Ý NGHĨA CHÂN THẬT CỦA "BỔN NGUYỆN NIỆM PHẬT
Hòa Thượng Tịnh Không thuyết giảng
Liễu Nhân sưu tập và ghi chép, Cư sĩ Truyền Tịnh giảo chánh
Dịch theo bản in của Tịnh Tông Học Hội Los Angeles, tháng 3, 2001
a.
Ba yếu quyết của việc thọ trì kinh Vô Lượng Thọ
1. Khéo giữ gìn khẩu
nghiệp, chẳng chê bai lỗi của người khác;
Khéo giữ gìn thân
nghiệp, đừng làm chuyện trái ngược với giới luật;
Khéo giữ gìn ý
nghiệp, thanh tịnh chẳng nhiễm.
2. Phát Bồ Đề tâm,
một hướng chuyên niệm A Di Đà Phật.
3. Quán pháp như hoá,
tam muội thường tịch.
Nhận định:
Lão hòa thượng luôn
luôn nhấn mạnh bí quyết tu học Phật pháp cho được
thành tựu là phải: 'Thâm nhập một môn, huân tu
lâu dài'. Nếu có thể không hoài nghi, không xen
tạp, không gián đoạn, thì chẳng ai không thành công.
Trong bài văn Khuyên Phát Tâm Bồ Đề, Tổ thứ mười một
của Tịnh Tông, Tỉnh Am đại sư chỉ rõ 'Trong việc
tu hành cấp bách nhất là phải lập nguyện trước tiên'.
Trong chín nhân duyên có nói: 'Phát Bồ Đề Tâm là
thiện căn, chấp trì danh hiệu là phước đức'.
Kinh Hoa Nghiêm dạy:
'Nguyện rộng thì hành sâu, hư không chẳng lớn, tâm
vương mới lớn. Kim cang chẳng cứng, nguyện lực cứng
nhất'.
Chú thích: Bồ
Đề tâm tức là tín nguyện tâm – tin những gì Phật
nói, muôn duyên buông xuống hết, cầu nguyện vãng
sanh.
b. Thái độ và nhận thức cần có khi tu học Phật pháp.
1 Ấn Quang đại sư dạy
chúng ta: 'Muốn được lợi ích chân thật của Phật
pháp thì phải tìm cầu từ sự cung kính, một phần cung
kính được một phần lợi ích, mười phần cung kính được
mười phần lợi ích'.
2. Học Phật phải tin
sâu nhân quả, hiểu lý của nhân quả. Bất luận là ‘Như
Lai thành chánh giác’ hoặc là ‘chúng sanh đọa ác
đạo’ đều chẳng ra ngoài nhân quả. Kinh Dịch nói:
'Nhà tích thiện ắt có niềm vui, nhà tích điều bất
thiện ắt có việc tai ương'. Tích thiện và tích
bất thiện là nhân; niềm vui và tai ương là quả.
3. Kinh nói: 'Bồ
Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả'. Bồ Tát sợ chiêu
cảm ác quả nên ngăn ngừa, đoạn trừ nhân ác, từ đó
tội chướng tiêu trừ, công đức viên mãn mãi đến khi
thành Phật. Chúng sanh thường làm nhân ác nhưng lại
muốn miễn trừ quả ác cũng giống người chạy trốn bóng
của mình dưới ánh nắng mặt trời, vất vả khổ nhọc
cách nào cũng chẳng được. Người vô trí khi làm chút
ít việc thiện xong rồi hy vọng có phước báo to lớn;
lúc gặp nghịch cảnh, có chút gì chẳng như ý liền
nói: ‘Tôi làm lành nhưng lại gặp nạn, chẳng có nhân
quả’, từ đó thoái tâm.
4. ‘Tu phước còn phải
tu huệ, tu Tịnh Độ’, tu phước dĩ nhiên là bắt đầu từ
‘đoạn ác tu thiện’. Làm công quả ở đạo tràng nhất
định phải giữ gìn tâm thanh tịnh, nhắm đến mục tiêu
‘thành tựu giới, định, huệ của mình’, đừng tham cầu
phước báo. Nhân viên [trong đạo tràng] càng không
thể có thái độ: ‘tôi cho bạn cơ hội tu phước báo’ để
đối xử với những người đến làm công quả. Tu huệ nên
cầu đoạn trừ phiền não. Hoằng Nhất đại sư khai thị:
"Muốn trừ phiền não trước tiên phải quên ‘ngã’
(tôi)”. Tu hành chẳng rời sinh hoạt, nhất định
từ ‘quên tôi, xả tiểu ngã, đến vô tư, vô ngã’ mà
làm; như vậy mới có thể đoạn trừ phiền não, trừ ngã
chấp, tu học giới, định, huệ; đây là một phương pháp
rất kỳ diệu. Nếu có thể dùng tâm ‘chân thành, thanh
tịnh, từ bi’ để niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì đó là
phước huệ viên mãn.
