi là Ác
Tác. Theo luật Tứ Phần thì Ðột Kiết La chỉ về
hai nghiệp thân và khẩu. Việc làm của thân
nghiệp không hợp với đạo lý thì gọi là Ác Tác.
Việc làm của khẩu nghiệp không hợp đạo lý thì
gọi là Ác Thuyết.
Trong kinh Thiện Sanh lại gọi Ðột Kiết La là tội
Thất Ý, tức là tội ác do trái với bổn tâm, quên
mất chánh niệm mà làm ra thành tội.
Tội khinh cấu có thể phân làm 3 loại:
1. Tùng
sanh khinh cấu: tội này từ nơi giới trọng mà
phát sanh nên gọi là “tùng sanh”, nghĩa là khi
thực hành mười giới trọng chưa thành tựu viên
mãn, lại phát sanh tội phương tiện trước khi
làm, nên gọi là “tùng sanh” hay khinh cấu.
2. Ðộc
đầu khinh cấu: tội này không phải từ các
giới trọng phát sanh, chỉ do đơn độc một mình nó
sanh khởi, nên gọi là “độc đầu khinh cấu”.
3. Căn
bổn khinh cấu: tức bốn mươi tám giới khinh
trong kinh này nói và chia làm ba loại khác
nhau:
- Tùng sanh khinh cấu: tức là trước khi phạn căn
bổn khinh cấu, đã sanh khởi tất cả các phương
tiện nên gọi là “tùng sanh khinh cấu”.
- Cố ý phạm: do phiền não nội tâm phát động mà
phạm tội, gọi là “nhiễm ô phạm”, thuộc về căn
bổn khinh cấu. Phạm tội trong trường hợp này
phải sám hối theo tội Ðột Kiết La.
- Lầm phạm: Nếu do tâm giải đãi, biếng lười hay
vô ký mà sanh khởi thì gọi là “lầm phạm”, không
phải “nhiễm ô”. Cần phải sám hối theo cách thức:
Ðột-kiết-la trách tâm (Sám hối tội Ðột Kiết La
nghĩa là hình thức đối trước một vị Bồ Tát đã
xuất gia để xin sám hối những tội lỗi của mình
đã gây tạo. Còn sám hối tội Ðột Kiết La trách
tâm là tự mình sám hối bằng cách tự trách tâm
của mình, khỏi phải đối trước người khác xin sám
hối).
Giới khinh:
- Kinh Phạm Võng có bốn mươi tám giới.
- Kinh Du Già, kinh Trì Ðịa chỉ có bốn mươi ba
giới. Kinh Bồ Tát Thiện Giới dù có phần tăng
giảm nhưng đại thể vẫn đồng với Du Già.
- Riêng kinh Ưu Bà Tắc chỉ có hai mươi tám giới
v.v...
Các bộ Bồ Tát Giới Bổn, số lượng các giới khinh
nhiều, ít không nhất định. 48 giới khinh trong
kinh Phạm Võng này, có giới thì các bổn đều đủ;
có giới thì các bổn khác lại không có. Có những
giới văn tự bất đồng, nhưng thể loại thì giống
nhau. Có giới ở bổn này mang tính chất khai
triển, nhưng trong bổn khác lại hợp nhất. Có
giới trong bổn này nói sơ lược, nhưng trong bổn
khác lại rất chi tiết v.v... Sự bất đồng này do
ứng cơ mà có sự khác biệt như vậy, không nên căn
cứ theo một bên mà bình luận.
Thật sự mà nói, giới khinh nhiều đến vô lượng vô
biên, không thể tính kể được. Các kinh đề cập
đến nhiều hay ít, chẳng qua là chỉ khái lược một
khía cạnh nào đó mà thôi.
Kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp nói: “Ðúng sự thật mà
nói thì tám muôn bốn ngàn oai nghi đều gọi là
giới khinh, chứ không nêu riêng từng điều hoặc
từng giới tướng”.
Ðiều cần phải biết là bốn mươi tám giới khinh
trong kinh này, kinh Pháp Tạng Giới Bổn Sớ,
quyển bốn, thuyết minh như sau: “Có giới cố
nhiên thuộc về giới khinh, có giới nội dung bao
gồm cả hai tính chất khinh lẫn trọng. Tính ra có
hơn sáu điều”. Việc này phần sau sẽ giảng giải
rõ ràng.
B.2.2. BIỆT THUYẾT KHINH GIỚI (riêng
giảng các giới khinh)
B.2.2.1.
BẤT KÍNH SƯ HỮU GIỚI (giới
không kính thầy - bạn)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử nhược thọ quốc vương vị
thời...” cho đến câu “nhược bất nhĩ giả, phạm
khinh cấu tội”.
2. Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử lúc sắp lãnh ngôi quốc vương, ngôi
Chuyển Luân Vương, hay sắp lãnh chức quan, trước
nên thọ giới Bồ Tát. Như thế tất cả quỷ thần sẽ
cứu hộ thân vua và thân các quan. Chư Phật cũng
đồng hoan hỷ.
Khi đã đắc giới rồi, Phật tử nên có lòng cung
kính. Nếu thấy có bực thượng tọa, hòa thượng, a
xà lê, những bậc đại đức đồng học, đồng kiến,
đồng hạnh đến nhà, phải đứng lên tiếp rước, lạy
chào, hỏi thăm. Mỗi sự đều đúng như pháp dạy mà
cúng dường, hoặc tự bản thân cho đến quốc thành,
con cái, cùng bảy thứ báu, trăm vật để cung cấp
cho các bậc ấy. Nếu Phật tử lại sanh lòng kiêu
mạn, sân hận, ngu si, không chịu tiếp rước, lạy
chào. Cho đến không chịu y theo pháp mà cúng
dường. Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Ðương
thời, Ðức Phật ở trước đại chúng dạy như vầy:
Nếu làm một vị Phật tử trong hàng học Phật tại
gia, trong lúc sắp lãnh ngôi quốc vương, hoặc
giả lúc lãnh ngôi Chuyển Luân Vương, hoặc là bá
quan văn võ, lúc thọ lãnh chức vụ, việc duy nhất
và tối yếu là trước nhất nên thọ giới Bồ Tát.
Quốc Vương là vị thủ trưởng hành
chánh tối cao, có quyền thống lãnh nhân dân như
các chức vị Tổng Thống, Chủ Tịch, Quốc Trưởng...
trong các quốc gia hiện nay.
Chuyển Luân Vương là vị thánh vương,
ngự trên kim luân, đi giáo hóa chúng sanh (Kim
Luân là chiếc xe của Chuyển Luân Vương bằng vàng
ròng). Chuyển Luân Vương có bốn loại:
1. Kim Luân Vương: có oai đức chấn động 4 châu.
2. Ngân Luân Vương: có oai đức chấn động 3 châu.
3. Ðồng Luân Vương: có oai đức chấn động 2 châu.
4. Luân Vương: có oai đức chấn động 1 châu.
“Bá quan” là toàn thể các quan văn võ, cấp bậc
lớn nhỏ không đồng, giúp vị nguyên thủ quốc gia
giáo hóa thống nhiếp nhân dân, như bộ trưởng,
tỉnh trưởng, quận trưởng... hiện nay.
Các vị Quốc Vương, Chuyển Luân Vương... có bổn
phận trực tiếp giáo hóa cai trị nhân dân, có
quan hệ mật thiết với nhân dân. Nếu các vị ấy là
bậc hiền minh, biết thương dân yêu nước, xem dân
chúng như con mình, ở đâu cũng vì nhân dân, nghĩ
suy phương cách làm cho nhân dân được yên vui,
lúc nào cũng mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, thì
nhân dân sẽ được lợi ích rất lớn.
Ngược lại, nếu các vị ấy là người cường bạo, xem
nhân dân như kẻ thù, coi trăm họ như rơm rác, cỏ
cây, lúc nào cũng chuyên bóc lột nhân dân, ở đâu
cũng hà hiếp dân chúng, làm cho họ bị điêu đứng,
lâm vào cảnh dầu sôi lửa bỏng thì dân chúng sẽ
bất lợi muôn phần.
Do đó, vào thời quân chủ, người dân luôn khao
khát có được những bậc thánh quân, hiền thần
xuất hiện. Nhưng muốn làm một vị thánh quân hay
hiền thần, điều kiện tối yếu là hành vi của bản
thân mình cần phải hết sức kiện toàn.
Vì thế trước nên thọ giới Bồ Tát để được thấm
nhuần giới hạnh. Nhờ đó sẽ thương yêu giúp đỡ
nhân dân, sẽ trở thành một vị lãnh tụ muôn dân
đều kính mến ủng hộ. Quốc gia nhờ đó được cảm
ứng điềm lành như phong điều vũ thuận, nhân dân
được an cư lạc nghiệp. Từ vua quan đến nhân dân
đều sống trong không khí thái hòa thạnh trị.
Quốc vương, đại thần khi đã thọ giới Bồ Tát, nhờ
nơi sức oai đức của tịnh giới, phước đức sẽ cảm
hóa được tất cả quỷ thần, cho nên mới được chư
thiện thần hộ pháp đến cứu hộ thân vua, giúp cho
thân tâm quốc vương được vui vẻ, khang kiện,
vĩnh viễn hộ trì địa vị tôn quý của quốc vương,
tránh khỏi họa xâm lăng của nước ngoài. Ðồng
thời thân của bá quan cũng được sự hộ vệ của hộ
pháp thiện thần, chẳng những thân thể của họ
được khang kiện, tinh thần được thư thái an lạc,
lại được tăng gia quan chức, mọi việc đều thuận
lợi.
Trong kinh nói người Phật tử thọ trì năm giới sẽ
được sự ủng hộ của hai mươi lăm vị thiện thần,
tức là mỗi giới sẽ có năm vị thiện thần ủng hộ.
Thọ trì ngũ giới còn được như vậy, huống chi thọ
giới Bồ Tát, dĩ nhiên được sự ủng hộ của chư Bồ
Tát thiện thần.
Giới Bồ Tát là bổn nguyên của chư Phật, các ngài
luôn mong muốn mọi người đều bẩm thọ giới này.
Hiện tại quốc vương, đại thần đã phát tâm Bồ Ðề,
phát nguyện thọ giới này, khiến cho Quang Minh
Kim Cương Bửu Giới được miên viễn không đoạn
tuyệt. Thế nên chư Phật tự nhiên sanh tâm đại
hoan hỷ, vì hiện tại phước đức tăng trưởng,
tương lai diệu quả được chắc chắn thành tựu.
Bồ Tát giới gồm cả hai chúng xuất gia và tại
gia, luôn cả những người có đủ tư cách thọ Bồ
Tát giới. Nhưng tại sao ở đây chỉ đề cập đến các
vị quốc vương, chuyển luân vương và bá quan?
- Chúng xuất gia đối với sư trưởng, huynh đệ,
rất ít khi sanh tâm kiêu mạn, bất kính, nên ở
đây không đề cập đến hàng Bồ Tát xuất gia.
- Bồ Tát tại gia thì rất dễ sanh tâm kiêu mạn,
nhất là những người có địa vị cao quý đặc biệt
như quốc vương, đại thần v.v... đều tự cho mình
là cao tột, mọi người đều phải cung kính, tôn
trọng và họ không có ý nguyện tự thân phải cung
kính tôn trọng mọi người. Vì lẽ ấy, Phật đặc
biệt dạy hàng quốc vương, đại thần phải thọ giới
Bồ Tát đầu tiên.
- Hàng thứ dân, thông thường họ đều bắt chước
những việc làm của người bề trên như quốc vương,
đại thần, bá quan... Nếu người bề trên thực
hành, dân chúng tự nhiên sẽ tùy thuận thực hành
theo. Vì thế nên nơi đây cũng chẳng những không
đề cập chúng Phật tử tại gia, mà luôn cả những
hạng bình dân đều không nói đến. Vì nhân dân đã
được hàm nhiếp trong ảnh hưởng của quốc vương và
bá quan.
Khi đã thọ giới rồi, người thọ giới đương nhiên
là “đắc giới thể”. Như thọ Ngũ Giới thì đắc giới
thể của Ngũ Giới. Thọ Thập Giới thì đắc giới thể
của Thập Giới. Hiện tại thọ Bồ Tát giới thì đắc
giới thể của Bồ Tát giới.
Như đã nói trước đây, khi đắc giới sẽ được chư
thiện thần, hộ pháp hộ vệ và chư Phật hoan hỷ.
Do đâu mà được sự lợi ích ấy? Không phải do sự
khuyên răn, dạy bảo của thầy, bạn mà được hay
sao?
Nếu không có sự khuyên răn, dạy dỗ của thầy, bạn
thì làm sao được giới và đắc giới thể. Cũng như
làm sao được sự lợi ích thù thắng như trên? Cứ
triển chuyển suy luận thì có thể nói tất cả lợi
ích thù thắng hoàn toàn do nơi thầy, bạn ban cho
mình.
Thầy bạn đã ban cho chúng ta sự lợi ích vĩ đại
như thế, chúng ta cần phải biết ơn đức và đền
trả ân đức. Ðối với thầy, bạn phải sanh tâm hiếu
thuận và cung kính.
Cha mẹ sanh thành, dưỡng dục xác thân của chúng
ta. Chúng ta cần phải hiếu thuận với song thân.
Ðây là sự thật mọi người đều biết.
Sư trưởng truyền trao giới pháp cho chúng ta,
sanh trưởng Pháp Thân của chúng ta, là bậc phụ
mẫu Pháp Thân của chúng ta. Thế nên, chúng ta
cũng phải hiếu thuận với sư trưởng cũng như đối
với cha mẹ, không được trái nghịch mảy may.
Thiện hữu giúp đỡ chúng ta, ủng hộ mọi việc và
khích lệ trên đường tu học, khiến cho đạo nghiệp
hoặc huệ nghiệp của chúng ta được tăng trưởng
liên tục, cũng như vị huynh trưởng trong gia
đình thế tục. Vì vậy, chúng ta phải hết lòng
cung kính, xem họ như bậc huynh trưởng trong gia
đình, không nên có chút tâm niệm kiêu ngạo.
Nếu có đủ lòng cung kính và hiếu thuận như vậy,
mới gọi là Phật tử chân chánh, nghĩ đến Phật
pháp mà nhập đạo.
Nho gia có câu: “Thành ư trung, hình ư ngoại”
(lòng thành kính có ở trong tâm sẽ hiện hình
tướng bên ngoài). Nếu chỉ có lòng hiếu thuận
cung kính bên trong mà không thể hiện thái độ
bên ngoài thì cũng không hoàn toàn là sự cung
kính.
Do đó, Phật dạy phải có thái độ lễ mạo bên
ngoài: “Thấy thượng tọa phải đứng dậy, tiếp
rước, lạy chào, hỏi thăm. Thấy hòa thượng phải
đứng dậy, tiếp rước, lạy chào, hỏi thăm. Thấy A
Xà Lê phải đứng dậy, tiếp rước, lạy chào, hỏi
thăm. Cho đến thấy những bậc đại đức đồng kiến,
đồng hạnh, cũng đều phải đứng dậy, tiếp rước,
lạy chào, hỏi thăm”.
Thượng Tọa là đối với Hạ Tọa mà nói. Chức vị này
ở trong chúng xuất gia của Phật giáo phân biệt
rất là nghiêm cách. Kinh Tỳ Ni Mẫu thuyết minh:
“Các vị xuất gia từ bậc chưa có hạ nào đến khi
có chín hạ được liệt vào Hạ Tọa; từ mười hạ đến
mười chín hạ là Trung Tọa; từ hai mươi hạ đến
bốn mươi chín hạ là Thượng Tọa; từ năm mươi hạ
trở lên hàng trưởng lão kỳ cựu, tất cả sa môn,
quốc vương đều phải tôn kính”.
Nói theo giới luật, phải thọ Cụ Túc hai mươi hạ
trở lên mới có tư cách là Thượng Tọa, hai mươi
hạ trở xuống gọi là Trung Tọa, mười hạ trở xuống
gọi là Hạ Tọa. Hàng Hạ Tọa phải lễ bái Trung
Tọa, Trung Tọa phải lễ bái Thượng Tọa.
Ðồng là Thượng Tọa, nhưng lại chia ra mấy loại
như sau:
1. Sanh niên Thượng Tọa: vị niên kỷ đã cao, như
hai mươi tuổi thọ Cụ Túc giới, ở trong tăng đoàn
trải qua mấy mươi năm, nay tuổi đã năm mươi, sáu
mươi, hoặc bảy mươi, tám mươi. Vị này không có
chi đặc sắc, nhưng vì tuổi tác cao, hạ lạp nhiều
nên được suy tôn Thượng Tọa.
2. Phước đức Thượng Tọa: vị này không căn cứ vào
niên kỷ lớn nhỏ. Do pháp duyên hưng thạnh (nhân
duyên hoằng truyền Phật pháp được lan rộng),
phước báo rất lớn, đến nơi nào cũng được hàng
Phật tử ủng hộ, kính trọng. Tùy theo nơi nào
thuận lợi cũng đều có thể kiến lập đại đạo
tràng, để có chỗ cho hàng Phật tử lễ bái, cúng
dường, tu phước. Vì thế nên được suy tôn là
phước đức Thượng Tọa.
3. Trí huệ Thượng Tọa: vị này cũng không phân
biệt theo niên kỷ già trẻ, lớn nhỏ. Vị này hai
mươi tuổi thọ Cụ Túc, vì trí huệ cao siêu nên
lảu thông Tam Tạng Thánh Giáo rất nhanh, đến đâu
cũng hoằng dương Phật pháp, tiếp dẫn nhân quần
tín phụng Phật pháp, nên được suy tôn là trí huệ
Thượng Tọa.
4. Pháp tánh Thượng Tọa: đây là bậc thánh nhân
đã chứng ngộ pháp tánh, đắc thành quả La Hán, là
bậc Thượng Tọa thù thắng nhất trong các thượng
tọa.
Bất luận Thượng Tọa thuộc loại nào, chỉ cần thấy
chư vị từ nơi khác đến, chúng ta phải liền đứng
dậy ra ngoài nghinh tiếp, dắt vào điện Phật. Sau
khi Thượng Tọa lễ Phật xong, nên đến trước quý
ngài lễ bái, sau đó hỏi thăm: “Thượng Tọa đi
đường có khổ nhọc lắm không? Tứ đại khinh an hay
không? Chúng sanh dễ độ không?” Những cử chỉ như
thế là biểu lộ lòng hiếu thuận cung kính.
Ðối với bậc Thượng Tọa như thế, lúc thấy Hòa
Thượng cũng thực hành như vậy.
Hòa Thượng còn gọi là Ô Bà Ða Gia, là phiên âm
theo tiếng Ấn Ðộ, Trung Hoa dịch là Lực Sanh.
Hòa Thượng có ba loại:
- Hòa Thượng truyền Thập Giới.
- Hòa Thượng truyền Cụ Túc Giới.
- Hòa Thượng truyền Bồ Tát Giới.
Hòa Thượng truyền Bồ Tát Giới chính là chư Phật.
Cho nên hai chữ Hòa Thượng trong Phật pháp là
một địa vị rất tôn trọng, không phải bất cứ
người nào cũng có thể tùy tiện xưng hô. Nhiều
người không hiểu ý nghĩa chữ Hòa Thượng, rồi cho
rằng Hòa Thượng không có ý nghĩa gì quan trọng
cả, thật là sai lầm rất lớn.
Hòa Thượng dịch là Lực Sanh, ý nói năng lực của
Thầy có thể sanh trưởng các công đức cho mình,
nên gọi là Lực Sanh. Về việc thọ giới thì nhờ
năng lực thọ giới nơi thầy mà sanh trưởng Pháp
Thân vô lậu diệu giới cho mình. Ðây là một việc
rất khó được và đáng tôn quý biết dường nào! Cho
nên Hòa Thượng là danh xưng rất tôn trọng, không
nên xem thường và không nên kêu gọi trong hàm ý
khinh thị.
A Xà Lê còn gọi là A Giá Lê Gia, có năm loại:
- Yết Ma A Xà Lê.
- Giáo Thọ A Xà Lê.
- Tôn Chứng A Xà Lê.
- Thọ Kinh A Xà Lê (giảng dạy kinh, luật, luận).
- Y Chỉ A Xà Lê (bậc thầy mình nương theo để tu
học).
Luật dạy rằng:
“Sa Di không được xa thầy một đêm, tỳ kheo đủ
năm hạ, có trí huệ, thông hiểu kinh luật mới
được lìa Thầy. Nếu là người độn căn phải suốt
đời nương theo Thầy”.
A Xà Lê: Trung Hoa dịch là Quỹ Phạm Sư, nghĩa là
vị thầy có khả năng dạy bảo, dẫn dắt chúng ta
những oai nghi, cử chỉ cần phải thực hành. Dạy
chúng ta những gì nên làm hoặc không nên làm.
Dạy chúng ta nhận thức những ý nghĩa sâu nhiệm
trong Phật pháp để tu hành. Ðịa vị A Xà Lê đồng
với vị Giáo Giới Sư, trong phần sau sẽ giảng rõ.
Ðại đức: danh xưng thông thường của chúng xuất
gia, biểu thị chúng xuất gia là người có công
đức rất lớn.
Ðồng học: chỉ những người đã thọ giới Bồ Tát,
những người cùng học chung một thầy, học tập đạo
pháp xuất thế, học tập Bồ Tát Tạng.
Ðồng kiến: chỉ những người thọ Bồ Tát giới, có
cùng tư tưởng, kiến giải, và cùng lấy pháp Ðại
Thừa Bồ Tát Tạng làm tư tưởng, kiến giải cho
mình.
Ðồng hạnh: chỉ những người thọ giới Bồ Tát, cùng
thực hành Bồ Tát đạo, và hành vi đạo đức giống
nhau.
Nếu lúc trông thấy bất cứ vị đại đức nào hay các
vị đồng học, đồng kiến, đồng hạnh... đến chỗ
mình, phải liền đứng dậy tiếp rước, lạy chào,
hỏi thăm, thể hiện tâm hiếu thuận, và cung kính
một cách cụ thể, không nên có thái độ lơ là,
biếng nhác, dù chỉ thể hiện một cách hết sức vi
tế.
Tất cả những điều nói trên hợp lại đầy đủ ba
nghiệp kiền thành:
- Tâm hiếu thuận là ý nghiệp kiền thành.
- Ðứng dậy, tiếp rước, lạy chào là thân nghiệp
kiền thành.
- Hỏi thăm là khẩu nghiệp kiền thành.
Dùng ba nghiệp thanh tịnh kiền thành như vậy để
tôn trọng sư trưởng, cung kính thiện hữu là
những lễ mạo và thái độ của người Phật tử nên có
khi thực hành Bồ Tát đạo.
Là một vị Bồ Tát phát Bồ Ðề tâm, từ tâm tưởng
bên trong đến thái độ biểu hiện bên ngoài, đều
phải y theo lời Phật dạy như trên để thực hành.
Nếu những trường hợp cần sanh tâm hiếu thuận mà
không khởi tâm hiếu thuận, lại thêm sanh khởi
tâm kiêu mạn, tâm si, tâm sân...
Hoặc cần sanh tâm cung kính mà không có tâm cung
kính, trái lại khởi tâm kiêu mạn v.v... (bổn
Việt văn dịch: “Nếu Phật tử lại sanh lòng kiêu
mạn, sân hận, ngu si”).
Hoặc trường hợp cần phải đứng dậy tiếp rước, lạy
chào, nhưng trái lại không đứng dậy, tiếp rước,
lạy chào hoặc cần phải mỗi việc nhất nhất đúng
theo pháp cúng dường mà trái lại mỗi việc không
đúng như pháp cúng dường... Như thế đều không
đúng với tư cách một vị Bồ Tát.
Kiêu tâm: đối với bề trên không có tâm cung
kính, hoặc tự tôn, tự đại, cho mình là hơn hết.
Mạn tâm: sanh tâm xem rẻ những người khác, hoặc
với những người ngang hàng, lại tự cho mình cao
hơn một bực, gọi là mạn tâm.
Tâm kiêu mạn: thứ tâm lý làm trở ngại sự hướng
thượng của mình. Ðối với Thầy, bạn, tâm không
cung kính là việc không nên. Nếu trong tâm có
một niệm kiêu mạn chừng mảy may, thì không thể
chân thành cung kính thầy, tôn trọng bạn và tăng
trưởng công đức cho mình.
Nên cổ đức có dạy:
Ngã mạn cao sơn,
Bất sanh đức thủy.
Dịch:
Nước ngã mạn cao chọc trời,
Không thể nào sanh được nước công đức.
Si tâm: tâm kém thiếu về trí huệ, nên khi thấy
bậc thánh nhân không sanh lòng cung kính, thấy
người hiền, không chịu thân cận, thậm chí đối
với bậc thánh, bậc hiền, cũng không thể phân
biệt được ai thánh, ai hiền.
Sân tâm: trong lòng ôm ấp niệm sân hận. Thầy,
bạn vì muốn cho mình nên người nên lúc răn dạy
có phần nghiêm khắc, liền sanh tâm niệm bất mãn
cực điểm, nên luôn cảm thấy buồn giận trong
lòng. Vì nội tâm mang những tâm ý không chánh
đáng như thế nên khi thấy thầy, bạn đến, không
đứng dậy, tiếp rước, cũng không lạy chào hoặc
hỏi thăm.
Kiêu tâm, mạn tâm, si tâm, sân tâm, bốn thứ này
thuộc về ý nghiệp.
Không đứng dậy, tiếp rước, lạy chào thuộc thân
nghiệp.
Không hỏi han về sinh hoạt của thầy bạn thuộc về
khẩu nghiệp.
Dùng ba nghiệp không thanh tịnh ấy đối đãi với
thầy bạn thì dù có đem tứ sự cúng dường như thức
ăn uống, y phục, đồ nằm, thuốc men cũng không
phải đúng như pháp dạy, không có giá trị gì.
Những hành động ấy cũng không được mỹ tán.
- Tứ sự cúng dường là Sự cúng dường.
- Ðứng dậy, tiếp rước, lạy chào là cung kính
cúng dường.
- Ðúng theo pháp dạy mà tu hành là pháp cúng
dường.
Bất cứ thứ nào trong ba thứ cúng dường trên,
điều tối yếu là phải đúng như pháp dạy. Trái
lại, nếu đối với thầy, bạn lúc đến chỗ mình, dù
mình có sắm sửa đầy đủ đồ cúng dường, nhưng mỗi
việc đều không đúng như pháp thì cũng không có ý
nghĩa gì.
Như thế, lúc thầy - bạn đến chỗ mình, cần phải
làm như thế nào?
Cần phải tôn trọng chánh pháp, xem rẻ thân mạng,
tài vật, chỉ tha thiết cầu đại đạo vô thượng Bồ
Ðề.
Bên trong thì đem thân của mình đi bán, bên
ngoài thì hy sinh quốc độ, thành trì, hoặc đem
bán con trai, con gái của mình, hoặc đem thất
bảo quý trọng đi bán, hoặc đem trăm thứ đồ vật
đi bán để cung cấp cho thầy bạn, mới là chân
chánh đúng như pháp cúng dường. Cung kính cúng
dường cần phải thực hiện đến mức độ ấy, huống
chi chỉ có sự đứng dậy, tiếp rước, lạy chào thì
lẽ đương nhiên phải đúng như pháp mà thực hành.
Bản thân như đức Thường Ðề Bồ Tát, ngài hành Bồ
Tát đạo trong thời đức Ðại Lôi Âm Vương Phật. Vì
muốn nghe pháp Bát Nhã thậm thâm, ngài bèn đi
cầu pháp và hy sinh không tiếc thân mạng.
Tâm chí thành của Bồ Tát cảm ứng đến Phật. Ngài
liền hiện thân giữa hư không dạy rằng: “Này
Thường Ðề! Hiện nơi đây có Ðàm Vô Kiệt đại sĩ
đang tuyên thuyết Bát Nhã, nếu ông đến đấy có
thể được nghe pháp Ðại Thừa theo chỗ mong cầu
của ông”.
Thường Ðề Bồ Tát nghe Ðức Phật dạy như vậy, liền
cung kính ngửa mặt lên hư không, bạch rằng:
“Kính bạch Thế Tôn! Ðó là điều ý nguyện con rất
mong mỏi. Nhưng vì tôn kính Pháp Bảo nên không
có phẩm vật để cúng dường, trong khi con là kẻ
nghèo cùng, không có vật chi thì lấy gì cúng
dường? Nhưng rất may, con còn có cái thân mạng
này. Nay con sẽ đem bán thân này để cúng dường
pháp sư để cầu Bát Nhã thậm thâm”.
Lúc ấy, trời Ðế Thích nghe những lời trên, liền
hóa làm một người Bà La Môn, đến trước mặt
Thường Ðề Bồ Tát nói rằng: “Tôi đang cần cúng
trời những phẩm vật cúng dường rất khó mua. Vì
cần phải có tim người, huyết người, tủy người
còn sống, như vậy, chẳng biết ông có bằng lòng
bán cho tôi không?”
Thường Ðề Bồ Tát vừa nghe xong lời ấy vô cùng
hoan hỷ, đến nỗi thân hình nhảy nhót và đáp
rằng: “Rất may! Tôi nhân đây mà có thể được nghe
đại pháp”.
Nói xong liền cắt tim, lấy máu, chẻ xương lấy
tủy, bán cho người bà la môn dùng tế trời để lấy
số tiền đại lượng mua phẩm vật cúng dường Ðàm Vô
Kiệt đại sĩ. Vì mong cầu được nghe pháp Bát Nhã
mà ngài đã làm việc quá khó làm như thế, thật
đáng quý biết dường nào!
Lại như đức Bổn Sư Thích Ca trong thời kỳ tu
nhân, hành Bồ Tát đạo. Lúc đó, ngài lảm người
hết sức nghèo cùng khốn khổ, nhưng tuy bản thân
nghèo mà tâm đạo không nghèo. Lòng ngài cầu pháp
không bao giờ lui sụt. Vì muốn nghe kinh Ðại Bát
Niết Bàn, vì muốn cúng dường Ðức Phật thuyết
pháp, nên mỗi ngày, Ngài tự cắt hai lượng thịt
trên thân mình, bán cho bệnh nhân đang cần thịt
tươi để trị bệnh. Bán như thế trong một tháng
được số tiền lớn, ngài mua phẩm vật cúng dường
Phật không còn một đồng.
Với tinh thần vì pháp không tiếc thân mạng này,
không phải người thường có thể làm được. Ðời
nay, dù nghèo đến đâu, cũng chưa đến nỗi phải
bán thân cúng dường cầu pháp. Do đó, có thể thấy
tâm cầu pháp của chúng ta có nhiệt thành và lòng
cung kính đối với pháp bảo có hết mức hay không?
Hai truyện vì pháp quên mình trên là một tấm
gương sáng, chứng tỏ lòng tôn trọng giới pháp và
phụng hành hiếu đạo hết sức quý báu! Vậy hàng
Phật tử chúng ta, bất luận tại gia hay xuất gia,
là người con của Phật, nên nhất tâm học theo
gương Phật.
Chúng ta nên biết rằng: bổn nguyên tâm địa giới
pháp không riêng chúng ta phải tôn trọng, cung
kính mà cả chư Phật đều phải cung kính, tôn
trọng. Cho nên, chúng ta đối với Pháp Bảo cần
phải sanh tâm cung kính.
Bổn Sanh Luận dạy: “Người nghe Phật pháp mà phát
sanh tâm kính tín, nhờ đó trí huệ sẽ khai phát,
xa lìa ngu si”.
Vì thế, chẳng những dùng tiền của, bảo vật thế
gian cúng dường là việc rất quý mà có dùng thịt
của thân mình để cầu pháp cũng là việc hợp lý.
Tại vì sao? Vì tôn trọng chánh pháp vậy.
Cho nên, đối với thâm ân, trọng đức của pháp sư
thuyết pháp, thầy bạn trao truyền giới pháp và
dạy dỗ cho mình, phải đền đáp bằng sự kính trọng
kiền thành. Vì thế, một hành giả thọ Bồ Tát
giới, hành Bồ Tát hạnh, không việc gì khẩn yếu
hơn là việc tôn kính thầy - bạn.
Trên thực tế, người thế gian thông thường nếu
không có sự dạy bảo, dẫn dắt của thầy còn không
thể thành công. Huống chi chúng ta từ vô lượng
kiếp trôi lăn trong ác đạo, giờ đây muốn đến
cảnh an lạc mà mình chưa từng đến, không thể nào
không thầy mà đi được.
Vì thế, đối với thầy - bạn, đâu nên không tôn
trọng, cung kính. Làm người sanh ra trên cõi đời
này, không vật gì yêu tiếc quý báu hơn sanh mạng
bên trọng. Nhưng sanh mạng còn hy sinh được thì
với quốc độ, thành trì bên ngoài, dĩ nhiên không
thành vấn đề.
Nhưng trong lịch sử nhân loại, sở dĩ chiến tranh
bùng nổ, tàn khốc đều phát xuất từ nguồn gốc
tranh đoạt quốc độ, thành trì, đến nỗi trong
lịch sử thường xảy ra bao cảnh “sát nhân dinh
thành, sát nhân dinh dã” (giết người thây chết
đầy thành, giết người thây nằm chật đồng), thật
vô cùng tàn khốc! Nguyên nhân chỉ vì nhân loại
có một thứ dục vọng tựa hồ sẵn có từ lúc mới
sanh!
Khi chưa thành người thống trị quốc độ, thành
trì thì tìm đủ biện pháp để thống trị. Sau khi
đạt được chí nguyện rồi, bấy giờ bèn dùng tất cả
thủ đoạn để bảo vệ địa vị thống trị của cá nhân
mình. Khi có sự xâm phạm ngoại lai, hoặc phản
loạn trong nội địa, thì liền không ngần ngại
chọn ngay biện pháp chiến tranh để bảo vệ quyền
thống trị của mình. Vì thế, muốn những người
thống trị vất bỏ địa vị thống trị quốc thành để
cầu pháp vô thượng thậm thâm Bát Nhã, Niết Bàn
là việc tuyệt đối không bao giờ có được.
Nhưng một hành giả Bồ Tát chân chánh, dù đương
thống lãnh một quốc gia rộng lớn như thế nào, dù
đang có quyền hành thống trị đến đâu, nhưng khi
gặp được đại pháp vô thượng thậm thâm của Như
Lai, liền từ bỏ tất cả, không do dự một mảy may.
Nhưng cầu được đại pháp ấy, phải do nơi thầy -
bạn, nên đương nhiên phải cúng dường thầy - bạn.
Trong kinh văn nói “con cái” là chỉ cho con
trai, con gái thân yêu, do chính mình sanh
dưỡng. Thông thường ở đời, bổn phận làm cha mẹ,
dù hoàn cảnh gia đình nghèo cùng, khó khăn đến
đâu, cũng muốn nuôi nấng, thương yêu con mình
cho được đầy đủ, tử tế, không nỡ đem chúng bán
cho người.
Nhưng đối với hành giả Bồ Tát, mục đích duy nhất
là trọng pháp, trọng thầy, nên bất luận là con
cái của mình, vì có tâm thâm tín đối với Phật
pháp, nên chẳng những tự nguyện bán thân, mà
ngay đến những người cốt nhục thân tình đến đâu,
Bồ Tát vẫn dứt tình thân ái thế gian, đem con
của mình đi bán, để cúng dường thầy bạn, hầu
hướng về chánh pháp của Như Lai.
Thất bảo (bảy báu): những thứ quý báu thuộc về
ngoại tài, và trăm thứ đồ vật rất nhiều, chỉ cần
có lợi cho việc cầu đại pháp, Bồ Tát đều có thể
mang cúng dường cho thầy - bạn không tiếc nuối
mảy may. Vì chánh pháp của thầy - bạn ban cho
chúng ta rất quý báu, hy hữu, ngàn muôn kiếp khó
gặp được. Có thể làm cho chúng ta tăng trưởng
trí huệ, cho đến chứng đắc quả Vô Thượng Bồ Ðề.
Vì thế, đối với pháp sư thuyết pháp hoặc giới sư
truyền trao giới pháp, chúng ta cần phải xem các
ngài như Phật, phải hết lòng cung kính cúng
dường, tuyệt đối không nên có tâm khinh mạn, dễ
duôi. Vì lý do trên, nên cuối cùng Ðức Phật kết
thúc thành hau câu: “Nhược bất nhĩ giả, phạm
khinh cấu tội” (nếu không y lời dạy trên thì
phạm khinh cấu tội).
Kết thành tội của bất kính sư hữu giới (giới
không kính thầy bạn) này, phải đủ bốn duyên như
sau:
1. Là thầy bạn: tức chỉ bực Thượng Tọa, Hòa
Thượng, A Xà Lê và những vị đồng học, đồng kiến,
đồng hạnh nói trên.
2. Tưởng thầy bạn: cũng như ở trước, có sáu
trường hợp khác nhau. Trong ấy, hai trường hợp
thuộc về trọng tội, hai trường hợp thuộc tội
khinh cấu, và hai trường hợp không phạm.
3. Không có tâm cung kính: nếu phát xuất từ bốn
thứ tâm lý: kiêu, mạn, sân, si, nếu không đứng
dậy, tiếp rước, lạy chào, hỏi thăm thì phạm tội
nhiễm ô khởi. Nếu do tánh lười biếng, giải đãi
hoặc tâm vô ký hay lầm quên không để ý, nếu
không đứng dậy tiếp rước... thì phạm tội, nhưng
không phải nhiễm ô khởi.
4. Không đúng pháp cung kính cúng dường: trường
hợp phải đứng dậy, tiếp rước mà không tiếp rước.
Phải cúng dường mà không cúng dường. Ðến lúc
việc ấy xảy ra hoàn tất, tùy theo sự kiện mà kết
tội, quyết định không dung thứ. Cho nên Phật tử
đã bẩm thọ giới Bồ Tát, trong bất cứ trường hợp
nào, đối với pháp và thầy - bạn thuyết pháp, đều
phải cung kính tôn trọng, cúng dường một cách
kiền thành.
Giới này chỉ cấm chứ không khai mở. Nhưng trong
những trường hợp sau đây, dù không cung kính
thầy - bạn được hoàn bị, vẫn không trái phạm:
- Lúc thân bị bệnh nặng buộc ràng.
- Nội tâm điên cuồng không hay biết.
- Lúc ngủ mê, không biết thầy - bạn
đến.
- Tự mình trong khi vì đại chúng
thuyết pháp.
- Hoặc mình đang chuyên tâm nhất ý nghe Phật
pháp.
- Vì cần phải hộ tâm ý của Pháp Sư thuyết pháp,
đừng để ngài vì mình rời khỏi chỗ ngồi mà sanh
tâm bực dọc.
- Hoặc vì mượn phương tiện không thèm tiếp rước
này để điều phục thầy - bạn, khiến cho họ xa lìa
các ác pháp, an trụ trong thiện pháp.
- Hoặc vì giữ gìn quy luật trong tăng đoàn.
- Hoặc vì cần ủng hộ tâm lý của đa số người, sợ
e đứng dậy, tiếp rước, lạy chào làm cho trong
đại đa số người ấy sanh tâm bất mãn.
Với những nhân duyên trên, nếu bạn không đứng
dậy, tiếp rước, lạy chào, hỏi thăm thầy - bạn,
hoặc không đúng như pháp cúng dường, đều không
trái phạm.
Trừ các nhân duyên trên, ngoài ra bất cứ nhân
duyên chi, không đứng dậy, tiếp rước, lạy chào,
cúng dường, hoàn toàn không cho phép.
Tại sao xem vấn đề bất kính sư hữu giới quá quan
trọng như vậy?
Chúng ta phải biết thầy bạn hoặc thiện tri thức
là một nhân duyên hết sức thù thắng, giúp cho
việc tu hành đắc đạo của chúng ta được viên mãn,
thành tựu phạm hạnh thanh tịnh. Nên không có lý
do gì khiến chúng ta không cung kính tôn trọng.
Cho nên cổ đức có dạy rằng: “Không cung kính
thầy - bạn thì mất hẳn sự lợi ích trong Phật
pháp, lại bị ma nhiếp trì. Trái lại, cung kính
thầy bạn thì thường xuyên gặp được duyên lành
thành tựu Phật pháp”.
Căn cứ lời dạy trên đây, chúng ta có thể thấy rõ
điểm trọng yếu ở đây là tôn kính cúng dường thầy
- bạn.
B.2.2.2. ẨM TỬU GIỚI (giới
uống rượu)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ câu “nhược Phật tử cố ẩm tửu..”
cho đến câu “nhược cố tự ẩm, giáo nhơn ẩm giả,
phạm khinh cấu tội”.
2. Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử cố ý uống rượu, mà rượu là thứ làm người
uống thường phát sanh ra vô lượng tội lỗi. Nếu
tự tay mình trao chén rượu cho người uống, sẽ
mang ác báo năm trăm đời không có tay, huống chi
là tự mình uống. Cũng không được bảo người và
tất cả chúng sanh uống rượu, huống chi là tự
mình uống! Tất cả các thứ rượu, Phật tử không
được uống. Nếu mình cố uống hoặc bảo người uống,
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Vấn đề quy định mức độ và hình thức
tội lỗi của việc uống rượu, đặt rượu và bán rượu
cho người, trong kinh Phạm Võng này có sự bất
đồng.
Uống rượu đối với bản thân chính
mình là một tập quán không tốt hoàn toàn. Nhưng
mức độ tai hại không lớn lắm, chỉ làm thương tổn
cho bản thân cá nhân một người. Vì thế, việc
uống rượu này chỉ kết thành tội khinh cấu.
Ðặt rượu và bán rượu thì sự lưu hành
rất rộng lớn. Vì bất cứ người nào mua rượu về để
uống đều bị tổn hại, sự tổn hại ấy thật to lớn
cho nên kết thành căn bổn trọng tội.
Rượu được chế tạo bằng những loại cao lương, gạo
hoặc trái cây, thế nhưng tại sao Phật lại cấm
không cho uống?
Theo Phật pháp, nguyên nhân chính yếu là vì uống
rượu vào làm cho tâm tánh mê loạn. Còn nói theo
khoa học, tất cả các loại rượu đều có chứa chất
tửu tinh (là thứ dịch thể trong suốt, không màu
sắc, dễ lưu động, thường phát ra mùi vị đặc biệt
hơi nồng, có thể đốt cháy dễ dàng. Khi cháy,
chất này phát ra tia lửa màu lam).
Chất này có tác dụng làm tiêu hao sinh lực,
khiến cho sự hấp thụ chất đản bạch, các sinh tố
cùng các chất khoáng bị giảm thiểu. Kết quả là
mức độ dinh dưỡng trong cơ thể bị suy tổn trầm
trọng, can tạng (gan) bị tổn thương rất lớn. Bất
cứ loại rượu nào, dù là hàm lượng tửu tinh rất
ít, cũng gây tổn thương cho cơ thể.
Vì tửu tinh là chất kích thích, khi đã xâm nhập
vào não và các tạng: tâm, phế, vị, can, thận thì
mắt, tai, mũi, miệng và sự tuần hoàn của huyết
dịch đều bị tổn thương không nhỏ.
Vì thế, muốn giữ cho tâm ý được thanh thản, bình
tĩnh, ngũ tạng và sự tuần hoàn huyết dịch không
bị thương tổn, tinh thần không bị sự kích thích
của tửu tinh làm hại, chúng ta nên nhận thức một
cách thực tế là cần phải triệt để ngăn cấm việc
uống rượu.
Thế giới hiện nay mắc nhiều chứng bịnh thần
kinh, điên cuồng, khủng hoảng. Dù tình trạng ấy
có nhiều nguyên nhân, nhưng uống rượu quá độ
cũng là một trong những nguyên nhân gây ra chứng
bệnh ấy.
Ðức Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một
Phật tử đã thọ giới Bồ Tát, mà lại có tâm cố ý
uống rượu là điều tuyệt đối không thể chấp nhận
được. Vì như vậy là trái với tư cách của một vị
Bồ Tát. Vì rượu là vực sâu của tội ác, là cửa
ngõ sanh tử họa hại. Khi đã uống rượu vào thì dễ
tạo các tội lỗi”.
Phật dạy tiếp theo: “Rượu là thứ làm cho người
uống hay sanh ra vô lượng tội lỗi”.
Như trong Ðại Trí Ðộ Luận đã thuyết minh: “Uống
rượu sanh ra 36 thứ tội lỗi, nên gọi là vô lượng
tội lỗi”.
Ngoài ra, các kinh khác như kinh Phân Biệt Thiện
Ác Sơ Khởi, kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo Ứng,
cũng đều nói uống rượu sanh ra ba mươi sáu thứ
tội lỗi. Kinh Phân Biệt Thiện Ác Sơ Khởi nói:
“Ðức Phật dạy người sanh trên thế gian này đa số
đều thích uống rượu cho say. Khi đã say rồi thì
dễ sanh ba mươi sáu thứ tội lỗi”.
Những gì là ba mươi sáu thứ tội lỗi?
1) Người uống rượu say rồi thì làm con đối với
cha mẹ không biết kính thờ; làm tôi đối với vua
không biết tôn trọng. Do đó mà cha con, vua tôi
không có trên dưới.
2) Nói năng lộn lạo và hay sanh lỗi lầm.
3) Phạm tội lưỡng thiệt và ưa nói nhiều.
4) Nếu có việc gì cần giấu kín,
nhưng khi đã say rồi thì đem nói tất cả.
5) Mắng chửi trời đất không hề sợ
tội.
6) Nằm giữa đường sá không thể về
nhà, mọi thứ đồ đạc mang theo đều bỏ mất hết.
7) Không thể tự sửa mình cho chính
đáng.
8) Ði đứng ngả qua, ngả lại, lúc thì
ngửa mặt lên trời, lúc lại gầm đầu xuống đất, có
khi bị sa hầm, sa hố, thân thể bị tổn thương.
9) Không thể đi đứng vững vàng nên
phải bò lết như người què, đến khi đứng dậy được
thì thân thể, mặt mày đều bị xây xát, trầy trụa.
10) Lúc bán buôn hay bị lầm lộn và
thường vọng động xúc phạm mọi người.
11) Phế bỏ công việc không lo làm
ăn.
12) Tài vật bị tổn hao.
13) Vợ con đói khát mặc kệ không
nghĩ đến.
14)
Kêu la, chửi mắng không biết nể sợ pháp luật
quốc gia.
15)
Thoát bỏ hết y phục để thân thể lõa lồ mà đi
trên đường sá.
16) Chui bậy vào nhà người, gặp đàn
bà, con gái thì lôi kéo, nói năng xằng bậy, xúc
phạm đến họ, tạo vô lượng tội lỗi.
17) Thấy bất cứ ai đến gần đều muốn
gây gổ với họ.
18) Dộng đất kêu la làm kinh động
xóm làng.
19) Giết bừa súc vật không biết tội phước.
20) Ðồ đạc trong nhà đập bể tan nát.
21) Vợ con coi như kẻ tù tội, say
sưa nói bậy bạ không ra gì.
22) Thân cận với bè đảng ác.
23) Xa lánh không chịu gần gũi với
bậc hiền thiện.
24) Ngủ như chết, đến khi tỉnh dậy
thân thể đau nhức như người bị bệnh.
25) Những thứ uống ăn đều nôn mửa ra
trông thật ghê tởm, khiến vợ con đều phải chán
ghét.
26) Khi đi đâu, nếu gặp voi, ngựa,
chó sói, vì tâm ý tán loạn nên không biết sợ
sệt, xa tránh.
27) Không kính kinh pháp, không tôn
trọng bậc hiền thiện, không cung kính sa môn.
28) Hoang dâm vô độ không biết e sợ.
29) Hình thể như kẻ điên cuồng khiến
ai nấy đều tránh xa.
30) Giống như người chết, không biết
gì cả.
31) Mang bệnh nghiện rượu, thân thể
màu vàng, úa ứa giống như trái cây chín. Có khi
mặt mày sanh ghẻ lác.
32) Thiên long, thiện thần đều tránh
xa vì các ngài rất ghét uống rượu.
33) Thiện hữu tri thức ngày một lánh
xa.
34) Khi say thì ngồi chồm hổm, gặp
các quan cao cấp cứ lấy mắt nhòm ngó không biết
sợ sệt, nếu bị đánh đập thì nhắm nghiền mắt lại.
35) Sau khi xả thân bị đọa vào địa
ngục Thái Sơn, thường bị ngục tốt dùng nước đồng
sôi rót vào miệng. Lục phủ, ngũ tạng đều bị cháy
nát, cầu sống không được, cầu chết cũng khó. Thọ
khổ như vậy trải qua ngày muôn năm.
36) Khi thọ tội ở địa ngục đã mãn,
sanh lên làm nhân gian làm người tâm trí ám độn
không biết gì.
Hiện nay những người tâm trí ngu độn, không biết
gì cả, đều do đời trước ưa uống rượu mà bị dư
báo ấy. Như thế, ta đã nói phân minh, các ngươi
đối với rượu cần phải thận trọng, vì uống rượu
có 36 thứ lỗi. Người nào uống rượu đều phạm đủ
cả”.
Tự mình uống rượu tạo gây những tội lỗi trên,
nếu tự tay trao chén rượu cho người uống thì
chiêu cảm quả báo năm trăm đời không có tay,
huống chi tự uống mà không bị chiêu cảm khổ báo
rất nặng hay sao?
Kinh văn nói: “Trao đồ đựng rượu cho người”, có
hai trường hợp:
1. Nâng chén rượu lên nói với người cùng uống
rượu với mình rằng: “Này anh! Chỉ thêm một chén
nữa thôi mà!”
2. Trao bình đã hết rượu mà bảo người đem thêm
và nói rằng: “Châm thêm một bình nữa coi!”
Những cử chỉ ấy đều không được, vì không khác gì
khích lệ người ấy uống rượu. Thậm chí còn rót
rượu vào miệng người khác bảo họ uống cho thật
say. Hành động như thế thì đâu phải là tư cách
làm người?
Trong kinh văn Phật dạy: “Bị quả báo năm trăm
đời không có tay”, không phải là sanh làm người
mà không có tay, mà là khi bỏ thân này, bị đọa
vào trong loài súc sanh, làm những loài vật
không tay như côn trùng, đỉa, giun, lươn,
lịch... là những loài thuộc về loại chúng sanh
không có tay.
Trong kinh Quỷ Vấn Mục Liên nói: “Một hôm tôn
giả Mục Liên du hành trong cảnh giới ngạ quỷ. Có
một con quỷ thấy Tôn Giả đến nên thỉnh vấn rằng:
- Kính bạch Tôn Giả! Một đời của con từ sanh đến
nay, tâm tánh ngu si đần độn không biết gì,
chẳng biết do tội nghiệp chi mà mà chiêu cảm khổ
báo ấy?
Tôn Giả đáp rằng: - Ðấy chính là do trong lúc
làm người ở thời quá khứ, người thường đem rượu
cho người uống, lại cưỡng ép, khuyên người khác
uống rượu, muốn cho người say sưa, mê loạn để tự
lấy làm thú vui. Khổ báo ngu si, đần độn này chỉ
mới là hoa báo, quả báo sau khi bỏ thân quỷ này
phải đọa vào địa ngục”.
Rượu là cửa sanh các họa hoạn. Vì nếu đem cho
bất cứ người nào uống, nhất là những người tu
học Phật pháp. Ðiều này kinh Chánh Pháp Thiện Xứ
nói: “Người nào đem rượu cho chúng tăng trong
pháp hội uống, hoặc cho người thọ giả uống, cho
người tâm đã được tịch tịnh uống, cho người đắc
thiền định uống khiến tâm chí của các vị ấy mê
loạn thì tội lỗi ấy rất lớn, tương lai sẽ bị đọa
vào địa ngục Khiếu Oán (1)”
Ðưa chén rượu cho người uống mà còn bị quả báo
như vậy, huống chi bảo người uống rượu. Cho nên,
Phật dạy tiếp: “Cũng không được bảo tất cả người
cũng như tất cả chúng sanh uống rượu”.
Ở đây nói: “Tất cả người” là nói một cách bao
quát tất cả hạng người như: Phật tử xuất gia,
tại gia, nam, nữ, già, trẻ, và tất cả những
người ở các địa phương khác, quốc gia khác
v.v...
“Tất cả chúng sanh” là chỉ cho quỷ thần, súc
sanh cùng với phi nhơn v.v... Bảo người khác
uống rượu còn không được, huống chi là tự chính
mình uống rượu thì lại càng không được.
Nguyên liệu để làm rượu có nhiều thứ, như vậy
nói rốt ráo lại thì thứ rượu nào không được
uống?
Phật dạy: “Tất cả các thứ rượu đều không được
uống”. Tức là dù cho dùng bất cứ thứ nguyên liệu
nào để làm thành rượu, cũng đều không được uống.
Tự mình không uống rượu là công đức tự lợi.
Không bảo người uống rượu thuộc về lợi tha. Tự
tha lưỡng lợi đều thực hành thì tất cả tội ác tự
nhiên đình chỉ. Trái lại, nếu tự mình cố uống và
bảo người uống, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Trong Luật có dạy rõ: “Nếu ăn hèm rượu, men
rượu, có thể làm cho người say. Tùy theo ăn mỗi
miếng mà phạm tội”.
Giới uống rượu này thuộc về Giá tội, do Ðức Phật
cấm chế. Tại sao phải cấm như vậy?
Vì rượu làm cho tâm tánh người bị hôn mê, tán
loạn. Tội ấy rất lớn phải cực lực ngăn cấm. Nơi
đây, xin trích dẫn một vài truyện ngắn nói về
tội uống rượu như sau:
Khi Phật còn tại thế, một hôm Ngài đi đến ấp Bạt
Ðà La Bà Ðề của nước Chi Ðề để giáo hóa. Nơi ấy,
có một con độc long gọi là Am Ba La Ðề Ðà hung
dữ, bạo ác phi thường. Con người không ai dám
bén mảng đến chỗ ấy đã đành, ngay cả loài thú to
như voi, trâu, bò, ngựa... cũng không dám léo
hánh đến gần chỗ của nó. Thậm chí loài phi điểu
bay trên không trung cũng không dám bay ngang
chỗ nó ở. Hoa mầu, lúa thóc đã chín đều bị độc
long phá hoại sạch.
Trưởng lão Sa Dà Ðà là người thường cúng dường
Phật, nên khi nghe Ðức Phật Thế Tôn đến nơi này
giáo hóa, trưởng lão cũng đi theo. Nghe nơi ấy
có độc long, trưởng lão xin phép Ðức Phật đến
chỗ độc long để bắt nó hàng phục cho dân chúng
và muôn thú được yên ổn.
Khi trưởng lão vừa đến, độc long
ngửi thấy khí vị y phục của Ngài liền sanh tâm
sân hận, vì xưa nay không bao giờ có ai dám léo
hánh đến chỗ của nó. Lập tức từ trong thân của
nó phóng ra những khói độc khiến không khí cả
một vùng đều bị ô nhiễm.
Thấy khói độc bay đến mình, trưởng
lão bèn nhập tam muội, dùng thần thông từ trong
thân phóng ra những luồng khói trắng ngăn cản
khói độc của độc long, không cho nhập vào mình.
Ðộc long thấy thất bại càng nổi sân hận, từ trên
thân phóng ra lửa khiến toàn vùng ấy biến thành
một biển lửa lớn. Trưởng lão bèn nhập Hỏa Quang
tam muội, từ trên thân phóng ra lửa ngăn chặn
độc quanh mình.
Thấy sự việc bất thành, độc long liền hóa trận
mưa đá và sấm sét vang trời để giết trưởng lão.
Nhưng trưởng lão không chút sợ sệt, ngài biến
những hạt mưa đá thành những hoàn thuốc hoan hỷ
hoặc những bánh rất thơm ngon.
Cuối cùng độc long dùng tất cả sức lực, bản lãnh
hóa ra một trận mưa tên và rắn độc. Trưởng lão
dùng thần thông rất nhiệm mầu, biến tất cả các
thứ ấy thành Ưu Bát La Hoa và thân thể của ngài
hoàn toàn không bị tổn thương. Ðộc long đem hết
sức thần thông mà không khuất phục được trưởng
lão. Tự biết mình không phải là đối thủ của
trưởng lão, độc long bèn đến trước trưởng lão tự
nguyện quy y Tam Bảo, làm đệ tử Phật, không còn
làm những việc hung ác như trước nữa. Trưởng lão
hàng phục được độc long, đem lại yên vui an ổn
cho nhân và cầm thú chốn ấy. Từ đó, thanh danh
của Ngài lan truyền khắp nơi, từ quốc vương chí
đến nhân dân đua nhau đến cúng dường.
Khi ấy, có một nữ Phật tử bần cùng nhưng vô cùng
kính tin trưởng lão, nàng thành kính thỉnh
trưởng lão đến nhà để cúng dường một bữa cháo,
sữa và tô lạc, ngoài ra còn có thêm một thứ rượu
màu trắng như nước.
Trưởng lão vì không để ý nên uống thứ rượu đó.
Sau khi uống xong, trưởng lão vì nữ Phật tử
thuyết pháp. Xong việc, nữ Phật tử lễ tạ và Ngài
từ biệt trở về tịnh xá. Lúc về gần đến nơi, vì
ảnh hưởng của men rượu tác động làm trưởng lão
té nhào gần tịnh xá, thân nằm một nơi,
tăng-già-lê, bình bát v.v... văng tản mác.
Trưởng lão bị say nhừ không hay biết gì.
Ðức Phật thấy việc này liền bảo ngài A Nan tập
hợp đại chúng lại và dạy về việc trưởng lão hàng
phục được độc long. Ngài hỏi đại chúng: “Trong
lúc hàng phục độc long oai lực biết bao, giờ đây
ông Sa Dà Ðà này có thể hàng phục được một con
rắn nhỏ hay một con tôm hay không?”
Ðại chúng đồng đáp lại rằng: “Không thể hàng
phục được”.
Phật dạy: “Ông Sa Dà Ðà là một vị
thánh nhân mà sau khi uống rượu say còn như vậy,
huống chi người thế tục thông thường. Thế nên từ
đây về sau, nếu là đệ tử của Phật thì quyết định
không được uống rượu. Không nói là uống nhiều,
chỉ cần một chén nhỏ cho đến một giọt trên đầu
ngọn cỏ, cũng không được uống. Nếu uống tức là
phạm tội”.
Lại nữa, Tỳ Bà Sa Luận kể lại một câu chuyện như
sau:
Vào thời quá khứ có một vị ưu bà tắc
giữ ngũ giới cấm của Như Lai rất thanh tịnh. Một
hôm, vị ấy có việc phải đi xa. Khi trở về nhà,
nhằm lúc tất cả mọi người trong nhà đều đi vắng.
Vì đường xa nhọc mệt lại thêm khát nước cực
điểm, vị Phật tử ấy đi tìm nước uống. Lúc ấy có
một chai rượu lớn giống như nước để trên bàn,
đương cơn khát, Phật tử này tưởng là nước, liền
uống một hơi. Uống xong, đầu óc choáng váng, tâm
thần hôn mê bấn loạn.
Vừa lúc đó, một con gà hàng xóm chạy
vào nhà, sẵn bụng đang đói, Phật tử liền nghĩ
chi bằng bắt gà làm thịt để ăn một bữa cho ngon.
Sau khi Phật tử này ăn xong, cô gái hàng xóm vào
nhà tìm gà, hỏi Phật tử có thấy gà chạy vào nhà
không. Phật tử trả lời: “Tôi không thấy gà của
cô đến đây”. Chẳng những thế, lại còn làm hành
vi phi lễ với cô gái ấy. Thế là một phen uống
rượu, năm giới đều hủy phạm, chúng ta thử nghĩ
tội lỗi uống rượu lớn biết chừng nào! Cho nên là
Phật tử tuyệt đối không được uống rượu!
Tội lỗi của việc uống rượu rất nhiều, giờ đây
xin kể thêm một chuyện nữa để làm gương cảnh
tỉnh cho tất cả chúng ta:
Vào thời vua Chân Tông - Bắc Tống. Một lần nọ,
vua Chân Tông bị bệnh rất nặng, bèn đem mọi việc
lớn nhỏ trong nước giao cho Hoàng Hậu giải
quyết.
Khấu Chuẩn là một quan đại thần trong triều thấy
vậy, lấy làm lo sợ cho tiền đồ quốc gia, nhất là
e sợ tương lai hoàng tử sẽ bị họ hàng bên ngoại
soán đoạt vương vị.
Một ngày nọ, vị đại thần tâu với Chân Tông hoàng
đế rằng:
- Muôn tâu thánh thượng, hoàng thái tử là người
hy vọng của toàn dân, xin bệ hạ tưởng đến việc
trọng yếu của tôn triều. Theo ý hạ thần, bệ hạ
bị bệnh nguy kịch thì nên đem việc triều chánh
giao cho Thái Tử, đồng thời nên chọn một viên
đại thần có lòng vì nước, vì dân để phụ giúp
Thái Tử. Hạ thần tin rằng quốc gia sẽ có người
cầm quyền và được yên ổn.
Hoàng đế nhận thấy lời quan đại thần rất đúng,
bèn chấp thuận kiến nghị của quan đại thần. Ngài
lập tức bí mật bảo Dương Ức thảo chiếu chỉ lập
Hoàng Thái Tử lên coi việc cai trị quốc gia, lại
muốn đại thần Dương Ức phụ việc triều chánh với
Hoàng Thái Tử. Việc này là một phương thức hoàn
hảo vô cùng. Nhưng về sau, trong một lần uống
rượu say, vị đại thần Khấu Chuẩn vô tình đem sự
việc trên tiết lộ cho người biết, thế là mọi
việc vốn có thể thành đại công lại trở lại bị
đại bại!
Những việc tương tự như trên ở thế gian thường
xảy ra rất nhiều. Những việc vốn không nên tùy
tiện nói ra với người, nhưng vì quá say, không
còn hay biết, nên đem ra thố lộ với người. Như
thế, chẳng những tự mình không đầy đủ nhân cách,
lại còn khiến cho việc đáng lẽ thành công lại
trở nên thất bại!
Những người có lý trí ít nhiều, biết rõ tội lỗi
của việc uống rượu, quyết định không bao giờ
uống rượu. Trong trường hợp, người bề trên đưa
rượu ép uống, cũng cần phải tìm mọi cách từ chối
không uống!
Như trường hợp trong câu chuyện sau đây:
Vua Hoàn Công nước Tề đem rượu cho Quản Trọng
uống. Quản Trọng sau khi nhận bèn đem đổ bớt đi
phân nửa. Cử chỉ này bình thường đương nhiên bị
ghép tội vô lễ và phạm thượng, nên Hoàn Công quở
trách Quản Trọng rằng: “Chính tay trẫm ban rượu,
khanh lại có thể tùy tiện đổ bỏ hay sao?”
Quản Trọng khôn khéo tâu rằng: “Muôn tâu Thánh
Thượng! Hạ thần từng nghe nói: uống rượu sẽ nói
những lời lầm lỗi. Nếu nói lời lầm lỗi có thể bị
nguy hiểm đến tánh mạng. Hạ thần vì nghĩ như thế
nên thà bỏ rượu chớ không muốn bỏ thân. Cúi xin
hoàng thượng xét mà thứ lỗi cho!”
Chúng ta hãy suy nghĩ: nếu vì uống rượu mà nói
những lời lầm lỗi, do đó có thể làm tán thất
sanh mạng của mình thì thật là một điều không
hợp lý biết bao! Rượu là thứ triệt để không được
uống. Nếu uống nhiều chắc chắn sẽ nói nhiều. Nói
nhiều thì nhất định sẽ có những lời bất tam, bất
tứ (là những lời nói không nghĩa lý gì cả),
không nên nói mà cứ nói, cần nói thì lại không
nói.
Rượu đã sanh vô lượng tội lỗi như thế, tại sao
trong kinh lại có chỗ nói nếu uống rượu không có
tội lỗi thì vẫn được uống như thường?
Lời nói này quả đúng không sai. Vì nếu uống rượu
có thể tránh được tội lỗi thì không lý do nào mà
không cho uống.
Bằng chứng thực tế là khi đức Thế Tôn còn tại
thế, Mạt Lợi phu nhân là một Phật tử đã thọ Ngũ
Giới. Ðối với Tam Bảo, phu nhân là một Phật tử
thuần thành, thông đạt kinh luật, nên không bao
giờ uống rượu.
Nhưng một hôm vua Ba Tư Nặc đi săn về, bị mệt và
đói bụng. Chẳng may, quan Trù Giám lo cơm hơi
chậm trễ, khiến Ba Tư Nặc vương nổi giận. Ngài
liền hạ lệnh giết quan Trù Giám. Phu nhân hay
tin liền nghĩ rằng quan Trù Giám là người có khả
năng nấu nướng rất thích hợp với khẩu vị nhà
vua. Nếu giết quan Trù Giám thì không còn ai có
thể làm thức ăn cho nhà vua được như thế. Vả
lại, giết một người vô tội không hợp với tôn chỉ
Từ Bi của đạo Phật.