5. Người niệm Phật ăn
chay để nuôi dưỡng tâm từ bi và tâm tường hòa. Nếu
chẳng thể chấm dứt ăn mặn thì nên ăn tam tịnh nhục
(thịt mà mình chẳng thấy giết, chẳng nghe giết,
chẳng bị giết vì mình), hoặc ăn chay buổi sáng, nhất
quyết đừng sát sanh, đặc biệt là sát sanh ở nhà. Để
cho trong nhà thường được kiết tường, nếu thường sát
sanh thì trong nhà biến thành lò sát sanh, oan hồn
thường tụ tập, chẳng kiết tường.
6. Phật, Bồ Tát giúp
đỡ chúng ta bằng cách nói rõ đạo lý về nghiệp nhân
quả báo, nói rõ sự lợi hại, và phương pháp đoạn ác
tu thiện cho chúng ta biết, chỉ như vậy mà thôi.
Thực sự muốn làm thì phải do tự mình làm; Phật, Bồ
Tát chẳng thể làm thay chúng ta.
7. Nghe pháp và nghe
kinh nhất định phải 'thâm nhập một môn, huân tu
lâu dài', học tập không ngừng để thể hội, giác
ngộ và nỗ lực làm được 'giải và hành đều tương
ứng'. Lâu ngày công phu sâu dày mới phát sanh
tác dụng -- mới có kết quả --, mới có thể hàng phục
thói quen tập khí và
đạt
được thành tựu.
8. Khổng Lão Phu Tử
dạy chúng ta: 'Đa văn khuyết nghi, thận hành kỳ
dư’ (Nếu nghe nhiều mà còn có những chỗ nghi ngờ thì
hãy thực hành cẩn thận những điều còn lại, tức những
điều mình không nghi), đây là thái độ nên có khi
chúng ta nghe kinh, nghiên [cứu kinh] giáo. Trong
việc nghe kinh, nghiên giáo, căn cơ của mỗi người
chẳng giống nhau, mỗi người sẽ hiểu khác nhau, tâm
đắc khác nhau, và chẳng tránh có chỗ nghi ngờ khác
nhau. Nghi ngờ là một căn bịnh nặng, đừng vì nghi mà
đánh
mất lòng tin, càng không thể vì nghi mà cản trở
chánh hạnh. Nên tạm thời gác chỗ nghi hoặc qua một
bên, chỉ thực hành những gì mà mình chẳng nghi,
chuyện này rất quan trọng. Sau này gặp được ‘minh
sư’ hoặc cảnh giới tu học của mình đã nâng cao thì
vấn đề nghi hoặc sẽ được giải đáp.
9. Trong câu chuyện
Pháp Chiếu vào Trúc Lâm tự, Văn Thù Bồ Tát nói với
Pháp Chiếu: 'Hôm nay ông niệm Phật, đã đúng lúc
rồi. Trong các môn tu chẳng có gì hơn niệm Phật.
Cúng dường Tam Bảo, tu phước lẫn tu huệ. Hết thảy
các pháp, Bát Nhã Ba La Mật, thậm thâm thiền định,
cho đến chư Phật đều phát sanh từ niệm Phật. Thế mới
biết niệm Phật là vua của các pháp. Ông nên thường
niệm pháp vô thượng này, đừng bao giờ ngừng nghỉ’.
Pháp Chiếu hỏi: 'Làm thế nào để niệm?'. Văn
Thù Bồ Tát nói: 'Phía Tây của thế giới đó có Phật
A Di Đà, Ngài có nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn, ông
nên niệm liên tục đừng để gián đoạn, sau khi mạng
chung, nhất quyết sẽ vãng sanh, vĩnh viễn chẳng
thoái chuyển'.
10. ‘Nhiếp trọn sáu
căn’ là bí quyết của sự niệm Phật, lúc niệm Phật
phải nhiếp nhĩ căn, lắng nghe từng chữ từng câu rõ
ràng, đừng để mất. Phật hiệu từ tâm khởi lên, âm
thanh từ miệng phát ra, trở vào tai, liên tục chẳng
gián đoạn. Khi vừa có chút vọng niệm liền thâu nhiếp
tâm niệm Phật, nhiếp nhĩ căn lắng nghe, chẳng để
vọng niệm tiếp tục, hết thảy tạp niệm sẽ từ từ tiêu
trừ, công phu tự nhiên sẽ được đắc lực.
11. Long Thư Tịnh Độ
Văn nói:
‘Ngày hết đ
êm
sẽ đến, phải chuẩn bị cho đ
êm;
Mùa nóng hết thì mùa
lạnh sẽ đến, phải chuẩn bị cho mùa lạnh.
Còn thì sẽ phải mất,
phải chuẩn bị cho cái mất.
Làm thế nào để chuẩn
bị cho đ
êm?
Đèn nến, giường chiếu.
Làm thế nào để chuẩn
bị cho mùa lạnh? Áo ấm, than củi.
Làm thế nào để chuẩn
bị cho cái chết? Phước huệ Tịnh Độ.’
12. Phật dạy:
'Chẳng thể dùng ít thiện căn, phước đức, nhân duyên
được sanh về cõi nước đó'. ‘Nhân duyên’ tức là
nghe kinh, nghe pháp, ‘thiện căn’ là tin tưởng Phật
pháp, ‘phước đức’ là thực sự làm theo, tu hành đúng
như pháp. Đầy đủ cả ba thì mới đạt được toàn bộ lợi
ích của Phật pháp.