Do đó, phu nhân liền ra lệnh bảo người đem giấu
quan Trù Giám ở một nơi. Hai ba hôm sau, phu
nhân thiết một tiệc rượu hết sức linh đình, rồi
tự thân phu nhân trang điểm hết sức lộng lẫy
(trong kinh nói phu nhân thọ Bát Quan Trai hằng
tháng, cho nên chỉ phục sức bằng vải thô. Những
ngày thường không thọ Bát Quan Trai cũng thế.
Phu nhân lại thường ở riêng tại tư cung tu tập,
ít kề cận Ba Tư Nặc vương). Sau đó, bà cùng với
vua nhập tiệc và hầu rượu cho vua.
Vua Ba Tư Nặc ít khi trông thấy phu nhân trang
điểm lộng lẫy như thế, hôm đó lại cùng dự yến và
tiệc rượu đó lại vô cùng thịnh soạn nên lòng vua
hoan hỷ vô cùng. Nhất là được chính phu nhân ân
cần khuyên uống rượu là việc càng làm cho đại
vương hân hoan tột đỉnh.
Ðến khi thấy nhà vua đã hết cơn phẫn nộ, phu
nhân mới hỏi rằng: “Thức ăn hôm nay đại vương
dùng có ngon miệng hay không?”
Nhà vua đáp rằng: “Thức ăn hôm nay rất ngon, lại
thêm được phu nhân giúp trẫm uống rượu, thật
trẫm hoan hỷ vô cùng”.
Phu nhân hỏi tiếp: “Ðại vương có biết thức ăn
hôm nay do ai làm không? Mấy ngày qua đại vương
ăn không được ngon miệng phải không?” Rồi phu
nhân đem việc vua hạ lệnh giết quan Trù Giám vừa
rồi thưa lại. Nhà vua tỉnh ngộ, tự biết lỗi lầm,
liền tha cho quan Trù Giám được toàn mạng.
Mạt Lợi phu nhân vì cứu quan Trù Giám mà uống
rượu, bà biết mình đã phạm giới, trong lòng sinh
hổ thẹn không an tâm, liền đến trước Phật cầu
xin sám hối. Ðức Phật hỏi: “Phu nhân vì sao uống
rượu?”
Phu nhân bèn đem nhân duyên uống rượu bạch lên
Phật. Ngài chẳng những không quở trách, trái lại
còn cực lực tán thán việc làm ấy cho là có công
đức rất lớn...
Uống rượu trong trường hợp như th thì có gì là
không được! Vấn đề là ở chỗ sợ rằng chúng ta
không có thiện quyền phương tiện như Phật tử Mạt
Lợi phu nhân mà chỉ khư khư bảo rằng: “Mạt Lợi
phu nhân có thể uống rượu, thì tôi đây cũng có
thể uống rượu”. Nói như vậy thì sanh tội nghiệp
vô biên, mà ác báo cũng khó lòng tránh khỏi.
Lại còn một chuyện nữa thuật lại việc vua Thái
Tông nhà Ðường. Vào năm đầu của niên hiệu Trinh
Quán, ở chùa Viên Hưng tại Tây An, có Phạm Luật
Sư là bậc tu hành rất trọng giới luật.
Một hôm, ngài có việc phải đi ra ngoài. Tối đến
về chùa không kịp, nên phải nghỉ tạm ở nhà một
Phật tử. Sau khi Luật Sư đã an nghỉ, trong nhà
lại có một tăng nhân khác đến. Chủ nhân bèn mời
vị tăng ấy đến một phòng riêng khác mà nghỉ. Vị
Tăng này bảo chủ nhân dọn cơm và rượu thịt ra
dùng. Phật tử ấy chẳng những không buồn trách,
lại còn vui vẻ vâng lời. Phạm Luật Sư nghe tăng
nhân ấy ăn uống một cách khoái ý, trong tâm ngài
không tránh khỏi khởi niệm tưởng không tốt đối
với tăng nhân đó và cho rằng tăng nhân này không
thể hiện đúng tư cách của một người xuất gia.
Nhưng vị tăng nhân đó sau khi đã ăn uống no đủ
xong, lại bảo chủ nhà đem nước tro cho mình súc
miệng, đoạn vào phòng đóng cửa, tụng kinh Hoa
Nghiêm. Chỉ trong chốc lát vị ấy đã tụng xong
hết một quyển. Bấy giờ, Phạm Luật Sư biết vị
Tăng này không phải là người tầm thường, tự mình
sanh lòng rất hổ thẹn. Vì vậy nên đang nằm, Ngài
liền ngồi dậy, sửa thân mình nghiêm chỉnh, cung
kính lắng nghe tăng nhân tụng kinh.
Từ lúc bắt đầu cho đến chưa tới canh năm, vị
tăng nhân đã tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm sáu
mươi quyển (kinh Hoa Nghiêm có hai bản dịch: một
bản gồm sáu mươi quyển, bản kia gồm tám mươi
quyển). Việc này không phải người tầm thường có
thể làm được, nên càng làm cho Phạm Luật Sư ăn
năn, biết vừa rồi mình đã khởi tâm niệm xem
thường vị tăng kia là một đại tội ác không sao
tránh khỏi. Ngài liền đến phòng tăng nhân, đặc
biệt xin sám hối tạ tội. Vị tăng ấy không chút
biểu lộ là mình kẻ có tài đức, còn khuyên Luật
Sư hãy an tâm, không có gì là đại tội. Sau khi
chia tay, vị tăng ấy đi nơi nào không ai biết...
Uống rượu ăn thịt trong trường hợp như thế, lẽ
tự nhiên, hàng phàm tăng không nên bắt chước.
Câu chuyện thuật lại rằng:
Vào triều nhà Tùy, tại chùa Ðẳng Hành ở Lư Châu,
có vị tăng nhân hiệu Ðồng Tấn, xuất gia vào thời
triều Bắc Châu (trước nhà Tùy rất lâu). Vị tăng
này xưa nay bất chấp giới luật, lễ nghi, suốt
ngày chỉ uống rượu. Bất cứ đi đến đâu cũng đều
say mèm. Ðã vậy còn có thêm chứng bịnh thường
tiểu tiện bừa bãi, hôi thối tràn lan mọi chỗ,
cho nên mọi người thông thường đều chê bai, dị
nghị việc làm này.
Nhưng cũng có người biết nhận xét, khuyên những
kẻ dị nghị này: “Quý vị không nên nhàm đàn tạp
thoại, quý vị có biết vị tăng ấy rốt ráo là
người như thế nào không? Chúng ta không nên đem
nhãn quan của phàm nhân mà xem xét việc làm của
tăng nhân ấy”.
Thời gian sau, vua Võ Ðế nhà Châu đông chinh,
cần phải dùng một thứ thuốc độc, nên hạ lệnh cho
vị quan tại Lô Châu chế tạo độc dược. Viên quan
cho người lên rừng tìm các loại độc dược như:
Phúc Ðầu, Thuyết Tinh, Tàm Căn, Ðại Phong, Giả
Cát, Trấm Vũ... tất cả gần vài chục thứ, đem về
bỏ vào cái lu thật lớn, rồi đổ rượu ngâm cho đến
khi thành độc tửu. Bất cứ người hay súc vật khi
đụng đến, tức khắc da thịt bị nát rã mà chết.
Tăng nhân Ðồng Tấn nghe nói có thứ rượu kịch độc
và nguy hiểm như thế, lòng vô cùng bất mãn việc
làm tà ác của Võ Ðế, ngài liền đến nhà vị quan
chế tạo rượu độc. Vị quan thấy tăng nhân thường
uống rượu sau sưa như vậy, nên có ý trêu ghẹo,
nói rằng: “Tôi có một thứ rượu rất ngon, Hòa
Thượng thử dùng một chén có được không?”
Ðồng Tấn đáp rằng: “Quan lớn có lòng tưởng đến,
nhưng bần đạo uống một chén thì không đã ghiền,
bần đạo muốn uống một thăng để giải khuây và bớt
nhức mỏi trong thân thể”.
Quan giám chế thưa rằng: “Không thành vấn đề,
tùy Hòa Thượng muốn uống bao nhiêu cũng được”.
Ðồng Tấn liền đến lu rượu, lấy gáo sắt múc rượu
độc, và uống một gáo to, và cười nói tự nhiên,
hoàn toàn không bị rượu độc làm hại. Lúc ấy, các
đạo sĩ theo Ðạo giáo nghe tin ấy rủ nhau xem vị
Hòa Thượng như thế nào, thực hay giả. Họ dùng
gáo múc rượu độc mời Ðồng Tấn uống. Nhưng vừa
đưa gáo vào rượu độc đã vội vàng chạy lánh xa vì
sợ bị rượu độc văng trúng thân rất nguy hiểm.
Ðồng Tấn dường như vô sự, cứ tiếp tục uống và
nói rằng: “Tốt lắm! Hôm nay được một bữa say sưa
thật là đại khoái lạc!” Rồi ngài lên tảng đá lớn
nằm ngủ. Chốc lát lại tiểu tiện trên tảng đá,
làm tảng đá nát vụn vì rượu độc, trong lúc thân
thể của Ðồng Tấn bị lăn đi nơi khác, ngài vẫn cứ
ngủ như thường. Khi ngủ đã thẳng giấc, ngài thức
dậy, thân thể chẳng những không bị hại mà tinh
thần lại càng sảng khoái.
Bạn có thể làm được như thế không?
Nếu làm được thì không ngại gì, cứ
việc uống rượu độc. Còn làm không được thì chẳng
những rượu độc không nên nếm thửa mà rượu thông
thường cũng không được để một giọt dính vào môi.
Câu chuyện thứ nữa:
Vào thời vua Cao Tổ Văn Ðế nước Tề, có tăng nhân
hiệu là Ðàm Hiển, tức là Phật Huệ. Không rõ ngài
là người gốc tích tại đâu, nhưng thường đi đây
đó, không trụ nơi nào nhất định. Ngài lại ăn
uống như người thế tục.
Bấy giờ cũng có người cho Ðàm Hiển là bậc tu
hành đạo hạnh cao siêu, chỗ chứng ngộ khôn
lường.
Vào mùa Thu tháng Chín, niên hiệu Thiên Bảo thứ
sáu, Cao Tổ Văn Ðế hạ lệnh triệu tập tất cả sa
môn Phật giáo để đấu phép với học trò của đạo sĩ
Lục Tu Tịnh, cả thảy một ngàn người cho rõ thấp
cao.
Vì đạo sĩ kích bác việc vua Cao Văn Ðế phụng thờ
Phật giáo, và cho đó là điều không đúng. Vua cho
lập một hội trường và xây một cái đài cao một
trăm mét. Khi đạo sĩ vừa đến hội trường, liền
dùng chú thuật khiến tất cả y bát của Sa Môn bay
lên hư không hoặc lăn cù dưới đất. Lại còn đọc
chú khiến tất cả cột kèo trong hội trường xiêu
ngã ngổn ngang.
Các sa môn Phật giáo vì không học pháp thuật
đành phải ngồi yên lặng, không có pháp thuật gì
đối lại. Tín đồ của đạo sĩ thấy vật liền hoan hô
vang dậy, cho đạo sĩ Lục Tu Tịnh là thắng và
khinh dễ các sa môn. Các đạo sĩ được thế càng
nhảy nhót, vui mừng, kiêu ngạo, khoe khoang. Họ
đồng thinh xướng lên rằng: “Chúng tôi dùng thần
thông pháp thuật dẹp trừ Phật giáo. Các sa môn
nếu hiện một, chúng tôi sẽ hiện hai. Sa môn hiện
hai, chúng tôi sẽ hiện bốn. Hôm nay, chúng tôi
chỉ dùng pháp thuật nhỏ mọn mà các sa môn Phật
giáo đều thất bại, việc này muôn ngàn khán giả
tại hội trường đều chứng kiến rõ ràng...”
Nhà vua thấy các đạo sĩ quá ngạo mạn nên chán
ghét, bèn ra lệnh cho Thượng Thông Pháp Sư đấu
phép với đạo sĩ.
Pháp Sư đáp: - Tâu Thánh Thượng! Pháp thuật là
thứ nhỏ mọn, Nho sĩ ở thế tục có tâm hổ thẹn còn
không làm, huống gì chúng tôi là Phật tử xuất
gia. Tuy nhiên theo lệnh của thiên tử, chúng tôi
không dám bất tuân và không lẽ chúng tôi không
còn cách gì để đối trị các đạo sĩ hay sao? Tôi
xin cử một tăng sĩ tối hạ tọa trong quý sa môn
nói chuyện và đấu phép với đạo sĩ.
Nói xong cho người đi tìm Ðàm Hiển, lúc đó đang
ngồi ở tòa sau cùng, chễm chệ trên một chiếc ghế
rất cao và đang uống rượu say mèm. Quan Hữu Ty
thấy thế không dám mời, bèn bạch lại với Pháp Sư
Thượng Thông. Pháp Sư đáp rằng: “Không hề gì
đâu, quan Hữu Ty cứ mời tăng nhân ấy. Vì hàng sa
môn chúng tôi không ai uống rượu, còn đạo sĩ là
đạo cúng tế rượu. Tăng nhân Ðàm Hiển cũng là
người thích uống rượu. Vậy để cho thuận tiện,
nên mời tăng nhân nói chuyện và đấu phép với đạo
sĩ”.
Quan Hữu Ty vâng lời đến dìu đỡ Ðàm Hiển đến đài
trăm thước. Bấy giờ, toàn thể chúng tăng đều lo
sợ vì đạo sĩ pháp thuật cao cường, quý sa môn
không người nào đối chọi lại được, huống chi Ðàm
Hiển say sưa chỉ chuyên môn uống rượu, có biết
phép thuật chi mà đấu với đạo sĩ.
Khi Ðàm Hiển đến đài cao, quan Hữu Ty cho hai
người dìu lên đài. Ðàm Hiển đứng trên đài cao,
mỉm cười nói rằng: “Khi nãy bần đạo uống rượu
quá say, nghe văng vẳng ai đó nói rằng: Sa-môn
hiện một, chúng tôi sẽ hiện hai, sa môn hiện
hai, chúng tôi sẽ hiện bốn. Không biết lời ấy là
thật hay hư?”
Các đạo sĩ đáp: Thực!
Ðàm Hiển bèn co một chân đứng trên đài cao một
trăm thước nói rằng: “Tôi đã hiện một rồi đấy,
các Ngài hiện hai đi!”
Cả ngàn đạo sĩ không người nào hiện được. Ðàm
Hiển lại nói: “Bần đạo nghe các ngài đọc chú
khiến y bát của sa môn cái thì bay, cái thì lăn,
có hay không?”
Ðáp: Có!
Ðàm Hiển lấy bình bát và chiếc y để trước mặt
đạo sĩ, bảo đọc chú thử xem. Các đạo sĩ đồng một
lúc, đem hết tinh thần mà đọc chú, nhưng y bát
vẫn không lay động. Thấy thế, nhà vua bảo: “Y
bát không lay động, trẫm cho phép các đạo sĩ
đích thân nhấc lên thử xem!” Một người, hai
người, cho đến mười người vẫn không sao nhấc lên
nổi. Ðàm Hiển bảo đem y bát đặt lên cột kèo cho
các đạo sĩ đọc chú, cũng vô hiệu nghiệm.
Bấy giờ, bọn họ thất sắc ngó nhau,
nhưng vẫn cố gắng, gượng nói: “Ðạo Phật tự xưng
là nội, nội thì thuộc về nhỏ mọn. Ðạo gia chúng
tôi xưng là ngoại, ngoại thì rộng lớn”.
Ðàm Hiển đáp rằng: “Các ngài nói
quái lạ! Nếu thế thì thiên tử ở trong cửu trùng
chắc là nhỏ hơn các quan hay sao?”
Ðạo sĩ Lục Tu Tịnh cứng miệng, không thể đáp lại
một lời. Cao Tổ Văn Ðế mục kích rõ ràng, phân
biệt chánh tà phải quấy. Chính tự tay Ngài viết
chiếu chỉ ban hành: “Theo trẫm xét, pháp môn
không hai thứ, chơn tông chỉ có một. Thế nên
Trẫm nhất định cần theo con đường chánh. Tu hành
phải lấy sự tịch tịch, đạm bạc làm cơ bản. Các
đạo sĩ chuyên cúng tế rượu, ấy gọi là đạo tế
rượu, dối gạt người đời. Nhân gian vì không hiểu
được chỗ đúng, sai nên đua nhau tin theo. Sự tu
hành đâu có lẽ nào chỉ sùng trọng men hèm làm
đạo vị thì thanh hư đâu còn. Chỉ thích chả nem
là món ăn ngon thì tâm từ bi bị đoạn tuyệt. Trên
đã trái với nhân tự (sự cúng tế hợp với lòng
nhân), dưới lại trái với tế điển (sách dạy về
nghi thức cúng tế). Vậy bắt đầu từ ngày hôm nay,
trẫm ban hành sắc lệnh này phổ biến trong toàn
quốc: từ trên xuống dưới, bá quan cũng như nhân
đều biết rõ. Trẫm cấm tuyệt không ai được tín
phụng theo đạo cúng rượu ấy nữa!”
Nhờ đó, một số đông đạo sĩ quy hướng về Phật
giáo. Nhà vua hạ lệnh cho Pháp Sư Thượng Thống
độ những đạo sĩ ấy xuất gia. Còn ai không phát
tâm theo Phật thì phải nhuộm râu tóc để phân
biệt. Có một số ngoan cố, tự cho đạo mình là
thần tiên, không khuất phục. Vua hạ lệnh: Nếu là
thần tiên thì phải lên đài, dùng thần thông bay
qua cho trẫm xem. Các đạo sĩ phải tuân hành,
nhưng bay không được nên đều bị sa xuống đất,
thân thể nát tan.
Từ đó, đạo cúng rượu không còn, mọi người đều
hướng về Phật giáo. Trong nước không còn hai thứ
tín ngưỡng, và cũng từ đấy, Cao Tổ Văn Ðế một
mặt kính phụng Phật pháp, một mặt đem giáo lý
Phật Ðà dẫn dắt nhân dân...
Do sự tu hành từ trên quốc vương xuống tới dân
chúng, nên trong nước cảm được điềm lành: gió
thuận mưa hòa, nhân dân an lạc...
Giới ẩm tửu này phải hội đủ bốn duyên mới kết
thành tội:
1. Là rượu: đích xác là rượu, sau khi uống làm
cho người tâm tánh hôn mê.
2. Tưởng là rượu: gồm có sáu trường hợp khác
nhau, trong đó có hai trường hợp trọng, hai
trường hợp khinh và hai trường hợp không phạm.
3. Cố tâm cố uống rượu: tự mình có ý
tưởng muốn uống rượu.
4. Uống vào miệng: thấy rượu muốn
uống và hớp vào trong miệng, cứ tính mỗi hớp mà
đắc tội. Nếu bảo người uống, cũng cứ tùy theo
mỗi hớp mà cả hai đều phạm tội.
Giới này bất luận tại gia hay xuất
gia, Ðại Thừa hoặc Tiểu Thừa, đều phải đồng tuân
giữ, không cho ngoại lệ một người nào.
Nếu trường hợp thân có trọng bệnh,
ngoài rượu ra, không thuốc nào có thể trị liệu
và có sự xác nhận của y sĩ thì được khai miễn
cho.
Trong Phân Biệt Công Ðức Luận có nói: Khi Phật
còn tại thế, tại Kỳ Hoàn tịnh xá có một vị tỳ
kheo bị bệnh suốt sáu năm trường, trị cách nào
cũng không hết. Ưu Ba Ly tôn giả trì luật đệ
nhứt đến thăm vị tỳ kheo ấy.
Tôn giả hỏi: - Thầy có cần dùng gì không?
Tỳ kheo ấy đáp rằng: - Tôi chỉ cần
dùng rượu thôi. Vì chỉ có rượu mới có thể trị
lành được căn bệnh của tôi.
Tôn Giả nghe qua, tự mình không dám
quyết định, bèn đáp rằng: - Ðiều ấy phải cầu xin
Ðức Thế Tôn chỉ dạy.
Rồi Tôn Giả đến trước Phật, đầu mặt
đảnh lễ và đem việc trên bạch lên Phật. Ngài dạy
Ưu Ba Ly tôn giả rằng: “Giới luật Ta đã chế định
là trường hợp thông thường, nếu mắc phải chứng
bịnh mà ngoài rượu ra, không gì có thể trị liệu
được thì có thể đặc biệt khai miễn cho”.
Tôn giả được Phật chỉ dạy, liền cho
tỳ kheo bị bệnh uống rượu. Nhờ vậy, bệnh được
lành hẳn. Thầy tỳ kheo được lành bệnh, thân
không đau khổ, tinh thần sáng suốt. Tôn Giả bèn
vì thầy mà thuyết pháp. Sau khi nghe pháp, tỳ
kheo ấy chứng quả A La Hán.
Ðức Phật tán thán tôn giả Ưu Ba Ly rằng: “Việc
làm của ông rất tốt, vì chẳng những giúp cho tỳ
kheo kia lành bệnh, lại còn làm cho vị ấy chứng
đắc đạo quả”.
Theo truyện trên, trong những trường hợp đặc
biệt, chúng ta thấy Ðức Phật vẫn đại từ, đại bi
khai giới cho phép uống rượu. Nhưng không được
lạm dụng tinh thần đó, khi không có bệnh nói là
bệnh, để mượn cớ uống rượu, quên hẳn tinh thần
chế lập giới luật của Ðức Phật là tuyệt đối
không nên uống rượu, vì đó là việc làm tạo tội
lỗi vô biên.
Cho nên là Phật tử dù ở vào hoàn cảnh nào, thời
gian nào, cùng bất luận bị sự cám dỗ, mê hoặc
nào, cũng đều không được uống rượu, vì uống rượu
chẳng những trái với giới luật, mà ngay đối với
bản thân mình chỉ bị tổn hại và hoàn toàn không
có lợi ích.
Chú thích:
(1) Khiếu Oán địa ngục: địa ngục thứ tư trong
tám đại địa ngục. Ở đây, lược giải như sau:
Tội nhân bị đọa vào địa ngục này do lúc làm
người tạo ác nghiệp sát sanh, trộm cướp, dâm
dục, uống rượu, mua rượu cung cấp cho người xuất
gia uống, làm mê loạn tâm Thiền Ðịnh, không thể
chứng đắc cảnh Tịch Diệt.
Do nghiệp nhân này, sau khi xả thân bị đọa vào
đại địa ngục Khiếu Oán, bị ngục tốt dùng kềm sắt
vạch miệng rót nước đồng đỏ đang sôi sùng sục
vào.
Khi nước đồng sôi vào miệng thì lưỡi, gan ruột,
các tạng phủ đều bị thiêu đốt. Nước chảy từ trên
xuống dưới mà ra ngoài. Tội nhân bị hình phạt
đau đớn tột cùng, cất tiếng kêu lớn mà chết.
Ba chữ “Ðại Kiếu Oán” chỉ âm thanh kêu la thống
thiết của tội nhân khi bị hành hình mà chết.
Nhưng khi chết rồi lại sống lại, bị ngục tốt quở
trách, mắng nhiếc, tiếp theo bị hai núi sắt rực
lửa từ xa hiệp lại, nghiền nát thân hình tội
nhân thành tro bụi.
Tội nhân sau khi chết rồi bị hoàn hồn cho sống
lại để tiếp tục thọ khổ hình như vậy vô lượng vô
biên, không sao tả xiết. Nếu thoát được nỗi khổ
nơi này, chạy đến nơi khác, bị ngục tốt bắt lộn
đầu mặt xuống đất, hai chân trở lên, rồi bị đem
nhúng vào vạc nước sắt sôi nung nấu trải qua
trăm ngàn muôn năm.
Nếu thoát được chỗ này, chạy đến chỗ khác, gặp
con chim toàn thân bằng sắt cực kỳ to lớn, lại
có lửa cháy hực hỡ trên thân, bay đến kẹp tội
nhân vào trong chân. Cả toàn thân tội nhân,
xương thịt cho đến các lóng đốt đều bị phân tán
ra trăm nghìn mảnh vụn và bị chim mổ ăn thịt.
Chết rồi sống lại, tiếp tục thọ khổ. Nếu thoát
khỏi nơi này, đến nơi khác thì bị đói khát bức
ngặt, xa xa nhìn thấy ao nước mát trong, tội
nhân vội vàng chạy đến toan tắm cho mát mẻ, thì
trong ao xuất hiện con cá trạnh (ba ba) thân
hình rất lớn, bắt tội nhân rồi lặn xuống đáy ao.
Nước trong ao là nước bạch lạp sôi. Tội nhân
trong ao bị nỗi khổ nung nấu trải qua vô lượng
trăm ngàn năm.
Chết rồi sống lại, chạy đến nơi khác bị ngục tốt
dùng dùi sắt đâm vào mình tội nhân tan nát, máu
chảy lênh láng, lại bị ngục tốt dùng búa chém,
chặt đến chết.
Chết rồi sống lại, chạy đến nơi khác, lọt vào
trong một cái thôn toàn lửa. Tội nhân vào trong
đó rồi bốn phía cửa đều đóng bít. Ở trong ấy, họ
bị khổ thiêu đốt. Lại có thứ trùng đen, miệng
bằng chất kim cương, răng rất bén nhọn, cắn rúc
thân hình tội nhân mà ăn. Họ phải chịu khổ vô
lượng như thế trải qua trăm ngàn muôn năm.
Khi thoát khổ địa ngục, chuyển sanh làm người
phải bị cảnh nghèo cùng khốn khổ, ở những nơi
chật hẹp dơ bẩn, bị trẻ con chọc ghẹo, đùa giỡn.
Răng miệng hết sức xấu xa, tay chân nứt nẻ, què,
vẹo, bị đói khát bức ngặt, cô độc, không quyến
thuộc bạn bè. Ðây là dư báo của tội Sát, Ðạo,
Dâm, Rượu.
Trên đây là lược giải thích sự thọ khổ của tội
nhân trong Khiếu Oán địa ngục. Ðịa ngục này còn
có mười sáu địa ngục phụ thuộc xung quang. Sự
thọ khổ trong có mười sáu địa ngục này cứ xoay
chuyển và tăng cấp gấp mười lần theo thứ tự. Tức
là sự thống khổ ở địa ngục thứ nhất thì sự thống
khổ ở địa ngục thứ nhì tăng lên mười lần. Ðịa
ngục thứ ba là một trăm lần so với địa ngục thứ
nhất và mười lần so với địa ngục thứ nhì. Cứ thế
mà tính đếm đến địa ngục thứ mười sáu. Ở đây xin
thuật sơ lược ba cảnh trong mười sáu cảnh ở địa
ngục này:
1. Ðại hẩu xử địa ngục: Do sự thống khổ của tội
nhân mà đặt tên. Tội nhân trong địa ngục này khi
bị hành hình đau đớn quá phải la hét lớn lên,
nên gọi là “đại hẩu”.
Tội nhân bị đọa vào địa ngục này do vì lúc còn
làm người, đem rượu cho người trì trai giữ giới
uống, phá trai giới của người. Tội nhân bị uống
nước bạch lạp sôi trong một bát bằng sắt nóng.
Khi uống vào rồi, miệng, lưỡi, tạng phủ đều bị
cháy phỏng, nên quá đau đớn phải cất tiếng kêu
gào. Ngục tốt nghe tiếng kêu càng nổi giận, bắt
buộc tội nhân phải uống tiếp đến chết.
Chết rồi, sống lại, tiếp tục thọ khổ trải qua vô
lượng ức năm. Nếu thoát khỏi địa ngục này, sanh
làm người phải bị ngu si, ám độn. Tâm tánh hay
quên lãng, ở vào giai cấp bần cùng, hạ tiện,
luôn mong cầu tiền của, nhưng không bao giờ toại
nguyện, bị bệnh hoạn, đói khát mà chết.
2. Phổ thích xử địa ngục: Lấy sự thống khổ của
tội nhân mà đặt tên. Kẻ nào đem rượu cho người
thọ giới uống, sau khi chết phải đọa vào địa
ngục này. Ngục tốt dùng chày đánh đập, tội nhân
đau đớn cất tiếng kêu la lan khắp cả địa ngục.
Tội nhân bị đánh chết rồi cho sống lại, tiếp tục
thọ khổ. Ðến khi giai đoạn thọ khổ đã mãn, sanh
lên làm người nơi hoang dã, không có nước uống,
hoặc nơi quốc độ thiếu nước, luôn bị đói khát,
thiếu nghèo.
3. Hỏa phát lưu xứ địa ngục: Cũng lấy sự thọ khổ
của tội nhân mà đặt tên. Tội nhân bị thiêu đốt
từ đầu đến chân. Do vì tội ở trước người thọ
giới mà tán dương sự khoái lạc của rượu và ép
những người này uống.
Khi chết, phải đọa vào địa ngục này và bị mưa
lửa thiêu đốt, cháy suốt từ đầu đến chân. Lại có
chó bằng sắt nóng cắn xé ăn thịt. Chim thứu bằng
sắt miệng tuôn lửa đỏ, mổ đầu tội nhân để hút
nước tủy não. Dã can bằng sắt ăn thịt tội nhân.
Những nỗi thống khổ như vậy, tội nhân phải chịu
cho đến chết. Chết rồi sống lại, tiếp tục nhận
chịu trải qua vô lượng trăm ngàn năm. Khi mãn
kiếp ở địa ngục, đầu thai làm người, bị sanh vào
những chỗ không có rượu. Tất cả đồ dùng không
màu sắc, mùi vị. Khi ăn uống vật thực gì cũng
không biết mùi vị....
B.2.3. THỰC NHỤC GIỚI (Giới
ăn thịt)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử cố thực nhục...” cho đến câu
“nhược cố thực giả, phạm khinh cấu tội”.
2. Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử cố ăn thịt, tất cả thịt của mọi loài
chúng sanh đều không được ăn. Luận về người ăn
thịt thì mất lòng đại từ bi, dứt giống Phật
tánh. Tất cả chúng sanh khi trông thấy đều muốn
tránh xa người này. Người ăn thịt mắc vô lượng
tội lỗi. Vì thế nên tất cả Phật tử không được ăn
tất cả các thứ thịt của mọi loài chúng sanh. Nếu
cố ý ăn thịt, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Sát
sanh với ăn thịt thông thường cho là hai sự
kiện; nhưng kỳ thật có quan hệ mật thiết với
nhau. Chúng ta có thể nói như vầy: Sát sanh là
sát hại sanh mạng một cách trực tiếp; ăn thịt là
sát hại sanh mạng một cách gián tiếp. Dù trực
tiếp hay gián tiếp, nhưng sự sát hại sanh mạng
vẫn là một. Vì thế, nói một cách nghiêm khắc, là
Phật tử chẳng những không nên sát sanh mà cũng
không nên ăn thịt.
Trên đời này, một số người đã quy y Tam Bảo
nhưng không thể ăn chay được. Họ cho rằng sát
hại sanh mạng là không được, nhưng lấy tiền mua
thịt chúng sanh đã giết sẵn về ăn thì không sao.
Họ không biết rằng quan niệm ấy hết sức sai lầm.
Tại sao vậy?
Phải biết rằng: Sở dĩ những kẻ đồ tể sát hại
sanh mạng động vật đem bán là vì có người mua
ăn. Nếu không có người mua ăn, thử hỏi họ giết
động vật để làm gì?
Cho nên trong kinh Lăng Già, Ðức Phật dạy Ðại
Huệ Bồ Tát rằng: “Phàm người sát hại sanh mạng
chúng sanh, đa số vì có người ăn thịt. Nếu không
có người ăn thịt thì không có việc sát sanh. Thế
nên, ăn thịt cùng sát sanh hai tội ấy tương
đồng”.
Là một Phật tử chân chánh, đặc biệt là hàng Ðại
Thừa Bồ Tát tuyệt đối không nên ăn thịt. Nếu có
người nào cho rằng ăn thịt không trái với giới
luật, thì người ấy không phải là Phật tử. Không
đúng với tư cách của vị Bồ Tát có đầy đủ tâm Từ
Bi.
Từ Bi là điều tối trọng yếu trong Phật pháp. Có
thể nói: Từ Bi là cốt tủy của Phật pháp. Chẳng
những mỗi Phật giáo đồ cần phải trưởng dưỡng tâm
Từ Bi, lại còn cần phải giúp cho mọi người đều
dưỡng thành tâm Từ Bi. Nếu muốn thực hành điều
này một cách chân chánh, thì trước tiên nên thực
hiện ngay từ trên mâm ăn, đừng để có sự lưu
huyết. Bằng không thì nói dưỡng thành tâm Từ Bi
chỉ là nói suông, không đi đôi với sự thật.
Ðức Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu làm
một vị Phật tử, đã phát Bồ Ðề tâm, đã thọ Bồ Tát
giới, thì tuyệt đối không được cố ý ăn thịt”.
Cố ý ăn thịt nghĩa là sự ăn thịt ấy không phải
là trường hợp do lầm lẫn, không biết là thịt.
Nếu ăn lầm thì không kết thành lỗi chi. Nhưng
đại đa số người đời ăn thịt đều là hữu ý, vì
muốn ăn cho ngon miệng, no bụng. Trường hợp này,
đạo Phật không cho phép và chấp thuận.
Việc không ăn thịt của Phật giáo không giống với
các tôn giáo khác là chỉ không được ăn một loại
thịt nào đó như Hồi giáo không được ăn thịt heo;
Ấn Ðộ giáo cấm ăn thịt bò, ngoài ra các thứ thịt
khác đều được ăn. Phật giáo hoàn toàn không phải
vậy, mà tất cả thịt của mọi loài chúng sanh đều
không được ăn.
Tại sao Phật giáo lại nghiêm cấm việc ăn thịt
nghiêm khắc như thế? Vì phàm chúng sanh, khi có
thân huyết nhục, vật chất bên ngoài, đều có tánh
linh giác bên trong, đồng có tâm ý ham sống sợ
chết, giống như nhân loại chúng ta, không một
chút gì sai khác.
Nên trong kinh nói: “Những loài có khí huyết
nhất định có giác tri. Hễ có giác tri, nhất định
phải đồng một thể. Mình không muốn người khác ăn
thịt mình, tất nhiên người khác cũng không bao
giờ muốn mình ăn thịt họ. Chúng ta không xét
nghĩ đến phương diện tự tha đồng thể, lại đi ăn
thịt chúng sanh. Thử hỏi thế gian này còn có
việc nào tàn ác hơn nữa?”
Phật giáo cấm sát sanh và ăn thịt, hoàn toàn
không phải như chỗ hiểu của những kẻ tầm thường
cho là mê tín, nhận lầm là u mê. Mà chính là
phát xuất từ tâm bất nhẫn tự tha đồng thể, tâm
đại Từ Bi của Ðức Phật. Cho nên trong các kinh
Ðại Thừa, chỗ nào cũng nói đến tội lỗi của sự ăn
thịt, ngăn cấm hàng Phật tử tu học Phật pháp
không được ăn thịt.
Quý vị đừng nên cho rằng ăn thịt là việc nhỏ
nhặt, đối với người tu học Phật pháp tựa hồ
không có gì chướng ngại cho lắm. Thật ra, một
người ăn thịt thì bên trong đoạn tuyệt tâm đại
từ bi, dứt hạt giống Phật tánh, bên ngoài thì
tất cả chúng sanh trông thấy đều muốn tránh xa.
Theo trên nói thì có thể chia làm hai phần:
1. Phần trước như trong kinh Niết Bàn, Ca Diếp
Bồ Tát thỉnh vấn Ðức Phật rằng: - Vì sao đức Như
Lai không cho ăn thịt?
Ðức Phật dạy rằng: “Này Ca Diếp! Vì
người ăn thịt là đoạn tuyệt hạt giống đại Từ Bi.
Tâm Ðại Từ Bi chính là tâm vô thượng Bồ Ðề. Tâm
Ðại Từ Bi đã bị đoạn tuyệt rồi thì còn lấy pháp
gì làm cội gốc để thành tựu quả Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác?”
Căn cứ vào lời Phật dạy trên, chúng
ta chẳng những không nên ăn thịt mà ngay cả lông
thú, miệng tằm cũng là vật không đành lòng nhẫn
tâm thọ dụng.
Trong kinh Ương Quật nói: “Nếu hàng lụa tơ tằm
từ tay kẻ sát sanh đem cúng dường bố thí thì quý
tỳ kheo cũng không nên nhận lãnh. Nếu nhận lãnh
thì không có tâm Từ Bi”.
Trong kinh Phạm Võng này, vì sao chỉ nói đến cấm
ăn thịt mà không nói cấm mặc đồ tơ lụa?
Nên biết minh văn trong kinh dù không thấy nói,
nhưng sự thật vẫn bao hàm ý ấy. Cho nên người
xuất gia còn được gọi là Nạp Tử. Các sĩ phu
thông thường gọi là mặc áo vải thô, chính là ở
nơi ý này. Vì thế, hàng Phật tử tu học Phật pháp
chân chánh, chẳng những không ăn thịt, mà những
hàng bằng tơ lụa cũng không được phép mặc.
2. Phần sau như trong kinh Lăng Già nói: “Những
người làm nghề ác luật nghi, nói rõ ra là những
người ác như thợ săn, đồ tể, lưới cá, bắt chim
v.v.. khi chó trông thấy thì sợ hãi sủa la, thú
thấy thì bỏ chạy, những loài bay trên không,
chạy trên đất, lội dưới nước v.v... khi trông
thấy đều cho rằng: “Người này như các quỷ La
Sát, hôm nay đến chỗ chúng ta chắc sẽ giết hại
chúng ta”.
Vì muốn bảo vệ thân mạng nên chúng đều chạy lánh
xa. Nên trong kinh dạy: “Tất cả chúng sanh khi
thấy đều lánh xa”.
Trong kinh Niết Bàn cũng nói: “Tất cả chúng sanh
khi thấy người ăn thịt thảy đều sợ sệt, chạy
trốn”.
Lại nói: “Chúng sanh thấy trên đầu người ăn thịt
có huyết quang, chúng nó nghĩ rằng: người này ăn
thịt, nếu bắt được ta chắc chắn sẽ ăn thịt ta,
nên chúng ta phải mau mau chạy đi”.
Ðây là một bằng chứng như trong kinh dạy: “Tất
cả chúng sanh trông thấy đều lánh xa”.
Lại nữa, khi Ðức Phật còn tại thế, lúc Ngài đang
kinh hành trong tịnh xá Kỳ Hoàn, bỗng có một con
bồ câu bị chim bù cắt săn đuổi. Nó bay núp vào
trong bóng thân của tôn giả Xá Lợi Phất để cầu
Ngài bảo hộ, nhưng nó vẫn cảm thấy sợ hãi vô
cùng. Nó lại bay đến núp trong bóng thân của đức
Thế Tôn để cầu Phật che chở. Lúc đó, nó cảm thấy
an ổn, không còn sợ sệt.
Tôn giả Xá Lợi Phất thấy thế liền thỉnh vấn Phật
rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Con hoàn toàn không có
tâm sát hại, tại sao khi chim ở trong bóng thân
của con vẫn còn sợ hãi như vậy?”
Ðức Phật dạy rằng: “Sát tâm của ông dù không có,
nhưng tập khí sát nghiệp của ông chưa đoạn trừ
nên bồ câu ấy vẫn còn sợ sệt”.
Chúng ta hãy suy nghĩ: Tập khí sát nghiệp của
tôn giả Xá Lợi Phất chưa đoạn trừ, hãy còn làm
cho chúng sanh sợ sệt, huống chi chúng ta là
phàm phu chưa đoạn được sát tâm?
Ðoạn tuyệt hạt giống Từ Bi là mất phần tư lợi.
Tất cả chúng sanh trông thấy đều tránh xa là mất
phần lợi tha.
Tư lợi, lợi tha đều mất thì đâu còn là một vị Bồ
Tát?
Cho nên Phật dạy tiếp theo: “Vì thế, tất cả Bồ
Tát không được ăn tất cả các loại thịt của mọi
loài chúng sanh”.
Vì nếu là một hành giả Bồ Tát chân chính, theo
đúng luật phải hy sinh sanh mạng của mình để cứu
hộ những chúng sanh đáng cứu hộ. Như đức Bổn Sư
trong thời gian còn tu Bồ Tát hạnh, Ngài đã xả
thí vô số đầu, mắt, tủy não để cứu độ chúng
sanh. Ðó là một tấm gương rất tốt cho chúng ta
noi theo, vậy chúng ta làm sao có thể quay lại
đi ăn thịt chúng sanh?
Nếu không dùng tâm Từ Bi cứu độ chúng sanh, mà
trái lại ăn thịt chúng sanh thì mắc vô lượng tội
lỗi.
Trong Ðại Trí Ðộ Luận của Tổ Long Thọ nói: “Nếu
ăn thịt tức phạm tội sát sanh. Tại sao vậy? Vì
một khi đã ăn thịt, lúc thấy người sát sanh, tất
nhiên sẽ có tâm nhẫn khả” (ý nói vì tập quán ăn
thịt đã quen, nên khi thấy người tạo sát nghiệp,
tâm vẫn an nhiên, không động mối từ tâm).
Trong kinh có hai bài kệ như sau:
Các thứ thịt chẳng phải tự nhiên sinh,
Ðều do đoạn mạng mới có thịt.
Tức là kẻ giặc cướp sinh mạng,
Không thể thoát khỏi giòng sanh tử.
Bài kệ 2:
Vì cầu tài lợi mà giết chúng sanh
Dùng tiền làm lưới, mua lấy thịt.
Hai hạng người ấy đều tạo ác nghiệp,
Chết rồi liền đọa địa ngục Khiếu Oán.
Theo lời kinh dạy trên, chúng ta thấy tội lỗi ăn
thịt rất lớn, không thể nói cho hết được.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật dạy ngài A Nan
rằng: “Những người ăn thịt, dù tâm được khai
ngộ, tựa hồ như đắc Tam Ma Ðịa, nhưng thực ra là
quỷ La Sát. Sau khi xả thân, quyết định phải bị
trầm luân trong bể khổ sanh tử. Người ấy không
thể nào thoát ly tam giới”.
Và lúc Ðức Phật giảng kinh Ðại Thừa Nhập Lăng
Già cho bốn bộ đệ tử, nghe đến đây, tức đoạn
kinh văn: “Ðức Ðại Huệ Bồ Tát thỉnh vấn...”, Ðại
Huệ Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước
Phật đảnh lễ, đoạn quỳ chắp tay, bạch lên Ðức
Phật rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Xin thương xót vì
chúng con giảng dạy công đức không ăn thịt và
tội lỗi của ăn thịt để cho con cùng chư Bồ Tát
Ma Ha Tát biết rõ nghĩa ấy và vì chúng sanh đời
hiện tại và vị lai đã huân tập quen theo tánh ăn
thịt mà giảng nói, khiến chúng sanh sanh tâm
nhàm chán, xa lìa nhục vị mà nhất tâm cần cầu
pháp vị của Như Lai, đối với toàn thể chúng sanh
khởi tâm đại từ, đối xử với nhau thân ái, xem
nhau như con một nhà, an trụ địa vị Bồ Tát, đắc
quả A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề’.
Ðức Phật bảo Ðại Huệ Bồ Tát rằng: “Này Ðại Huệ!
Tất cả các thứ thịt đều có vô lượng nhân duyên.
Chư Bồ Tát vì lẽ ấy nên sanh tâm Từ Bi, không
nên ăn thịt. Ta hôm nay theo lời cầu thỉnh của
ông mà lược giảng ít phần như sau:
Này Ðại Huệ! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ trở
lại, mãi luân hồi trong sanh tử, từng làm cha
mẹ, anh em, con trai, con gái, quyến thuộc cho
đến bằng hữu thân ái cũng như thị tùng giúp đỡ
v.v... Nhưng sau khi xả thân, sanh qua đời khác,
phải theo ác nghiệp mà thọ thân phi cầm, tẩu
thú. Như thế, chúng sanh chính thực là quyến
thuộc của mình, tại sao mình lại giết để ăn
thịt?
Này Ðại Huệ! Vị Bồ Tát Ma Ha Tát quan sát chúng
sanh đồng với thân mình, đoạn suy nghĩ tất cả
thịt đều từ nơi sanh mạng chúng sanh!
Này Ðại Huệ! Các quỷ La Sát là thứ hung dữ,
nhưng khi chúng nghe Ta giảng nói những lời trên
còn phát nguyện đoạn tuyệt không ăn thịt. Huống
chi hàng Phật tử là người ưa thích, cần cầu
chánh pháp của Như Lai?
Này Ðại Huệ! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát quán sát tất
cả chúng sanh đều là quyến thuộc của mình, đến
nỗi sanh từ niệm xem như con một của mình, nên
đối với tất cả thịt của chúng sanh đều không nên
ăn.
Này Ðại Huệ! Chúng sanh khi trông thấy người ăn
thịt đều sanh tâm sợ hãi. Thế thì người Phật tử
tu tâm Từ, sao nỡ nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh?
Này Ðại Huệ! người ăn thịt thì thân thể hôi
thối, dơ bẩn, tất cả thánh hiền, thiên nhân đều
không gần gũi. Thế nên Bồ Tát không nên ăn thịt.
Này Ðại Huệ! Huyết nhục là thứ ô uế, nên chư
thiên, chư tiên đều lánh xa. Các hiền thánh cũng
không ăn. Thế nên Bồ Tát không nên ăn thịt.
Này Ðại Huệ! Nếu đệ tử của ta ưa ăn thịt, khiến
thế nhân sanh lòng hủy báng rằng: “Sa môn là
người tu tịnh hạnh mà giống như loài thú dữ, ăn
thịt no bụng rồi rảo đi trong nhân gian, khiến
tất cả chúng sanh đều sanh tâm sợ hãi, phá hoại
hạnh thanh tịnh, mất đạo sa môn”. Bồ Tát phải có
tâm từ mẫn, ái hộ chúng sanh đừng để chúng sanh
sanh khởi tâm niệm như vậy. Muốn thế, Bồ Tát
không nên ăn thịt.
Này Ðại Huệ! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân,
những người tu hạnh thanh tịnh, hoặc trụ từ tâm,
hoặc trì thần chú, hoặc thú hướng pháp Ðại Thừa,
hoặc mong cầu được giải thoát, nhưng do vì ăn
thịt nên tất cả đều bị chướng ngại, không được
thành tựu. Thế nên, Bồ Tát muốn được lợi mình,
lợi người thì không nên ăn thịt.
Này Ðại Huệ! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh
phải có từ niệm, xem như chính thân mình, sao
lại nỡ khởi niệm tưởng ăn thịt chúng sanh? Vì lý
do ấy nên Bồ Tát không ăn thịt.
Này Ðại Huệ! Người ăn thịt thì chư thiên, thiên
thần đều lánh xa, vì hơi trong miệng thường hôi
thối, bản thân họ lại dễ sanh trưởng các bệnh
tật, ghẻ chốc.
Này Ðại Huệ! Thịt không phải là một thứ ngon
quý, mà là một vật bất tịnh, lại sanh ra các tội
ác, phá hoại các công đức. Nên chư thiên, chư
tiên và các bậc thánh nhân thảy đều xa lánh. Vì
thế, có lý nào ta lại cho đệ tử của ta ăn thịt?
Nếu người nào nói ta cho đệ tử ăn thịt thì người
ấy chính là kẻ hủy báng Ta.
Này Ðại Huệ! Người ăn thịt có vô lượng tội lỗi
như thế. Vì thế nếu người nào đoạn tuyệt sự ăn
thịt thì được vô lượng công đức”.
Hai câu kinh văn trên là huấn từ của đức Như Lai
đáp lại lời thỉnh vấn của Ðại Huệ Bồ Tát cầu xin
Ðức Phật chỉ dạy về tội lỗi cũng như công đức
của việc ăn thịt và không ăn thịt.
Ðức Phật lại phán tiếp: “Phàm phu ngu si, không
biết sự tổn hại và lợi ích như vậy. Thế nên hôm
nay ta vì ông chỉ lược giảng nói. Nếu nói ra đủ
cả thì không thể nào cùng tận được. Tóm lại,
ngoài rau cải là vật vô tình, tất cả những thứ
nào thuộc về thịt đều không được ăn”.
Theo lời Phật dạy trong kinh Lăng Già trên,
chúng ta thấy một Phật tử, bất luận tại gia hay
xuất gia, Ðại Thừa hoặc Tiểu Thừa, nhìn dưới bất
cứ khía cạnh nào cũng đều không được ăn thịt.
Trong kinh A Hàm có kể câu chuyện một nữ quỷ đến
thỉnh vấn tôn giả Mục Liên rằng: “Bạch tôn giả!
Suốt đời con đã sinh được rất nhiều đứa con rất
đoan nghiêm đẹp đẽ. Con rất thương yêu, cưng quý
chúng. Nhưng chúng đều bất hạnh chết yểu. Vì thế
khiến cho con mỗi khi nghĩ đến, tưởng chừng can
trường đứt đoạn, buồn đau không muốn sống. Ðây
chẳng biết do tội nghiệp chi, kính xin tôn giả
mở lòng từ bi chỉ giáo!”
Mục Liên đáp rằng: “Vì thời quá khứ, lúc ngươi
làm người, khi thấy các con của người giết hại
sanh mạng của chúng sanh, ngươi chẳng những
không sanh tâm thương xót ngăn cản, lại còn hoan
hỷ trợ giúp và lại cùng ăn thịt các chúng sanh
mà các con ngươi đã giết. Vì con của ngươi tạo
nghiệp sát sanh, nên đời này bị quả báo đoản
mạng. Còn ngươi trông thất sát sanh lại sanh tâm
tùy hỷ nên đời này bị khổ đau như vậy. Ðây chỉ
mới là hoa báo, quả báo tương lai ngươi sẽ bị
đọa vào địa ngục”.
Thấy người làm việc sát sanh có tâm tùy hỷ còn
bị khổ báo như vậy, huống chi chính mình sát
sanh, chính miệng mình ăn thịt chúng sanh. Vì
thế, Phật tử tu học Phật pháp “nếu cố ăn thịt
chúng sanh thì Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Có người cho rằng: “Ăn thịt đúng là không được,
nhưng nếu ăn rau ở bên thịt thì không có vấn đề
gì!” Nghiêm túc mà nói, điều ấy không thể được!
Như trong kinh Niết Bàn, Ca Diếp Bồ Tát thỉnh
vấn Ðức Phật: “Kính bạch Thế Tôn! Nếu quý tỳ
kheo lúc khất thực được những thức ăn có lộn
thịt thì làm sao ăn được? Và có đúng với pháp
thanh tịnh chăng?”
Phật dạy: “Nếu gặp như vậy, phải dùng nước rửa
cho thịt lộn trong đồ ăn tách riêng ra thì mới
được ăn”.
Theo lời Phật dạy trên, thì khi rau cải và thịt
chung một chỗ, chính là trường hợp rau cải ở bên
thịt đã được hỏi bên trên. Nếu không dùng nước
rửa sạch thì không ăn. Rau cải ở bên thịt còn
không được ăn, huống chi là thịt trên thân của
chúng sanh, không được ăn là lẽ tự nhiên!
Có người lại hỏi:
Trong kinh Phạm Võng này nói tất cả thịt của mọi
loài chúng sanh không được ăn. Tại sao trong
kinh giáo Tiểu Thừa, Ðức Phật lại cho ăn ba thứ
tịnh nhục: thịt của chúng sanh chính mình không
thấy người giết, không nghe giết, không vì mình
mà giết?
Nên biết ba thứ tịnh nhục ấy là phương tiện tạm
thời của Ðức Phật, dần dần rồi Ngài sẽ cấm hẳn.
Không phải thật sự cho hàng Phật tử tu học Phật
pháp được thọ dụng thức ăn bằng thịt như vậy
vĩnh viễn.
Cho nên trong kinh Niết Bàn, Ðức Phật bảo Bồ Tát
Ca Diếp rằng: “Ba thứ tịnh nhục là nhân nơi sự
và dần dần sẽ cấm tuyệt. Thế nên hiện tại ta cấm
tuyệt việc ăn ba thứ tịnh nhục ấy”.
Theo Thanh Văn thừa, trước thời gian thuyết
giảng kinh Niết Bàn, Phật có cho phép ăn ba thứ
tịnh nhục. Nhưng từ sau khi giảng kinh Niết Bàn,
chẳng những Phật không cho ăn các thứ thịt khác
mà cả ba thứ tịnh nhục Ngài cũng cấm hẳn.
Theo Bồ Tát thừa thì trước hay sau thời thuyết
giảng kinh Niết Bàn, Phật đều cấm không cho ăn
tất cả thịt. Chính kim khẩu Ðức Phật dạy: “Này
Ca Diếp! Bắt đầu từ hôm nay trở đi, Ta cấm hẳn
các đệ tử không còn được phép ăn tất cả các loại
thịt nữa!”
Tóm lại theo tinh thần từ bi của Ðại Thừa, bất
luận thứ thịt nào, nếu là Phật tử đều không được
ăn. Nếu là một Phật tử mà lại cho rằng có thể ăn
thịt thì không phù hợp với chân nghĩa của Phật
giáo.
Nên trong kinh Niết Bàn, Ðức Phật từng dạy chúng
ta rằng: “Sau khi ta nhập Niết Bàn, trải qua
trăm ngàn năm, sẽ có những tỳ kheo hình tướng
giống như người trì giới, nhưng trong tâm thì
thèm thuồng uống ăn. Thực là chẳng phải sa môn
mà hiện tướng là sa môn. Do tà kiến trong nội
tâm lừng lẫy mà tuyên bố: ‘Ðức Như Lai cho chúng
ta ăn thịt’. Lời nói trên chỉ là tự nói, tự bịa
ra mà thôi, tuyệt đối không bao giờ Ðức Phật lại
nói như vậy. Tức là bổn ý của Ðức Phật không bao
giờ cho Phật tử ăn thịt”.
Trong kinh Lăng Già, Ðức Phật có khai thị như
vầy: “Ở đời vị lai có những người ngu si, vọng
nói giới luật, phá hoại chánh pháp, hủy báng ta,
nói rằng ta cho ăn thịt.
Này Ðại Huệ! Ta ở trong các kinh, có nói cấm ăn
mười thứ thịt, cho ăn ba thứ. Ðó là phương tiện
dần dà sẽ cấm hẳn cho các ông tu học. Hôm nay,
trong kinh Lăng Già này, phàm là thịt lấy từ
những con vật tự chết hay do người giết v.v...
tất cả đều phải đoạn tuyệt, không được ăn nữa.
Nếu có người ngu si, hủy báng ta, nói Như Lai
cho ăn thịt, nên biết người ấy bị ác nghiệp buộc
ràng, sẽ vĩnh viễn đọa vào trong cảnh khổ đau
của tam đồ ác đạo”.
Những lời Phật dạy trên là một bằng chứng hùng
hồn cho thấy Ngài không cho đệ tử ăn thịt.
Người thế gian thường nói như vầy: “Làm người
cốt yếu là giữ tâm cho tốt là được rồi, tâm tốt
còn hơn ăn chay, không cần phải chấp theo giới
luật mà ăn chay!”
Ðáp rằng: “Làm người phải giữ tâm cho tốt”, lời
ấy rất đúng! Còn nói “tâm tốt còn hơn ăn chay”,
lời ấy hoàn toàn sai!
Tại sao vậy? Vì ăn thịt chúng sanh là một việc
làm rất trái với tâm Từ Bi, làm sao có thể nói
là tâm tốt được?
Liên Tông Bát Tổ Liên Trì Ðại Sư từng dạy rằng:
“Giết hại sinh mạng chúng sanh để ăn thịt, thiên
hạ gọi là tâm hung ác, tâm thảm độc, không có ác
tâm nào hơn”. Vậy thì tâm tốt ở chỗ nào?
Vì thế nói rằng: “Giữ tâm tốt còn hơn ăn chay”,
lời ấy làm cho bá tánh trong nhân gian lầm nghe
theo mà đi vào con đường tội lỗi, sẽ chiêu cảm
khổ quả không thể nói. Vậy, chúng ta là Phật tử,
quyết đừng nghe và tin theo lời ấy!
Trong giới tu hành của Phật giáo, cũng có người
do tà kiến che đậy tâm tánh, vì muốn cho ngon
miệng, no bụng, không nghĩ rằng ăn thịt chúng
sanh là việc làm hoàn toàn trái phạm giới luật
của Phật, trở lại không tự biết hổ thẹn, lại nói
càn bướng rằng: “Tôi đã minh bạch đại sự nhân
duyên (1) nên ăn thịt đâu có quan hệ gì!”
Ðúng! Nếu bạn chân thực “đại sự” đã minh bạch,
tự mình đã thoát hẳn ảnh hưởng của thiệt căn,
đối với vị trần vô ngại, thì đương nhiên có thể
nói rằng: ăn thịt không quan hệ chi! Nhưng nếu
đại sự hoàn toàn chưa minh bạch mà chỉ là do sự
ham muốn thèm khát vị ngon của thức ăn thịt cá,
thì không thể nói bướng là ăn thịt vô ngại không
quan hệ chi. Một vị ăn thịt vô ngại, đại sự đã
minh bạch thì chẳng những ăn thịt vô ngại mà cả
sự uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng cũng
đều phải vô ngại. Nếu tự biết mình uống nước
đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng không thể làm được,
thì không nên tự tiện nói là ăn thịt vô ngại và
không quan hệ gì!
“Ăn thịt vô ngại” thực sự là trường hợp của Tế
Ðiên Hòa Thượng, tức Tế Công Phật Sống mà giới
Phật tử rất nhiều người biết đến. Ngài là người
triều nhà Tống. Một lần nọ, muốn cần vàng để sơn
phết tượng Phật, Hòa Thượng đi lạc quyên trong
giới tín đồ. Khi khuyến hóa tín đồ đóng góp được
một số tiền thật lớn để mua vàng, Hòa Thượng
không mua vàng phết tượng Phật, lại đem mua rượu
thịt ăn uống.
Làm như vậy, những người thông thường cho là một
hành động không thể chấp nhận được và là một đại
tội. Nhưng Tế Ðiên Hòa Thượng sau khi ăn uống
rượu xong, Ngài thổ ra những thoi vàng rất tốt,
và đem vàng ấy sơn phết tượng Phật. Ðây mới thực
sự là uống rượu và ăn thịt vô ngại. Bạn có thể
làm được như vậy không?
Nếu được thì không ngần ngại gì, cứ làm như Tế
Công, còn không được thì không nên đem số tiền
đại lượng của Phật tử mà uống rượu ăn thịt. Nếu
dùng tiền ấy uống rượu ăn thịt thì hậu quả không
thể nào lường được!
Lại như Chí Công thiền sư, món ăn sở thích của
ngài là chim cáp, và mỗi miếng ăn là một con
chim. Nhưng sau khi ngài ăn xong, thì từ trong
miệng Ngài thổ ra những con chim cáp kết thành
đàn, bay lượn tự do trong không trung. Ăn thịt
như thế mới xứng đáng gọi là vô ngại, bạn có thể
làm được như thế không? Nếu làm được thì cứ ăn
thịt. Bằng không thì chớ nên nói: “Chí Công
thiền sư ăn thịt, tại sao tôi không được ăn?”
Lại cũng không nên nói: “Ăn thịt là vô ngại” như
vậy nữa để tự dối mình và dối người.
Chúng ta đã hiểu rõ thịt của chúng sanh không
được ăn, nhưng trứng có thể ăn được không?
Ðiều này thường được đề cập và bàn luận đến. Giờ
đây, tôi (Pháp Sư giảng kinh) xin đáp một cách
khẳng định rằng: “Bất cứ trứng gì đều không được
ăn”.
Trong Hiển Thức Luận có nói: “Tất cả trứng đều
không được ăn”. Vì trứng thuộc về chúng sanh
noãn, một trong tứ sanh. Nếu nhìn từ bên ngoài
thì đó chỉ là một cái trứng. Nhưng kỳ thật bên
trong là một sanh mạng đã sanh tồn cụ thể, chỉ
vì quá nhỏ thế thôi. Nếu đem ấp nó sẽ nở thành
một sinh mạng hoạt động. Cho nên ăn một cái
trứng đồng với ăn một sanh mạng của chúng sanh.
Tóm lại:
Sanh mạng của tất cả động vật đều không được ăn.
Vì Phật tử mà ăn thịt là đã mất tâm Ðại Từ Bi,
đoạn tuyệt giống Phật tánh. Chẳng những làm
thương hại chúng sanh mà cũng là làm tổn hại cho
chính mình. Ăn thịt là phải sát sanh, là một sự
kiện vô cùng tàn nhẫn không có gì hơn.
Triều nhà Minh, có một Phật tử tên là Chu Tư
Nghĩa trước tác một bài thơ như sau:
Nhúng tay vào nước sôi,
Toàn thân đau nhức như muốn nứt.
Dùng một cây kim đâm vào thịt,
Khắp cả thân mình như dao cắt,
Cá kia lúc chết buồn hận người
Gà kia sắp chết khóc dưới dao,
Súc vật buồn khóc đều rõ rệt,
Mọi người nghe thấy không tự biết.
Lại triều nhà Tống, thi sĩ Huỳnh Ðình Kiên cũng
có làm bài thơ như sau:
Thịt của chúng ta, thịt chúng sanh,
Danh từ dù khác, thể vẫn đồng,
Nguyên vì thể tánh đồng như một,
Chỉ có khác nhau nơi hình chất,
Ðau khổ chúng sanh phải chịu lấy,
Mập béo thân ta tự ăn dùng.
Nếu bảo Diêm Vương thử đoán xem,
Tự mình nghĩ kỹ sẽ thế nào?
Với những bài thi đã dẫn trên, Phật tử chúng ta
nếu chân thực thể hội thì nỡ đâu ăn thịt chúng
sanh?
Lại nữa, hai trận đại chiến thế giới vừa qua,
nhân loại bị nạn đao binh, dù nói có nhiều
nguyên nhân, nhưng sát sanh chính là nguyên nhân
căn bản. Nên Nguyên Vân Ðại Sư triều Minh có làm
bài tụng:
Trăm ngàn năm lại trong bát canh,
Oán sâu tợ biển, hận khó bằng,
Muốn biết sao đời kiếp đao binh,
Nửa đêm nghe tiếng nhà đồ tể.
Vì thế, việc ngăn cấm sát sanh, đoạn tuyệt ăn
thịt là một biện pháp cơ bản để bảo trì nền hòa
bình, cho nên cổ đức có nói:
Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp,
Hà sầu thế giới động đao binh?
Lại có người nghĩ như vầy: “Không ăn thịt chúng
sanh quả thật là giúp tăng trưởng tâm đồng tình
và nuôi dưỡng lòng từ bi. Nhưng cơ thể chúng ta
cũng cần phải duy trì và bồi dưỡng. Nếu chỉ ăn
rau, không ăn thịt thì sẽ thiếu chất dinh dưỡng,
khiến cơ thể không khang kiện”.
Thật ra, đó chỉ là một quan niệm sai lầm, vì các
nhà khoa học, y học cận đại đã chứng minh sự
dinh dưỡng của rau cải hoàn toàn không kém thua
sự dinh dưỡng của thịt cá, nếu không muốn nói là
bổ dưỡng hơn thịt cá. Các loại thực vật như đậu
nành, đậu phộng v.v... và các thứ rau cải như
cải đỏ, bắp cải, bông cải v.v... trong ấy hàm
chứa rất nhiều chất đản bạch (chất có trong lòng
trắng trứng - chất albumine), chất lân cùng với
nhiều sinh tốt khác... rất là phong phú.
Rất nhiều cao tăng trong Phật giáo hoàn toàn
không dùng một chút thịt, trứng... nhưng sức
khang kiện thể chất của các ngài rất tốt, và
tuổi thọ rất cao. Nhìn lại người thế gian, bữa
ăn nào thiếu chất thịt, cá thì ăn không được
hoặc ăn không no. Thế nhưng thực tế thì không
phải tất cả những người ăn mặn đều trường thọ và
thân thể khang kiện, thậm chí phần nhiều lại bị
suy nhược, bệnh tật, tưởng chừng có thể bị gió
thổi bay đi.
Kết thành tội nghiệp của giới Thực Nhục này phải
hội đủ bốn duyên:
1. Thịt: đích thực là huyết nhục trên thân thể
của chúng sanh hữu tình. Nếu thứ cá thịt nhân
tạo chế biến từ các phương pháp hóa học hiện
đại, hoặc rau cải làm thành cá thịt thì không ở
trong phạm vi cấm chế của giới này.
2. Tướng thịt: nhân duyên này gồm sáu trường
hợp: hai trường hợp trọng, hai trường hợp khinh,
và hai trường hợp không phạm.
3. Cố tâm ăn thịt: trong tâm có ý muốn ăn thịt,
đây là chánh chủ nghiệp của sự tạo ác nghiệp ăn
thịt.