13. Tâm an lý đắc; Vì lý đắc (hiểu rõ lý) nên
tâm an.
14. Lão Tử nói: ‘Ta
có mối lo lớn vì ta có thân này; nếu ta chẳng có
thân thì đâu có gì phải lo lắng’.
15. Phàm phu chẳng
thể vượt thoát tam giới là vì trong tâm có cái ‘Ta’.
Chỗ huyền diệu của pháp môn Đại thừa là ở chỗ liệng
bỏ chữ ‘Ta’ này đi, khi khởi tâm động niệm gì cũng
nghĩ đến chúng sanh, chẳng nghĩ đến mình, là dạy
mình chẳng chấp trước trên cái ‘Ta’, mở rộng tâm
lượng, phóng lớn lên, thì tự nhiên ‘chấp Ta, tướng
Ta, ngã kiến’ sẽ mất hết.
16. Ấn Quang đại sư
khuyên người mới học Phật phải đọc cuốn Liễu Phàm Tứ
Huấn, Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, An Sĩ Toàn Thư là
không ngoài mục đích tìm khuyết điểm của mình mà
thôi, cũng giống như soi gương tìm ra vết dơ của
mình. Lão hòa thượng Tịnh Không đau lòng mỏi miệng
giảng đi giảng lại cũng là vì vậy.
17. ‘Tâm niệm quá
nhiều phiền phức thật!
Xưa nay lặng niệm khó
muôn vàn!’
(Niệm đầu thái đa
chân phiền não.
Cổ lai nhất niệm tối
nan bình)
Bịnh nặng nhất của
chúng ta là tâm không định, tâm cứ tán loạn, nghĩ
ngợi lung tung, chẳng thể an định, vì vậy nghĩ về
bịnh sẽ bị bịnh, nghĩ về già sẽ biến thành già nua.
Mục đích của việc niệm Phật là
để
đ
è
nén, hàng phục những vọng tưởng phiền não này.
18. Thiền định, thiền
là bên ngoài không trước tướng, định là bên trong
không động tâm. Thiền định là thủ đoạn chứ không
phải là mục đích, Bát Nhã trí huệ mới là mục đích.
19. Tu hành phải dồn
sức vào tâm niệm, tu hành chẳng phải tu để thành một
người có tài ăn nói lưu loát, lanh lẹ. Nhà Nho nói
‘Lúc học vấn thâm sâu thì tâm ý bình lặng’. (Học vấn
thâm thời ý khí bình)
20. Nghe kinh nghe
pháp nên đặt mục tiêu trên
một bộ kinh điển hoàn chỉnh thì mới có thể
đạt được lợi ích hoàn toàn, và cũng có thể tránh
khỏi căn bịnh ‘đoạn chương thủ nghĩa’ (hiểu nghĩa
rời rạc theo từng phần nhỏ, ý nói: không lãnh hội
được ý nghĩa toàn bộ kinh). Thường thấy có một vài
đồng tu vì nhân duyên chưa đầy đủ, nghe kinh nghe
pháp chỉ mới nghe một vài đoạn, không có thời gian
hoặc cơ hội nghe hết cả bộ kinh (như kinh Vô Lượng
Thọ) nhưng cũng có thể sanh tâm hoan hỷ, được lợi
ích nơi Phật pháp. Thử nghĩ nếu có thể phát tâm
nguyện rộng lớn nghe trọn hết một bộ kinh thì được
lợi ích nơi Phật pháp sẽ chẳng thù thắng hơn sao!
21. Hoằng Nhất đại
sư nhắc nhở người tu hành nên chú ý ‘công và tội
không thể bù
đắp
cho nhau (công không chuộc nổi tội) thì mới phù
hợp với đạo lý nhân quả. Nếu không thì [những tư
tưởng sai lầm như] ‘người đã làm việc thiện to lớn
thì dù có làm chuyện ác cũng chẳng bị báo ứng’, ‘bây
giờ làm việc ác chỉ cần sau này làm việc thiện để bù
đắp,
bù trừ thì được rồi!’, đây là những sự hiểu lầm về
nhân quả, là những thiên kiến sai lầm. Người tu hành
đoạn ác là sau này không tái phạm trở lại, là cắt
đứt nhân ác, duyên ác. Tu thiện tức là tu nhân
thiện, duyên thiện, tích lũy công đức, phá mê khai
ngộ, chuyển phàm thành thánh.
A Di Đà Phật.
c. Lợi ích thù thắng của sự nhiếp thọ chúng sanh của
kinh Vô Lượng Thọ.
Năm Dân quốc bảy mươi
sáu (1987) lão hòa thượng Tịnh Không kỷ niệm ngày cụ
Lý Bỉnh Nam vãng sanh, vì muốn báo ân pháp nhũ của
ân sư nên đặc biệt khai giảng kinh ‘Phật Thuyết Đại
Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng
Giác’. Từ lúc giảng kinh đến nay, đồng tu trong và
ngoài nước đều vui vẻ tán thán, đều cảm được sự lợi
ích thù thắng từ sự nhiếp thọ chúng sanh của kinh
này, càng cảm niệm cái nhìn sáng suốt, rốt ráo của
lão hòa thượng đã chọn bộ kinh phương tiện nhanh
chóng, thẳng tắt, rốt ráo, viên mãn này để dẫn dắt
chúng sanh, để làm kim chỉ nam cho sự tu hành, thành
tựu cho Phật quả Bồ Đề viên mãn của chúng sanh.