4. Ðể vào miệng: Cứ ăn một miếng kết tội một
lần. Nên trong Luật nói: Cứ đếm mỗi miếng mà kết
tội. Nếu chưa để vào miệng và nuốt vào bụng thì
chưa kết thành tội nghiệp ăn thịt.
Nhưng ở trường hợp nào thì không gọi là phạm
giới?
Như trường hợp dùng lộc giác, hổ cốt v.v... để
chế thành thuốc trị bệnh thì Luật khai miễn cho,
không kể là phạm giới. Nhưng nếu chế tạo các thứ
thuốc ấy nhằm mục đích giết hại sinh mạng chúng
sanh thì đồng như phạm tội sát sanh, Ðức Phật
không bao giờ chấp thuận.
Chú thích:
(1) Ðại sự nhân duyên: nhân duyên của một sự
kiện lớn. Tức chỉ việc Ðức Phật Thế Tôn xuất
hiện trong thế gian, diễn nói chánh pháp, hóa độ
chúng sanh, gọi là nhân duyên duy nhất của một
đại sự.
Ðại sự ấy là như thế nào?
Nói về ý nghĩa tổng quát tức là chuyển mê khai
ngộ.
Luận về phân biệt nghĩa thì giống như kinh Pháp
Hoa lấy tri kiến Phật làm đại sự.
Kinh Niết Bàn lấy Phật tánh làm đại sự.
Kinh Vô Lượng Thọ lấy việc vãng sanh Tây phương
làm đại sự.
Phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa nói: “Chư
Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên cho
nên xuất hiện trong thế gian”.
Kinh Nhân Vương quyển thượng nói: “Vì đại sự
nhân duyên nên rải xuống trăm ức thứ hoa cúng
dường”.
Chính kim khẩu đức Phật trong kinh Xưng Tán Tịnh
Ðộ dạy rằng: “Ta xem thấy đại sự nhân duyên có
lợi ích an lạc cho chúng sanh như vậy nên mới
nói lời thành thật chắc chắn này” (câu trên Ðức
Phật đã nhận thấy rõ việc vãng sanh Tây phương
Cực Lạc là một đại sự nhân duyên đem lại sự lợi
ích an lạc cho chúng sanh, nên ngài nói lời ấy
để cho chúng sanh tin theo mà nhất tâm niệm Phật
cầu sanh về Tây Phương).
Kinh Duy Ma, kinh Tư Ích lấy Bất Tư Nghì làm đại
sự.
Kinh Hoa Nghiêm lấy Pháp Giới làm đại sự.
Kinh Bát Nhã lấy Nhân Quả Thành Phật làm đại sự
v.v...
Theo các kinh nói về ý nghĩa đại sự nhân duyên
như trên thì như Tế Ðiên hòa thượng và Chí Công
thiền sư đều là bậc đã chứng ngộ đại sự nhân
duyên, nếu chưa được như thế thì dù một miếng
thịt cũng không được ăn.
B.2.2.4. THỰC NGŨ TÂN GIỚI (giới
ăn món gia vị cay đắng)
Kinh văn:
1. Phiên
âm:
Từ câu “nhược Phật tử giả bất đắc thực ngũ tân”
cho đến câu “...nhược cố thực giả, phạm khinh
cấu tội”.
2. Dịch
nghĩa:
Nếu là Phật tử thì không được ăn năm loại gia vị
tanh nồng là hành, hẹ, tỏi, nén và hưng cừ. Năm
loại này nếu bỏ vào trong tất cả các thứ thực
phẩm thì đều không nên ăn. Nếu cố tình ăn thì
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Ăn thịt là làm thương hại sinh mạng
chúng sanh. Hàng Phật tử trưởng dưỡng tâm từ bi,
đương nhiên không được ăn. Tại sao Ngũ Tân là
loài thực vật, không hại đến sinh mạng của chúng
sanh, nhưng vì sao Phật tử không được ăn?
Ðiểm chủ yếu chính là mùi vị hôi nồng của nó rất
khó chịu. Những người sống chung trong một tập
thể, nếu ai cũng ăn nhằm loại cay hôi này thì tự
nhiên họ không cảm thấy khó chịu.
Nho thi có câu: “Ở lâu trong chỗ hôi thối sẽ
không còn nghe mùi hôi thối”. Vì thế, nếu đông
người cùng sống với nhau như vậy thì dường như
không có điều gì chướng ngại. Trái lại, nếu
trong tập thể ấy, chỉ có một hay thiểu số người
ăn Ngũ Tân, những người khác khi ngửi thấy mùi
vị của nó sẽ cảm thấy kỳ lạ khó chịu, thậm chí
hơi cay nồng của ngũ tân đôi lúc làm cho họ bị
nôn mửa.
Cho nên, muốn giữ sự hòa vui trong tập thể, muốn
cho đa số người chung sống không cảm thấy khó
chịu, Ðức Phật đặc biệt chế định ra điều giới
này.
Trong các thứ rau, cổ đức phân ra làm bốn loại
như sau:
- Có thứ hôi mà không cay như A Hùng.
- Có thứ cay mà không như gừng.
- Có thứ vừa cay lại vừa hôi như ngũ tân.
- Có thứ chẳng cay, chẳng hôi như ngũ cốc, rau
cải v.v...
Trong bốn loại trên, Phật tử không được ăn các
loại trong nhóm ngũ tân vừa cay vừa hôi.
Ngoài mùi vị khó chịu của nó, nó còn có nguyên
nhân khác như trong kinh Lăng Nghiêm Ðức Phật
dạy: “Năm thứ rau cay nồng này ăn chín thì phát
sanh dâm niệm; ăn sống thì tăng trưởng lòng sân
hận”.
Vì sao ăn chín lại phát sanh dâm niệm?
Vì ngũ tân có tác dụng làm cho can hỏa vượng,
nên dâm niệm phát sanh.
Vì sao ăn sống lại tăng trưởng sân hận?
Vì ngũ tân làm động can khí nên sân hận dễ phát
sanh.
Ðức Phật biết rõ ngũ tân có tác dụng tai hại rất
lớn như vậy, nên Ngài đặc biệt ngăn cấm cả Ðại
Thừa lẫn Tiểu Thừa đều không được ăn.
Về các loại trong ngũ tân, nhiều kinh luật nói
không giống nhau. Nhưng đa số nói: hành, tỏi,
hẹ, kiệu, hưng cừ. Trong kinh Phạm Võng này gọi
là Ðại Toán, Cát Thông, Từ Thông, Lan Thông,
Hưng Cừ.
1. Ðại
Toán: còn gọi là Hồ Thông. Tương truyền
rằng, xưa ở Trung Hoa không có Ðại Toán (củ tỏi
lớn), đến triều Hán, ông Trương Kiên đi sứ nước
Ðại Uyển rồi đem từ nước Hồ về (là thứ tỏi hiện
nay). Theo bộ Bổn Thảo (bộ sách nói về các loại
thực vật), thì Hồ Thông (một loại hành ở nước
Hồ) có điểm giống với loại hành người ta thường
ăn. Cọng lá của nó nhỏ mà ngắn như Kim Ðăng, lại
giống như Ðại Toán, nhưng hình dáng nhỏ hơn một
chút.
2. Cát
Thông: tức là hành, còn gọi là Sơn Thông, vì
mọc ở vùng núi non và đầm lầy. Cọng nhỏ, lá lớn,
nên cũng gọi là Cát Sơn Thông, có thể dùng làm
thuốc. Có chỗ nói rằng: Cát Thông là rau củ
kiệu.
3. Từ
Thông: còn gọi là Củ Thông, vì cọng lá của
nó rất nhỏ và mềm mại, mùa Xuân mọc rất nhiều,
sang đến Hạ, Thu, Ðông thì tàn lụi.
4. Lan
Thông: còn gọi là Giả Sanh, là một thứ Tiểu
Toán (tỏi nhỏ), có chỗ nói là lá hẹ. Lá của nó
hẹp và dài, nhỏ. Ngoài ra còn có nhiều loại khác
như Mộc Thông, Ðại Quang Thông, Thủy Thông, Ðông
Thông, Hán Thông, Lâu Thông, Long Giác Thông,
hoặc Long Trảo Thông (vì lá nó có tám khía giống
như sừng hoặc móng con rồng).
5. Hưng
Cừ: ở Trung Hoa không có thứ này, chúng
thường mọc ở vùng Bắc Ấn Ðộ và nước Y Lan. Ðó là
loại thảo mộc sống nhiều năm, cao độ hai, ba
thước. Gốc của nó giống như củ cải.
Mới mọc khỏi đất bùn nó đã có hơi cay hôi. Ðể
sống hay nấu chín mùi vị rất nồng nặc. Mùa Ðông,
bông lá đều rụi, có thể dùng làm thuốc. Lá nó
giống như Vũ Tinh (trong tự điển gọi là rau cải
thìa).
Bộ Huyền Ứng Âm Nghĩa nói: “Hưng cừ nước của nó
giống như mủ cây đào. Người trong hai nước Y Lan
và Bắc Ấn rất thích ăn” (Ðoạn này đối với những
đại sĩ không đọc bổn Hán văn thì thấy dài dòng
khó hiểu, vì bổn Việt văn chỉ nói: hành, hẹ,
tỏi, nén, hưng cừ. Nhưng sở dĩ phần giải thích
này dịch giả phải dài dòng như vậy vì y theo các
danh từ trong bổn Hán văn).
Ðức Phật lại đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là
một Phật tử đã thọ Bồ Tát giới, tuyệt đối chẳng
được ăn loại ngũ tân”. Ngũ tân: đại toán, cát
thông, từ thông, lan thông, hưng cừ.
Loại ngũ tân này chẳng những không nên ăn riêng,
mà “gia vào trong tất cả các thứ thực phẩm cũng
đều không được ăn”.
Chẳng hạn như đem tỏi bỏ vào trong rau cải khác
mà nấu, hoặc dùng hành xào với đậu hũ v.v... đều
không được ăn.
Tại vì sao? Như trong kinh dạy: “Nếu Phật tử ăn
ngũ vị tân thì phạm tội uế trược ngôi Tam Bảo.
Sau khi xả thân bị đọa vào địa ngục Thủy Phẩn”.
Bộ Khảo Tín Lục quyển hai, trích dẫn trong kinh
Tạp A Hàm nói: “Tội nhân trong địa ngục này, lúc
làm người ăn ngũ tân, làm nhơ uế ngôi Tam Bảo,
khi thoát khỏi địa ngục, phải bị đọa vào súc
sanh làm chồn rừng, chó, heo v.v... Khi chuyển
sanh làm người, thân thể tanh hôi, mọi người đều
nhờm gớm”.
Ăn ngũ tân có tai hại lớn như vậy, nhưng đa số
Phật tử tu học Phật pháp, vì không hiểu rõ tội
ăn ngũ tân rất sâu nặng nên thường thích ăn ngũ
tân cho ngon miệng. Hậu quả thật đáng sợ!
Vì thế, ở bất cứ trường hợp nào, là Phật tử xuất
gia lẫn tại gia, đều không ăn ngũ tân. “Nếu cố ý
ăn, Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Trong kinh Lăng Già, Ðại Huệ Bồ Tát thỉnh vấn
Ðức Phật rằng:
“Rượu, thịt cùng hành tỏi v.v... nếu uống ăn thì
như thế nào? Cúi xin Thế Tôn vì chúng con chỉ
dạy tội phước của sự ăn và không ăn”.
Ðức Phật dùng kệ đáp rằng:
“Thịt và hành, hẹ, tỏi...
Những thứ rượu buông lung,
Người tu nên xa lánh,
Uống ăn sanh buông lung
Buông lung sanh tà giác,
Tà giác sanh tham dục,
Tham dục tâm si mê,
Si mê sanh ái dục.
Không thoát khỏi sanh tử,
Rượu, thịt, hành, hẹ, tỏi,
Ðều là chướng Thánh Ðạo.
Cũng trái tướng Thánh Nhân,
Thế nên không nên ăn...”
Như trên, Phật đã nêu ra tội lỗi của sự ăn hành,
hẹ, tỏi... để dạy Ðại Huệ Bồ Tát. Chúng ta thấy
tội lỗi trọng đại nhất của nó là làm chướng ngại
thánh đạo, khiến chúng ta mãi trầm luân trong
sanh tử, không được giải thoát.
Vì thế ở câu kệ kết thúc, Ðức Phật từ bi đã đặc
biệt dạy chúng ta, tất cả các Phật tử, phải xa
lánh ngũ tân, không được bỏ nó vào các thức ăn
rau cải.
Lại có người nói như vầy:
Rượu làm cho tâm thần bị hôn mê, ăn thịt làm
thương hại sanh mạng chúng sanh, nên nói là có
tội rất lớn thì không có gì đáng nghi. Còn ngũ
tân không làm cho tâm thần hôn mê, không gây
thương hại chúng sanh, mà ghép tội ngang với
uống rượu, ăn thịt thì khó tránh khỏi người đời
sanh lòng khó tin?
Giờ đây tôi (Pháp Sư) xin giải thích sự trách
nạn ấy như vầy: Ngũ tân không làm thương hại
sanh mạng chúng sanh, tôi xin sẵn sàng thừa
nhận. Còn nói nó không làm cho tâm hồn bị hôn
mê, điều ấy tôi hoàn toàn không đồng ý. Vì hơi
uế trược của ngũ tân có năng lực trợ giúp sự
phát sanh tâm dâm dục của con người. Còn mùi vị
cay nồng của nó làm tăng trưởng tâm sân hận. Dục
niệm cùng sân hận che đậy tâm tánh sẵn có của
chúng ta, như vậy không phải là làm cho tâm thần
bị hôn mê là gì nữa?
Ngoài ra vì nó còn có tác dụng làm hôn mê, nhiễu
loạn tâm tánh minh giác, Ðức Phật thấy rõ nên
động lòng thương xót chúng ta, đem những quá
hoạn sản sanh của nó mà dạy bảo và liệt đồng tội
với uống rượu, ăn thịt.
Trong kinh Lăng Nghiêm dạy:
“Ngũ tân ngoài việc phát khởi dâm dục và sân
hận, những người ăn ngũ tân không thể tuyên
thuyết mười hai phần giáo hóa của Như Lai. Chư
thiên, chư tiên trong mười phương dù rất thích
nghe Phật pháp. Nhưng vì Pháp Sư ăn ngũ tân, hơi
hôi thối từ trong miệng phát ra, khiến chư vị
chán ghét mà lánh xa.
Ngược lại, ngạ quỷ thường liếm môi mép, nên
thường ở chung với ngạ quỷ.
Vì chư thiên, chư tiên rời xa Pháp Sư nên phước
đức ngày càng tiêu mòn và ngạ quỷ thường liếm
môi mép nên từng giờ, từng phút gần với ma. Việc
bất lợi xảy đến ngày một nhiều.
Chẳng những thế, những người phát tâm tu tập Tam
Ma Ðịa, vốn có thể được chư đại Bồ Tát, chư
thiên, chư tiên cùng thiện thần trong mười
phương đồng đến ủng hộ, nhưng vì người ấy ăn ngũ
tân cho nên quý ngài, dù một vị, cũng không đến
ủng hộ. Các ngài đã không đến ủng hộ thì ma
vương thừa cơ hội nhập nhiễu loạn hành giả.
Bấy giờ Ma Vương hiện thân Phật đến thuyết pháp
cho hành giả nghe, chẳng những không nói công
đức của sự trì giới, trái lại còn nói trì giới
là việc làm của Tiểu Thừa, người tu Ðại Thừa
không cần giữ gìn giới luật, không nói tham,
sân, si là cội gốc của sanh tử; trái lại, còn
nói tam độc không gây chướng ngại cho sự tiến tu
của đại đại Bồ Ðề, nói: dâm, nộ, si chính là
Giới, Ðịnh, Huệ v.v...”
Lúc ấy, nếu bạn không phân biệt những lời nói
không đúng chánh pháp của ma vương, lại tin theo
những lời quàng xiên này, mà cho ma vương nói là
đúng pháp thì bạn sẽ theo gót chân của ma vương
nhảy múa, tạo tội lỗi vô biên.
Theo Phật pháp, có nhân như vậy thì phải có quả
như vậy. Bạn đã y theo lời nói của ma vương mà
thực hành, dù ma vương không hoàn toàn bảo bạn
làm những điều ấy, nó cũng khuyên bảo bạn tinh
tấn tu phước nghiệp. Nhưng đến lúc sinh mạng này
của bạn kết thúc, thì tự nhiên thành quyến thuộc
của Ma Vương. Nếu không làm ma dân thì cũng là
ma nữ. Thế thì bổn ý của bạn là tu Tam Ma Ðịa để
thành tựu Phật Quả, chẳng những không thể làm tư
lương cho việc thành tựu Phật Quả, trái lại trở
thành phước nghiệp hữu lậu.
Do phước nghiệp này, bạn sanh vào trong cung
điện của ma vương để thọ hưởng phước báo của ma.
Một mai phước báo của ma bạn đã hưởng hết rồi
thì phải đọa vào Vô Gián địa ngục, chịu muôn
ngàn thống khổ. Thử hỏi ăn ngũ tân đối với bản
thân chính mình có được sự lợi ích tốt đẹp chi?
Ở Ấn Ðộ, tất cả các tự viện hoàn toàn không cho
chúng xuất gia ăn ngũ vị tân. Việc này trong bộ
Tây Vức Ký nói: “Ở Tây Vức, nhà nào có người ăn
ngũ vị tân thì bị đuổi ra khỏi thành”.
Ðúng theo giới luật, một Phật tử giữ ngũ giới
hay một Phật tử đã thọ giới Bồ Tát, phải tự giữ
mình cho trong sạch. Bất cứ ở đâu, cũng phải làm
cho chúng sanh có cảm giác thanh tịnh mới đúng.
Ðã không thực hành được như vậy, lại còn ăn ngũ
vị tân là một thứ uế trược, như thế, dĩ nhiên là
không phù hợp với tư cách của người Phật tử.
Giới này cả tăng, tục, cùng Ðại, Tiểu Thừa đều
phải giữ gìn nghiêm cẩn, nhưng về ý nghĩa ngăn
cấm phía Ðại Thừa rất sâu xa, nên so sánh với
Tiểu Thừa, thì tội này bên Ðại Thừa quy định
nặng hơn.
Trong Du Già Luận nói: “Giới cấm dùng ngũ vị tân
này là vì muốn thủ hộ thánh giáo mới cấm chế,
hoàn toàn thuộc về Giá giới. Vì thế, trong
trường hợp có trọng bệnh, nếu y sĩ bảo phải dùng
hành, tỏi v.v... mới lành bệnh, thì Ðức Phật đặc
biệt khai giới cho”.
Kinh Tỳ Ni Mẫu nói: “Ðại Trí Xá Lợi Phất, bản
thân của Ngài mắc bệnh phong thấp rất nặng. Y sĩ
bảo Ngài phải ăn thứ tỏi lớn củ. Tôn Giả đến cầu
Phật chỉ dạy.
Phật dạy rằng: - Vì có bệnh nên được ăn, nhưng
tỳ kheo bị bệnh, nếu phải ăn hành tỏi thì không
được ở chung trong tăng đoàn, mà phải ở riêng
biệt nơi vắng vẻ. Trong lúc ăn hành tỏi v.v...
không được vào thất Phật, chùa Tăng, cũng không
được vào nhà tắm của chúng Tăng tắm gội, không
được nằm trên đơn, nệm chiếu của chúng tăng,
không được đến nhà vệ sinh công cộng. Khi lành
bệnh rồi, không còn dùng hành, tỏi nữa, phải đợi
sáu bảy ngày sau, tắm gội, giặt giũ y áo cho
thật sạch, trên thân không còn hôi mùi hành,
tỏi, lại phải dùng các thứ hương xông mới được
vào trong chúng”.
Trường hợp vì bệnh si cuồng mà ăn hành, tỏi
v.v... thì không vi phạm giới này.
Kết thành tội nghiệp của thực ngũ tân giới này,
cũng phải đủ bốn nhân duyên:
1. Là ngũ tân: chính xác thuộc về ngũ vị tân,
bất luận thứ nào trong năm thứ, hễ ăn vào phạm
giới này.
2. Tưởng có ngũ tân: duyên này cũng có sáu
trường hợp, hai trường hợp trọng, hai trường hợp
khinh và hai trường hợp không phạm.
3. Có tâm muốn ăn: có tâm ý muốn ăn ngũ vị tân,
cho rằng các thứ này có vị ngon đặc biệt của
nó.
4. Ðể vào miệng: Ðem ngũ vị tân mình muốn ăn đưa
vào trong miệng, cứ một miếng kết thành một tội.
Ðó gọi là cứ mỗi một miếng kết thành một tội. Vì
thế, đối với loại ngũ vị tân hôi thối này, giới
Phật tử không nên ăn, nếu ăn thì mắc tội rất lớn
vậy.
B.2.2.5. BẤT GIÁO HỐI TỘI GIỚI (giới
không dạy sám hối tội lỗi)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ câu “Nhược Phật tử kiến nhất
thiết chúng sanh phạm bát giới...” cho đến câu
“...bất giáo hối quá giả, phạm khinh cấu tội”.
2. Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử thấy người phạm Ngũ Giới, Bát Giới, Thập
Giới, phá giới hay phạm giới thất nghịch, bát
nạn v.v... tất cả tội phạm giới, phải khuyên bảo
người ấy sám hối. Nếu cùng ở chung, đồng sống
chung, đồng chung bố-tát, đồng thuyết giới mà
không cử tội người ấy, không nhắc người ấy sám
hối, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Trong mười giới trọng ở phần trước, có giới “rao
nói tội lỗi của tứ chúng”. Là một vị Bồ Tát,
không được tùy ý đi rao nói tội lỗi của tứ
chúng. Việc không cho phép Bồ Tát rao nói tội
lỗi của tứ chúng là một việc rất đúng. Nhưng bên
cạnh đó, cho phép người tu học Phật pháp cử tội
đồng đạo. Ðiều này cần phải biết. Vì nếu như
không cử tội người tu hành, để người ấy có thể
theo đúng pháp, đúng luật sám hối, thì Bồ Tát ấy
phạm khinh cấu tội.
Vì các hành giả khi phạm lỗi đôi lúc không tự
mình biết được. Người đời thường nói: “Người
trong cuộc thì mê”. Vì Bồ Tát ở bên cạnh mình,
nếu thấy rõ ràng, phải vì người ấy chỉ lỗi của
họ ra cho họ biết, từ đó, họ mới có thể theo
đúng pháp sám hối cho được thanh tịnh.
Nếu không vạch rõ tội lỗi của chúng sanh và
không bảo họ sám hối thì chẳng khác nào để mặc
cho chúng sanh ở mãi trong hố sâu tội lỗi, không
thể tự cứu mình ra khỏi được.
Là một vị Phật tử, điều tối khẩn yếu là không
nên gần gũi với tội lỗi. Nghĩa là thường không
tạo tội lỗi thì thân tâm mới được thanh tịnh và
thường an trụ trong giới pháp của Phật.
Bồ Tát vì chúng sanh chỉ rõ tội lỗi, chẳng những
không phải là điều tội lỗi, mà chính là làm cho
chánh pháp được cửu trụ. Ðối với những người bị
cử tội, không phải Bồ Tát có ý đả kích mà thật
là có tâm từ bi, ái hộ họ.
Vì nếu không cử tội và không bảo họ
sám hối thì tương lai họ phải lãnh thọ quả báo
vô cùng khổ đau. Vì thế, muốn thân tâm người ấy
được thanh tịnh, tương lai người ấy được xán
lạn, nên Bồ Tát phải cử tội và khuyên bảo người
ấy sám hối.
Về việc hộ trì Phật pháp, vấn đề
chánh pháp của Như Lai có được cửu trụ trong thế
gian không, không phải ở nơi chánh pháp, mà
chính là do người phụng trì chánh pháp có đúng
luật hay không. Vì trên đời này, người hiểu rõ
được chân nghĩa Phật pháp rất hiếm, mà đa số chỉ
căn cứ vào hành vi của các đệ tử Phật mà đánh
giá Phật pháp.
Nếu người Phật tử hành đúng chánh pháp và thanh
tịnh, sẽ làm gương cho chúng sanh bắt chước theo
để phụng hành Phật pháp. Nhưng ngược lại, nếu
Phật tử chỉ làm những điều tội lỗi thì mọi người
sẽ xa lìa Phật pháp.
Vì thế, thân tâm của toàn thể Phật tử cả xuất
gia lẫn tại gia đều được thanh tịnh là một điều
vô cùng trọng yếu đối với bản thân mình cũng như
đối với sự hóa độ chúng sanh của Phật pháp. Do
đó, một điểm thật nhỏ cũng không được xem
thường.
Tuy nhiên, vì chưa đạt đến địa vị thánh nhân nên
không một ai tránh khỏi tội lỗi. Vấn đề cần yếu
là tự mình biết lỗi hay không, hoặc khi biết có
lỗi, có chịu hết lòng cải hối hay không và có
thật tâm tiếp thọ sự cử tội của người hay không.
Nếu chấp nhận và thành tâm tiếp thọ sự cử tội
của người, thì chính mình vẫn là một con người
hoàn hảo, và vẫn ở trong Phật pháp tiến tu.
Vì thế, việc cử tội và khuyên bảo người sám hối
là vấn đề hết sức cần thiết của những bậc sư
trưởng đối với đệ tử của mình. Cổ thư Trung Hoa
nói: “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa”, nên làm thầy
đối với đệ tử phải hết sức nghiêm khắc, tuyệt
đối không nên để cho đệ tử buông lung, và cũng
không nên vị tình, dung túng, hoặc bỏ qua.
Trong Phật pháp, trường hợp có những người cần
sám hối, nhất quyết bắt họ phải sám hối. Tại sao
phải nhất quyết như vậy?
Nơi đây xin trích dẫn một câu chuyện trong kinh
như sau:
Vào thời Phật Ca Diếp xuất thế, có một vị tỳ
kheo ở vào cương vị một tăng sư (Hòa Thượng, Yết
Ma, Giáo Thọ...) độ rất nhiều đệ tử. Nhưng đối
với đệ tử ít khi lưu tâm răn dạy.
Trong số các đệ tử ấy, có một vị vì không hiểu
rõ sự trì phạm của giới luật, nên không theo
đúng pháp mà nghiêm trì cấm giới. Do đó, vị này
sau khi mạng chung bị đọa vào trong loài Rồng.
Người đời không biết nên cho Rồng là loài rất
quý, nhưng thực ra, Rồng cũng là một loài súc
sanh. Cũng như nhân loại, có người rất sung
sướng tự tại, có người lại bị tội khổ. Người đệ
tử thọ thân Rồng kia cứ bảy ngày thọ tội một
lần. Toàn thân bị lửa dữ thiêu đốt đến nỗi da
thịt, thân hình cháy hết, chỉ còn xương, tưởng
có thể phải chết hẳn. Nhưng do nhân duyên và
nghiệp lực, trải qua chốc lát sau, sống trở lại
để tiếp tục thọ khổ.
Trải qua một thời gian thật lâu, Rồng không thể
chịu nổi sự thống khổ, liền suy nghĩ tại sao
mình phải bị sự khổ như thế này? Vì loài Rồng có
báo đắc Ngũ Thông.
Ngũ Thông có hai thứ:
1. Báo đắc ngũ thông: như loài Rồng hay quỷ thần
v.v... là khi vừa mang ngũ báo thân liền có ngũ
thông.
2. Tu đắc ngũ thông: loại thần thông này do tu
hành mà chứng đắc.
Rồng liền dùng Túc Mạng Thông quán sát biết được
trong thời quá khứ, mình là một người tu học
Phật pháp, nhưng vì thầy không răn dạy kỹ lưỡng
nên tạo tội nghiệp rất nhiều. Do tội nghiệp này
chiêu cảm phải thọ thống khổ ngày nay. Khi quán
biết như thế, Rồng vô cùng tức giận vị thầy thời
quá khứ của mình, vì cho rằng sự thống khổ ngày
nay của mình là do thầy mình gây nên, bèm tìm
cách trả thù thầy cũ.
Trải qua không lâu, một hôm có một đoàn thương
nhân năm trăm người, vào bể cả tìm châu báu,
trong đó vị thầy của Rồng ở kiếp tiền thân xưa
kia. Rồng liền từ đáy biển nổi lên, khiến chiếc
thuyền nhiều lúc tưởng chừng sắp bị đắm.
Tất cả thương nhân trên thuyền vô cùng sợ hãi,
trong đó có một người bạo dạn, can đảm đứng ra
hỏi Rồng rằng: “Chúng tôi đây cùng nhà ngươi
hoàn toàn không có thù oán, tại sao ngươi lại
nổi sóng gió, giữ thuyền lại không cho đi?
Rồng đáp rằng: - Tôi cùng các ông không thù oán
chi thật, nhưng trong thuyền có một vị tỳ kheo,
vị này chính là thầy của tôi thời quá khứ. Khi
tôi ở dưới pháp tòa của người tu học Phật pháp,
vì người không chịu lưu tâm răn dạy, dẫn dắt cho
tôi chu đáo, nên tôi không rõ giới luật mới tạo
nhiều tội lỗi tày trời. Do đó, sau khi xả thân,
phải cảm thọ thân rồng hiện tại, bị khổ thiêu
đốt. Nghĩ đến, tôi càng tức giận nên quyết đến
đây bắt thầy tôi để hỏi lý do chi không chịu
đúng pháp dạy bảo cho tôi. Giờ đây, tôi chỉ yêu
cầu các ông thả vị tỳ kheo ấy xuống biển, tôi sẽ
để cho thuyền các ông an nhiên mà đi, tánh mạng
các ông sẽ được an toàn.
Vị tỳ kheo nghe những lời nói của Rồng, biết các
thương nhân trong thuyền sẽ không dung tha cho
mình, nên tự động nhảy vào biển cả, kết thúc
sinh mạng của mình.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy muốn độ đồ
chúng phải đúng pháp răn dạy một cách nghiêm
minh. Nếu không, chẳng những gây nguy hại cho đệ
tử, mà tự mình cũng hoàn toàn bất lợi.
Ðức Phật đối với đại chúng lại dạy thêm rằng:
“Nếu là một vị Phật tử thọ Bồ Tát giới, khi thấy
tất cả chúng sanh bất luận là tại gia, xuất gia,
bất luận là tu học Ðại Thừa hay Tiểu Thừa, cho
đến tất cả những chúng sanh thọ trì giới pháp
của Phật, nếu họ trái phạm bát giới, ngũ giới,
thập giới, hủy cấm thất nghịch, bát nạn... tất
cả tội phạm giới, đều phải khuyên bảo sám hối”.
Bát giới tức là Bát Quan Trai Giới, Bát Chi Trai
Pháp... như trong Thành Thật Luận và Trí Ðộ Luận
thuyết minh như sau:
1. Không sát sanh.
2. Không trộm cắp.
3. Không dâm dục.
4. Không vọng ngữ.
5. Không uống rượu.
6. Không xoa dầu thơm trên thân và đeo tràng
hoa.
7. Tự mình không được ca múa, cũng không được
nghe, xem người ca múa.
8. Không được ngồi hay nằm trên giường nệm cao
rộng.
9. Quá giờ Ngọ không được ăn.
Trong chín pháp này, tám pháp trước
là thuộc về Giới, pháp thứ chín gồm cả Trai và
Giới. Hợp tám giới trước và trai giới thứ chín ở
phía sau, gọi chung là Bát Trai Giới.
Tại sao gọi là Quan?
Chữ Quan nghĩa là đóng bít, là ngăn cấm. Nghĩa
là tám thứ kể trên có công năng ngăn cấm các tội
lỗi: sát sanh, trộm cắp v.v... không cho phát
sanh và đóng bít cửa ngõ đọa vào tam đồ ác đạo,
nên gọi là Bát Quan Trai Giới.
Giới pháp này cả hai chúng nam, nữ tại gia bẩm
thọ trong một ngày, một đêm, để học tập theo
sinh hoạt chủ yếu của chúng xuất gia.
1. Ngũ
Giới: không sát sanh, không trộm cắp, không
tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Năm giới
này là giới của hai chúng tại gia bẩm thọ suốt
đời để học tập đức hạnh, nhân cách cần phải có
của một người cho được toàn thiện, toàn mỹ.
2. Thập
Giới: Bát Quan Trai Giới thêm giới thứ 10.
Giới này không cho cầm nắm sanh tượng, kim ngân.
Ðây là giới pháp của sa di, sa di ni bẩm thọ, có
chỗ nói 10 giới là chỉ mười giới trọng trong
kinh này, cũng không phải không đúng.
3. Hủy
cấm (bổn
Việt văn dịch là phạm giới): danh từ này có hai
lối giải thích:
- Hủy cấm chỉ chung các giới đã nói ở trên, nếu
phạm bất cứ giới nào trong số các giới này đều
gọi là “hủy cấm”. Vì các giới này do chính Ðức
Phật đã vì các Phật tử mà cấm chế.
- Hủy cấm là chuyên chỉ 250 giới của tỳ kheo và
348 giới của tỳ kheo ni. Vì giới tỳ kheo là giới
cấm của đức Như Lai chế lập, nếu người phát tâm
thọ giới này mà không giữ gìn trọn vẹn, hoặc trì
giới mà không tụng giới là trái với thánh ngôn
của chư Phật. Không thực hiện những điều cấm chế
của Ðức Phật nên gọi là “hủy cấm”.
4. Thất
nghịch:
- Giết cha.
- Giết mẹ.
- Giết Hòa Thượng,
- Giết A-xà-lê.
- Phá Yết-ma chuyển pháp luân tăng.
- Ác tâm làm thân Phật xuất huyết.
- Giết A-la-hán.
Bảy tội nghịch này so với tội ngũ nghịch trong
các kinh thường giống nhau, chỉ thêm hai thứ là
giết Hòa Thượng và A Xà Lê.
Phật là bậc đại oai đức, không người nào thể
giết hại được. Cho nên khi Phật còn tại thế,
chúng sanh nào muốn mưu hại Phật thì mức tối đa
chỉ có thể làm cho thân Phật chảy chút máu, chứ
tuyệt đối không thể nào làm thương hại sinh mạng
của Phật được.
Khi Phật đã nhập diệt, chúng sanh có thể tạo tội
nghịch này được hay không?
Có thể được! Chẳng hạn bán hình tượng Phật, hoặc
bán kinh luật Phật, cũng có thể nói đây là hình
thức làm thân Phật xuất huyết.
A La Hán là bậc Ứng Cúng trong thế gian, nghĩa
là ưng thọ sự cúng dường của người thế gian, để
làm phước điền cho chúng sanh.
Nếu không có A La Hán ở thế gian, chúng sanh có
tạo tội nghịch này được không?
Ðược! Ðó chính là giết tỳ kheo tăng, A La Hán là
thánh nhân của quả vị tỳ kheo tăng. Tỳ kheo là
người tu nhân hạnh A La Hán. Thế nên giết tỳ
kheo là đồng với tội giết A La Hán.
5. Bát
nạn:
- Ðịa ngục.
- Ngạ quỷ.
- Súc sanh.
- Sanh trước Phật hoặc sau Phật.
- Các căn không đủ.
- Thế trí biện thông.
- Miệt Lệ Xa.
- Sanh lên Trường Thọ Thiên.
Trường Thọ Thiên là cõi trời Vô Tưởng ở Sắc Giới
và chư thiên cõi Vô Sắc. Cũng có chỗ nói là chư
thiên cõi Dục thường bị sự dục lạc làm cho tâm
trí tán loạn, không thể tu học Phật pháp, cũng
bao gồm trong đây:
Vì chư thiên ở cõi Vô Sắc Giới và chư thiên Dục
Giới chỉ là thuộc về loài dị sanh nên mới sanh
lên các cõi trời ấy. Dị Sanh là danh từ khác của
Phàm Phu. Chúng sanh nào bị sanh vào trong bát
nạn xứ ấy thì không rảnh rỗi để tu học Phật
pháp. Vô là không, Hạ là nhàn hạ, rỗi rảnh. Tức
là không rảnh rỗi để tu học Phật pháp.
Trong bộ Huyền Ký Âm Nghĩa, quyển hai mươi mốt
nói: “Bát Vô Hạ là chỉ những chúng sanh bị sanh
vào trong tám nạn xứ, không rảnh rỗi để tu tập
thiện nghiệp và đạo pháp giải thoát xuất thế của
Như Lai”.
Nhưng trong tám nạn xứ ấy, sự không rảnh rỗi tu
học Phật pháp chia làm hai loại:
- Quá sung sướng nên không thể tu học Phật pháp,
như cõi trời Vô Tưởng và các cõi trời khác cùng
với nhân loại ở Bắc Câu Lưu Châu.
- Quá đau khổ không thể rảnh rỗi để tu học Phật
pháp, như tội nhân trong địa ngục luôn bị hình
phạt, làm ngạ quỷ bị lửa đói khát thiêu đốt,
trải qua trăm ngàn năm không có thức ăn uống,
hoặc súc sanh luôn bị sự sợ hãi ăn nuốt lẫn
nhau, không thể rảnh rỗi để tu học Phật pháp.
* Miệt Lệ Xa: chỗ biên địa, văn hóa lạc hậu và
những nơi không có hàng tứ chúng của Phật giáo
đi đến. Trong kinh thường chỉ cho Bắc Câu Lưu
Châu.
* Thế trí biện thông: chỉ hạng người tri kiến
không chính đáng, tư tưởng lầm loạn, phủ nhận
luật nhân quả, đối với ngôi Tam Bảo không có tín
tâm.
* Các căn không đủ: những khiếm khuyết của các
bộ phận trên thân thể, những người như vậy không
có đủ điều kiện để đúng như pháp mà tu học Phật
pháp như:
- Bộ phận sinh lý khuyết hãm.
- Ðôi mắt không thấy rõ.
- Tai điếc.
- Tâm tánh si cuồng.
- Các chi tiết trên thân không vẹn toàn (như mắt
lé, môi sứt...)
* Sanh trước Phật hoặc sau Phật: như trong đời
hiện tại của nhân loại, không có đấng Ðại Giác
xuất thế để độ sanh. Vì thế, muốn tu học Phật
pháp không biết từ đâu để tu học.
6. Tam
ác đạo: Ba nạn xứ, chúng sanh ở trong đây
lại càng không có cơ hội để tu học Phật pháp.
Tóm lại:
Tám thứ nạn xứ trên đây thực sự không phải là nó
có đại nạn gì, nhưng nếu chúng sanh bị sa vào
trong những cảnh ấy thì không có thời gian rảnh
rỗi để tu hạnh xuất thế giải thoát của Phật
pháp; cho nên gọi rằng “nạn xứ”.
Do đó, dưới nhãn quan của Phật pháp, chúng sanh
có nạn hay không nạn, không phải căn cứ ở địa vị
của chúng sanh ấy, mà căn cứ vào điều kiện có
nhân duyên tu học Phật pháp hay không.
Hiện tại chúng ta có thể tu học theo Phật pháp,
có thể hướng lên con đường giải thoát là một
việc hiếm có và khó được. Tám nạn xứ trên, không
phải chỉ quả báo sở đắc của nó (quả báo đã lãnh
thọ như chúng sanh ở trong tam ác đạo...) mà là
chỉ về nghiệp nhân năng tạo.
Vì quả báo đã thành thì không thể dạy sám hối,
còn nghiệp nhân năng tạo thuộc về phạm vi tạo
nhân, chưa thành quả nên có thể sám hối trừ tội.
Như trường hợp có những chúng sanh hiện tại tạo
những nghiệp nhân trong bát nạn, tương lai chắc
chắn sẽ chiêu cảm quả báo bát nạn.
Vì muốn cho những chúng sanh này
khỏi thọ quả báo trong bát nạn, hiện đời có thể
đúng như pháp để sám hối. Tạo những nghiệp nhân
gì mà chiêu cảm quả báo trong bát nạn?
- Tạo nghiệp sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng
ngữ v.v... mắc khổ báo trong tam ác đạo.
- Tu theo định Vô Tưởng của ngoại
đạo sẽ chiêu cảm quả báo sanh lên cõi trời Phi
Phi Tưởng Xứ, hưởng thọ tám vạn đại kiếp.
- Không tin vào ngôi Tam Bảo, chỉ một mặt tu tập
phước nghiệp thế gian, sẽ chiêu cảm quả báo sanh
vào Bắc Câu Lưu Châu, sanh tâm tà kiến, không ưa
nghe chánh pháp, mắc quả báo đui, điếc.
- Không tin Tam Bảo, hủy báng chúng tăng, mắc
quả báo câm ngọng, không tin pháp giải thoát
xuất thế, chỉ say đắm pháp thế gian sẽ mắc quả
báo Thế Trí Biện Thông. Do nghiệp chướng sâu
nặng, phước duyên kém cỏi, chiêu cảm quả báo
sanh trước Phật hay sau Phật.
Các thứ giới hạnh cùng tội nghiệp thất nghịch,
bát nạn như đã nói ở trên, không luận là tội
khinh, tội trọng, tánh tội hay giá tội, khi thấy
chúng sanh có chỗ trái phạm, Bồ Tát phải liền
khuyên răn, dạy bảo, đừng để chúng sanh tạo
nghiệp nhân thất nghịch, bát nạn, những việc
phạm giới mà tương lai phải bị khổ quả hoàn toàn
bất lợi.
Lại cần phải khuyên bảo chúng sanh ấy đối trước
Tam Bảo chí thành khẩn thiết phát lộ sám hối,
phát nguyện từ đó trở đi không còn phạm giới,
tạo những nghiệp nhân thất nghịch, bát nạn...
Vì thế kinh dạy: “Tất cả tội phạm giới phải
khuyên bảo sám hối”.
Kinh Bồ Tát Thiện Giới nói: “Bồ Tát khi vào
trong chúng Tăng, nếu thấy có người cười giỡn
phi pháp mà không chịu quở trách thì đắc tội”.
Chúng ta thử suy nghĩ: với những việc hết sức vi
tế như cười giỡn phi pháp, bổn phận Bồ Tát còn
phải dạy bảo sám hối, huống chi việc lớn như
phạm giới và tạo tội nghiệp ngũ nghịch, thập ác
đã nói trên mà không dạy bảo sám hối?
Trong bộ Minh Tường Ký có kể một câu chuyện như
sau:
Có vị Tăng xuất gia, pháp danh là Huệ Ðạt, bị
bạo tử, thác xuống địa phủ, thấy đức Quan Thế Âm
Bồ Tát dạy rằng: “Dù là hàng sa môn xuất gia hay
tại gia, nếu tự biết mình có lỗi, hay nhớ những
tội nghiệp thời quá khứ. Nếu ở trong đại chúng
phát lồ tất cả tội lỗi ấy, tinh tấn, kiền thành
sám hối thì những tội ấy có thể trừ diệt”.
Theo lời dạy của Bồ Tát, chúng ta thấy công hiệu
của việc sám hối rất là rộng lớn, không gì sánh
bằng. Vì thế, Bồ Tát hóa độ chúng sanh, đối với
tất cả quỷ thần trong cõi U Minh giới, cũng như
tất cả nhân loại, bất cứ lúc nào và nơi đâu, đều
nên dạy họ sám hối, để cho mỗi chúng sanh đều
thành một Phật tử thanh tịnh trong Phật pháp.
Bồ Tát dạy những người phạm tội sám hối chính là
biểu lộ tâm Từ Bi chứ không phải phát xuất từ
tâm sân hận, hoặc mong cầu danh lợi. Nhưng nếu
là một vị Bồ Tát, đáng lẽ phải dạy người sám hối
mà không dạy, ấy là mất tâm Từ Bi tự lợi, lợi
tha. Thấy chúng sanh phạm tội mà không cử tội,
là trái với lời Phật dạy và trái với quy định
của giới luật Phật Ðà.
Tỳ kheo thanh tịnh không được ở chung với tỳ
kheo phạm giới. Nếu bạn vẫn yên lặng và ở chung
là làm tăng gia thêm một tội.
Tỳ kheo thanh tịnh không nên cùng với tỳ kheo
phạm giới đồng lãnh thọ lợi dưỡng của đàn việt
cúng dường. Hiện tại, bạn vẫn yên lặng cùng
người ấy tiếp thọ lợi dưỡng, đồng lợi dưỡng với
chúng tăng, là tăng thêm một tội.
Tỳ kheo thanh tịnh không nên cùng với tỳ kheo
phạm giới cùng bố tát, đồng chúng tụng giới.
Hiện tại, bạn vẫn đồng ở chung trong một đại
giới, làm lễ bố tát thuyết giới thì làm sao hợp
với luật nghi Ðức Phật đã chế định?
Tỳ kheo thanh tịnh không được ở chung với tỳ
kheo phạm giới, nếu bạn vẫn yên lặng ở chung tức
là tăng thêm một tội.
Lúc làm lễ bố tát tụng giới, nếu biết người thật
sự có tội, phải cử tội người ấy, bảo người ấy ở
trong đại chúng sám hối để được kiến hòa đồng
giải, giới hòa đồng tu.
Trái lại, nếu không cử tội, không khuyên bảo
người ấy sám hối, cứ yên lặng ở chung, đồng
chúng tăng luống thọ lợi dưỡng, thì Phật tử này
phạm khinh cấu tội.
Vì do bạn che giấu tội lỗi của người mà tâm mình
bị nhiễm ô không thanh tịnh. Kinh Ngũ Giới Oai
Nghi dạy rất rõ về vấn đề này: “Bồ Tát là người
thượng thủ trong đại chúng, khi thấy các quyến
thuộc của mình có việc không đúng, phải tùy theo
tội mà quở trách, trị phạt hay tẫn xuất”.
Vì Bồ Tát là vị lãnh đạo của chúng sanh, với
những kẻ không đúng pháp, nếu không lưu ý quở
trách, cử tội, thì không khác gì dẫn dắt chúng
sanh vào trong hố sâu tội ác, lỗi này rất lớn!
Cho nên kinh Ưu Bà Tắc Giới nói: “Thà thọ ác
luật nghi, một ngày đoạn vô lượng sanh mạng
chúng sanh, quyết không nên dung dưỡng những đệ
tử ác không thể điều phục”.
Tại sao vậy?
Vì tai hại của ác luật nghi ảnh hưởng đến bản
thân một người, nhưng tội không răn dạy đệ tử ác
để họ có thể phỉ báng vô lượng pháp thượng diệu
của Như Lai, phá hòa hợp tăng, làm cho nhiều
người tạo nghiệp Ngũ Vô Gián, vô lượng chúng
sanh tạo ác nghiệp, nên tội này nặng hơn tội Ác
Luật Nghi. Kinh Bồ Tát Thiện Giới lại nói một
cách nghiêm trọng hơn: “Chiên đà la cùng với
những kẻ đồ tể dù tạo ác nghiệp, nhưng không thể
phá hoại chánh pháp của Như Lai, nên không nhất
quyết phải bị đọa trong tam ác đạo. Nhưng làm
thầy mà không răn dạy, quở trách đệ tử tệ ác,
tức là phá hoại Phật pháp, quyết phải đọa địa
ngục”.
Kinh Niết Bàn cũng nói: “Nếu tỳ kheo hiền thiện
khi thấy người phá hoại Phật pháp mà bỏ qua,
không cử tội, không quở trách, không trị phạt,
không tẫn xuất, người này là kẻ oán tặc trong
Phật pháp. Nếu quở trách, trị phạt, tẫn xuất, ấy
tức là đệ tử của Ta vậy”.
Theo các kinh đã dẫn bên trên, chúng ta thấy bổn
phận của một sư trưởng, nhất là trong Ðại Thừa,
đối với quần chúng thuộc phần giáo hóa của mình,
nếu thấy họ tạo tội, phải bảo họ đúng như pháp,
như luật, sám hối. Tuyệt đối không được thuận
theo nhân tình, để người tha hồ buông lung không
nhắc nhở, để cho mình phải mang lấy tội lỗi
không thể dung thứ.
Phật tử bao gồm thất chúng, địa vị bất đồng, nên
việc cử tội, khuyên bảo sám hối cũng có sự khác
biệt rất lớn như trường hợp:
- Tỳ kheo tăng có thể cử tội của thất chúng Phật
tử.
- Tỳ kheo ni chỉ được phép cử tội sáu chúng.
- Riêng đối với tỳ kheo tăng, tỳ kheo ni không
được phép cử tội. Nếu cử thì bị tội. Nhưng nếu
có sự quan hệ bà con hay quen biết thì có thể
khuyên can mà không bị tội.
- Thức Xoa Ma Na có thể cử tội năm chúng.
- Sa Di được phép cử tội bốn chúng.
- Sa Di Ni chỉ được phép cử tội ba chúng.
Còn hai chúng tại gia chỉ được phép cử tội lẫn
nhau, không được cử tội năm chúng xuất gia. Tuy
nhiên, nếu có quan hệ bà con quen biết, có thể
khuyên gián riêng thì không có tội.
Trong kinh Thiện Sanh dạy: “Nếu Ưu Bà Tắc thấy
bốn chúng khác hủy phạm giới pháp đã thọ, sanh
tâm kiêu mạn, nói mình hơn người, người không
thể bằng mình, thì sẽ mắc tội thất ý” (là tội do
tâm ý phát sanh niệm kiêu mạn). Vì tâm kiêu mạn
không phải là tâm niệm cử tội mà là tâm niệm
khinh người, cho nên không đúng pháp.
Chân thật vì người cử tội, trong Luật Tứ Phần có
dạy như sau:
1. Phải vào lúc thích hợp, nghĩa là cử tội phải
tùy thời, lúc không nên cử tội thì không được cử
tội (trường hợp người khác phạm tội bị trọng
bệnh v.v... nếu cử tội vào lúc ấy thì không
thích hợp, không phải lúc).
2. Phải thật sự có tội, nghĩa là khi cử tội
người thì người ấy phải thật sự có lỗi, không
nên đem những tội không thật có mà tăng gia cho
người.
3. Phải vì lợi ích của người mà cử tội, nghĩa
là khi cử tội người, phải thật sự muốn cho người
được lợi ích, không phải có tâm gây tổn giảm sự
lợi ích của người.
4. Thái độ của người cử tội, nghĩa là khi cử
tội người phải thật sự muốn cho người được lợi
ích, không phải có tâm gây hấn, tổn giảm sự lợi
ích của người.
5. Hoàn toàn phát xuất từ tâm Từ Bi, vì thương
xót người, không phải do tâm sân hận, làm người
khó chịu.
Khi cử tội, phải khuyên bảo người sám hối, phải
thực hành những điều trên thì mới hợp với tinh
thần của Phật pháp và có công đức rất lớn. Nếu
do động lực không chính đáng mà cử tội người thì
không được gọi là đúng pháp. Ðồng thời phải chú
ý, lúc cử tội người không nên ở trước mặt đại
chúng, mà phải ở trước vị đại đức tăng, nói rõ
tội phạm của người, cầu thỉnh vị đại đức ấy bằng
lòng cho người tội sám hối.
Chúng sanh có tội phải khuyên dạy sám hối là lẽ
đương nhiên. Nhưng trường hợp nào, không khuyên
dạy người sám hối mà không phạm tội?
Ðiều này trong luật Ma Ha Tăng Kỳ có dạy: “Nếu
kẻ ấy là người hung bạo, hoặc nương thế lực của
quốc vương, của quan đại thần, hay của kẻ hung
dữ, hoặc giả do việc cử tội này mà gây lên sự
tổn hại sanh mạng của người đang tu phạm hạnh.
Gặp trường hợp trên, bạn cần suy nghĩ như vầy:
‘Kẻ ấy tạo tội như thế thì chắc chắn phải mắc
quả báo, nhưng nếu ta cử tội, thì người ấy chẳng
những không chịu tiếp thọ, mà bản thân ta có thể
tự rước lấy việc phiền phức không cần thiết. Giờ
đây ta phải cần giữ thân tâm cho thanh tịnh là
tốt hơn. Chẳng hạn như người đang bị lửa cháy
đầu, lo tự cứu còn không kịp, có đâu lo cứu cho
người khác’... Suy nghĩ như thế nên không cử tội
người thì không phạm tội khinh cấu”.
Trong giới Bất Hành Oai Chiết (không dùng uy
quyền để chiết phục người có tội) ở trong Du Già
Bồ Tát Giới Bổn có dạy năm điều sau đây:
1. Nếu biết rõ người ấy là người hung ác, không
thể cử tội, trị phạt. Hoặc biết tánh tình người
ấy ngang bướng, không thể nói chuyện với họ.
Hoặc biết tánh tình người ấy tuy có chút tâm hổ
thẹn, nhưng thường phát ra lời thô ác, dù có cử
tội cũng không chịu nghe theo. Hoặc biết tánh
tình người ấy ưa sân hận, nếu y theo giới luật
quở trách, trị phạt, chẳng những người ấy không
tiếp thọ, trái lại còn sanh tâm giận ghét. Do
những nhân duyên nói trên, nên không cử tội,
không quở trách, không trị phạt, không tẫn xuất
thì không phạm tội.
2. Nếu lúc ấy là lúc không nên cử tội, quở
trách, trị phạt, tẫn xuất mà phải đợi thời gian
khác sẽ thực hành cử tội. Trường hợp này không
phạm tội.
3. Cử tội, quở trách, trị phạt v.v... là cốt ý
hy vọng người ấy sẽ trở thành người tốt, để mong
đại chúng được hòa vui thanh tịnh. Nếu ngược
lại, vì sự quở trách này, chẳng những không cải
hóa được người mà còn phát sinh chuyện gây gổ,
tranh chấp kịch liệt. Do đó, sự không quở trách,
trị phạt... sẽ không vi phạm giới.
4. Nên biết vì sự quở trách, trị
phạt... này sẽ làm cho chúng Tăng sanh ra việc
tranh luận ồn ào, tạp loạn, tập thể bị xáo trộn
không thể cùng nhau an tu. Thậm chí do đó mà
sanh ra việc phá tăng. Trong trường hợp đó,
không quở trách, trị phạt thì không phạm tội.
5. Nếu biết người ấy tính tình vốn
chất trực, nhất thời lỡ lầm phạm giới luật, tự
biết sự lỗi lầm của mình mà sanh tâm rất hổ
thẹn, thành tâm phát lồ sám hối, nguyện từ đó về
sau không tái phạm. Do đó, thâm tâm trở lại
thanh tịnh như trước. Vì thế, không cử tội, quở
trách v.v... thì không phạm.
Ở đây nói quở trách, trị phạt, tẫn
xuất... tùy theo mức độ khinh, trọng của các tội
đã phạm mà phán định:
- Tội khinh thì nên quở trách, tội vừa chừng thì
nên trị phạt.
- Tội trọng thì phải tẫn xuất, không được lầm
lẫn giữa các mức độ phán định.
Ðức Phật sở dĩ đặc biệt chế định giới này để
khỏi phát sinh hiện tượng nương theo việc làm ác
để phát triển thêm tội lỗi. Là Phật tử, cả xuất
gia lẫn tại gia đều không nên nương việc làm ác
để tăng trưởng tội lỗi. Cho nên cả Ðại Thừa lẫn
Tiểu Thừa đều phải vâng giữ giới điều này, không
được trái phạm.
Ở đây có một vấn đề cần nói rõ:
Hai chúng xuất gia có tăng sự và lợi dưỡng (tỳ
kheo), thấy người phạm tội mà không khuyên bảo
sám hối, cố nhiên là phạm tội khinh cấu. Còn năm
chúng kia, vốn không có việc tăng sự, lợi dưỡng,
vì sao phải vâng giữ giới điều này?
Nên biết trong giới điều không luận có tăng sự
lợi dưỡng hay không. Cốt yếu là thấy người khác
có tội mà không khuyên bảo sám hối thì phạm tội
khinh cấu. Nhưng tội này chỉ là giá tội mà thôi.
Nếu tự mình có lỗi mà không cải hối
cũng là chỗ kiêm chế của giới này, lại còn mắc
thêm tánh tội. Như thế chúng ta thấy rằng tự
mình có tội cũng cần phải tha thiết cải hối.
Kết thành tội nghiệp của giới Bất Giáo Hối Tội
này phải đủ bốn duyên:
1. Có tội: người bị cử tội kia quả thật có tội.
2. Tưởng có tội: người dạy bảo sám hối xác nhận
đích thực người kia có tội.
3. Không có tâm dạy sám hối tội: Duyên này gồm
hai loại:
- Do có tâm sân hận, không cử tội người, không
dạy bảo sám hối. đối với người có tội, cứ mặc kệ
họ, không cần dạy bảo sám hối cho tâm được thanh
tịnh. Ðây là tội thuộc về tội nhiễm ô phạm,
tương ứng với phiền não.
- Do tính biếng nhác, giải đãi, không chịu cử
tội, khuyên bảo người sám hối. Ðây là tội khinh,
không phải nhiễm ô phạm, vì không tương ứng với
phiền não.
4. Yên lặng ở chung: Thấy người có tội mà không
cử tội, không dạy sám hối, vẫn ở chung là một
tội. Ðồng thọ dụng lợi dưỡng là một tội nữa.
Ðồng làm Phật sự như bố tát, tụng giới v.v... là
thêm một tội nữa. Cứ như thế, tùy theo mỗi việc
mà kết tội.
Ở đây có điều cần phải biết là thấy người có tội
phải dạy bảo sám hối chính là bổn phận cần thiết
của kẻ làm thầy. Còn người được dạy bảo sám hối
có tiếp thọ sự dạy bảo hay không là thuộc về
việc của người phạm tội. người làm thầy chỉ cần
thể hiện đầy đủ trách nhiệm và bổn phận của mình
mà thôi.
B.2.2.6. BẤT CUNG CẤP THỈNH PHÁP GIỚI (Giới
không cúng dường và cung thỉnh pháp)
Kinh văn:
1. Phiên
âm:
Từ câu “nhược Phật tử kiến Ðại Thừa pháp sư..”
cho đến câu “nhược bất nhĩ giả, phạm khinh cấu
tội”.
2. Dịch
nghĩa:
Nếu Phật tử thấy vị Pháp Sư Ðại Thừa hay những
bậc đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Ðại Thừa, từ
trăm nghìn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa,
thành ấp, phải liền đứng dậy rước vào, đưa đi,
lễ bái, cúng dường. Mỗi ngày ba thời cúng dường
trăm thứ uống ăn, giường ghế, thuốc men, tất cả
đồ cần dùng đáng giá ba lượng vàng đều phải cấp
hộ cho Pháp Sư. Mỗi ngày: sáng, trưa, chiều
thường thỉnh Pháp Sư thuyết pháp và đảnh lễ,
không hề có lòng sân hận, buồn rầu, luôn thỉnh
Pháp Sư không hề nhàm chán, chỉ trọng pháp, chớ
không kể đến thân mình. Nếu Phật tử không thực
hành như thế thời phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Giới “không kính thầy bạn” thứ nhất trong bốn
mươi tám giới khinh chỉ giảng qua sự kính trọng
thầy bạn phải như thế nào. Giới này giảng về bổn
phận đối với thầy, bạn thuộc hạnh Ðại Thừa. Chư
vị từ nơi xa đến chỗ mình, chẳng những phải hết
lòng cung kính tôn trọng, lại còn phải thỉnh cầu
thầy, bạn giảng nói chánh pháp, đồng thời phải
cung cấp, cúng dường cho tròn bổn phận. Thế nên
Như Lai mới chế định giới này.
Trong kinh thường dạy: “Thầy của chư Phật chính
là Pháp Bảo vậy”. Vì thế, chư Phật thường cúng
dường Pháp Bảo, tôn trọng Pháp Bảo, tán thán
Pháp Bảo. Do đó, chẳng những hàng Bồ Tát sơ cơ
phải phát tâm tôn trọng Pháp Bảo mà ngay đến chư
Như Lai cũng đều tôn trọng Pháp Bảo. Tại sao
vậy?
Phải biết rằng: một người có Pháp Bảo là một
người đáng tôn trọng và đáng được mọi người kính
ngưỡng. Vì theo tinh thần kính người trọng pháp,
thì Bồ Tát đáng lý phải cúng dường thầy - bạn,
thỉnh thầy - bạn tuyên thuyết chánh pháp để khai
thị, dẫn dắt cho mình mới có thể thường được cận
kề chánh pháp, và được sự lợi ích thù thắng của
chánh pháp. Nếu không thỉnh thầy - bạn nói chánh
pháp thì mình bị mất hẳn cơ hội nghe chánh pháp.
Do đó, sẽ bị chướng ngại cho sự tăng trưởng trí
huệ.
Cho nên, trong bất cứ trường hợp nào, nếu không
thỉnh thầy - bạn thuyết pháp thì tự mình sẽ hoàn
toàn bị bất lợi. Vì thế, hành giả tu học Bồ Tát
đạo, bất cứ nơi nào và lúc nào, hễ thấy bậc Pháp
Sư Ðại Thừa đến, phải sắm sửa hương hoa và các
đồ cúng dường để cúng dường Pháp Sư như cúng
dường chư Phật, thỉnh cầu Pháp Sư giảng nói
chánh pháp để tự mình được lợi ích và khiến đạo
pháp được lưu thông, huệ mạng không đoạn tuyệt.
Nếu không đúng pháp cúng dường để thỉnh pháp,
thì bạn là một vị Bồ Tát xan tham, ngã mạn, một
hột giống bị hư, hay một mầm cây khô, có sự tổn
thấr rất lớn. Vì thế, Ðức Phật đặc biệt chế định
giới này.
Ðức Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu làm
một Phật tử, thọ giới Bồ Tát, khi thấy có bậc
Pháp Sư Ðại Thừa đi đến, hoặc thấy những vị
thiện hữu, đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Ðại
Thừa đi đến, phải đúng pháp tiếp đãi và thỉnh
cầu thuyết pháp”.
Thầy - bạn có vài hạng loại khác nhau: thầy bạn
căn bản, thầy bạn nhân duyên, thầy bạn ở tất cả
các nơi. Ở đây, là nói thầy bạn nhân duyên vì có
đến rồi đi.
Pháp Sư Ðại Thừa không giống Pháp Sư Tiểu Thừa:
- Pháp Sư Tiểu Thừa chỉ lo tu tập thiện pháp cho
bản thân mình, tu hành chỉ mong giải thoát cho
cá nhân mình, nên đối với việc giảng kinh,
thuyết pháp, lợi ích chúng sanh không ưa thích
lắm.
- Pháp Sư Ðại Thừa thực hành công hạnh tự lợi,
lợi tha, có tín giải rộng lớn, phát đạo tâm rộng
lớn, thú hướng đạo quả rộng lớn, bi trí song
vận. Pháp Sư là bậc thông đạt, thấu triệt kinh
luận, pháp tánh, pháp tướng trong Ðại Thừa Phật
pháp, nên đem ra giáo hóa dẫn dắt mọi tầng lớp
chúng sanh, mong cho mọi chúng sanh đều hiểu rõ
Ðại Thừa Phật pháp, và cuối cùng làm cho tất cả
chúng sanh đều thú hướng về Phật Quả.
Bạn đồng học Ðại Thừa là những người cùng học
một thầy, cùng bẩm thọ Ðại Thừa Tâm Ðịa giới,
cùng học tập giới pháp Ðại Thừa và các hạnh môn
trong Phật pháp.
Bạn đồng kiến Ðại Thừa là chỉ người đồng bẩm thọ
thật tướng tâm địa giới pháp rốt ráo, chỗ kiến
giải đồng với giới pháp tu học, tư tưởng cũng
giống nhau.
Bạn đồng hạnh Ðại Thừa, chỉ những người tu theo
phạm hạnh thanh tịnh, đồng thọ Bồ Tát tâm địa
đại giới. Có chỗ nói đồng hạnh Ðại Thừa là đồng
tu học theo pháp môn Ðại Thừa, đồng hiểu rõ tư
tưởng lý luận Ðại Thừa, đồng thực hành hạnh từ
tế Ðại Thừa, nên gọi là đồng hạnh Ðại Thừa.
Trong lúc tiến tu theo con đường lớn của Phật
pháp, những bậc thiện hữu như thế không thể
thiếu được. Vì chẳng những các thiện hữu đồng
hạnh có thể khích lệ, sách tấn lẫn nhau để không
bị thoái chuyển trong sự tu hành, lại còn có cơ
hội đem chỗ học hỏi, chỗ kinh nghiệm tu hành,
chỗ kiến giải mà trao đổi nhau, để tự mình kiểm
thảo xem có chỗ sai lầm nào hay không?
Thầy - bạn trong Ðại Thừa có lợi ích cho chúng
ta như thế, nên dù ở xa hay gần, khi các ngài đi
đến “tăng phường”, nơi chúng xuất gia cư ngụ,
hoặc “nhà cửa” của Bồ Tát tại gia, hay “thành
ấp” là chỗ ngự của vua, quan v.v... Bất cứ các
ngài là những vị từ “trăm dặm” hay “nghìn dặm”
mà đến. Các ngài khi đến nơi nào, không phải là
không có nhân duyên hay nguyên nhân, mà là các
ngài vì thực hành Vô Duyên Từ mà đến, hoặc vì
hoằng dương giáo pháp Ðại Thừa nên không nệ
đường xa nghìn dặm mà đến, để truyền trao, dẫn
dắt cho chúng ta.