Lão hòa thượng từ bi
thương xót [chúng ta] cứ giảng đi giảng lại đến nay
đã giảng hết chín lần, hội giảng kinh mỗi lần càng
thù thắng hơn trước, những người đạt được lợi ích
chân thật chẳng thể tính đếm nổi. Hiện nay lão hòa
thượng đang giảng lần thứ mười ở Cư Sĩ Lâm Tân Gia
Ba, trong bốn sự ‘Tín, Giải, Hành, Chứng’ đặc biệt
nhấn mạnh ở ‘Hành, Chứng’, hy vọng những người có
duyên nghe được đều 'phát Bồ Đề tâm chân chánh,
một hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh
Độ'. Đồng thời cũng hy vọng quý vị đồng tu trong
Tịnh Tông có thể áp dụng Phật pháp viên dung vào
trong đời sống và việc làm hằng ngày, để có thể cải
thiện hoàn cảnh xã hội, cứu vãn kiếp vận của thế
giới đầy dẫy tai nạn.
Lão hòa thượng chỉ rõ
bản hội tập của kinh này là dựa trên sư thừa hẳn
hòi, là
được
lão sư Lý Bỉnh Nam ở Đài Trung đích thân truyền thừa
(thầy Lý là học trò của Ấn Quang đại sư); bản hội
tập kinh này đã được lão pháp sư Huệ Minh ấn chứng,
pháp sư Từ Châu đích thân soạn khoa phán, đã khai
giảng ở Đại lục. Tuyên giảng hơn mười năm nay cũng
thường nghe đến nhiều người y theo kinh này tu hành
được vãng sanh, họ dự biết trước ngày giờ, hoa nở
thấy Phật, họ làm chứng cho việc vãng sanh, rất
nhiều đồng tu đã chứng kiến tận mắt, số nghe đến còn
nhiều hơn nữa. Như vậy đủ để thấy công đức của bản
hội tập kinh này rất thù thắng, được hết thảy mười
phương ba đời chư Phật gia trì, hộ niệm.
Khả năng chữ nghĩa
của người đời nay chẳng bằng người thời xưa, nhiều
người không hiểu văn ‘Văn Ngôn’, thậm chí chẳng có
năng lực đọc, huống chi kinh Vô Lượng Thọ có đến năm
bản dịch gốc, thực sự rất khó đọc hết năm bản ấy.
Đồng tu trong hội chúng ta cũng biết việc này nên
rất cảm niệm lời giáo huấn tha thiết, ân cần của lão
hòa thượng đã dùng tâm cung kính, kiền thành để
khuyên lơn hết thảy đồng tu, bất luận nghe kinh,
nghiên giáo, hoặc niệm Phật tu hành đều nên bắt đầu
từ bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ. Hiểu rõ lý mới có
thể tin sâu, tin sâu rồi mới có thể phát nguyện
thiết tha, nguyện khẩn thiết mới có thể phụng hành,
phụng hành thì tự nhiên công phu sâu dày. Có thể
tín, nguyện, hành cả ba liên đới mật thiết như vậy,
chẳng thiếu thứ nào thì mới có thể đạt được lợi ích
chân thật của Phật pháp.
Những đại đức đồng tu
ưa thích kinh Kim Cang Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa
nếu có thể lấy kinh Vô Lượng Thọ làm cơ sở, bắt đầu
từ kinh Vô Lượng Thọ thì càng dễ đạt được lợi ích
rốt ráo của đại kinh. A Di Đà Phật
Tứ chúng đồng tu
tại Tịnh Tông Học Hội Thành Phố Đài Nam kính ghi.
d. Ý nghĩa của
Phật thất và niệm Phật.
Phật thất là căn cứ
trên đoạn: 'Nếu có người thiện nam tử, người
thiện nữ nghe đến A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu
trong vòng một ngày, hoặc hai ngày, …, hoặc bảy
ngày, nhất tâm bất loạn. Người này lúc lâm chung, A
Di Đà Phật và chư thánh chúng hiện ra ở trước mặt.
Lúc người này mạng chung, tâm chẳng điên đảo ắt được
vãng sanh về cõi Cực Lạc của A Di Đà Phật'trong
Phật thuyết A Di Đà Kinh. Trong những pháp hội niệm
Phật, hy vọng dùng tâm chí thành, tâm khẩn thiết,
buông xuống hết vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, đạt
được hiệu quả khắc kỳ cầu chứng (cầu chứng được nhất
tâm bất loạn trong vòng bảy ngày, xây dựng lòng tin
và bằng chứng để vãng sanh).
Ấn Quang đại sư dạy:
‘Nhiếp trọn sáu căn là bí quyết niệm Phật’. Lúc
niệm Phật nhất định phải thâu nhiếp nhĩ căn, lắng
nghe từng câu, từng chữ rõ ràng, rành mạch, đừng để
luống qua. Phật hiệu phát khởi từ tâm, âm thanh từ
miệng niệm, lọt vào tai, liên tục chẳng dứt. Vừa có
chút vọng niệm thì liền thâu nhiếp tâm lại để niệm
Phật, đóng cái tai lại và lắng nghe, chẳng để cho
vọng niệm tiếp tục. Hết thảy vọng niệm tự nhiên từ
từ biến mất, công phu tự nhiên đắc lực.