Vì thế, vị Bồ Tát làm chủ tại địa phương, phải
đúng như pháp, đứng dậy biểu lộ lễ độ, kính
trọng, không được có chút chần chừ, do dự, cho
nên trong kinh dạy: “Liền đứng dậy, rước vào,
đưa đi”.
Rước vào là tỏ ý vui mừng lúc thầy - bạn mới
đến. Ðưa đi là tỏ tâm hân hoan hỷ tiễn đưa lúc
thầy - bạn ra về. Không nên cho rằng: “Mấy ổng
đến thì đến, mấy ổng đi thì đi, không quan hệ gì
đến mình”, nên không một chút nào thể hiện sự lễ
độ. Ðối với những người thông thường, khi đối xử
với nhau còn phải giữ lễ độ, huống chi thầy -
bạn trong đạo Bồ Ðề mà lại không gìn giữ lễ độ
hay sao?
Kinh văn dùng chữ “trăm dặm, nghìn dặm” là tượng
trưng cho những lộ trình thật xa xôi mà thầy -
bạn không ngại vất vả để đến chỗ mình. Vì vậy,
khi thấy thầy - bạn đến phải đứng dậy tiếp rước,
cúng dường, tiễn đưa.
Chư đại đức ngày xưa thường nói:
“Thầy - bạn từ xa xôi đến còn phải đúng pháp
tiếp rước, cúng dường, thỉnh pháp và tiễn đưa.
Huống chi thầy - bạn ở gần mà đến”. Vì lễ nghi
quy định khi gặp nhau phải thực hành như vậy,
không nên giống với người thế tục, ỷ lại sự quen
biết nhiều nên không câu chấp lễ độ.
Vì thầy - bạn ở gần chừng nào, chúng ta càng có
nhiều nhân duyên cơ hội để cầu pháp, nên không
được thờ ơ, lơ là. Cho nên đối với thầy - bạn ở
gần thế nào chăng nữa, cũng phải tiếp rước, đưa
đi, cùng sắm các thứ ăn uống để cúng dường thật
đầy đủ.
Ngoài sự tiếp rước, đưa tiễn, còn phải hết lòng
cung kính, lễ bái đối với thầy bạn để tỏ lòng
tha thiết, tôn trọng Pháp Bảo, không được không
cung kính người thuyết pháp.
Lúc thầy - bạn trụ lại để hoằng truyền đạo pháp,
bổn phận vị Bồ Tát làm chủ, ngoài việc lễ bái,
cần phải đúng pháp cúng dường, để biểu lộ tâm
thành kính hậu đãi đối với sư hữu, không được
làm phơn phớt bên ngoài, quấy quá cho xong
chuyện.
Mỗi ngày ba thời cúng dường là nói sự phải theo
giờ giấc mà dâng cúng các thứ uống, ăn không
được sai lệch.
Về giờ giấc, có hai lối giải thích:
1. Có nơi cho rằng có hai thời: Thời trước lúc
mặt trời mọc, cúng dường bữa điểm tâm và thời
sau lúc đứng bóng cuối giờ Tỵ, đầu giờ Ngọ, cúng
dường bữa cơm Ngọ.
2. Có nơi cho rằng có ba thời: thời đầu cúng
dường bữa điểm tâm, thời giữa bữa cơm Ngọ, thời
sau dâng các thứ thuốc, cũng gọi là Dược Thực.
Cúng dường ba thời như vậy không phải chỉ thực
hành lúc mới đến mà suốt thời gian thầy - bạn
trụ lại hoằng truyền đạo pháp: ba tháng, năm
tháng, hoặc nửa năm, hoặc một năm. Mỗi ngày đều
phải cúng dường ba thời như thế, không được
thiếu sót. Tuyệt đối không nên thực hành chỉ năm
ba ngày đầu, rồi sau đó thì lơ lơ là là như
trong kinh nói: “Lễ độ đối với thầy bạn ngày thứ
nhất như vàng, ngày thứ hai như bạc, ngày thứ ba
như đồng, ngày thứ tư thiết v.v.. gọi là thỉ cần
chung đãi”.
Mỗi ngày ba thời cúng dường, không phải chỉ dùng
thức ăn uống thông thường để dâng cúng, mà phải
dùng ba lượng vàng để mua sắm thức uống ăn ngon
quý nhất trên đời để cúng dường thầy - bạn.
Nên kinh dạy tiếp theo: “Mỗi ngày trăm thức uống
ăn giá đáng ba lượng vàng”. Ở đây nói mỗi ngày
ba lượng vàng là dùng số tiền trị giá ba lượng
vàng mua những thức ăn ngon quý và đầy đủ để
thầy - bạn dùng mỗi ngày. Không phải thầy - bạn
khi đến là cốt ý muốn ăn uống nhiều thứ ngon quý
như vậy, mà là vị Bồ Tát chủ nhân chứng tỏ lòng
tôn kính cúng dường cho thầy - bạn, không có tâm
bỏn xẻn.
Vị Pháp Sư hoằng truyền chánh pháp là tuyên nói
lại những lời răn dạy của Ðức Phật để giáo hóa,
dẫn dắt chúng sanh, cho nên dù thực phẩm cúng
dường quý báu và phong phú như thế, Pháp Sư vẫn
có thể thọ nhận được. Ðại Sư Vĩnh Gia nói:
Ðược sức giải thoát không nghĩ bàn,
Hằng sa diệu dụng không cùng tột,
Tứ sự cúng dường nào sợ nhọc,
Hoàng kim vạn lượng cũng vẫn tiêu.
Nghiền nát thân này như tro bụi,
Không thể đáp đền một trong muôn,
Hiểu rõ một câu mà tu tập,
Vượt qua sanh tử trăm ức kiếp.
Theo bài kệ trên thì bậc thánh nhân đã được giải
thoát như thế, còn các hành giả thông thường sự
tri chứng chưa được như th, mà thọ hưởng sự cúng
dường của đàn na phải hết sức sanh lòng hổ thẹn
mới có thể nhận thọ của tín thí. Nếu trái lại
thì hậu quả không thể lường được.
Nên trong Tông Cảnh Lục nói: “Người tu học Ðại
Thừa Phật pháp thọ thức ăn của thí chủ như non
Tu Di, thọ y của thí chủ có thể trải khắp đại
địa. Nếu những người không tu học pháp Ðại Thừa
và chưa liệt vào số chúng Tăng thì quả đại địa
trong mười phương dù rộng lớn, nhưng không có
chỗ nhổ nước miếng”.
Vì thế, hàng Phật tử xuất gia thọ dụng sự cúng
dường của tín thí, không thể không lưu tâm cẩn
thận. Ðiều tối yếu là phải phát tâm rộng lớn, tu
Bồ Tát hạnh, hoằng dương Phật pháp, hóa độ chúng
sanh, mới không đến nỗi luống thọ dụng của tín
thí. Cúng dường vị Pháp Sư hoằng truyền, ngay
đối với Ðức Phật, Ngài cũng cho điều vô cùng
trọng yếu. Vì vị Pháp Sư là người thay thế Phật
tuyên dương chánh pháp, nên kinh Báng Phật nói:
“Người nào cúng dường cho Pháp Sư, tức là cúng
dường Phật vậy!”
Chẳng những chúng ta phải cung kính cúng dường
các vị Pháp Sư giới hạnh thanh tịnh, mà chính
những Pháp Sư giới hạnh không thanh tịnh, miễn
là các Ngài có thể thuyết pháp lợi sanh, chúng
ta cũng phải đúng pháp cúng dường.
Trong Nhiếp Luận nói: “Nếu người đối với giới
hạnh dù có khuyết điểm, nhưng có thể thuyết pháp
lợi ích cho nhiều người, cũng cần phải cúng
dường như cúng dường chư Phật. Vì chúng sanh
lãnh thọ lời nói của người ấy giống như lời của
Ðức Phật nói ra”, là ý trên vậy.
Ngoài việc cúng dường các thứ uống ăn, lại cần
phải sắp đặt giường tòa để cung cấp cho thầy -
bạn, để các vị có chỗ nghỉ ngơi. Giường thì có
giường dây, giường cây... Tòa thì có tòa cao,
tòa thấp, mỗi loại đều có nhiều thứ sai khác. Vì
muốn chứng tỏ tinh thần kính pháp trọng thầy, dĩ
nhiên người Phật tử phải dùng những thứ giường,
tòa rất đẹp để cúng dường cho thầy - bạn an
nghỉ, cốt để cho chư vị được an tâm hoằng truyền
đạo pháp.
Chư vị Pháp Sư hoằng dươngười Phật pháp hiện nay
có lắm lúc rất cực nhọc. Tất nhiên đôi lúc khó
lòng tránh khỏi bệnh hoạn. Lúc đó, bổn phận của
vị Bồ Tát ở nơi đây phải sắm nhiều “thứ thuốc
men” để điều trị cho thầy - bạn, đừng để cho chư
vị bệnh tật triền miên, làm ảnh hưởng đến việc
hoằng pháp.
Như hiện nay, chúng ta thấy có những vị Pháp Sư
đủ tài tuyên dương diệu pháp, nhưng vì thân bệnh
hoạn lại thiếu thuốc men trị liệu, nên thân thể
ốm gầy, suy nhược, không thể hoằng pháp lợi
sanh. Thật bất hạnh cho vị Pháp Sư mà cũng tổn
thất rất lớn cho Phật pháp! Cho nên dùng các thứ
thuốc men điều trị tật bệnh cho Pháp Sư hoằng
pháp là việc rất cần thiết không thể thiếu.
Ngoài việc cung cấp các thứ cho Pháp Sư nói
trên, khi thầy - bạn cần dùng những vật chi,
phải tùy theo “tất cả sự nhu dụng” của thầy -
bạn, mà hết lòng cung cấp theo đúng lễ nghi cúng
dường, không được có ý nuối tiếc, làm trái với ý
niệm thầy - bạn.
Trong kinh gọi rằng: “Kính pháp thì phải trọng
người”. Nếu cần hy sinh thân mạng cũng phải làm,
huống gì những tài vật ở ngoài thân? Vì một vị
Pháp Sư đã lấy việc hoằng pháp lợi sanh làm
trách nhiệm, điều cần yếu là làm sao cho các
ngài chuyên tâm nhất ý hoằng truyền đạo pháp,
không phải bận tâm lo lắng về việc nhu dụng,
sinh sống hằng ngày.
Nếu vừa lo hoằng dương Phật pháp, vừa bận tâm về
việc sinh sống thì rất khó lòng thực hiện công
tác hoằng pháp cho hoàn bị. Vì thế, người Phật
tử nhiệt tâm hộ trì Phật pháp, đối với vị Pháp
Sư hoằng pháp phải đặc biệt lưu tâm hộ trì. Bổn
phận người Phật tử hộ trì Phật pháp là phải
thành kính cúng dường như thế.
Riêng người hoằng dương Phật pháp, đối với sự
cúng dường cho mình, khi thọ dụng cần phải biết
tri túc mới không có tội lỗi.
Pháp Sư hoằng truyền đạo pháp đi đến chỗ bạn là
một cơ hội nghìn năm khó gặp, muôn thuở một lần
cho việc cầu pháp của bạn. Thế nên cần phải khéo
nắm lấy cơ hội này “mỗi ngày ba thời thường
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp”, không nên bỏ qua cơ
hội rất tốt và hiếm hoi ấy.
Chúng ta nên biết, đúng như pháp cúng dường thầy
- bạn là vì cầu phước, thuộc về Ðàn Ba La Mật,
và thường thỉnh Pháp Sư thuyết pháp là tu Huệ,
thuộc về Bát Nhã Ba La Mật. Phước huệ song tu
như thế mới là một Phật tử đủ căn khí Ðại Thừa.
Hai chữ “thường thỉnh” trong kinh văn có ý nói
không phải chỉ thỉnh một ngày một bữa, mà là mỗi
ngày đều thường thỉnh như thế.
Ba thời là sáng, trưa và chiều, nghĩa là mỗi khi
đến giờ thỉnh Pháp Sư thuyết pháp, thì phải đi
cung thỉnh Pháp Sư thuyết pháp, khai thị.
Cung thỉnh Pháp Sư thuyết pháp là việc làm chẳng
những giúp ích cho huệ mạng của chính mình, mà
cũng chính là làm cho huệ mạng của chúng sanh
được liên tục sanh trưởng không dứt.
Vì Bồ Tát sơ phát tâm chưa chứng được chân lý
của các pháp, chưa chứng được Pháp Thân của
Phật, nên đối với sự lý của các pháp, không thể
không có chỗ nghi hoặc.
Vì thế, khi có pháp sư đi đến bất cứ lúc nào,
đều nên cầu thỉnh Pháp Sư thuyết pháp để trừ mối
nghi hoặc trong nội tâm. Lúc thỉnh Pháp Sư không
phải chỉ dùng lời nói để cầu thỉnh là xong. Lại
“cần phải mỗi ngày ba thời lễ bái”. Mỗi lần
thỉnh thuyết pháp phải kiền thành lễ bái một
lần, không nên như người thế tục, quá quen biết,
không cần câu chấp lễ nghi. Mỗi ngày đều thấy
nhau, cần gì phải thủ lễ như vậy? Như thế thật
là hết sức sai lầm!
Phải biết trong tất cả các kinh, chỗ nào Phật
cũng dạy việc kính pháp, trọng người. Hiện tại,
khi thỉnh thầy thuyết pháp, đối với pháp cũng
như đối với người, đều phải hết lòng cung kính
tôn trọng. Vì thế, bất cứ lúc nào, khi thỉnh
Pháp Sư thuyết pháp, đều phải cung kính lễ bái,
không nên sanh tâm biếng nhác, khinh mạn.
Ngoài việc đúng pháp cúng dường và lễ bái thỉnh
cầu thuyết pháp, khai thị, đối với vị Pháp Sư
thuyết pháp không được sanh tâm sân hận, cũng
không được có niệm buồn rầu.
Vị Pháp Sư có khi nói rất nhiều, có khi nói rất
ít, không nhất định, Vì phải tùy theo căn cơ của
thính chúng mà thuyết pháp. Người nghe pháp phải
tùy thuận ý của Pháp Sư, không nên vì ngài nói
nhiều, nói ít mà sanh tâm sân hận. Hoặc có Pháp
Sư thuyết pháp rất quy củ và đứng đắn, lời dạy
rất nghiêm khắc. Ðối với những thính chúng có
chút gì không đúng pháp thì ngài chỉ trích, quở
rầy không vị nể. Người nghe pháp không nên vì đó
mà sanh tâm sân hận, cho là Pháp Sư nói quá lời.
Lại nữa, vị Pháp Sư thuyết pháp cũng vẫn chỉ là
một vị Bồ Tát phàm phu, nên hành vi hoạt động
của thân tâm dĩ nhiên đôi khi khó tránh khỏi có
chút sơ suất, lỗi lầm. Chúng ta, người nghe
pháp, không nên vì đó mà sanh tâm sân hận.
Pháp Sư thuyết pháp là y theo lời Phật dạy mà
tuyên thuyết trở lại. Giáo pháp của Phật cũng
như các phương thuốc trị liệu, tùy theo tâm bệnh
của chúng sanh mà cho thuốc. Vì thế, nếu Pháp Sư
chỉ đúng ngay tâm bệnh của chúng ta, dù không
hợp với tâm ý của mình, cũng phải ân cần nhận
chân những lời ấy là đúng, không nên vì thế mà
sanh phiền não, tỏ ý bất mãn Pháp Sư, vì đã chỉ
vạch tội lỗi của mình.
Khi Pháp Sư ở lại thuyết pháp dù rất lâu, nhưng
bạn không nên vì gánh nặng cúng dường mà chán
ghét, lo buồn, sanh khởi ý niệm rằng Pháp Sư ở
mãi nơi đây tham cầu việc cúng dường, sao không
rời khỏi nơi đây đi nơi khác mà hoằng pháp? Nếu
bạn có ý nghĩ như vậy, thì tội lỗi rất lớn.
Nên biết khi cúng dường vị Pháp Sư thuyết pháp,
không nên có chút một chút tâm lẫn tiếc, buồn
phiền, chán nản vì sự cực nhọc và tốn kém. Trái
lại, phải có tâm thành kính, hân hoan, khích lệ
Pháp Sư thuyết pháp để cho mình được cung kính
cúng dường mãi đến cùng tột đời vị lai, không hề
nhàm mỏi.
Mỗi ngày ba thời thường thỉnh Pháp Sư thuyết
pháp là sự kiền thành của khẩu nghiệp, biểu lộ
tâm cầu pháp ân cần. Mỗi ngày ba thời lễ bái là
sự kiền thành của thân nghiệp, chứng tỏ tâm vì
pháp không giải đãi. Không sanh tâm sân hận,
buồn rầu là sự kiền thành của ý nghiệp, chứng tỏ
bạn kính pháp không có tâm khinh mạn.
Dùng ba nghiệp kiền thành trên cầu Phật pháp mới
thật sự là một Phật tử tận thiện tận mỹ, vì pháp
đúng mức.
Tại sao phải vì pháp như thế?
Vì một Phật tử tu học Phật pháp, có pháp thì
thân tâm mới được tươi nhuận. Không pháp thì
thân tâm bị héo khô. Có pháp thì thành một vị
đại phú trưởng giả trong Phật pháp, mất pháp thì
thành một người bần tiện trong Phật pháp.
Do đó, hành giả Bồ Tát phải luôn luôn vì pháp và
tôn trọng pháp. Lại nữa, nếu chúng ta nghe pháp,
có thể giác ngộ được pháp tánh thì chỉ trong một
sát na, có thể trở thành bậc thánh nhân. Bằng
không được như thế, mê muội pháp tánh thì phải
vĩnh viễn muôn kiếp bị trầm luân trong biển khổ
sanh tử. Do đó, vì pháp tinh cần cúng dường thầy
bạn, hoàn toàn không giống với người thế gian vì
danh vì lợi mà cúng dường. Hơn nữa, dù bạn cúng
dường tài vật quý báu đến đâu, chẳng qua được
phước đức hữu lậu, không thể thoát ly sanh tử
trong tam giới. Nếu bạn đem vô thượng diệu pháp
bố thí cho chúng sanh thì có thể làm cho chúng
sanh ra khỏi bể khổ sanh tử và được giải thoát.
Vì thế, người Phật tử vì quả vô thượng Bồ Ðề mà
chân thực cầu pháp thì cần phải luôn “thỉnh Pháp
không hề nhàm mỏi, chỉ trọng pháp chớ không kể
thân”.
Nói một cách khác, vì cầu đại pháp của Như Lai,
đối với thân mạng còn có thể quên, có thể xả,
huống chi những tài vật ở ngoài thân mà không
cúng dường cho thầy - bạn?
Vả lại, tài vật nuôi dưỡng thân này có ngày cũng
phải cùng tận, còn pháp tài mà mình mong cầu
thuộc về pháp bảo vô cùng vô tận, cho nên, dù
phải hy sinh tánh mạng, đối với tự mình, quả
thật hoàn toàn không có chỗ tổn thất mà là dùng
thân mong manh, hư hoại, đổi lấy thân kim cương
bất hoại; đem “thế mạng” vô thường không vĩnh
cửu, đổi lấy “pháp thân huệ mạng” thường trụ bất
diệt. Thật là một việc làm hết sức có giá trị mà
trên thế gian này không việc làm nào có thể sánh
bằng!
Giờ đây, xin kể vài tấm gương sáng của đức Bổn
Sư Thích Ca vì pháp quên mình như sau:
Vào thời quá khứ, lúc đức Bổn Sư Thích Ca hành
Bồ Tát đạo, đến lúc a tăng kỳ kiếp thứ hai đã
mãn, được gặp Ðức Phật Nhiên Ðăng xuất thế, bấy
giờ, đức Bổn Sư Thích Ca là Nhu Ðồng Bồ Tát.
Một hôm, Ðức Phật muốn đến một nơi khác để
thuyết pháp độ sanh. Nhu Ðồng Bồ Tát đem bảy
nhành thanh liên hoa cúng dường lên Phật Nhiên
Ðăng.
Bồ Tát biết được con đường Ðức Phật sắp đi qua
có đoạn bùn nhơ bất tịnh. Bồ Tát không đành để
Phật đi qua như vậy, liền cởi chiếc áo da nai
đang mặc, trải lên chỗ bùn nhơ ấy, nhưng không
trải được khắp. Bồ Tát bèn nằm mọp trên chỗ đất
bùn sình, mở đầu tóc của mình ra trải lên trên
chỗ bùn nhơ ấy chờ Phật đi qua.
Phật Nhiên Ðăng trông thấy Bồ Tát cung kính,
kiền thành như vậy, biết là Bồ Tát đã nhiều kiếp
lâu xa thực hành Bồ Tát đạo, chứ không phải là
vị Bồ Tát sơ phát tâm. Ðức Phật bèn vì Nhu Ðồng
Bồ Tát thọ ký rằng: “Ông ở đời tương lai sẽ
thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Lại nữa, vào thời quá khứ, lúc đức Thích Ca Mâu
Ni hành Bồ Tát đạo, tu hành ở núi Tuyết, tinh
tấn phi thường, nhất tâm tọa thiền, hằng ngày
chỉ ăn rau trái. Bấy giờ, trời Ðế Thích muốn thử
xem Bồ Tát có phải chân thật cầu diệu pháp hay
không, nên biến hóa thành một quỷ la sát, đến
trước Bồ Tát, vì Bồ Tát nói nửa bài kệ như sau:
Chư hành vô thường,
Thị sanh diệt pháp.
Dịch:
Các hành vô thường,
Là pháp sanh diệt.
Bồ Tát được nghe hai câu đại pháp ấy rồi vui
mừng khôn xiết, liền khẩn thiết thỉnh La Sát nói
nốt nửa bài kệ sau. La Sát đáp rằng: “Vì ông nói
nửa bài kệ sau thật chẳng khó khăn gì, nhưng
hiện nay bụng tôi đang đói không thể chịu được,
nên không đủ tinh thần nói nửa bài kệ sau”.
Bồ Tát nghe xong liền thưa rằng: “Ngài cần dùng
thức ăn chi, tôi xin thành tâm sẵn sàng cúng
dường”. La Sát đáp rằng: “Tôi không ăn thứ gì
khác, chỉ thích ăn huyết nhục người còn sống”.
Bồ Tát vừa nghe xong, không chút do dự, đáp
rằng: “Xin ngài vì tôi tiếp tục nói nửa bài kệ
sau, tôi nguyện xẻ thân này cúng dường ngài”.
La Sát liền vì Bồ Tát nói tiếp nửa bài kệ sau
rằng:
Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.
Dịch:
Sanh diệt diệt rồi,
Tịch diệt là vui.
(Lưu ý: Bài kệ bốn câu trên đây là tổng quát vô
lượng diệu nghĩa của Tam Tạng Thánh Giáo trong
Phật pháp. Ðừng thấy văn từ đơn giản, dễ dàng mà
cho là tầm thường. Ở đây, xin giải thích sơ
lược:
Hai câu đầu thuộc về pháp môn lưu chuyển.
Hai câu sau thuộc về pháp môn hoàn diệt).
Bồ Tát được nghe trọn bài kệ bốn câu, liền đem
viết trên khắp các đại thọ và những tảng đá lớn
trong núi để chúng sanh có tâm cầu chánh pháp
được hưởng lợi ích của đại pháp này. Sau khi
viết kệ xong, Bồ Tát liền leo lên đại thọ, gieo
mình xuống gộp núi để đem thân huyết nhục của
mình cúng dường quỷ La Sát.
La Sát liền dùng tay tiếp đỡ thân của Bồ Tát và
hiện nguyên hình là trời Ðế Thích, đảnh lễ dưới
chân Bồ Tát và tán thán rằng: “Tôi vì tôn trọng
đại pháp của Như Lai, muốn xem ngài chân thành
muốn cầu pháp hay không, nên đến đây xúc não
ngài. Ngài thật vì pháp dám xả thân mạng hoàn
toàn không luyến tiếc. Tôi xin đầu thành đảnh lễ
sám hối, cúi xin ngài tha thứ và tiếp thọ sự
thành tâm sám hối của tôi”.
Trong kinh Niết Bàn, Phật dạy: “Do nhân duyên vì
nửa bài kệ dám xả thân, mà ta thành vô thượng
đạo trước Di Lặc Bồ Tát mười hai kiếp” là nói ý
trên vậy.
Vào thời quá khứ, đức Bổn Sư Thích Ca hành Bồ
Tát đạo, làm một vị đại quốc vương, vì muốn được
nghe đại pháp của Như Lai nên phải khoét trên
thân cả nghìn chỗ để đổ dầu đốt đèn cúng dường
cho người bà la môn tên là Lao Ðộ Sai để được
nghe bài kệ sau đây:
Thường giả giai tận,
Cao giả tất đọa,
Hiệp hội hữu ly,
Sanh giả hữu tử.
Dịch:
Những gì thường đều phải tận diệt.
Những gì cao tất phải sụp đổ.
Có xum họp tất có chia lìa,
Ðã có sanh hẳn nhiên có tử.
Ðại vương nghe được bài kệ trên rồi, trong lòng
vui mừng không sao tả xiết, liền lập đại thệ
rằng: “Tôi hôm nay cầu chánh pháp, mục đích là
cầu thành tựu Phật quả. Sau khi thành Phật,
nguyện đem ánh sáng trí huệ chiếu soi cho tất cả
chúng sanh được tỏ ngộ!” Ðại vương phát thệ ấy
rồi, cả trời đất đều chấn động.
Lại nữa, vào thời quá khứ, trong vô số kiếp về
trước, đức Bổn Sư hành Bồ Tát đạo, làm một vị
quốc vương nơi cõi Diêm Phù Ðề, tên là Tu Lâu
Bà. Vì muốn cầu đại pháp của Như Lai để hóa độ
chúng sanh, ngài không hề luyến tiếc, hy sinh vợ
đẹp, con yêu, đem cho quỷ Dạ Xoa ăn để nghe được
chánh pháp. Sau khi dạ xoa ăn vợ con của đại
vương xong mới nói bài kệ rằng:
Nhứt thiết hành vô thường,
Sanh giả giai hữu khổ,
Ngũ ấm không vô tướng
Vô hữu ngã, ngã sở.
Dịch:
Tất cả các hành đều vô thường,
Ðã có sanh ra đều có khổ.
Thân ngũ ấm nầy không, vô tướng.
Hoàn toàn không có ngã, ngã sở.
Ðại vương nghe bài kệ trên lòng hoan hỷ vô cùng,
tỏ ngộ được đại pháp vô giá, không pháp gì trên
thế gian có thể sánh bằng.
Chư Bồ Tát đều vì pháp mà không luyến tiếc thân
mạng, nên đức Phổ Hiền dạy Thiện Tài đồng tử
rằng: “Trong bể giáo pháp của Ta đây, không một
chữ, một câu nào không phải là chữ hoặc câu mà
không phải xả thí thân mạng mới cầu được”.
Vì đạo pháp mà quên mình, xả thân cúng dường cho
Pháp Sư là hạnh nguyện vì pháp của Bồ Tát. Nếu
không thực hành như vậy mà chỉ luyến tiếc thân
mạng, bỏn xẻn của tiền, thì trái với hạnh nguyện
“vì pháp quên mình” của đại sĩ, cùng trái với
bổn tâm cung kính hiếu thuận của Bồ Tát. Cho
nên, cuối cùng trong kinh phán: “Phật tử này
phạm khinh cấu tội”.
Trong kinh Viên Giác dạy: “Chúng sanh thời mạt
pháp muốn tu hành phát nguyện trọn đời cúng
dường thiện hữu, kính thờ thiện tri thức, gần
gũi bậc thiện tri thức, phải đoạn trừ tâm kiêu
mạn, khi xa lìa thiện tri thức phải đoạn trừ tâm
sân hận. Những cảnh thuận nghịch hiện tiền xem
như hư không, rõ biết tự tâm rốt ráo bình đẳng,
cùng với chúng sanh đồng một thể không sai khác.
Tu hành như thế mới được chứng nhập Viên Giác”.
Lời sớ thích đoạn kinh văn trên nói rằng: “Luận
về các bận thiện hữu hóa độ chúng sanh phải dùng
nhiều phương tiện. Khi nào nhận thấy tâm ý thầy
trò khế hợp mới đem chỉ thú của chánh pháp
truyền trao. Tùy theo căn cơ chúng sanh, có khi
cần phải thân cận để hóa độ. Thế mà chúng sanh
ngu si không hiểu biết, thấy thiện tri thức đến
gần gũi với mình thì sanh tâm kiêu mạn.
Tâm kiêu mạn đã sanh thì không thể nào vào được
Ðạo. Nên kinh dạy phải đoạn trừ tâm kiêu mạn.
Hoặc có khi gặp nhân duyên khác mà thầy trò phải
cách xa nhau, do đó sanh tâm sân hận mà nói
rằng: “Thầy xa lìa ta để đi gần gũi với người
khác”.
Lại còn nói thầy có tâm thương ghét. Một khi đã
có một niệm sân sanh khởi thì ngàn muôn sự
chướng ngại lập tức phát sanh. Không kể đến sự
mất lợi ích trong đạo pháp, chính bản thân kẻ đó
bị đọa lạc trong tam đồ. Cho nên kinh dạy phải
đoạn trừ tâm sân hận”.
Trong kinh Thí Dụ kể lại một câu chuyện như sau:
Trong thời quá khứ, tôn giả A Nan là một đồng tử
bán hương.Trên đường đi bán hằng ngày, đồng tử
gặp một tiểu sa di vừa đi khất thực vừa đọc tụng
kinh kệ.
Thấy thế, đồng tử hỏi sa di vì sao phải làm như
vậy, sa di đáp rằng: “Thầy tôi hiện tu hành
trong núi, bảo tôi mỗi ngày đến nhà thí chủ khất
hóa một thăng gạo mang về, đồng thời phải đọc
tụng một bài kệ trong kinh Phật cho thuộc, nên
tôi phải làm như thế”.
Ðồng tử lại hỏi: - Nếu chú không đi lấy gạo mỗi
ngày, chú tụng được mấy bài kệ?
Sa di đáp rằng: Nếu không đi lấy gạo mỗi ngày,
tôi đọc tụng thuộc mười bài kệ.
Ðồng tử nghe xong vì muốn cho chú Sa Di thành
tựu việc đọc tụng kệ kinh, bèn nói rằng: - Tốt
lắm, từ nay tôi xin thay thế cho chú mang gạo
đến tận nơi, chú khỏi cần phải đi khất hóa.
Sa di nghe nói vui mừng khôn xiết, ở nơi am
chuyên tâm nhất ý đọc tụng kệ kinh. Khi đồng tử
mang gạo đến am được chín hộc, đồng tử thử hỏi
sa di để biết sự đọc tụng kinh kệ có được nhiều
hay không. Quả nhiên, suy tính theo mỗi ngày một
thăng gạo, thì chú Sa Di mỗi ngày mười bài kệ đủ
số không sai.
Tôn giả A Nan do công đức thay cho chú Sa Di
mang gạo này mà hiện tại được gặp Phật, và được
suy tôn là bậc Ða Văn đệ nhất trong hàng đệ tử
Thanh Văn.
Chúng ta thử nghĩ: Chỉ vì một chú Sa Di trì kinh
mà thay thế mang gạo, còn được quả báo thù thắng
như thế, huống chi cúng dường cho bậc thầy - bạn
Ðại Thừa, là những người có khả năng tuyên
thuyết chánh pháp, thì quả báo thù thắng được
thọ hưởng không thể hạn lượng.
Kết thành tội nghiệp của “bất cung cấp thỉnh
pháp giới” này phải hội đủ bốn duyên như sau:
1. Pháp Sư: Thật sự có vị Pháp Sư Ðại Thừa đi
đến.
2. Tưởng Pháp Sư: trong tâm đích xác biết vị ấy
là vị Pháp Sư đi đến chỗ mình. Nếu như không
biết người ấy là vị Pháp Sư thì không phạm.
3 Không có tâm thỉnh: không có lòng muốn thỉnh
Pháp Sư thuyết pháp. Hoặc đối với Pháp Sư có tâm
niệm sân hận, buồn rầu, nên không chịu thỉnh. Vì
nội tâm có phiền não nên phạm tội nhiễm ô khởi.
Hoặc do tính hay quên, hoặc do lười biếng mà
không thỉnh Pháp Sư thuyết pháp. Trong trường
hợp này, vì không có phiền não xen lẫn trong
tâm, nên chỉ phạm tội, nhưng không phải là phạm
tội nhiễm ô khởi.