Lão hòa thượng Tịnh
Không thường khuyến khích đồng tu phải dùng tâm
‘chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ
bi’ để niệm Phật, như vậy câu Phật hiệu này mới
tương ứng, mới được bổn nguyện oai thần của đức Phật
A Di Đà gia trì, mới là chắc thật niệm Phật. Và nói:
‘Chỉ cần đệ tử Di Đà thực sự chịu buông xuống, xả
trừ vọng niệm, chánh niệm tự nhiên sẽ hiện tiền’. Cổ
đức có câu: ‘Chỉ cầu trừ vọng, đâu cần tìm chân
[thật]’. Phải biết ‘mục đích của niệm Phật vốn là
công phu dùng chánh niệm đánh đổi vọng niệm, dùng
một chánh niệm chống đỡ vô số vọng niệm’. Nếu có thể
chắc thật niệm Phật thì bất cứ lúc nào chánh niệm
cũng phân minh, thánh hiệu Di Đà thường nằm trong
tâm. Vì lúc nào cũng có Phật hiệu nên mới đạt đến
‘quên ta, quên mình’; nhờ quên mình như vậy nên
chẳng có chướng ngại. Vì lúc nào cũng có Phật hiệu
[trong tâm] thì tự nhiên được đại tự tại, công phu
tự nhiên đắc lực.
Trong quyển ‘Tâm
Thanh Lục’ lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ cũng chỉ rõ:
'Chí tâm xưng niệm thánh hiệu Di Đà này cũng giống
như ‘luyện khoáng (quặng) thành vàng’ là loại bỏ
hết thảy tạp chất đến lúc sạch hoàn toàn, xả bỏ hết
thảy vô minh phiền não. Nếu được vậy tức là
đã
luyện thành vàng, chẳng còn là quặng nữa”.
- Chí thành niệm Phật
là tự lực và Phật lực gia trì, là sự kết hợp của hai
lực [lượng này].
- Chí thành niệm Phật
là cắt cỏ mọc um tùm, bỏ chất tạp, luyện khoáng
thành vàng.
- Chí thành niệm Phật
là buông xuống hết vạn duyên, là chứng minh cho sự
phát Bồ đề tâm, cầu nguyện vãng sanh.
- Chí thành niệm Phật
là sự khảo nghiệm coi ‘tam tư lương’ tín - nguyện -
hạnh đầy đủ hay không.
- Chí thành niệm Phật
là thiện căn và phước đức hiện tiền.
e. Giới thiệu sơ lược về Tam Thời Hệ Niệm.
Tam Thời Hệ Niệm là
do Trung Phong quốc sư đời Tống đặt ra, nội dung gồm
có tụng kinh, trì danh, giảng kinh, hành đạo, sám
hối, phát nguyện, xướng tán, bảy phương pháp hợp lại
làm thành, pháp sự này phân chia ra thành ba đoạn để
cử hành.
Mục tiêu chính của
Tam Thời Hệ Niệm là khuyên dạy vong linh sanh khởi
lòng tin chân chánh, tâm nguyện khẩn thiết, niệm
Phật cầu sanh Tây phương Tịnh độ. Người làm lễ Tam
Thời Hệ niệm thay thế vong linh cũng có thể lợi dụng
cơ hội này để tu tập Tịnh nghiệp. Đây không những là
để
khuyến đạo vong linh, đồng thời cũng là
để
khuyến đạo chính mình, tự mình đạt được lợi ích,
vong linh cũng được lợi ích, thiệt là cả hai cõi
minh dương đều lợi, hết sức khế cơ cho những đồng tu
tu trì Tịnh nghiệp.
Vãng tích sở tạo chư
ác nghiệp (Những ác nghiệp tạo từ trước
Giai do vô thỉ tham
sân si Đều do tham sân si từ vô thỉ
Tùng thân khẩu ý chi
sở sanh Từ thân khẩu ý sanh ra
Ngã kim Phật tiền cầu
sám hối Trước Phật con nay cầu sám hối)
Chư khổ tận tùng tham
dục khởi (Hết thảy khổ khởi lên từ tham dục
Bất tri tham dục khởi
hà nhân Chẳng biết tham dục khởi từ nhân gì
Nhân vong tự tánh Di
Đà Phật Vì quên mất tự tánh Di Đà Phật
Vọng niệm phân phi
tổng thị ma. Vọng niệm sôi nổi đều là ma.)
f. Khó gặp thầy tốt.
Học hành phải y theo
minh sư chứ chẳng phải danh sư. Minh sư có thể chỉ
dẫn bạn đi trên đường bằng phẳng, đi về đường hướng
sáng sủa. Minh sư là người chỉ đường, chỉ điểm
phương hướng cho mình, phòng ngừa cho mình chẳng đi
lạc đường. Đồng tu là người khuyến khích lẫn nhau,
dùi mài, trao giồi lẫn nhau, có ‘thầy tốt bạn tốt’
mới có thể thành tựu.
Người sơ học chưa đủ
năng lực phân biệt tà - chánh, thị - phi; khi nghe
người này rồi nói người này tốt, đi theo họ; nghe
người kia xong thì nói người kia tốt, bị họ chuyển
dời. Cũng như trẻ em, cha mẹ phải chăm nom kỹ càng
vì nó chẳng biết tà - chánh, thị - phi, chẳng biết
được - mất, lợi - hại, cần phải có thầy dạy dỗ. Đợi
đến lúc bạn có thể phân biệt tà chánh, thị phi,
chẳng bị người ta xỏ mũi dẫn đi, có năng lực này
rồi, lão sư có thể cho bạn đi ra ngoài tham học.
Thầy thật là
đại
từ đại bi! Bảo đảm dạy dỗ, tận tâm tận lực.
Đạo lý thầy trò thiệt
chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu, vô cùng hiếm có!
Đây là cơ duyên, tự mình phải trồng thiện căn, vun
bồi thiện duyên. Nếu thực sự chẳng gặp được thì cũng
còn phương pháp, đó tức là học người xưa. Lúc trước
thầy Lý Bỉnh Nam dạy tôi (tôi ở đây chỉ lão hòa
thượng Tịnh Không), thầy rất khiêm nhường mà nói:
‘Khả năng của tôi chỉ có thể dạy cho ông năm năm’.
Thầy dạy tôi học theo Ấn Quang pháp sư. Ấn Quang
pháp sư là thầy của thầy Lý, thầy khuyến khích tôi
tôn Ấn Quang pháp sư làm thầy. Lúc đó tôi mới bắt
đầu học, còn chưa xuất gia. Thầy nói với tôi: ‘Người
xưa đừng học theo Tô Đông Pha, người thời nay đừng
học theo Lương Khải Siêu.’ Hai người này đều là học
giả Phật học lỗi lạc, trên ‘Phật học’ họ là học giả
uyên thâm, nhưng trên ‘học Phật’ họ chẳng có thành
tựu, chẳng thể học theo hai người này.’
Lúc chúng ta chẳng
tìm được thiện tri thức thì có thể tìm người xưa,
làm học trò tư thục của người xưa. Những người dùng
phương pháp này được thành tựu rất nhiều, ở Trung
Quốc người đầu tiên tôn người xưa làm thầy là Mạnh
Tử. Mạnh Tử học theo Khổng Tử, lúc bấy giờ Khổng Tử
chẳng còn nhưng sách vở của ngài còn lưu lại trong
thế gian nên Mạnh Tử chuyên đọc và học theo sách của
Khổng Tử, tiếp nhận lời dạy của Khổng Tử trong sách,
một lòng một dạ học theo Khổng Tử. Mạnh Tử học theo
vị thầy này, chuyên học một vị thầy, học rất thành
công, vì vậy nên trong lịch sử Trung Quốc người ta
tôn Khổng Tử làm Đại Thánh, Chí Thánh, Mạnh Tử làm Á
Thánh.
Sau này trong lịch sử
Trung Quốc có rất nhiều người dùng phương pháp này
được thành công, lừng danh nhất là Tư Mã Thiên triều
Hán, ông viết quyển lịch sử Trung Quốc đầu tiên ‘Sử
Ký’. Tư Mã Thiên học Tả Khưu Minh, ông chỉ học một
người, chuyên đọc tụng ‘Tả Truyện’, chuyên học văn
chương, tu dưỡng của ‘Tả Truyện’, ông học thành công
và trở thành một văn hào thời đó. Còn Hàn Dũ đời
Đường, ông là một trong tám văn hào nổi tiếng đời
Đường, Tống, còn có hiệu là Hàn Xương Lê, người
chuyển đổi nền văn học sau tám đời suy thoái; thầy
của Hàn Xương Lê là ai? Tức là Sử Ký. Ông học Tư Mã
Thiên, chuyên học Sử Ký, học văn chương, giáo huấn
của Sử Ký và trở thành lãnh tụ của tám nhà [văn hào]
đời Đường, Tống.
Trong nhà Phật, Ngẫu
Ích đại sư triều Minh là một Tổ sư Tịnh Tông. Thầy
của Ngài là ai? Là Liên Trì đại sư. Lúc bấy giờ Liên
Trì đại sư đã vãng sanh rồi, sách vở của Liên Trì
đại sư còn lưu lại trong đời, Ngẫu Ích đại sư bèn
chuyên học sách vở của Liên Trì đại sư.
Sự giáo học từ đời
xưa của Trung Quốc đều hy vọng đời sau vượt trội hơn
đời này, nếu chẳng thể vượt trội thì giáo dục [kể
như] hoàn toàn thất bại. Chẳng giống người ngày nay
có tâm đố kỵ, chướng ngại luôn sợ người ta hơn mình,
khi dạy người khác thì luôn giữ lại một ít, chẳng
chịu tận tâm dạy học, đây gọi là keo pháp.
Chú thích: tài liệu
trong phần này được trích từ bài giảng ‘Nhận thức
Phật giáo’ của lão hòa thượng Tịnh Không tại Miami.
g. Nhàn đ
àm
về chuyện học Phật.