4. Làm lơ bỏ qua: trường hợp rõ ràng có Pháp Sư
ở trước mặt và bạn có thể được lợi ích nghe
pháp, nhưng bạn làm lơ bỏ qua nhân duyên rất tốt
như thế.
Cho nên tùy theo việc mà kết thành tội khinh
cấu.
Những nhân duyên đặc biệt nào không thỉnh Pháp
Sư mà không phạm tội?
- Trường hợp bị bệnh nặng, tự mình không thể
ngồi dậy được.
- Chính bản thân mình không đủ sức cúng dường
nên không đủ phương tiện thỉnh thầy thuyết pháp.
- Hoặc biết người thuyết pháp không phải tuyên
thuyết chánh pháp của Như Lai, mà chỉ nói một
cách điên đảo không thành vấn đề gì, không mang
lại lợi ích cho thân tâm người nghe pháp, nên
không thỉnh người ấy thuyết pháp.
- Hoặc chính mình đã có sức đa văn, đối với Phật
pháp đã có sự nhận thức tương đương, có thể
không cần thỉnh Pháp Sư thuyết pháp.
- Hoặc mình đã có học hỏi đại pháp của Như Lai
nên không thỉnh Pháp Sư thuyết pháp.
- Hoặc chính mình đang chuyên tu, tọa thiền,
tụng kinh, niệm Phật... nên không thỉnh Pháp Sư
thuyết pháp.
Những trường hợp trên, không thỉnh Pháp Sư
thuyết pháp thì không trái phạm giới này.
B.2.2.7. BẤT VÃNG THÍNH PHÁP GIỚI (giới
không đi nghe pháp)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử nhứt thiết xứ hữu giảng pháp
Tỳ Ni kinh luật...” cho đến câu “nhược bất chí
thính thọ tư vấn giả phạm khinh cấu tội”.
2. Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử, hàng tân học Bồ Tát, phàm nơi nào, chốn
nào có giảng kinh luật, phải mang kinh luật đến
chỗ Pháp Sư để nghe giảng và thưa hỏi. Hoặc nơi
núi rừng, trong vườn cây, chùa, nhà... tất cả
những chỗ có thuyết pháp đều phải đến nghe học.
Nếu Phật tử không đến nơi ấy để nghe pháp, cùng
thưa hỏi thì phạm khinh cấu tội.
Lời giảng:
Giới
“không cúng dường, thỉnh pháp” ở trước là nói về
tội Pháp Sư đến địa phương của mình mà không
thỉnh pháp. “Giới không đi nghe pháp” này nói về
tội ở nơi khác có thầy nói pháp mà không chịu đi
nghe.
Vấn đề nghe pháp đối với người Phật
tử mới học Phật pháp, nhất là hàng Bồ Tát sơ
phát tâm vô cùng quan trọng. Vì Bồ Tát sơ phát
tâm đối với Sự và Lý trong Phật pháp, những việc
trì, phạm... của giới hạnh, tất cả đều không
hiểu rõ, nên thường phải mang kinh, luật đến các
nơi tham học để thành tựu đạo hạnh cho chính
mình.
Hiện tại, nếu bạn biết nơi nào có
thầy giảng dạy kinh luật mà không chịu đến nghe.
Ðối với Phật lý đã mờ mịt, việc trì phạm cũng
không thông, thế mà bạn vẫn mặc kệ, không cần
biết. Suốt ngày chỉ dạo chơi các nơi để thưởng
ngoạn, tìm thú vui, không lo tu học, lám tổn hại
giới hạnh thanh tịnh, đi sai con đường tu hành,
luống thọ dụng của thí chủ thì tội lỗi biết
chừng nào! Ðức Phật thấy như thế nên đặc biệt
chế định giới điều này.
Hành giả Bồ Tát lấy vô thượng Bồ Ðề
làm chỗ mong cầu, mà vô thượng Bồ Ðề là lấy Trí
Huệ làm gốc. Có trí huệ thậm thâm vi diệu mới có
thể phát sanh các pháp Ba La Mật. Vì thế phải
làm thế nào để có được một Trí Huệ chính xác,
cao siêu là một vấn đề vô cùng trọng yếu.
Nếu làm một người hướng dẫn mà trí
huệ tối tăm sẽ sanh khởi những việc sai lầm, bất
chính. Do đó, mọi người bị sai lầm tất cả. Thật
vô cùng nguy hiểm và tai hại!
Vì thế, Tiểu Thừa xem trọng chánh kiến, Ðại Thừa
xem trọng Bát Nhã, nguyên nhân chính là vậy. Nên
trong kinh có bài tụng như sau:
Huệ ư chư thiện hạnh,
Như thuyền tiếp sở trì,
Bách thiên manh thất lộ,
Do nhất nhãn đắc tồn.
Dịch:
Trí huệ đối với các thiện hạnh,
Cũng như mái chèo giữ chiếc thuyền.
Trăm ngàn người mù bị lạc đường,
Nhờ người sáng mắt mà được sống.
Như thế, chúng ta thấy trí huệ thật vô cùng
trọng yếu, nhưng tại sao trong kinh Hoa Nghiêm
có bài kệ rằng:
Thí như bần cùng nhân
Nhựt dạ sổ tha bảo,
Tự vô bán tiền phần,
Ða văn diệc như thị.
Dịch:
Ví như có người rất nghèo cùng,
Ngày đêm đếm của báu cho người.
Tự mình không có phân nửa tiền,
Những kẻ đa văn cũng như vậy.
Như thế việc nghe kinh, luật hoàn toàn không lợi
ích chi, tại sao lại phải đi nghe?
Câu hỏi trên thật sai lầm vô cùng! Trong kinh sở
dĩ nói: “Người đa văn như kẻ đếm của báu cho
người” ấy là Phật quở trách nnhững người cho Ða
Văn là rốt ráo, chỉ một mặt chuyên nghe mà không
biết quy y theo chỗ đã được nghe để tu trì. Do
đó, mới bị quở trách và ví như người nghèo đếm
của báu đã được cho người.
Nếu từ Ða Văn mà được Văn Huệ, từ Văn Huệ mà tư
duy, từ tư duy mà tu tập, từ tu tập mà vô lậu
trí huệ được khai phát. Như thế là được Ðức Phật
vô cùng tán thán và hứa khả. Như trong kinh có
bài kệ sau:
Thiết mãn thế giới hỏa,
Tức quá yếu văn pháp.
Niệm đương thành Phật đạo,
Quảng tế sanh tử lưu.
Dịch:
Giả sử thế gian đầy lửa đỏ,
Muốn nghe pháp phải đi qua.
Tự nghĩ nghe được pháp thành Phật.
Khắp độ chúng sanh thoát sanh tử.
Lại nữa, trong kinh nói rằng: “Trong vòng trăm
do tuần đầy lửa dữ đang cháy phừng phừng. Nếu
nơi ấy có người giảng nói chánh pháp, cũng phải
đi qua chỗ lửa dữ ấy, đến nơi người nói pháp mà
nghe pháp”.
Chúng ta thấy rõ tính trọng yếu của việc nghe
pháp đến mức độ nào!
Ðức Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là Phật tử thọ
giới Bồ Tát, ở tất cả chỗ, nghĩa là bất luận nơi
nào, nếu có Pháp Sư hoặc Luật Sư tuyên giảng
pháp Tỳ Ni kinh luật, hàng tân học Bồ Tát đều
phải tìm cách đi nghe cho kỳ được. Lại còn có
những nơi do quốc vương, đại thần và các vị đàn
việt hộ pháp có thỉnh Pháp Sư giảng pháp, trong
chốn đại trạch xá (giới bổn Việt văn dịch là
“nhà”), là cung điện của vua, dinh thự của quan,
nhà của các Phật tử tại gia... Hàng tân học Bồ
Tát không được một chút do dự, mà phải mang kinh
luật đến chỗ Pháp Sư nghe giảng và thưa hỏi”.
Ở đây nói pháp Tỳ Ni, kinh, luật theo nghĩa:
- Pháp là chỉ cho Kinh Tạng đã biên tập, thông
thường hợp lại gọi là Pháp Tỳ Nại Da. Pháp là để
thực hành theo chân lý cùng đạo đức.
- Tỳ Nại Da là trừ diệt những pháp hư vọng và
trái đạo đức (chỉ cho phiền não, ác nghiệp...)
Về nội dung vốn đồng nhất, nhưng về phương diện
“hiển chánh trừ tà” chia làm hai: Pháp và Tỳ Ni,
chẳng phải Pháp, chẳng phải Tỳ Ni. Danh từ tương
đối này ở trong kinh, luật rất phổ biến, hoàn
toàn không mang nghĩa thực sự bất đồng, nên kinh
này gọi là “pháp Tỳ Ni kinh luật”.
Tỳ Ni là tiếng Ấn Ðộ, Trung Hoa có chỗ dịch là
Luật, có công năng xử đoán các tội khinh, trọng
của việc phạm giới và phân định rõ thế nào là
khai, giá, trì, phạm để chúng ta giữ gìn giới
hạnh một cách đúng đắn, nghiêm túc và linh động
giống như pháp luật trong thế gian luôn phải
công bằng xử đoán mọi việc.
Lại có nơi dịch là Diệt, nói theo Ðại Thừa là có
thể triệt để diệt trừ tất cả phiền não. Nói theo
Tiểu Thừa, hữu lậu mộc xoa có thể diệt trừ bảy
thứ tội ác của thân khẩu nghiệp (thân có ba
nghiệp, khẩu có bốn nghiệp). Nếu căn cứ vào Ðịnh
Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới (1) thì có thể diệt
trừ chín mươi tám sử (2). Lại có chỗ nói tội ác
của ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng ta như lửa
đương cháy rất mãnh liệt, chỉ có giới luật mới
có thể ngăn chặn, dập tắt, nên gọi là Diệt.
Lại có chỗ dịch là Ðiều Phục, nghĩa là các học
xứ (tức là những chỗ nên học, cần học, tức là
giới luật) có công năng điều hòa ba nghiệp thân,
khẩu, ý, hàng phục tất cả nghiệp bất thiện, nên
gọi là Ðiều Phục.
Có người không biết pháp là kinh, Tỳ Ni là Luật,
mà nói kinh, luật đều gọi là Tỳ Ni thì thật là
hoàn toàn không đúng pháp. Trong kinh văn nói:
“Tân học Bồ Tát" chỉ những Bồ Tát sơ phát tâm,
hàng đại sĩ mới thọ tâm địa giới pháp. Vì các vị
này thuộc về hàng tân học, học nghiệp chưa thành
tựu, không biết rõ sự khinh trọng của giới hạnh,
không biết rõ thế nào là Khai, Giá, Trì, Phạm,
thế nào là dụng công tu hành, thế nào là phương
tiện độ sanh v.v...
Vì thế, khi nghe có người giảng giải kinh, luật,
phải mau chóng đến nơi ấy học tập, để được hiểu
rõ chính xác nội dung trong kinh, luật, và để
khỏi sa vào trường hợp kẻ đui dắt người mù,
không đến nỗi lầm lẫn cho phạm giới là trì giới
mà tạo ra nhiều việc phi pháp, phi luật.
Vì muốn tránh khỏi sự sai lầm của tư tưởng và
hành vi của chính mình, hàng tân học Bồ Tát sơ
phát tâm nếu biết nơi nào có người giảng kinh
luật, phải nhanh chóng mang kinh luật đến nơi
Pháp Sư, chuyên tâm nhất ý lắng nghe, lại phải
dùng tâm thức lãnh thọ giáo pháp. Nếu trong ấy
có chỗ nào không hiểu rõ thì nên cung kính thủ
lễ đối với Pháp Sư để thưa hỏi những điểm nghi
ngờ trong tâm mình. Khi khối nghi ngờ được băng
tiêu, biết rõ sự tu học phải như vậy, cần phải y
theo đó tu trì để mong được ngộ nhập pháp môn
tâm địa Ðại Thừa.
Nếu có chỗ giảng nói kinh - luật mà không chịu
đi nghe thì thâm tâm của bạn không được sự tươi
nhuận của nước pháp, hoặc đi nghe pháp mà không
thưa hỏi những chỗ nghi ngờ trong tâm, thì chủng
tử Phật pháp trong thân tâm bạn sẽ không được
tăng trưởng.
Vì muốn cho hàng tân học Bồ Tát biết trọng pháp,
không thối thất tâm đạo.
Vì muốn sách lệ hàng tân học Bồ Tát tăng tiến
trên đường tu học.
Vì muốn phòng ngừa hàng tân học Bồ Tát không tự
sanh giải đãi, kiêu mạn.
Nên Phật dạy khi có chỗ nào thuyết pháp giảng
luật, phải đi nghe học, thưa hỏi. Nếu không, sẽ
mất lợi ích không được nghe đại pháp và sự tu
hành sẽ không do nơi đâu mà thắng tấn.
Chẳng những trong chốn đại xá trạch như cung
vua, dinh thự của quan, nhà các đàn việt như
trên đã nói, mỗi khi có Pháp Sư giảng kinh -
luật, hàng tân học Bồ Tát cần phải đi nghe, mà
ngay đến trong chốn núi rừng, dưới cội cây,
trong chùa tăng, những nơi tịch tịnh A Lan Nhã
hoặc Tăng Già Lam, chỗ của chúng tăng cư ngụ,
nếu có Pháp Sư thuyết pháp, đều phải đến nghe
học. Nếu không đến những chỗ ấy nghe học kinh -
luật, thưa hỏi lý nghĩa, ban đầu chỉ có lỗi
biếng nhác, mạn pháp, nhưng về sau thì không tội
ác nào chẳng tạo nên. Cuối cùng kinh dạy: “Phật
tử này phạm khinh cấu tội”.
Nghe pháp, học luật là có lợi ích cho bản thân
mình mà không chịu nghe học thì làm sao tránh
khỏi trở thành một người tội ác? Vì thế nên
không tránh khỏi tội khinh cấu!
Vì sao nghe kinh, học luật là sự kiện trọng yếu
của hàng tân học Bồ Tát như thế?
Nên biết bể Phật pháp mênh mông, càng vào càng
sâu. Nếu bạn cứ ngồi yên bất động thì làm sao có
thể thâm nhập Kinh Tạng? Nên trong luận Du Già
quyển tám mươi, giải thích chữ “nghe” như sau:
“Nghe là như thế nào? Là chính trong lúc Pháp Sư
giảng nói chánh pháp, người nghe pháp phải an
trụ nơi chỗ của Pháp Sư, chí thành cung kính,
chuyên chú nghe pháp, nội tâm không điên đảo”.
Phải biết người nào có tâm chân thật cung kính
nghe pháp, hiện tiền được sự lợi ích an lạc như
xa lìa tam ác đạo, được sanh vào cảnh giới lành
nhân thiên, và là nhân tương lai đến Niết Bàn.
Ðược ba sự lợi ích trên đều do lòng cung kính
nghe đại pháp, nên Du Già Luận có bài tụng:
Ða văn năng tri pháp,
Ða văn năng viễn ác.
Ða văn xả vô nghĩa.
Ða văn năng đắc Niết Bàn.
Dịch:
Ða văn biết các pháp,
Ða văn lìa ác đạo.
Ða văn lìa bất lợi.
Ða văn được Niết Bàn.
Căn cứ chính nơi ý này có thể nói một cách quả
quyết rằng: Tất cả các công đức trong Phật pháp,
không một công đức nào thành tựu mà không phải
do từ nghe pháp mà thu hoạch được.
Vì thế, tất cả các giới Phật tử đối với việc
nghe kinh - luật chớ nên khinh thường. Nếu tất
cả các pháp đều không được nghe, thì chẳng những
pháp thậm thâm không hiểu rõ, mà ngay cả những
pháp thông thường như Tam Quy, Ngũ Giới, Thập
Thiện, Tam Bảo v.v... cũng đều không hiểu rõ.
Như trường hợp Thiện Tài đồng tử mà đa số Phật
tử đều biết, vì cầu thiện tri thức để nghe đại
pháp mà triển chuyển đi qua phương Nam, trải qua
một trăm mười thành để tham phỏng với các đại
thiện tri thức. Cuối cùng mới được chứng đắc tâm
yếu trong Phật pháp.
Nếu Thiện Tài đồng tử đương thời bấy giờ cứ ngồi
yên bất động, sợ nhọc và làm biếng, thì thử hỏi
làm sao lọt vào được lâu các của đức Di Lặc Bồ
Tát và việc tham học làm sao được hoàn thành?
Thiện Tài đồng tử ở tại Phước Thành, trong đó có
một vị trưởng giả có năm trăm đồng tử mà Thiện
Tài là một trong số đó.
Vì sao đồng tử được đặt tên là Thiện Tài? Vì lúc
đồng tử mới sinh ra, có rất nhiều tài bảo quý lạ
tự nhiên ở dưới đất hiện ra. Ðó là do Thiện Tài
đồng tử có phước báo rất lớn.
Tại sao Thiện Tài đồng tử có được phước báo rất
lớn như thế? Vì đồng tử đã chứa nhóm công đức
lành nhiều đời, cho nên cha mẹ ngài đặt hiệu là
Thiện Tài.
Thời bấy giờ, đức Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
ngự bên phía Ðông của Phước Thành, tại Trang
Nghiêm Tràng An La Lâm giảng nói chánh pháp.
Ðồng tử đến chỗ Bồ Tát nghe pháp, phát đại Bồ Ðề
tâm. Sau khi phát đại tâm, đồng tử vâng lời chỉ
giáo của Bồ Tát Văn Thù, tiếp tục đi qua phương
Nam tham bái 53 vị thiện tri thức. Do đây, mà
trong Phật giáo thường nói là: “Thiện Tài đồng
tử ngũ thập tam tham”. Lần tham phỏng thứ 28 là
tham học với đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì lần tham
học đầu tiên là học với VănThù Sư Lợi Bồ Tát. Và
lần cuối cùng là học với đức Phổ Hiền Bồ Tát,
nên khi nói đại Bồ Tát độ Thiện Tài đồng tử,
trong kinh đều thường đề cập đến hai vị đại Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi và Ðại Hạnh Phổ Hiền vậy.
Lại nữa, ở Trung Hoa vào triều nhà Ðường, có vị
thiền sư hiệu Ðại Tùy Pháp Chân, là bực danh đức
đương thời.
Một hôm, có vị tăng nhân đến thiền sư hỏi pháp
rằng: - Ðến khi kiếp hỏa rỗng cháy, thế giới
hoại diệt thì cái ấy cũng hoại hay là không?
Thiền sư đơn giản đáp rằng: Hoại.
Tăng nhân lại hỏi tiếp; - Theo lời ngài nói như
vậy thì cái ấy cũng tùy theo cái khác mà đi hay
sao?
Thiền sư lại đáp: - Tùy cái khác mà đi.
Tăng nhân nghe như vậy, tâm có chỗ hoài nghi,
bèn đi tầm thầy tham phỏng. Trải qua các danh
sơn và đại xuyên, Ngài cứ đi mãi, đi mãi đến
muôn dặm chỉ vì khối nghi tình ấy. Chư cổ đức
diễn tả sự tham phỏng của tăng nhân ấy bằng hai
câu thơ như sau:
Nhất cú tùy tha ngữ,
Thiên sơn tẩu nạp Tăng.
Dịch:
Một câu tùy tha ngữ,
Nạp Tăng đi nghìn non.
Chính là diễn tả tinh thần cầu pháp nói trên.
Lại như Triệu Châu thiền sư đến tám mươi tuổi mà
vẫn còn đi hành cước, chỉ vì nội tâm chưa tỏ
ngộ. Như thế đủ thấy tinh thần cầu pháp đến mức
độ nào.
Hiện nay những người tu hành học Phật pháp, các
vị tám mươi tuổi không thể hành cước là điều
không nói, nhưng cả các vị mới mười tám tuổi mà
muốn các vị đi hành cước thì các vị cũng không
chịu đi. Thế nên, người đời nay sánh với chư cổ
đức ngày xưa khác nhau rất nhiều! Xem gương các
bậc cổ đức thời xưa, rồi nhìn lại những người
học Phật ngày nay, khiến cho tôi (Pháp Sư) không
thể giữ được nỗi buồn vô hạn!
Người học Phật, mục đích chánh là vì cầu chánh
pháp, mà chánh pháp không cầu thì học Phật để
làm gì? Xuất gia để làm gì? Xin trả lời cho tôi
nghe!
Thế nên Tỉnh Am đại sư trong Khuyến Phát Bồ Ðề
Tâm Văn, có những lời than thở sau đây: “Có giáo
pháp mà không có người tu học, tà chánh không
phân, phải quấy không biện biệt, lại xúm nhau
tranh nhân, ngã. Ai ai cũng đều theo đuổi lợi
danh. Ðưa mắt nhìn xem trong thiên hạ nhan nhản
toàn là như thế. Người tu học Phật mà không biết
Phật là chi, pháp là gì, tăng tên chi?! Suy tàn
đến mức ấy thật là nguy ngập không thể nói, nên
mỗi khi nghĩ đến, bất giác lệ rơi!”
Hiện tượng Phật giáo ngày nay đem so sánh với
thời của Tỉnh Am đại sư lại là giang hà nhật hạ.
Những người có tâm với Phật giáo trông thấy cảnh
tượng thực tế này, khiến nội tâm quá đau đớn,
nên chẳng những đã ngậm ngùi rơi lệ mà còn không
nén được lòng phải bật tiếng khóc than!!!
(“Giang hà nhật hạ” nghĩa đen là nước sông mỗi
ngày một vơi cạn, dùng hình ảnh này để dụ cho
những việc suy bại ngày càng trầm trọng, Thí dụ
trên ám chỉ cho Phật giáo thời của Tỉnh Am tổ sư
- Liên tông thập tổ - dù đã suy bại, nhưng so
với Phật giáo hiện tại thì tình trạng suy bại
càng hơn nhiều. Tiến thêm một bước nữa, Phật
giáo cách đây chừng 20 năm, tức là lúc Diễn Bồi
Pháp Sư giảng bộ Bồ Tát Giới Bổn này, so với năm
nay, 1983, thì hiện tượng suy bại của Phật pháp
không sao kể xiết. Theo đà tuột dốc này thì
những năm tiếp theo sau, sự suy bại không biết
đến mức độ nào!)
Có chỗ giảng kinh thì phải đi nghe, đó là điều
dĩ nhiên. Nhưng nếu đường sá quá xa xôi thì có
sự giới hạn hay không?
Trong kinh Ðịa Trì không quy định việc đường sá
xa gần mà chỉ dạy là khi có chỗ nói kinh - luật
phải thành tâm đi nghe. Còn kinh Ưu Bà Tắc giới
thì dạy: “Trong vòng một do tuần, phải đi nghe;
nếu xa hơn một do tuần, không đi nghe thì không
phạm tội”.
Vì Phật tử tại gia việc thế tục quá đa đoan,
không thể bỏ gia đình mà đi nghe pháp ở chỗ quá
xa. Trường hợp này không phải có tâm mạn pháp
khinh người, mà vì bị nhiều việc ràng buộc nơi
thân, nên không có thời giờ rảnh rỗi để đi nghe
pháp.
Còn người xuất gia hoàn toàn không bận rộn việc
thế tục nào, nên phải lấy sự học tập chánh pháp
làm chánh vụ. Nếu vì sợ đường sá xa xôi, đi về
cực nhọc, mà không chịu đi nghe kinh - luật, đó
chính là biếng nhác và có tâm mạn pháp. Trường
hợp này thì phạm tội không thể dung tha.
Hiện nay, chẳng những chúng tăng
không chịu đi nghe kinh. Dù được ngồi trên xe để
đi nghe pháp cũng không thấy hứng thú. Thậm chí
dùng máy ghi âm thu những lời Pháp Sư giảng thật
tử tế, đưa cho quý vị nghe, cũng không muốn
nghe. Người xuất gia học Phật mà đối với chánh
pháp của Như Lai không kính trọng như thế, thì
tiền đồ của Phật pháp còn có hy vọng gì?!
Vì thế thật không lạ gì khi có người nói rằng:
“Phật giáo ngày nay không cần do bên ngoài làm
hoại diệt, mà chính bên trong nội bộ của Phật
giáo sẽ trở về với luật đào thải tự nhiên”.
Nhìn Phật giáo hiện nay không sao tránh khỏi sự
buồn đau rơi lệ. Những thanh niên Phật tử thông
thường không biết sự trọng yếu của chánh pháp.
Ðó là do sự không hiểu biết của chính họ, thì
còn có thể tha thứ. Còn đối với những vị lãnh
đạo trong Phật giáo mà xem thường sự hoằng
truyền của chánh pháp, thậm chí thấy người khác
hoằng truyền đạo pháp lại cố ý làm trở ngại,
khiến cho những người có tâm cầu chánh pháp
không có cơ hội được nghe Phật pháp. Ðây mới là
kẻ tội ác rất lớn trong Phật pháp, không thể
trốn chạy được.
Trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn có nói: “Bồ Tát an
trụ nơi giới pháp cần phải tinh cần huân tập đa
văn, để mong được hiểu rõ những nghĩa lý thậm
thâm của Ðại Thừa. Cho nên nếu nghe nơi nào có
Pháp Sư giảng nói chánh pháp, hoặc biện luận
nghĩa lý thậm thâm, hoặc biện biệt những đạo lý
phải, trái, chánh, tà, Bồ Tát đều phải đúng như
pháp, đến nghe học để huân tập và tăng trưởng
văn huệ cho mình. Như thế mới là vị Bồ Tát an
trụ nơi giới pháp”.
Nếu bị phiền não, kiêu mạn chiết phục, tự cho
mình là người rất thông đạt, hoặc đối với pháp
sư có tâm giận ghét mà không chịu đúng như pháp
đi nghe pháp để học hỏi thì đối với giới này có
chỗ nhiễm ô trái phạm.
Nếu không phải bị tâm kiêu mạn, chiết phục, hoặc
tâm giận ghét pháp sư, mà chỉ do tánh biếng
nhác, giải đãi kéo níu, không chịu đi nghe pháp,
học kinh - luật, chỉ phạm tội nhẹ, không phạm
tội nhiễm ô trái phạm, vì không có phiền não xen
lẫn bên trong.
Tội lỗi không đi nghe pháp là như vậy. Nhưng có
trường hợp nào đặc biệt cho phép không đi nghe
pháp hay không?
Có! trường hợp bạn vì tuổi già sức yếu, lại
nhiều tật bệnh, hoặc chân yếu đuối, hoặc phần
giáo pháp được giảng bạn đã từng nghe rồi, hoặc
bạn là bậc đại trí huệ biện tài, hoặc trong lúc
bạn chuyên lo tu tập, hoặc vì Pháp Sư nói giảng
pháp ngoại đạo... Trong những trường hợp như
thế, nếu không đi nghe, học, thưa hỏi thì bạn
không trái phạm giới Bồ Tát.
Ðặc biệt trong trường hợp người thuyết pháp
giảng những giáo lý ngoại đạo thì không được đi
nghe. Nếu đi nghe thì khi gặp những lúc kẻ
thuyết pháp có những lời quan hệ với ngoại đạo,
phải lập tức bỏ đi, không nên ngồi tiếp tục nghe
giảng.
Kinh Phật Tạng có dạy như sau: “Nếu tỳ kheo
thuyết pháp có xen lẫn nghĩa lý ngoại đạo trong
thời giảng pháp. Là một bậc tỳ kheo hiền thiện,
thành tâm cầu đạo pháp, phải lập tức rời khỏi
chỗ ngồi bỏ đi nơi khác. Nếu không bỏ đi thì
không phải là tỳ kheo hiền thiện, cũng không thể
gọi là người tùy thuận lời Phật dạy”.
Kết thành tội nghiệp của Bất Vãng Thính Pháp
Giới này phải hội đủ bốn duyên sau:
1. Giảng kinh - luật: thật sự có Pháp Sư ở đấy
giảng kinh, Luật Sư giảng giới luật.
2. Tưởng là giảng kinh - luật: trường hợp mình
biết rõ ràng nơi ấy có người giảng kinh, giảng
luật. Nếu hành giả Bồ Tát không hay biết, cũng
không nghe ai nói, nên không đi nghe giảng thì
không phạm tội.
3. Có tâm không muốn đi: Ðây là nguyên nhân chủ
yếu để kết thành tội không đi nghe pháp. Nếu do
tâm sân hận, kiêu mạn, mà không đi nghe kinh -
luật thì bị liệt vào tội nhiễm ô phạm.
(Lưu ý: Nhiễm ô phạm hay nhiễm ô khởi là do
phiền não sai khiến. Trường hợp không phải do
phiền não sai khiến là không phải tội nhiễm ô
phạm, đó chỉ vì tính biếng nhác mà thôi. Tuy
nhiên, phải biết rằng tính biếng nhác cũng là
một thứ tùy phiền não tâm sở, một trong hai mươi
thứ tâm sở. Ở đây nói “chẳng phải nhiễm ô” là vì
tâm sở tùy phiền não này thuộc về tội nhẹ, chứ
không phải như căn bổn phiền não như sân hận. Vì
thế, so sánh với căn bổn phiền não mà nói thì là
chẳng phải nhiễm ô, nhưng thật sự phiền não giải
đãi cũng là một thứ nhiễm ô)
4. Không đi nghe: do có tâm không chịu đi nghe
nên nhất quyết không đi. Một ngày không đi nghe
pháp thì bị kết tội một ngày. Tùy theo số ngày
không đi nghe pháp mà kết tội, không thể dung
thứ. Vì sự nghe pháp này quan hệ mật thiết đến
tiền đồ tu học Phật pháp của bạn rất lớn lao
vậy.
Chú thích:
1. Ðịnh Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới:
Ðịnh Cộng Giới là một trong ba thứ giới, còn gọi
là Tịnh Lự Sanh Luật Nghi; nghĩa là lúc nhập các
pháp Thiền Ðịnh ở Sơ Thiền và Nhị Thiền v.v...
thì giới thể cùng Thiền Ðịnh đồng sanh, nên tự
nhiên có công năng ngăn dứt mọi lỗi lầm và tội
ác, nên hai nghiệp thân, khẩu hoàn toàn khế hợp
với Luật Nghi nên gọi là Tịnh Lự Luật Nghi. Vì
Tịnh Lự tức là Ðịnh.
Ðạo Cộng Giới là do các bậc thánh nhân trong Tam
Thừa khi nhập Vô Lậu Ðịnh ở Sắc giới mà phát
sanh. Tức là giới thể cùng với vô lậu trí huệ ở
trong thân tự nhiên phát sanh công năng ngăn dứt
lỗi lầm và tội ác. Ðạo Cộng Giới còn gọi là Vô
Lậu Luật Nghi vì thuộc về Luật Nghi Vô Lậu, cùng
với Vô Lậu đồng sanh và đồng diệt.
2. Chín mươi tám sử: còn gọi là chín mươi tám
tùy miên. Hai danh từ này là biệt danh của phiền
não.
Tại sao gọi là Sử? Tại sao gọi là Tùy Miên?
Sử nghĩa là sai khiến, nghĩa là phiền não sai
khiến chúng sanh tạo ác nghiệp để phải chịu khổ
quả. Có chỗ gọi là Kiết Sử vì Kiết là trói cột,
tức là chúng sanh bị phiền não sai khiến tạo tội
ác, rồi lại bị khổ quả như tội nhân do tạo tội
mà bị hành phạt.
Tùy Miên: chữ Tùy nghĩa là theo. Miên là ngủ.
Nghĩa là phiền não luôn luôn theo bên mình,
không rời một bước nên gọi là Tùy. Những phiền
não ấy rất u vi, khó nhận biết, thường ẩn núp
trong nội tâm, cũng như người nằm ngủ không hay
biết gì cả nên gọi là Miên. Chín mươi tám sử này
lấy Thập Sử làm căn bản. Thập Sử: tham, sân, si,
mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới
cấm thủ.
Trong 10 sử lại chia ra làm hai loại:
- Năm thứ trước gọi là ngũ độn sử.
- Năm thứ sau gọi là ngũ lợi sử.
Nơi mười sử này phối hợp với tam giới thì cõi
Dục Giới có có ba mươi sáu thứ, Sắc Giới có ba
mươi mốt thứ, và Vô Sắc Giới có ba mươi mốt thứ.
Tổng cộng ba cõi có chín mươi tám sử. Ở đây chỉ
nói sơ lược, muốn biết rõ phải xem các bộ luận A
Tỳ Ðạt Ma Phát Trí quyển năm, Ðại Tỳ Bà Sa quyển
bốn mươi sáu, Câu Xá Luận quyển mười chín...