1. Tin sâu nhân quả,
trồng nhân gì thì gặt quả đó. Bố thí vô uý được khoẻ
mạnh, sống lâu.
2. Rất nhiều người
nói về nhân quả [theo một cách] rất dễ gây ra hiểu
lầm, tức là họ chỉ nhấn mạnh nhân quả đời trước. Vì
họ cho rằng hết thảy đều do vận mạng định sẵn nên
trở thành tiêu cực, chẳng muốn làm gì cả, và cách
nói chẳng làm gì được (chỉ nghe theo trời, theo vận
mạng an bài) người nghe theo Túc Mạng Luận, nhưng
coi nhẹ nhân quả của đời này -- những việc làm của
mình trong đời này là mấu chốt quan trọng hơn.
3. Mục đích nói về
nhân quả có hai thứ:
Thứ nhất: An tâm, làm
cho bạn định tâm, đừng vì ngoại duyên chẳng vừa ý mà
nổi tâm bất bình, lúc nghịch cảnh đến thì đừng lo
sợ, phải mạnh dạn nhận lấy. Thứ hai: Lập mạng, muốn
bạn phát nguyện lập chí, mạnh dạn tạo lập hạnh phúc
cho mình.
4. Những chỗ có Bồ
Tát đều làm cho hết thảy chúng sanh sanh tâm hoan
hỷ. Khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều
chẳng có tâm làm não hại chúng sanh; phải kết thiện
duyên với tất cả chúng sanh, đừng kết ác duyên.
5. Trì giới: Giới
luật chẳng phải là trói buộc, là những gì [bạn]
chẳng làm. Vì vậy giới luật giúp cho bạn tránh những
sự dụ dỗ phi pháp, chẳng bị cảnh giới bên ngoài chi
phối, ngược lại [nhờ giữ giới nên] được khinh an, tự
tại. 6. Vô úy bố thí:
1. Không sát sanh:
chúng sanh bình đẳng, tôn trọng sanh mạng, tiếc
thương sanh mạng.
2. Không não hại
chúng sanh: đừng làm cho người ta chẳng được an
ninh.
3. Cứu tế khi nguy
cấp: phóng sanh, hiến máu, cứu người, cứu động vật.
7. Ăn ít cho khoẻ và
có tinh thần. Những thức ăn được thêm chất hóa học
và gia công dễ sanh bịnh, thậm chí dễ sanh ung thư,
nên ít ăn những thứ này, tốt nhất là
đừng
ăn.
8. Người xưa dạy:
‘Buổi sáng ăn cho có dinh dưỡng, buổi trưa ăn cho no
(để làm việc), buổi tối ăn ít (dễ ngủ).
9. Bác sĩ chuyên khoa
tim danh tiếng Đổng Ngọc Kinh bàn về đạo lý khoẻ
mạnh:
a. Ăn uống, vận động,
ngủ nghỉ, kiểm soát tâm lý cho được quân bình.
b. Bịnh lâu ngày
thành thầy thuốc hay, chỉ có thể chữa cho mình,
không thể chữa cho người khác. Thuốc phải cho đúng
bịnh!
10. Ô nhiễm mang đến
tật bịnh: sanh hoạt bị ô nhiễm, thân thể bị ô nhiễm,
hoặc tâm lý bị ô nhiễm. Phương pháp trị bịnh hay
nhất là: tâm thanh tịnh, thân sẽ thanh tịnh, thân
tâm thanh tịnh thì tự nhiên khoẻ mạnh.
11. Giải mở oan kết,
gút mắt: là một công khóa quan trọng trong nhà Phật,
cần có:
a. Tự lực: đoạn ác tu
thiện, tích lũy công đức, hồi hướng cho oan gia chủ
nợ.
Chuyên tu tâm thanh
tịnh, thân tâm thanh tịnh, duyên đoạn rồi thì quả
báo chẳng sanh.
b. Tha lực: Phật lực
gia trì, chí thành niệm Phật, được nguyện lực của
đức Phật A Di Đà gia trì.
12. Tật bịnh của
người hiện nay phần đông là do sanh hoạt tập quán
không tốt gây ra
13. Đạo dưỡng sanh:
dưỡng tâm trong lúc tĩnh, lúc tịnh (như niệm Phật),
dưỡng thân trong lúc động (như lạy Phật)
14. Ăn chay không
được thì đừng miễn cưỡng, không thể vì mình muốn ăn
chay mà ảnh hưởng, tạo phiền phức cho người nhà, làm
cho cả nhà chẳng yên, thế thì đã chẳng từ bi, lại
không khéo léo. Nếu ăn chay không được thì nên ăn
tam tịnh nhục.
15. Việc ăn chay là
do Lương Võ Đế đề xướng, sau khi đọc kinh Lăng Già
vua rất cảm động, phát tâm từ bi, chẳng nhẫn ăn thịt
chúng sanh. Sau đó được người xuất gia hưởng ứng,
trở thành điểm đặc sắc của Phật giáo Trung Quốc
(Nhật, Đại Hàn, nhiều nước ở Đông Nam Á [ngoại trừ
Việt Nam] đều chẳng có).
16. Phương pháp ngừa
muỗi, kiến, dán (chẳng dùng thuốc sát trùng).
a. Trong bếp giữ gìn
sạch sẽ, nấu ăn xong phải lau chùi gọn (để ngừa dán)
b. Dùng thùng rác có
nắp đậy (ngừa dán, kiến)
c. Cửa sổ cần dùng
cửa lưới (ngừa ruồi, muỗi, trùng)
d. Chân bàn của bàn
ăn dùng băng keo hai mặt dán xung quanh để ngừa
kiến, mỗi tháng thay một lần.
e. Đốt nhang đuổi
muỗi (dùng nhang điện an toàn hơn, gây tổn hại cho
thân thể ít hơn), và phải mở hé cửa hoặc cửa sổ, để
muỗi có đường bay ra ngoài, đừng kết oán thù với
những động vật nhỏ này.
f. Đi ra ngoài có thể
dùng kem thoa ngừa muỗi, và tránh những nơi có nhiều
muỗi.
17. Từ trước đến nay
trong sách thường dạy người ta phải ăn thịt mới có
đủ dinh dưỡng, mới khoẻ mạnh, động vật sanh ra là
để
người ăn thịt! Và nói: ‘Tôn giáo là mê tín, chẳng có
thần tiên, chẳng có Bồ Tát, và cũng chẳng có địa
ngục, người chết thì hết, việc gì cũng chẳng còn’.
Vì [có những quan niệm sai lầm như] vậy nên ngày
càng nhiều người chẳng tin nhân quả, muốn làm gì thì
làm, tham đắm trong ngũ dục, chẳng thể tự chủ.
18. Khi nhìn thấy
người ta giỏi, tốt hơn mình thì chịu không nổi, đây
là
đố
kỵ. Đố kỵ thuộc về [tội] ăn cắp, là tập khí từ vô
thỉ kiếp đến nay. Phải thành tâm hối cải, khi nhìn
thấy chuyện thiện phải tùy hỷ, có thể hoan hỷ khi
nhìn thấy cái tốt, cái đẹp của người khác là thành
tựu công đức cho mình, tức là tùy hỷ công đức.
19. Nhẫn nhục là công
phu giữ gìn công đức của mình, là công phu trước khi
được định. Người xưa thường nói: ‘[Việc] nhỏ mà
không nhẫn thì làm loạn mưu lớn’. Thành tựu nhỏ cần
nhẫn nại ít, thành tựu lớn cần phải nhẫn nại nhiều.
Nhưng nhẫn nhục chẳng phải đ
è
nén, đ
è
nén lâu ngày sẽ tích lũy thành bịnh. Nhẫn nhục đúng
cách là vượt thoát ra khỏi phạm vi của sự tranh
chấp, dùng trí huệ hóa giải, dùng độ lượng bao dung.
20. Thuốc bổ tốt
cách mấy cũng thua tâm thanh tịnh, tâm vui vẻ. Ham
muốn ít, biết đủ thì thường vui. Ham muốn ít thì tâm
thanh tịnh, biết đủ thì thường khoái lạc.
Tóm lại chỉ có niệm
Phật là tốt. A Di Đà Phật!
Chú thích
(1) Trăm giới ngàn
như (Bách giới thiên như): Theo tông Thiên Thai có
mười giới: từ ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục… cho đến
chư Phật. Trong mỗi giới lại có đủ mười giới (mỗi
giới có đủ mầm mống mười pháp giới ở trong), nên 10
x 10 100 giới. Trong mỗi giới lại có mười môn như
thị (mười thứ đúng như thế). Diệu lý của thật tướng
từ xưa đến nay vẫn ‘như như’, chẳng hề biến đổi nên
gọi là Như; y vào Thực Tướng và phải hiện ra Thế Đế
nên gọi là Thị. Hai chữ Như Thị là trạng thái của
Thực tướng, nó phải như như thế thế. Mười cái Như
thị là như thị tướng, như thị thể, như thị tánh, như
thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên,
như thị quả, như thị bản mạt cứu kính (cái gì cũng
có gốc, ngọn, từ gốc đến ngọn đều bình đẳng rốt
ráo), (xem kinh Pháp Hoa) Mỗi một pháp giới có mười
cái Như Thị, một trăm pháp giới thành ra một ngàn
cái Như Thị. Tông Thiên Thai dùng chữ "bách giới
thiên như” để chỉ tất cả các pháp.
(2) Trong kinh có tỷ
dụ ‘thân người khó được’ như sau: từ trên đỉnh núi
cao thả một sợi chỉ xuống, phía dưới chân núi đặt
một cây kim, thả sợi chỉ từ đỉnh núi xuống và xỏ
ngay vào cây kim ở dưới chân núi, gió vừa thổi nhẹ
thì sợi chỉ chẳng biết sẽ bay đến phương nào rồi!
Đừng nói là chỉ có một sợi, dù có một ngàn sợi, mười
ngàn sợi, có sợi nào may mắn xỏ được ngay vào lỗ
kim, sác xuất của việc này xảy ra vô cùng nhỏ bé,
chuyện này rất khó xảy ra, mất thân người rồi muốn
được thân người trở lại cũng khó như vậy!
(3) Địa Thượng Bồ
Tát: Các vị Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên.
Trong quá trình
chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các
bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám
ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 9-4-2004